Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai

Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng. Toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. Các thách thức đó không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân lên hậu quả của các tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển bền vững của đồng bằng.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở ngoài cùng của châu thổ sông Mekong giáp với biển, được hình thành từ khoảng 6000 năm nay, từ trầm tích mà sông Mekong tải ra biển cộng với quá trình biển lùi. Nước và trầm tích là hai yếu tố thuộc về bản chất của đồng bằng.

Là một châu thổ trẻ, mẫn cảm với các tác động từ bên ngoài và từ bên trong, đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và từ việc sử dụng nguồn nước từ thượng nguồn. Gọi là kép vì hai tác động này không tách biệt nhau mà quyện vào nhau1.

Hệ lụy từ việc khai thác Đồng bằng Sông Cửu Long

Sau năm 1975, Việt Nam bắt tay vào quy hoạch khai thác ĐBSCL. Các vấn đề cần hiểu rõ và giải quyết cho được và đúng quy luật, là phèn, chua và mặn để khai thác ba tiểu vùng đất rộng người thưa lúc bấy giờ là Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau.

Thách thức khi đó đối với đồng bằng, đặc biệt trong ba tiểu vùng, là vào mùa mưa thì thừa nước, lũ ngập mênh mông, nhưng vào mùa khô thì thiếu nước trầm trọng, đất nứt nẻ, phèn xì lên từ những lớp đất phèn bên dưới bị oxy hóa. Lại thêm vào mùa khô, nước mặn theo triều xâm nhập sâu vào đồng bằng. Đầu mùa mưa, phèn được rửa, chảy vào kênh rạch kéo độ pH xuống thấp. Phải chờ cho đất bớt phèn mới canh tác lúa được.

Ở Việt Nam, không có “Vạn lý trường thành” nhưng ĐBSCL có “Vạn lý đường kênh”. Chỉ tính riêng trong tiểu vùng Đồng Tháp Mười và tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên, từ năm 1975 đến cuối thập niên 1990, hơn hai vạn km kênh các loại đã được đào, để “ém phèn” cắt đứt oxy hóa các tầng jarosite và pyrite, để thau chua, rửa mặn và đưa phù sa sông Mekong vào sâu trong Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. (Hình 1).

Hình 1. Mạng lưới kênh rạch ở ĐBSCL năm 1964 (trái) và năm 2011 (phải).
Hình 1. Mạng lưới kênh rạch ở ĐBSCL năm 1964 (trái) và năm 2011 (phải).

Một mặt khác, chính quyền các cấp và nhân dân cũng đã xây dựng rất nhiều cống ngăn mặn, nhằm giữ ngọt và “ngọt hóa” những vùng bị nhiễm mặn như các vùng Gò Công, Nam Măng Thít, sông Ba Lai, vùng trung tâm của Bán đảo Cà Mau, … Mục đích là để tăng diện tích canh tác lúa hai vụ nơi nào có thể.

Cái giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ “vựa lúa của cả nước” là diện tích rừng tràm biến mất nhanh chóng trong Đồng Tháp Mười, trong Tứ giác Long Xuyên và tại rừng U Minh (Thượng và Hạ). Hơn thế nữa các vùng trũng bị “chắt nước” cạn để tăng vụ. (Hình 2). Mất rừng là mất nước. Chắt cạn nước chứa đựng nguy cơ mực nước thủy cấp trong khu vực sẽ xuống thấp khi nước sông Mekong về đồng bằng không còn dồi dào như trước nữa.

Hình 2. Diễn biến của Đồng Tháp Mười năm 1979 (trái) và năm 2005 (phải).
Hình 2. Diễn biến của Đồng Tháp Mười năm 1979 (trái) và năm 2005 (phải).

Không ngừng lại ở hai vụ, nhiều tỉnh, bắt đầu từ An Giang, Đồng Tháp, bao đê vượt lũ để làm lúa vụ ba từ những năm 1990. Tổng diện tích lúa vụ ba có đến trên 300.000 ha. Tăng thêm thu nhập được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong thì độ phì của đất giảm sút, môi trường suy thoái.

Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, kể cả thủy sản biển còn khiêm tốn trong thập niên 1980. Nay, diện tích nuôi tôm lớn lên từng ngày. Quy hoạch diện tích nuôi tôm cho năm năm đã được các tỉnh ven biển từ Bến Tre đến Kiên Giang hoàn thành trong một đến hai năm, thậm chí có nơi còn nhanh hơn. Có cả những cống ngăn mặn trước đây được xây để canh tác lúa, bị bửa ra để lấy nước mặn nuôi tôm. Có nhiều cống ngăn mặn trong vùng ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được mở ra để cho nước mặn vào các vuông tôm trong vùng ngọt hóa.

