Phân tích lịch sử diễn biến đường bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm 1903-1904 đến năm 2017

Roman Sorgenfrei & Stefan Groenewold

Dựa trên các bản đồ lịch sử từ Lưu trữ Quốc gia Pháp ở nước ngoài (1903-1953), Cục Bản đồ Quân đội Hoa Kỳ (đợt bản đồ L7014, 1965-1993), ảnh vệ tinh (Landsat, 1988-2017) và vết GPS, một bộ sưu tập gồm tổng cộng 131 đường bờ biển trong lịch sử có thể được tái hiện lại sau khi số hóa và hiệu chỉnh dữ liệu cẩn thận. Như vậy, diễn biến của đường bờ biển từ năm 1903 cho đến năm 2017 có thể được quan sát và tốc độ thay đổi tính theo mét mỗi năm có thể tính toán được tương đối chính xác. Bộ sưu tập tạo thành một tập dữ liệu duy nhất với thời gian thu thập quay lại xa hơn so với dữ liệu được sử dụng chủ yếu chỉ từ ảnh vệ tinh. Tỷ lệ thay đổi này trong những thập kỷ qua (10 và 30 năm) và những xu hướng chỉ ra trong thế kỷ qua là tiêu chuẩn chính để phân loại 71 Phân đoạn (CPSs) của Công cụ bảo vệ vùng ven biển (CPMD). Chỉ có khoảng 10% bờ biển vẫn còn đang bồi tụ hơn 20 m mỗi năm, đặc biệt là ở các mũi đất Tây Nam Cà Mau. Trong khi đó, hơn 50% bờ biển dài 720 km hiện đang bị xói lở, trong đó hơn 70 km đang bị xói lở với tốc độ từ 20 đến 50 mét mỗi năm.

Hình 1: Đường bờ biển bị suy thoái từ năm 1904 đến năm 2014 ở phía Đông tỉnh Cà Mau, dựa trên những bản đồ lịch sử đã được tham chiếu địa lý và các ảnh vệ tinh gần đây. Giữa năm 1904 và 2014, khoảng 5,8 km đất ven biển bị mất (trung bình 52 m mỗi năm).
  1. Giới thiệu

Phân tích các thay đổi trong lịch sử của đường bờ biển là một trong những công cụ chính để lập kế hoạch bảo vệ vùng ven biển. Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống địa chất tương đối trẻ và phát triển khoảng 7.500 năm trước với tốc độ tiến ra biển tăng mạnh mẽ trong 3.000 năm qua cùng với mực nước biển hạ thấp. Trong hai thập kỷ qua, đã có một số nghiên cứu được tiến hành về những thay đổi về cân bằng trầm tích và các quá trình ven biển.

      2. Hiện trạng hiểu biết về sự thay đổi đường bờ biển ở Đồng bằng sông Cửu Long

  • Khoảng 80% lưu lượng trầm tích của sông Cửu Long vào biển Đông được giữ lại ở vùng đồng bằng châu thổ nằm dưới mực thủy triều thấp (đồng bằng ngập nước) trong khoảng 20-30 km ra phía ngoài khơi.
  • Lưu lượng trầm tích cao nhất diễn ra trong khoảng từ tháng 8 đến tháng 11 trong khi trong suốt thời kỳ có bão từ tháng 1 đến tháng 4 trầm tích tích được tái lơ lửng và phân bố chủ yếu qua hệ thống sông ngầm dưới nước gần bờ (trong khoảng 20 km) (Nittrouer và cộng sự, 2017).
  • Khoảng một phần ba khối lượng trầm tích này được lắng đọng gần phía Bắc và phía Nam đồng bằng là các vùng lân cận, phía đông của các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và phía bắc tỉnh Bạc Liêu. Khoảng 40-66% trầm tích được vận chuyển xa hơn theo hướng Đông Nam và lắng đọng phía Đông Nam gần mũi Cà Mau và một số khu vực nhỏ hơn gần vịnh Kiên Giang ở độ sâu mực nước từ 5-20 m (Unverricht, 2014; Liu và cộng sự, 2017a, b).
  • Đối với việc cung cấp trầm tích về phía bờ dọc theo bờ biển Tây, các quá trình tái lơ lửng và vận chuyển theo dòng chảy ngang bờ cũng đóng một vai trò, mặc dù chưa thể định lượng được đầy đủ (LMDCZ, 2017).
  • Việc giảm nguồn cung trầm tích cho các vị trí lắng đọng trầm tích đề cập trên đây sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu trầm tích của bờ biển (Nittrouer và công sự, 2017).
  • Lưu lượng trầm tích của hệ thống sông Cửu Long đổ vào biển Đông ước tính khoảng 150-160.000 tấn/năm trước thời kỳ xây dựng đập và hồ chứa, và hiện đang giảm dần. Tuy nhiên, có sự bất đồng về lưu lượng vì thời gian trễ của các tác động và dữ liệu không nhất quán cản trở việc phân tích. Hiện nay, lượng trầm tích được ước tính đã giảm xuống còn 110.000 tấn / năm (Milliman & Fainsworth, 2011) và dự kiến sẽ giảm mạnh hơn sau khi công trình xây dựng đập ở thượng nguồn sông Cửu Long được hoàn thành.
  • Việc bẫy trầm tích không chỉ là một quá trình vật lý mà còn được xác định vững chắc bởi các quá trình tích tụ sinh học và hóa học. Một quá trình tích tụ quan trọng diễn ra trong chu trình cửa sông, là nơi con sông Cửu Long xả nước ngọt ra biển tạo nên dòng chảy ngược vận chuyển nước biển và trầm tích về phía bờ. Do mực nước biển ngày càng tăng, hiệu ứng kết hợp này bị giảm đi và hiệu suất bẫy trầm tích ngày càng giảm. Mực nước biển tăng và sụt lún đất cũng dẫn đến các đáy kênh sâu hơn dẫn đến hiệu suất bẫy trầm tích thậm chí thấp hơn (Allison và cộng sự, 2017).
  • Nhiều nguồn nghiên cứu thực tiễn khác nhau đều đồng thuận là xu hướng xói lở dọc theo bờ biển ĐBSCL càng ngày càng tăng (Anthony và cộng sự, 2015). Trong khi trong giai đoạn 1973-95 vẫn có bồi tụ với tốc độ trung bình 7,2 m mỗi năm, tốc độ bồi tụ giảm xuống còn khoảng 2,8 m mỗi năm trong giai đoạn 1995-2005 và thậm chí trở thành số âm (có nghĩa là xói lở) từ năm 2005-2015, ước tính khoảng -1,4 m mỗi năm (Liu và cộng sự, 2017a, b). Xói lở xảy ra trên khoảng một nửa tổng chiều dài đường bờ biển. Điều này phù hợp với các phân tích sau đây sử dụng dữ liệu về các đường bờ biển trong lịch sử từ năm 1904. Tốc độ xói lở là một trong những tiêu chuẩn chính cho việc phân loại bờ biển trong Kế hoạch bảo vệ vùng ven biển.
  • Các tài liệu nghiên cứu cũng thống nhất khi trích dẫn về nguyên nhân chính của hiện tượng gia tăng xói lở theo thời gian, bao gồm: giảm lưu lượng trầm tích của sông Cửu Long, khai thác cát ở giữa và hạ lưu sông Cửu Long, sụt lún đất ở các khu vực ven biển do khai thác nước ngầm, nước biển dâng và sử dụng đất một cách tiêu cực trong đai rừng ngập mặn.
  1. Việc sử dụng các bản đồ lịch sử và ảnh vệ tinh để phát hiện các thay đổi đường bờ biển

Để hiểu được sự phát triển hình thái của các đường bờ biển, dữ liệu thủy văn gốc của các khu vực ven biển cũng như phân bố rừng ngập mặn trước đây, phân tích các bản đồ lịch sử, ảnh hàng không và ảnh vệ tinh có giá trị cao nhất (Albers và cộng sự, 2013). Kỹ thuật này được thử nghiệm ở Sóc Trăng và được nhân rộng ra toàn bộ bờ biển ĐBSCL. Các bản đồ và ảnh vệ tinh đã thu thập được sử dụng để số hoá các đường bờ biển từ năm 1903 cho đến năm 2017. Sau đó, chúng được sử dụng để phân tích thay đổi đường bờ biển để tính toán tốc độ lùi vào và tiến ra cũng như biến động diện tích xói và bồi. Tốc độ được tính toán bằng cách sử dụng ArcGIS 10 mở rộng DSAS – Hệ thống phân tích đường bờ kỹ thuật số (Khảo sát địa chất Hoa Kỳ, 2018a).

Để loại bỏ tình trạng không rõ ràng liên quan đến các thuật ngữ đường bờ biển và đường bờ, sau đây là định nghĩa ngắn gọn của cả hai thuật ngữ. Mặc dù có ý nghĩa khác nhau, hai thuật ngữ này thường bị sử dụng nhầm lẫn trong các tài liệu khoa học:

  • Đường bờ được quốc tế định nghĩa chủ yếu là mực nước cao trung bình, mặc dù thông thường đường bờ di chuyển lên và xuống cùng với thủy triều.
  • Tùy thuộc vào ngữ cảnh, đường bờ biển thường được xác định là ranh giới phân bố của thực vật trên cạn và biển, hoặc đường thủy triều cao thông thường trên bãi biển hoặc chân vách đá ở bờ biển đá. Các định nghĩa này chưa được sử dụng một cách nhất quán giữa các nhà hoạch định chính sách và trong khung pháp lý ở Việt Nam.

Các thông tin kỹ thuật sau đây về cách tiến hành từ các bản đồ gốc sang phân tích theo chuỗi thời gian đường bờ biển chủ yếu hướng đến các chuyên gia GIS. Mô tả chi tiết hơn về quy trình thực hiện có thể được tìm thấy trong thư viện Kế hoạch Bảo vệ vùng ven biển (Sorgenfrei, 2016). Người đọc ít quan tâm đến các thủ thuật kỹ thuật về GIS có thể tiếp tục tham khảo ở phần 10, nơi có minh họa một số kết quả được chọn.

  1. Bộ sưu tập bản đồ lịch sử Các bản đồ được thu thập trong kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc có tỷ lệ ít nhất là 1/100 000.