Cái giá phải trả còn là mất rừng ngập mặn để đào vuông nuôi tôm. Thiếu nước ngọt để giữ độ mặn trong ao phù hợp cho nuôi tôm, nước ngầm đã được bơm lên. Ở một số nơi trong vùng đã ngọt hóa, người dân còn khai thác nước ngầm mặn để đảm bảo độ mặn trong vuông cho tôm phát triển.

Hình 3. Diễn biến rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh vệ tinh từ trái qua phải 1973, 1983 và 2010.
Hình 3. Diễn biến rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh vệ tinh từ trái qua phải 1973, 1983 và 2010.

Có phải chúng ta đã hiểu hết về đồng bằng, hiểu rõ những phản ứng của vùng đất này để khai thác nó đúng quy luật? Tôi cho là chưa. Tiếp tục theo dõi, điều tra nghiên cứu (không chỉ về khoa học tự nhiên mà còn cả về kinh tế xã hội) vẫn là cần thiết. Nếu không, lợi sẽ bất cập hại, cái lợi trước mắt sẽ không bù được cái hại trong trung và dài hạn về tài nguyên nước và môi trường nói chung. Nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường, một cột trụ của phát triển bền vững là một thách thức khác.

Những thách thức hiện nay và ngày mai

Châu thổ sông Mekong được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Trái đất càng ấm lên, băng tan càng nhanh, ĐBSCL càng phải đối đầu với ngập, lún chìm, bờ biển bị xâm thực và mặn ngày càng xâm nhập vào sâu. Trong bối cảnh bị đe dọa như vậy, thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế buộc nền kinh tế đồng bằng phải có sức cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thách thức khu vực đó là việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, trong đó có việc chuyển nước sang lưu vực sông khác, và nhất là việc khai thác thủy điện trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống trong khi nhu cầu về nước ngày càng tăng.

Theo Ủy hội sông Mekong (MRC) (2009), sáu đập thủy điện của Trung Quốc + 11 đập ở hạ lưu vực + 30 đập trên các chi lưu sẽ tích lại một lượng nước của sông Mekong vào năm 2030 là 65,5 tỷ m3 trong khi đó nhu cầu về nước trong hạ lưu vực vào năm này sẽ tăng 50% so với năm 2000.

Nhóm chuyên gia về trầm tích, trong Phụ lục của Báo cáo SEA của MRC đã đánh giá: “Tác động của các đập của Trung Quốc đối với trầm tích sông Mekong là rất to lớn, trong hàng trăm năm, một khi tất cả các đập đi vào hoạt động. Lượng trầm tích của sông Mekong ước tính sẽ bị các đập Trung Quốc giữ lại vào khoảng từ ⅓ đến ½ của tổng lượng trầm tích bình quân chảy về châu thổ sông Mekong”2.

Các đập thủy điện giữ lại trầm tích trong hồ, gây nên thâm hụt trong cán cân trầm tích ở hạ du, làm thay đổi địa mạo lòng sông, đáy sông, cửa biển. Sự sạt lở nghiêm trọng đê biển ở Gành Hào, đường phòng hộ ven biển ở Bạc Liêu mà tôi vừa chứng kiến trong tháng 2.2016 là một minh họa cụ thể của tác động kép lên đồng bằng từ biến đổi khí hậu và từ khai thác nguồn nước ở thượng nguồn.
Trong thách thức khu vực, còn có việc xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong ở hạ lưu vực (chín trên đất Lào và hai trên lãnh thổ Campuchia), và dự án của Thái Lan chuyển một lượng nước từ sông Mekong sang lưu vực sông Chao Phraya.

Tác động kép sẽ càng mãnh liệt hơn. Đồng bằng bị đe dọa trong chính sự tồn tại của mình.
Thách thức tại địa bàn, ngoài việc mất rừng ngập mặn và rừng tràm, còn là việc khai thác cát trên sông Tiền, sông Hậu, làm trầm trọng thêm sự thâm hụt cán cân trầm tích3; là việc khai thác quá mức nước ngầm làm mặt đất sụt lún kéo theo mực nước biển dâng thực tế ngày càng nhanh hơn4,5. Hình 4) còn là phát triển nông nghiệp vẫn thiên về chiều rộng hơn chiều sâu, vẫn thiên về số lượng hơn chất lượng, dẫn đến lãng phí tài nguyên, đặc biệt tài nguyên đất và tài nguyên nước.

Hình 4. Khai thác cát, sỏi và cuội trong hạ lưu vực.
Hình 4. Khai thác cát, sỏi và cuội trong hạ lưu vực.