Nếu tỷ lệ nhỏ hơn, các chi tiết bản đồ như đường bờ biển, kênh, cửa sông, vv. quá thiếu chính xác và thường phải tổng hợp quá nhiều tài liệu để có thể sử dụng cho phân tích về biến động đường bờ biển.

Các bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc bao trùm thời gian nửa đầu thế kỷ 20 và được xuất bản trong các hệ thống tham chiếu tọa độ khác nhau (CRS). Bảng 1 đưa ra tổng quan về các thuộc tính của các bản đồ này.

Bảng 1: Thuộc tính của các bản đồ lịch sử được chọn

Ngoài các bản đồ này, các bản đồ địa hình của Việt Nam do Cơ quan Bản đồ Quân sự Hoa Kỳ xuất bản đã được sử dụng (Thư viện Đại học Texas, 2018a), đặc biệt là đợt bản đồ “mới” L7014 được xuất bản cho toàn bộ Việt Nam. Đối với đợt bản đồ này, bản đồ địa hình cũ của Pháp đã được cập nhật bởi một số đoàn công tác chụp không ảnh và tăng tỷ lệ lên 1/50 000 bởi Cơ quan Bản đồ Quân sự Hoa Kỳ (Dang & Le, 2001). Các bản đồ này là bản đồ quét chính xác nhất và chi tiết nhất được sử dụng cho việc biên tập này. Phần lớn các bản đồ trong chuỗi này hiển thị khu vực ĐBSCL từ năm 1965, nhưng một số bản đồ từ những năm sau đó (xem Bảng 2). Rất ít bản đồ được cập nhật lần cuối trong năm 1989 hoặc thậm chí năm 1993, mà các bản đồ này không có phiên bản cũ hơn có sẵn trực tuyến nữa. Một bản đồ hiển thị một phần của đảo Phú Quốc là từ năm 1957, trong khi bản đồ hiển thị biên giới giữa Việt Nam và Campuchia là từ năm 1993. Bản đồ thứ hai là bản đồ duy nhất của Cơ quan Lập bản đồ và Ảnh Quốc gia Hoa Kỳ, Đợt L7015, Bản đồ địa hình Campuchia (Đại học Thư viện Texas, 2018b).

Bảng 2: Các bản đồ địa hình của Việt Nam từ Cơ quan Bản đồ Quân sự Hoa Kỳ, Đợt L7014 (Đại học Thư viện Texas, 2018a).

Để đảm bảo rằng việc phân tích và so sánh dữ liệu địa lý từ các nguồn khác nhau, và trong trường hợp hiện tại đặc biệt là được đo từ thời gian khác nhau, cần thiết sử dụng một hệ tham chiếu tọa độ chung (CRS). Hệ CRS quốc tế thường được sử dụng để trao đổi dữ liệu địa lý là hệ tọa độ địa lý WGS 84 (EPSG: 4326). Hầu hết các CRS khác thường được áp dụng trong lập các bản đồ vùng, các thuật toán chuyển đổi thành WGS 84 tồn tại và thường được cung cấp với phần mềm GIS. Do đó WGS 84 là hệ tham chiếu tọa độ chung (CRS) để chọn làm cho dữ liệu địa lý có sẵn cho càng nhiều người sử dụng càng tốt.

  1. Xử lý các bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc và loạt bản đồ L7014

Thật không may, các bản đồ cũ thiếu thông tin về dữ liệu trắc địa cần thiết để gắn tham chiếu địa lý vào bản đồ được quét vào CRS ban đầu và sau đó chuyển vào WGS 84. Do đó, loạt bản đồ L7014 được cung cấp ở định dạng GeoPDF được xử lý trước và dựa vào kết quả này, các bản đồ cũ được gắn tham chiếu địa lý trực tiếp vào WGS 84. Quá trình gắn tham chiếu địa lý vào loạt bản đồ L7014 được thể hiện trong bảng 3. Các bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc đã gắn tham chiếu địa lý bằng QGIS. Khi tham chiếu các bản đồ từ loạt ảnh L7014 được sử dụng kết hợp với ảnh vệ tinh của Google Maps (plugin QuickMapServices cho QGIS). Từ 19 đến 61 GCP được sử dụng để gắn tham chiếu địa lý cho mỗi bản đồ lịch sử tập trung vào các điểm trong khu vực ven biển.

Tất cả các bản đồ lịch sử được tham chiếu địa lý hiện có sẵn trong WGS 84 tại một cơ sở dữ liệu địa lý lưu trữ cục bộ. Trước khi xuất bản, chúng nên được chiếu vào UTM 48N (WGS 84 / UTM 48N = EPSG: 32648).

Bảng 3: Tiến trình gắn tham chiếu địa lý cho loạt bản đồ L7014.
Bảng 4: Quy trình gắn tham chiếu địa lý cho bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc
  1. Những hạn chế do chất lượng bản đồ

Cần phải đề cập là loạt ảnh L7014 có độ chính xác cao nhất theo nhiều khía cạnh. Nếu so sánh với các bản đồ cũ hơn ví dụ như thông tin về thủy văn, kênh rạch thủy lợi, thì bản đồ này chính xác hơn. Do đó, các bản đồ từ năm 1953 cần được xử lý cẩn thận, vì chúng đòi hỏi độ chính xác cho các nội dung chi tiết, nhưng quá trình gắn tham chiếu địa lý lại có mức độ khái quát hóa cao các đặc điểm của bản đồ thủy văn. Các khu vực ven biển, đặc biệt là đường bờ biển, từ các ranh giới bản đồ gần với ranh giới của tỉnh Kiên Giang và Cà Mau, có thể xem là không chính xác cho tất cả các bản đồ của kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc. Cũng giống như vậy đối với các bản đồ từ năm 1953, nằm giữa các ô bản đồ của phía Tây Cà Mau và phía Nam Cà Mau.