Thách thức tại địa bàn còn do năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực rất thấp, là cơ giới hóa và hạ tầng cơ sở chưa tương xứng với tiềm năng của đồng bằng và nhất là do thiếu một cơ chế phát triển vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả vùng; do thiếu sự liên kết chuỗi nên giá trị các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam thấp, sức cạnh tranh yếu.

Hình 5. Tốc độ tụt của mực nước ngầm (trái) và tốc độ sụt lún bề mặt của đồng bằng (phải).
Hình 5. Tốc độ tụt của mực nước ngầm (trái) và tốc độ sụt lún bề mặt của đồng bằng (phải).

Hành động

1.Đã đến lúc sáu nước trong lưu vực phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực, với tinh thần hợp tác để cùng phát triển. Hội nghị cấp cao hợp tác Mekong – Lan Thương lần thứ nhất tại Tam Á (Trung Quốc) liên quan đến sử dụng nguồn nước sông Mekong ngày 23.3.2016 là bước đi đầu tiên, cần được thể hiện bằng những hành động, dự án cụ thể, chân thực đúng với tinh thần này.

2. Các bộ, Ủy ban Quốc gia sông Mekong, cùng các nhà khoa học cần phát hiện, theo dõi, đánh giá tác động của các dự án khai thác nguồn nước ở thượng nguồn từ khi chúng mới manh nha, chỉ ra kịp thời các tác hại để chính phủ có cơ sở đàm phán vì lợi ích của đồng bằng và vì lợi ích của cả lưu vực.

3.Hơn bao giờ, trong bối cảnh mới, phải rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, và các quy hoạch phát triển ngành, địa phương theo hướng phải tiết kiệm nước ngọt, chung sống với hạn và mặn, khai thác nước mặn như là một tài nguyên như nhiều nước đã làm thành công, đảm bảo nước ngọt cho sinh hoạt của người dân. Mô hình phát triển ở đồng bằng phải chuyển dần, nhưng tích cực nhất có thể được, sang chiều sâu. Mảng công việc này đang chờ đợi sự cống hiến của các nhà khoa học.

4.Các bộ, các địa phương phải phối hợp chặt chẽ với nhau để đối diện với các thách thức. Vấn đề đổi mới thể chế và xác định cơ chế phối hợp là bức thiết.

5.Hơn bao giờ, về cơ chế, sự liên kết chuỗi, liên kết vùng, phát triển kinh tế vùng là bức thiết. Để phát triển bền vững, phải giải quyết tình trạng đồng bằng đang là vùng trũng về giáo dục. Cần đầu tư nhiều hơn nữa cho hạ tầng cơ sở ở đồng bằng.

Sau hội nghị COP 21, nhiều nước sẵn sàng góp sức cùng Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu. Khai thác có hiệu quả hay không sự sẵn sàng này tùy thuộc ở chúng ta.

——–
* GS.TSKH. Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chuyên gia cao cấp Hội đồng Chính sách KH&CN QG.

1 Nguyễn Ngọc Trân, 2010, Tác động kép của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long, Hội thảo khoa học “Khoa học Địa lý và vấn đề biến đổi khí hậu: nghiên cứu và giảng dạy”, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, trong Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, trang 132-151, Nhà XB Trẻ, 2011.

2 C.Thorne, G.Annandale, J.Jensen, Review of Sediment Transport, Morphology, and Nutrient Balance, Part of The MRCS Xayaburi Prior Consultation Project Review Report, March 2011.
3 J.P. Bravard, M. Goichot, S. Gaillot, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River, First Survey and Impact Assessment, EchoGeo, 26 (2013), 10-12.2013.

4 J.P. Ericson, C.J. Vorosmarty, S.L. Dingman, L.G. Ward, M. Meybaeck. Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82, 02.2006.

5 Laura E Erban, Steven M Gorelick and Howard A Zebker, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta,Vietnam  Environ. Res. Lett. 9 (2014) 084010 (6pp).

Nguồn: http://tiasang.com.vn/-dien-dan/dong-bang-song-cuu-long-nhung-thach-thuc-hien-nay-va-ngay-mai-9531

4 thách thức đe dọa đồng bằng sông Cửu Long

Toàn cầu hóa kinh tế, tác động kép từ biến đổi khí hậu, phát triển các dự án thiếu trách nhiệm trên dòng Mekong và khai thác bất hợp lý tài nguyên đang đe dọa sự tồn tại của miền Tây.

Các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước đưa ra nhận định trên khi đánh giá các thách thức đã và đang diễn ra đối với đồng bằng sông Cửu Long.