  1. Ảnh vệ tinh Google Earth

Các máy chủ của Google lưu trữ một bộ sưu tập lớn các hình ảnh vệ tinh sắp xếp cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một số khu vực trước năm 2000 và vẫn tiếp tục được cập nhật. Những hình ảnh này thì tốt, và cũng ở độ phân giải cao trong những năm gần đây, cung cấp nhiều thông tin về sự phát triển của các khu vực ven biển. Tuy nhiên, chúng phải được xử lý cẩn thận vì tham chiếu địa lý của chúng không phải lúc nào cũng chính xác (sai số khoảng 20 m). Vì thế kết quả các sai số nhỏ do quá trình tham chiếu địa lý thủ công được xuất ra từ các hình ảnh Google Earth (ảnh chụp màn hình) có thể bỏ qua.

Nói chung, bản đồ Google Earth có thể được chia thành các hình ảnh vệ tinh gần đây, thường được hiển thị khi sử dụng GUI của Google Earth và các hình ảnh vệ tinh lịch sử được cung cấp bổ sung. Do Google chọn thời gian hình ảnh hiển thị ở chế độ xem chuẩn dựa trên thời gian cũng như chất lượng của chúng (ví dụ: lượng mây che phủ), một số hình ảnh vệ tinh có sẵn thể hiện chế độ xem theo thời gian và cập nhật thời gian gần hơn so với các ảnh thông thường.

Các hình ảnh vệ tinh gần đây có thể được tải xuống trực tiếp từ các máy chủ của Google bằng phần mềm ‘Google Satellite Maps Downloader’. Nó tải tất cả các ô được lưu trữ cho hình chữ nhật được chọn được mở rộng từ các máy chủ Google và cung cấp tùy chọn để kết hợp các ô vào một tệp BMP đơn giản đã được tham chiếu sẵn (CRS = WGS 84, EPSG: 4326).

Hình ảnh lịch sử của Google Earth có thể được trích xuất tốt nhất dưới dạng ảnh chụp màn hình có độ phân giải cao, một chức năng có sẵn miễn phí trong ‘Google Earth Pro’ (Google Earth Pro, 2018). Để tham chiếu những hình ảnh này dễ dàng hơn và nhanh hơn, khi xem trong Google Earth Pro cần định hướng phía bắc, không nghiêng và địa hình cần phải được tắt để loại bỏ sự phóng đại theo chiều đứng làm thay đổi hình ảnh. Bằng cách thêm ‘Placemarks” như là các điểm kiểm soát mặt đất (GCPs) ở ba góc của khu vực được chọn trước khi xuất ảnh chụp màn hình, có thể tham chiếu dễ dàng bằng công cụ ‘Georeferencer’ của QGIS, một phần mềm GIS nguồn mở miễn phí (QGIS, 2018). Các tọa độ có thể được trích xuất từ các thuộc tính Đánh dấu vị trí của Google Earth, do đó hình ảnh vệ tinh hiện tại cũng như lịch sử từ Google Earth có thể được định vị tham chiếu một cách chính xác. Các hình ảnh từ Google Earth được sử dụng trong phân tích này là do hai nhà cung cấp bản quyền. Các hình ảnh cho đến năm 2013 do DigitalGlobe cung cấp, trong khi các hình ảnh từ năm 2014 là do CNES / Astrium cung cấp. Trước khi xuất bản bản đồ với hình ảnh vệ tinh trên nền do Google cung cấp, cần phải làm rõ các vấn đề về giấy phép. Để biết thêm thông tin, hãy xem mục Trợ giúp của Google Earth (2018) và mục Bản quyền của Google (2015). Việc sử dụng dữ liệu, như trong trường hợp chúng ta số hóa đường bờ biển với phạm vi xác định bởi ranh giới của rừng về phía biển, đã được cấp phép đầy đủ.

  1. Ảnh vệ tinh Landsat bổ sung dữ liệu

Để bổ sung khoảng trống giữa các dữ liệu từ bản đồ lịch sử và hình ảnh Google ở trên, 40 hình ảnh vệ tinh miễn phí từ Landsat (Landsat 5 TM, Landsat 5 TM C1 Cấp 1 và Landsat 8 OLI / TIRS) được bao gồm dưới dạng nguồn dữ liệu trong vòng hai năm qua. Chúng bao gồm toàn bộ vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long trong những năm 1988, 1995, 2000, 2005, 2010, 2015 và 2017. Trong tương lai, các hình ảnh từ Landsat 8 OLI / TIRS hoặc Sentinel, một nguồn ảnh vệ tinh miễn phí khác có thể được sử dụng để mở rộng tập dữ liệu. Những hình ảnh này có thể được tải xuống, trong số các dữ liệu vệ tinh khác, thông qua phần mềm EarthExplorer (Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, 2018c).