Vắt kiệt nước vùng trũng để tăng vụ

Nằm ở tận cùng của châu thổ sông Mekong, đồng bằng sông Cửu Long được hình thành khoảng 6.000 năm nay từ trầm tích của dòng sông này chảy ra biển cộng với quá trình biển lùi.

Sau 1975, Việt Nam bắt tay vào quy hoạch và khai thác vùng đất này. Các vấn đề cần hiểu rõ, giải quyết cho được và đúng quy luật để khai thác 3 tiểu vùng “đất rộng người thưa” Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau là: phèn, chua và mặn.

Việt Nam vượt qua khá thành công thách thức này. Cụ thể là sau một thời gian quyết liệt đầu tư khai phá, miền Tây có “vạn lý đường kênh” cho phép ém phèn để canh tác lúa, tháo chua, rửa mặn. Mặt khác, chính quyền và người dân xây dựng nhiều cống ngăn mặn, giữ ngọt và ngọt hóa những vùng nhiễm mặn. Mục đích là để tăng diện tích lúa 2 vụ… Tổng sản lượng lúa năm 1986 của đồng bằng sông Cửu Long khoảng 7 triệu tấn, nay xấp xỉ 25 triệu tấn, chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước.

Theo GS Nguyễn Ngọc Trân (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia), cái giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ “vựa lúa của cả nước” là diện tích rừng tràm biến mất nhanh chóng ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, tại vùng U Minh Thượng và Hạ.

“Các vùng trũng bị chắt nước để tăng vụ, chứa đựng nguy cơ mực nước thủy cấp trong khu vực sẽ hạ thấp khi nước Mekong về đồng bằng không dồi dào như trước”, GS Trân nói.

Tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng, từ những năm 1990, nhiều địa phương trong vùng, bắt đầu từ An Giang, Đồng Tháp… bao đê vượt lũ để làm lúa vụ 3 với tổng diện tích có khi đến 600.000 ha. “Tăng trưởng được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong đê thì độ màu của đất giảm sút, môi trường suy thoái”, GS Trân chỉ rõ.

Quy hoạch diện tích nuôi tôm 5 năm được các tỉnh ven biển hoàn thành trong một, hai năm. Nhiều cống ngăn mặn bị tháo ra để lấy nước mặn nuôi tôm…. Rừng ngập mặn bị mất dần; đáng quan ngại nhiều nơi trong vùng ngọt hóa, người dân khoan giếng bơm nước ngầm mặn lên nuôi tôm…

Những thách thách đe dọa miền Tây

GS Trân nêu rõ: “Hiện nay và trong thời gian tới, miền Tây phải đương đầu với ít nhất 4 thách thức cấp toàn cầu, khu vực và chính trong sự khai thác của đồng bằng“.

Hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở miền Tây làm hàng trăm nghìn ha lúa bị thiệt hại. Chuyên gia xác định ngoài biến đổn khí hậu, các đập thủy điện ở Trung Quốc, Lào, Campuchia không thể ngoài cuộc. Ảnh: Cửu Long
Hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở miền Tây làm hàng trăm nghìn ha lúa bị thiệt hại. Chuyên gia xác định ngoài biến đổi khí hậu, các đập thủy điện ở Trung Quốc, Lào, Campuchia không thể ngoài cuộc. Ảnh: Cửu Long

Đọc tiếp “4 thách thức đe dọa đồng bằng sông Cửu Long”

CUỘC THI “CON NGƯỜI – MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ” KMT_13

Ngày 26 tháng 12 cuộc thi “Con người – Môi trường – Tài nguyên Đới bờ” được tổ chức để kết thúc môn học Quản lý tổng hợp đới bờ và Tài nguyên khoáng sản và bảo vệ mội trường. Cuộc thi năm nay bao gồm hai phần: 1) báo cáo kết quả đề tài (theo chủ đề đã phân công các nhóm thực hiện) và 2) triển lãm theo các thể loại: video clip, ảnh nghệ thuật, mô hình và các bài cảm nhận về chuyến đi. Tham gia cuộc thi là sinh viên thuộc ba chuyên ngành: KHMT; TNTT và MT; MT và TNB thuộc KMT_13.