Đối với hình ảnh của Google Earth, đường bờ biển cho ảnh vệ tinh Landsat được xác định như là ranh giới của rừng về phía biển. Để làm cho việc nhận dạng trở nên dễ dàng hơn, thông tin hình ảnh đa hướng của các ảnh Landsat được sử dụng để tính toán các “cạnh đỏ”, tận dụng các bước sóng hồng ngoại gần được ghi lại bởi các vệ tinh. Do đó, thực vật dễ dàng được xác định trong các hình ảnh và được số hóa.

  1. Áp dụng chương trình “Hệ thống phân tích thay đổi đường bờ biển (DSAS)”

Việc áp dụng DSAS được mô tả chi tiết trong phần ‘Giới thiệu Cài đặt và Hướng dẫn Sử dụng’, có sẵn trên trang web của Sở Địa chất Hoa Kỳ (U.S. Geological Survey, 2018b). Ngoài ra, Madore (2014) cung cấp một hướng dẫn từng bước rất tốt cho quy trình làm việc DSAS hoàn chỉnh. Một tập dữ liệu chung với một tập hợp các đường bờ biển kéo dài trong suốt khoảng thời gian từ năm 1903/04 đến năm 2017 và bao gồm toàn bộ ĐBSCL được tạo ra cho các phân tích tổng quan. Do đó, các đường bờ biển của các bản đồ lịch sử được tham chiếu địa lý từ năm 1903/04và năm 1951/53, và chuỗi bản đồ L7014 đã được số hoá.

Bản đồ từ năm 1923/24 chỉ khác với bản đồ năm 1903/04 về thông tin không ảnh của hoạt động sử dụng đất và thủy văn nhưng có đường bờ biển giống với bản đồ cũ. Do đó, chúng không được số hóa và được loại khỏi các phân tích.

Bởi vì các đường bờ biển được số hóa từ 1903/04 và 1951/53 kém chính xác hơn so với những đường bờ biển gần đây hơn trong các bản đồ vệ tinh L7014 và Google Earth nên kết quả tính toán với chúng cần được xử lý cẩn thận. Chúng ít chính xác hơn so với kết quả của các đường bờ biển sau đó và do đó chỉ có thể được sử dụng làm các chỉ số cho sự tiến triển đường bờ biển trong thời gian dài.

Trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2017, các đường bờ biển, được xác định như là ranh giới của rừng về phía biển, được số hóa dựa trên các hình ảnh vệ tinh. Hình ảnh vệ tinh Google Earth gần đây đã được số hóa cho toàn bộ vùng đồng bằng. Để phân tích sâu các khu vực trọng điểm, các hình ảnh vệ tinh lịch sử có sẵn từ Google Earth cũng được số hóa và bổ sung với các đường bờ biển sẵn có từ các khảo sát và giám sát ven bờ do các dự án GIZ tại Bạc Liêu và Sóc Trăng thực hiện cũng như bản đồ lịch sử số hóa từ cơ sở dữ liệu địa lý của Sóc Trăng. Ngoài ra, hình ảnh vệ tinh Landsat đã được số hóa để bổ sung cho cơ sở dữ liệu đến năm 2017. Tất cả các số hóa được thực hiện theo chiều kim đồng hồ, giúp đơn giản hóa việc sử dụng một số công cụ của ArcGIS. Bạn có thể tải xuống toàn bộ tập dữ              liệu qua CPMD trực tuyến. Một bộ sưu tập gồm 14 đường bờ biển trải dài trong thời gian hoàn chỉnh có thể được hiển thị trong CPMD trực tuyến trong mục Khảo sát -> Đường bờ biển lịch sử.

Cần thiết có ít nhất hai đường bờ biển từ các mốc thời gian khác nhau để tính toán tỷ lệ thay đổi bằng DSAS qua việc cung cấp một số phương pháp tính toán thống kê (U.S. Khảo sát địa chất Mỹ, 2018b). Các phương pháp được trích dẫn thường xuyên nhất là phương pháp EPR (tỷ lệ điểm cuối) và phương pháp LRR (hồi quy tuyến tính) (Thi et al., 2014). Điều này được thực hiện là vì các phương pháp đòi hỏi ít nhất về dữ liệu đầu vào. EPR được tính bằng cách chia khoảng cách của đường bờ biển theo thời gian trôi qua giữa đường bờ biển cũ nhất và mới nhất trong một tập dữ liệu nhất định. Ưu điểm chính của nó là tính toán dễ dàng và yêu cầu tối thiểu chỉ có hai kỳ hạn đường bờ biển. Điểm bất lợi lớn nhất là trong trường hợp có nhiều dữ liệu có sẵn hơn, các thông tin bổ sung sẽ bị bỏ qua (Sở Địa chất Hoa Kỳ, 2018b). Phương pháp này được sử dụng cho tỷ lệ thay đổi đường bờ biển tổng quan giữa dữ liệu từ bản đồ lịch sử và hình ảnh vệ tinh Google Earth mới nhất được sử dụng trong phân tích này (2014/15).