Chuyên ngành Khoa hoc Môi trường
Chuyên ngành Khoa hoc Môi trường
Chuyên ngành TNTT và MT
Chuyên ngành TNTT và MT
Chuyên ngành MT và TNB
Chuyên ngành MT và TNB

Đọc tiếp “CUỘC THI “CON NGƯỜI – MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ” KMT_13”

ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT QUẬN 2, TP. HỒ CHÍ MINH BẰNG GIẢI ĐOÁN ẢNH GOOGLE EARTH

Võ Thị Hồng Cẩm

1. Giới thiệu

Google Earth (GE) là một ứng dụng độc lập được xây dựng trên nền tảng sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin địa lý bất cứ nơi nào trên Trái đất. Google Earth sử dụng mô hình số độ cao – Digital Elevation Model (DEM), dữ liệu được thu thập bởi Topography Mission Shuttle Radar của NASA (SRTM), hệ tọa độ WGS 84, độ phân giải phổ biến là 15 mét, một số địa điểm có độ phân giải 15 cm (6 inch). [1]

Qua hơn 10 năm phát triển, GE đã đem đến nhiều lợi ích cho người sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là trong nghiên cứu và giảng dạy địa chất, địa lý. GE cho phép truy cập hình ảnh vệ tinh và ảnh hàng không miễn phí. GE cho phép chèn và chồng hình ảnh từ các nguồn dữ liệu khác, cơ sở dữ liệu tương thích với Google Earth có thể được chia sẻ dễ dàng trên internet khi sử dụng liên kết KML. Hình ảnh trong GE được cập nhật thường xuyên cho phần lớn các khu vực trên bề mặt trái đất và những thay đổi này có thể được quan sát bằng chức năng “Historical Imagery”.

Bài viết này trình bày sự biến đổi sử dụng đất quận 2, TP. HCM bằng việc giải đoán ảnh Google Earth giai đoạn 2005-2015. Các kết quả giải đoán ảnh được xử lý trong GIS để phục vụ cho việc phân tích địa lý nói chung và đánh giá biến động bề mặt địa hình nói riêng.

Trong điều kiện tiếp cận nguồn tài liệu đo đạc của các cơ quan quản lý đất đai khó khăn, việc giải đoán hình ảnh có độ phân giải cao, miễn phí từ GE là một lựa chọn tối ưu[2]. Hơn nữa, việc giải đoán ảnh sẽ cho những thông tin và số liệu khách quan, làm cơ sở so sánh với các kết quả điều tra, đo đạc.

2. Khu vực nghiên cứu

Quận 2 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hóa nhanh, bề mặt địa hình biến đổi với xu hướng chung là lấp dần vùng trũng, nâng cao mặt đất, tăng dần diện tích bê tông.

Quận 2 (hình 1) phân bố phía Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, tiếp giáp với Quận Thủ Đức ở phía bắc; Quận 7 ở phía tây nam (qua sông Sài Gòn) Quận 4, Quận 1 và Quận Bình Thạnh ở phía tây; Quận 9 ở phía đông.[3]

Hình 1. Bản đồ khu vực nghiên cứu
Hình 1. Bản đồ khu vực nghiên cứu

Đọc tiếp “ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT QUẬN 2, TP. HỒ CHÍ MINH BẰNG GIẢI ĐOÁN ẢNH GOOGLE EARTH”

Biến đổi diện tích thực vật rừng ngập mặn Mũi Cà Mau trong chiến tranh và do sử dụng đất qua sáu thập kỷ

T.T. Van, N. Wilson, V.Q. Minh, H. Thanh-Tung, K. Quisthoudt, L. Xuan-Tuan, F. Dahdouh-Guebas, N. Koedam

TÓM TẮT

Ảnh hàng không và vệ tinh đã được sử dụng để xác định sự thay đổi độ che phủ đất trong thời kỳ 1953-2011 ở Mũi Cà Mau, Việt Nam, đặc biệt liên quan đến những thay đổi khu vực rừng ngập mặn. Diện tích rừng ngập mặn đã giảm mạnh từ khoảng 71.345 ha vào năm 1953 đến 33.083 ha vào năm 1992, sau đó tăng lên 46.712 ha vào năm 2011. Diện tích rừng mất do chất diệt cỏ trong chiến tranh Việt Nam, khai thác quá mức, và chuyển đổi sang đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản được khuyến khích bởi các chính sách quản lý đất đai đang đang làm mất tác dụng một phần sự tái sinh tự nhiên và trồng lại rừng, đặc biệt là sự gia tăng dần mô hình hệ thống canh tác kết hợp tôm-RNM. Bản chất của thực thực vật rừng ngập mặn được chuyển đổi rõ rệt trong giai đoạn này. Các kết quả nghiên cứu có giá trị cho việc qui hoạch quản lý để hiểu và nâng cao sự đóng góp của rừng ngập mặn trong việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái và tài nguyên, sinh kế địa phương và lợi ích toàn cầu.