LRR là kết quả của việc ước tính tốc độ thay đổi trung bình bằng cách sử dụng một số vị trí bờ biển theo thời gian, với thống kê thay đổi phù hợp với đường hồi qui bình phương tối thiểu cho tất cả các điểm bờ biển cho mỗi tuyến. Tốc độ hồi quy tuyến tính là độ dốc của đường thẳng (Thi et al., 2014). Phương pháp này sử dụng tất cả dữ liệu có sẵn không kể những thay đổi về xu hướng hoặc độ chính xác và dễ sử dụng. Tuy nhiên nó dễ bị ngoại lệ và có xu hướng đánh giá thấp tỷ lệ thay đổi so với các phương pháp thống kê khác, giống như EPR (Sở Địa chất Hoa Kỳ, 2018b). Cả hai phương pháp đều được sử dụng để phân tích đường bờ biển (Sorgenfrei, 2016).

Mặc dù không thể xác định giá trị về độ chính xác cho các bản đồ lịch sử cũ, nhưng lại có thể xác định cho các hình ảnh vệ tinh của Google Earth cũng như cho chuỗi bản đồ L7014. Bởi vì vậy, và bởi vì cả hai phương pháp tính toán này đã không sử dụng thông tin chính xác trong quá trình tính toán, nên độ chính xác của các đường bờ biển đơn lẻ không được tính đến trong các phân tích đã tiến hành. Để phân tích sâu hơn về dữ liệu gần đây hơn, có thể phân bổ độ chính xác, các phương pháp thống kê khác như hồi quy tuyến tính trọng số (WLR), có thể được sử dụng trong phương pháp DSAS (Sở Địa chất Hoa Kỳ, 2018b).

Tính toán thay đổi đường bờ bổ sung từ sử dụng ảnh vệ tinh Landsat được tiến hành bao gồm toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long cho các tuyến điều tra cách nhau 100 mét dọc theo bờ biển. Chỉ những phần bờ biển được phân loại là đoạn đặc biệt trong CPMD mới được loại trừ, có tổng cộng 20 km bờ biển, đó là các đoạn có sự phát triển bến cảng ở Sông Đốc, Cà Mau, lấn biển ở Rạch Giá, Kiên Giang và kênh và nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, Trà Vinh. Tính toán đầu tiên là EPR dựa trên các đường bờ biển 1988 và 2015 (30 năm), lần thứ hai EPR dựa trên năm 2005 và 2015 (10 năm). Kết quả cho tất cả các tuyến điều tra xung quanh bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long có thể được hiển thị trong CPMD trực tuyến (các lớp nằm trong mục Khảo sát -> Thay đổi bờ biển hơn 10/30 năm). Tỷ lệ thay đổi được phân loại thành 6 lớp.

  1. Một số kết quả lựa phân tích biến động đường bờ ở Đồng bằng sông Cửu Long

Kết quả phân tích tốc độ xói lở nói trên (EPR) trong suốt hơn 10 năm cho mỗi 100m dọc bờ biển ĐBSCL cho thấy chỉ có 10% bờ biển được bồi lắng trong khi có hơn 50% bị xói lở. Hơn 70km bị xói lở với tốc độ từ 20 đến 50m mỗi năm (bảng 5).

Bảng 5: Kết quả tổng quan về phân tích biến động đường bờ biển sử dụng EPR (tỷ lệ điểm cuối) trong DSAS trong giai đoạn 2005 – 2015. * Trong tổng số 720km đường bờ có các cảng ở Sông Đốc, Cà Mau, khu lấn biển ở Rạch Giá, Kiên Giang và các kênh và nhà máy nhiệt điện ở Duyên Hải, Trà Vinh chiểm khoảng 20km đã được loại trừ.
Bảng 6: Tổng quan về kết quả phân tích biến động đường bờ biển sử dụng EPR (tỷ lệ điểm cuối) trong DSAS giai đoạn 1988-2015. * Trong tổng số 720km đường bờ có các cảng ở Sông Đốc, Cà Mau, khu lấn biển ở Rạch Giá, Kiên Giang và các kênh và nhà máy nhiệt điện ở Duyên Hải, Trà Vinh chiểm khoảng 20km đã được loại trừ.

Sau đây là một số địa điểm được lựa chọn xung quanh ĐBSCL được minh họa như là ví dụ, cũng như các địa điểm khác cũng có thể được thể hiển trong CPMD (Khảo sát -> biến động bờ biển trên 10/30 năm và Khảo sát -> Lịch sử biến động đường bờ biển).