1. Giới thiệu

Việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng gây ra hậu quả suy giảm nguồn tài nguyên đã diễn ra ở VN một thời gian dài. Tại hạ nguồn sông Mekong, một vài nghiên cứu áp dụng viễn thám và GIS đã xác định các thay đổi của lớp phủ RNM có liên hệ tới hoạt động của con người. Tuy nhiên dữ liệu viễn thám theo thời gian bị khuyết trước thời kỳ chiến tranh VN (1962-1972), vốn là thời kỳ có tác động quan trọng đến rừng. Số liệu quan trắc giúp việc đưa ra mục tiêu thuận lợi hơn cho hoạt động bảo tồn, nhân sinh và quản lý bảo vệ đới bờ, thông qua việc tái lập đường cơ sở nhờ xác định thời gian và nguyên nhân những thay đổi lớn của rừng tốt hơn.

Trong nghiên cứu này, ảnh viễn thám tại sáu mốc thời gian từ 1953 đến 2011 được sử dụng để xác định những thay đổi của lớp phủ thảm RNM tại Mũi Cà Mau, vốn do nguyên nhân chính là tác động của con người. Kết quả nghiên cứu có giá trị cho việc lên kế hoạch quản lý nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường sự đóng góp của RNM cho dịch vụ hệ sinh thái và cung cấp tài nguyên, sinh kế cho người dân và kinh tế toàn cầu.

2. Tài liệu và phương pháp

2.1 Khu vực nghiên cứu (KVNC)

Hình 1. Vị trí KVNC tại tỉnh Cà Mau, VN
Hình 1. Vị trí KVNC tại tỉnh Cà Mau, VN

Đọc tiếp “Biến đổi diện tích thực vật rừng ngập mặn Mũi Cà Mau trong chiến tranh và do sử dụng đất qua sáu thập kỷ”

NHẬT KÝ LỘ TRÌNH THỰC TẬP MT và TN ĐỚI BỜ 2016 (13 KMT)

Ngày 11 tháng 12

Trời mưa lai rai từ  đêm qua. 6:30 ăn sáng xong, mọi người mua chả cá (đặc sản Cổ Thạch) và táo để làm quà.

7:00 các nhóm di chuyển về chùa Cổ Thạch thăm quan.

8: 00 đoàn rời chùa Cổ Thạch, dừng chụp ảnh kỷ niệm trên sườn đồi cát đỏ trước khi qua cổng soát vé.

12: 00 đoàn ăn trưa tại nhà Hàng Vườn Xoài, thuộc thị trấn Gia Ray huyện Xuân Lộc.

13:00 đoàn tiếp tục hành trình trở về.

15:30 đoàn về tới trường, kết thúc đợt thực tập Môi trường và Tài nguyên Đới bờ 2016.

Trong hai tuần tới các nhóm tranh thủ:

1) Hoàn thiện công việc được phân công tại các điểm khảo sát (mặt cắt, bản vẽ, tài liệu thu thập…), chuyển cho nhóm phụ trách viết báo cáo.

2) Hoàn thiện việc chọn ảnh, clip, mô hình, bài viết cảm tưởng về chuyến đi, bài báo cáo tại các điểm được phân công để triển lãm và báo cáo.

Chúc các nhóm có bài báo cáo thực tập tốt, có những clip hay, những sản phẩm triển lãm sinh động về chuyến thực tập.

Mua Chả cá thu - đặc sản Cổ Thạch
Mua Chả cá thu – đặc sản Cổ Thạch
Tại chùa Cổ Thạch
Tại chùa Cổ Thạch
Xem dấu bàn chân "vua Gia Long" trên đá granit Cổ Thạch
Xem dấu bàn chân “vua Gia Long” trên đá granit Cổ Thạch

Đọc tiếp “NHẬT KÝ LỘ TRÌNH THỰC TẬP MT và TN ĐỚI BỜ 2016 (13 KMT)”

CÁC NÚI LỬA ĐẢO LÝ SƠN CÓ TUỔI HOLOCEN

Hà Quang Hải, Nguyễn Ngọc Thu, Nguyễn Thị Hạnh Nhi

I.Giới thiệu

Huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi gồm đảo lớn (cù lao Ré) và đảo nhỏ (cù lao Bờ bãi) có tổng diện tích xấp xỉ 10 km2. Với những cảnh đẹp do núi lửa tạo nên giữa biển khơi, được xem là cảnh quan hiếm có và duy nhất của Việt Nam, đảo Lý Sơn đang được tỉnh Quảng Ngãi tiến hành các thủ tục để được công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu. Mặc dầu vậy, việc nghiên cứu địa chất đảo Lý Sơn còn ở mức độ sơ lược, những vấn đề địa chất, địa mạo còn có những ý kiến khác nhau trong đó đáng chú ý nhất về cấu trúc núi lửa và tuổi của các đá cấu tạo nên chúng.