Hình 2. Ví dụ này cho thấy sự thay đổi của đường bờ biển trong khu vực ranh giới giữa Bạc Liêu và Cà Mau (từ CPMD trực tuyến) cho thấy sự thoái trào một cách ổn định. Đường bờ biển từ năm 1904 (đường trắng) đến năm 2017 (đường màu xanh) với các xu hướng thay đổi trong 10 năm được chỉ ra là đường thẳng được thể hiện trong CPMD trực tuyến. Dữ liệu đã xử lý cho đường bờ biển bắt nguồn từ bản đồ lịch sử và hình ảnh vệ tinh có thể tải xuống (dưới dạng định dạng shapefile GIS) trên CPMD trực tuyến.
Hình 3. Bờ biển Cà Mau khoảng năm 1889. Nguồn: Cơ quan Lưu trữ quốc gia (Archives nationales d’outre-mer or ANOM), tiền thân là Trung tâm Lưu trữ nước ngoài (Centre des archives d’outre-mer), ở tỉnh Aix-en, CH Pháp.
Hình 4. Mũi phía Nam của Cà Mau là một trong số ít các khu vực còn lại ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy sự bồi tụ tiếp diễn từ năm 1903. Tại thời điểm đó, từ sự hình thành một mũi ‘nhô’ điển hình, tới nay trầm tích đã bồi rộng thêm tới 5 km về phía Bắc. Sự diễn tiến này có thể được coi là một chỉ thị quan trọng cho nguồn cung cấp trầm tích tới các vị trí lắng đọng ngoài khơi phía Tây Nam mũi Cà Mau. Phần phía Tây của rừng ngập mặn là Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được bảo vệ. Phía bên phải (bờ biển phía Đông Nam Cà Mau) có thể bị xói mòn lâu dài.
Hình 5. Phạm vi không gian lớn hơn bao gồm khu vực được mô tả trong Hình 4. Có thể thấy rất rõ sự mất đất do xói lở từ năm 1904 dọc theo bờ Biển Đông (Cà Mau và phía Nam Bạc Liêu) ngược lại với sự bồi tụ mạnh mẽ dọc theo bờ Biển Tây nhô ra ở phía Bắc. Mặc dù vẫn còn những nghi hoặc, có thể giả định rằng xu hướng này sẽ tiếp tục và cho thấy sự thiếu trầm tích liên tục dọc theo bờ biển Tây Nam (CPR 5). Phân tích GIS cũng đưa ra ước tính diện tích đất bị mất và tăng lên, và dải ven biển phía Nam dọc theo Biển Đông bị mất đất liên tục suốt từ năm 1904.
Hình 6. Vùng ven biển phía Nam vùng cửa sông. Một mô hình điển hình là sự xói mòn nổi bật ở phần phía Bắc của đầu bờ biển được mô tả ở đây (Vĩnh Hải, tỉnh Sóc Trăng) và bồi đắp vào cuối phía Nam. Mô hình này được tìm thấy rõ ràng hơn ở tất cả các cồn/cù lao sông. Các thay đổi trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2016 được chỉ ra ở đây.
Hình 7. Thay đổi bờ biển ở Cù Lao Dung (Sóc Trăng) từ năm 1904 đến năm 2012 ở nhánh phía Nam của hệ thống sông Cửu Long. Kết quả phân tích GIS, bản đồ nền do ESRI cung cấp, hình ảnh vệ tinh từ DigitalGlobe 2008 & 2011, GeoEye 2000 & 2009 và i-cubed 1999 (Roman Sorgenfrei, xuất bản trong SCHMITT & ALBERS 2014). Tâm của cù lao này hẹp hơn nhiều vào năm 1904 và đất đai được mở rộng chủ yếu về phía Nam và phía Đông vào Biển Đông. Đối với phân tích này, đường bờ biển được xác định là mép rừng ngập mặn ven biển, dù không chính xác theo các định nghĩa chính thức của bờ biển hoặc đường bờ biển nhưng lại thực tế hơn nếu làm việc với các bản đồ lịch sử. Tỷ lệ bồi tụ dao động từ 6,2 đến 68,2 m mỗi năm trong khoảng thời gian 108 năm.
Hình 8. Chi tiết lịch sử đường bờ biển vịnh Kiên Giang tại ranh giới giữa huyện An Minh và An Biên. Đường màu trắng cho thấy đường bờ biển được giả định vào khoảng năm 1904. Nhìn chung, bờ biển đang tiến triển theo hướng Tây Bắc kể từ đó. Tuy nhiên, ở phía Tây (phía bên trái của hình) bờ biển có xu hướng thụt lùi từ sau năm 1988. Xu hướng này có thể nhận biết được dọc theo toàn bộ đoạn kéo dài về phía Nam điểm này đến Phú Tân ở tỉnh Cà Mau.
Hình 9. Thay đổi đường bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long từ 1903/4 đến 2015. Tỷ lệ thay đổi lớn khoảng 60 m/năm xói lở cũng như bồi tụ 100 m/năm có thể được thấy trong phân tích này. Bồi tụ trong thế kỷ trước là dọc theo bờ biển của tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Trong giai đoạn này, trong khi bờ biển phía Đông của tỉnh Cà Mau có tỷ lệ xói lở cao nhất thì bờ biển phía Tây lại có tỷ lệ bồi tụ cao nhất. Ở phía Tây Cà Mau gần và qua ranh giới với Kiên Giang, không quan sát thấy có thay đổi lớn nào trong suốt 110 năm qua, ngoài sự mất đất trong hai thập kỷ gần đây.
  1. Kết luận và kiến nghị