Hầu hết các tác giả cho rằng phần lớn khối lượng vật liệu cấu tạo đảo Lý Sơn là các trầm tích – phun trào có tuổi Neogen; chiếm khối lượng nhỏ là bazan dòng chảy có tuổi Pleistocen sớm – giữa và Holocen. Các mức tuổi này được các tác giả dựa vào kết quả bào tử phấn và tuổi tuyệt đối.

Chúng tôi đã xác định hoạt động núi lửa tại Lý Sơn gồm hai kiểu chính, đó là các nón núi lửa phun nổ (cinder cone; scoria cone) và bazan dòng chảy (lava flow) có tuổi Pleistocen muộn – Holocen.

Những kết quả khảo sát mới (cuối tháng 3 – đầu tháng 4 và cuối tháng 6 – đầu tháng 7) tại một số vị trí trên đảo Lý Sơn cho thấy một khối lượng lớn các trầm tích phun nổ và bazan dòng chảy tạo nên địa hình nhô trên mặt biển chủ yếu có tuổi Holocen.

II.Tuổi bazan đảo Lý Sơn theo các tác giả

– Nguyễn Kinh Quốc (1995) phân chia bazan Cù lao Ré thành hai phần [7]: phần dưới chưa lộ đáy gồm vài lớp mỏng bazan xen kẹp trầm tích vụn  (cát mịn, sạn, cuội dăm và cát sét lẫn vật liệu phun trào bazan) dày 30-70 m; phần trên là basan bọt xốp, độ rỗng lớn, hyalobazan, bazan kiềm, bom và tro núi lửa, dày 30 – 50 m. Chúng tạo nên 5 họng núi lửa trẻ ở nam Cù lao Ré và cù lao Bờ Bãi. Chúng bị phủ bởi lớp cát sạn vôi mỏng chứa vỏ sò, ốc, san hô tuổi Holocen.

– Nguyễn Văn Trang và nnk (1997), trong công trình bản đồ địa chất nhóm tờ Quảng Ngãi, xếp hầu hết bazan có tuổi Neogen [8].

– Nguyễn Hoàng, Martin Flower (1997) dựa và tuổi tuyệt đối, chia phun trào bazan thành hai giai đoạn là 12 triệu năm (Miocen) và 0,4-1,2 triệu năm (Pleistocen sớm – giữa (Q11-2) [5].

– Phạm Hùng và nnk (2001) phân chia bazan ở Lý Sơn theo 3 mức tuổi (ứng với ba giai đoạn hoạt động): 1) bazan phân bố ở phần thấp mặt cắt dày từ vài chục mét tới 70 m có tuổi Miocen muộn – Pliocen (N13 – N2) dựa vào tuổi bào từ phấn hoa; 2) bazan olivine kiềm, hyalobazan, bazan bọt xốp tạo nên bề mặt cao nguyên cao 20 m ở trung tâm đảo có tuổi Pleistocen (βQ11-3) và 3) bazan bọt xốp, bazan olivine kiềm phân bố hạn chế ở khu vực miệng núi lửa An Hải có tuổi Holocen (βQ2) [6].

– Lê Đức An (2005) phân chia bazan Lý Sơn thành 1) đá trầm tích – phun trào tuổi Neogen (N13 – N2 dựa theo kết quả bào tử phấn [6]) là đá cổ nhất lộ trên một diện tích lớn, được hình thành trong môi trường biển nông trên thềm lục địa và 2) bazan tuổi Pleistocen sớm – giữa (Q11-2) tạo nên các phễu, chóp núi lửa, các dòng chảy bazan ≤ 30 m hình thành trong giai đoạn núi lửa hoạt động mạnh mẽ [1].

– Chương trình Núi lửa Toàn cầu của Viện Smithsonian [6]. Các núi lửa thuộc Nhóm Cù Lao Ré (4 trên mặt đất và 9 trên đáy biển) thuộc kiểu strombolian có tuổi nhỏ hơn 10.000 năm (Holocen) [9].

– Hà Quang Hải và nnk (2012, 2016) trên cơ sở quan sát địa mạo đã xác định các trầm tích phun nổ và bazan dòng chảy tạo nên địa hình cù lao Ré, cù lao Bờ Bãi có tuổi Pleistocen muộn – Holocen sớm  (Q13 – Q21) [3, 4].

III. Kết quả khảo sát thực địa

Đợt khảo sát từ 30 tháng 06 đến ngày 06 tháng 07 năm 2016 ghi nhận tầng cát kết san hô phân bố rộng rãi quanh cù lao Ré và cù lao Bờ Bãi. Tầng cát kết san hô này bị bazan dòng chảy phủ trên được quan sát tại nhiều vết lộ. Các mảnh, khối san hô được phát hiện trong cấu trúc vật liệu phun nổ lộ ra tại vách biển Hang câu – Chùa Hang. Các mảnh san hô, ốc biển cùng với các khối, mảnh đá bazan, cát kết tuf nằm rải rác trên miệng núi lửa Hang Câu – Chùa Hang.

III.1 Trên cù lao Ré

1) Điểm khảo sát LS. 457 (cổng Tò Vò)

Cát kết san hô mầu xám trắng bị các lớp bazan màu đen (cấu tạo cổng Tò Vò) phủ trên. Tầng cát kết san hô lộ 1,0 m gồm các khối xương san hô rắn chắc (trông còn tươi) có kích thước tới 10 – 15 cm được gắn kết bằng cát, sạn san hô (Hình 1).

Hình 1. Bazan dòng chảy cổng Tò Vò phủ trên cát kết san hô
Hình 1. Bazan dòng chảy cổng Tò Vò phủ trên cát kết san hô

Theo bãi biển (bắc Giếng Tiền) từ cổng Tò Vò về phía đông khoảng 1000 m lộ liên tục các lớp cát kết san hô; mỗi lớp dày trung bình 0,1 m cắm về phía biển (phía bắc) với góc dốc khoảng 10o. Bề mặt lớp cát kết san hô trơn, nhẫn do mài mòn, trên đó có những lỗ tròn nhỏ và rải rác có cuội bazan.

Hình 2. Các lớp cát kết san hô bãi biển phía bắc núi lửa Giếng Tiền lộ khi thủy triều xuống thấp
Hình 2. Các lớp cát kết san hô bãi biển phía bắc núi lửa Giếng Tiền lộ khi thủy triều xuống thấp

Đọc tiếp “CÁC NÚI LỬA ĐẢO LÝ SƠN CÓ TUỔI HOLOCEN”

CÔNG TÁC CHUẨN BỊ THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2016

Năm nay có 68 sinh viên thuộc ba chuyên ngành tham gia thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ (tuyến lộ trình Lộc An – Cổ Thạch).

I.Ngày 22 tháng 11 phân công chủ đề nghiên cứu

Để làm quen với việc triển khai một đề tài nghiên cứu từ chuẩn bị văn phòng (trước khi thực địa), khảo sát thực địa và viết báo cáo tổng kết, các nhóm được phân công thực hiện theo các chủ đề:

Chuyên ngành Khoa học Môi trường

Nhóm 1: Đặng Thị Tuyết Nhi (nhóm trưởng): Hiện trạng và đề xuất phát triển điểm du lịch Bàu Trắng

Nhóm 2: Hoàng Ngọc Hương (nhóm trưởng): Sự hình thành hệ thống khe rãnh “red canyon” và giải pháp khắc phục

Nhóm 3: Trần Tấn Cường (nhóm trưởng): Đánh giá hiệu quả công trình bờ biển Lộc An và Lagi và Kê Gà

Chuyên ngành Môi trường và Tài nguyên biển

Nhóm 1: Võ Thương Hoài (nhóm trưởng): Đặc điểm cảnh quan cồn cát Bình Châu, Suối Tiên và Bàu Trắng

Nhóm 2: Huỳnh Bá Dũng (nhóm trưởng): Hiện trạng du lịch Bãi đá Bảy màu (Cổ Thạch) và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng

Chuyên ngành Tài nguyên TN và MT

Nhóm 1: Nguyễn Thị Ngọc Anh (nhóm trưởng): Đánh giá trữ lượng và chất lượng mỏ cát thủy tinh Bình Châu

Nhóm 2: Trần Nữ Linh Đan (Nhóm trưởng): Tìm hiểu về titan trong cát đỏ Phan Thiết (chi tiết tại Suối Tiên)

Nhóm 3: Vương Hồng Nhung (Nhóm trưởng): Tiềm năng năng lượng tái tạo dải ven biển Bình Thuận

Yêu cầu công tác văn phòng trước thực địa

– Nhóm phụ trách chuyên đề chủ động xây dựng đề cương nghiên cứu, phân công các nhóm khác thực hiện một khối lượng công việc ngoài trời (có bảng phân công cụ thể).

– Các nhóm đều phải thu thập tài liệu sơ cấp liên quan đến chuyên đề.

– Chuẩn bị bản đồ, ảnh viễn thám tại từng vị trí nghiên cứu, in bản ảnh với tỉ lệ thích hợp và các thiết bị, vật tư cho công tác thực địa.

– Nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân công việc cho từng thành viên (có bảng phân công cụ thể). Đọc tiếp “CÔNG TÁC CHUẨN BỊ THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2016”