Mặc dù khá phức tạp về chuyên môn kỹ thuật nếu áp dụng cho các đoạn đường bờ biển dài hơn, việc phân tích các đường bờ biển lịch sử bổ sung thêm giá trị rõ ràng vào quy hoạch bảo vệ bờ biển. Xu hướng có thể bắt nguồn từ cơ sở dữ liệu rộng hơn trong không gian và thời gian để nhận biết các khu vực không thể nhìn thấy từ các điểm nóng xói lở ngắn hạn và khảo sát một lần. Bờ biển trầm tích rất năng động bởi liên tục được tiếp xúc với các tác động không ngừng thay đổi về mặt thủy văn một cách tự nhiên. Toàn bộ ĐBSCL vẫn đang trong quá trình hình thành như là kết quả của các tác động này. Bằng cách bao gồm không chỉ hình ảnh vệ tinh mà còn bản đồ lịch sử (ít nhất từ 1903/4 trở lại đây), cái nhìn sâu sắc hơn về thay đổi được cung cấp. Các xu hướng về quy mô không gian và thời gian lớn hơn được phản ánh trong việc phân loại các bờ biển ở ĐBSCL thành 7 “Vùng bảo vệ bờ biển (CPR)”. Sự hiểu biết về động thái ven biển và sự phân loại thành các vùng tương ứng giúp chuyển từ bảo vệ bờ biển theo hướng ứng phó khẩn cấp theo hướng bảo vệ bờ biển chiến lược. Chúng tôi khuyên bạn nên mở rộng bộ sưu tập đường bờ biển bằng sử dụng các hình ảnh vệ tinh trong tương lai đang được xuất bản miễn phí (ví dụ: hình ảnh vệ tinh Sentinel).

Tài liệu tham khảo

Albers, T., Dinh, C. S. & K. Schmitt (2013): Hướng dẫn quản lý bờ biển – Bảo vệ bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long.

Allison, M.A., C.A. Nittrouer, A.S. Ogston, J.C. Mullarney and T.T. Nguyen (2017): Trầm tích và sự sống còn của đồng bằng sông Cửu Long: Một nghiên cứu trường hợp về suy giảm nguồn cung cấp trầm tích và tỉ lệ gia tăng nước biển dâng. Hải dương học 30 (3):98-109, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.318.

Anthony, E.J., G.Brunier, M. Besset, M. Goichot, P. Dussouillez and V.L. Nguyen (2015): Những liên kết xói mòn nhanh ở đồng bằng sông Cửu Long với hoạt động của con người. Báo cáo khoa học 5:14745, Doi:10.1038/srep14745. http://www.Nature.com/scientificreports.

Dang, H. V. & Q. T. Le (2001): Sự phát triển về công nghệ khảo sát và lập bản đồ ở Việt Nam. – <http://www.fig.net/resources/proceedings/fig_proceedings/korea/fullpapers/pdf/session3/dang-le.pdf&gt; (accessed: 02.07.2018).

Trợ giúp Google Earth (2018): Sử dụng ảnh Google Earth. –<https://support.google.com/earth/search?q=Use+of+Google+Earth+Imagery > (accessed: 02.07.2018).

Google Earth chuyên nghiệp (2018): Tải Google Earth Pro cho PC, Mac, hoặc Linux. –<https://www.google.com/earth/download/gep/agree.html&gt; (accessed: 02.07.2018).

Cấp phép Google (2015): Sử dụng bản đồ Google và Google Earth. –<http://www.google.com/permissions/geoguidelines.html&gt; (accessed: 02.07.2018).

Liu, J.P., D.J. DeMaster, T.T. Nguyen, Y. Saito, V.L. Nguyen, T.K.O. Ta, and X. Li. (2017a): Hình thành địa tầng của ĐBSCL và sự thay đổi đường bờ gần đây. Oceanography 30(3):72–83, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.316.

Lui, J.P., D.J. DeMaster,, C. Nittrouer, A. Nittrouer, E.F. Eidam, and T.T. Nguyen (2017b): Nghiên cứu đại chấn của ĐBSCL ngập nước – Tích tụ trầm tích gần so với xa. Continental Shelf Research, Vol 147, pp 197-212.

LMDCZ, (2017). Vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, trang web dự án và báo cáo cuối cùng, Liên minh châu Âu, Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Viện khoa học thủy lợi miền Nam (SIWRR). http://lmdcz.siwrr.org.vn.

Madore, B. (2014): Thay đổi bờ biển từ quy trình các sự kiện bão bằng cách sử dụng Hệ thống phân tích bờ biển kỹ thuật số. –<http://sandy.ccom.unh.edu/publications/library/Shoreline_change_procedural_2014_11_18.pdf&gt; (28.09.2015).

Milliman, J.D. and K.L. Fainsworth, (2011): Sự xả ra đại dương: Một tổng hợp toàn cầu. Tạp chí đại học Cambridge, New York, trang 1-394.

Nguyen, V.L., T.K.O. Ta, M. Tateishi, I. Kobayashi and Y. Saito (2005): Sự tiến hóa Holocen của đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Tạp chí của Hội Địa chất Nhật Bản 111(11):XXI. https://dol.org/10.5575/geosoc.111.11.XXI.

Nittrouer, C.A., D.J. DeMaster, E.F. Eidam, T.T. Nguyen, J.P. Liu, A.S. Ogston and P.V. Phung (2017): Thềm lục đại Mê Công: Sụt lún sơ cấp của các hạt trầm tích. Hải dương học 30 (3):60-70, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.314.

Nittrouer, C.A., J.C. Mullarney, M.A. Allison, and A.S. Ogston. (2017b): Giới thiệu về các vấn đề đặc biệt về quá trình bồi lắng trầm tích tại đồng bằng nhiệt đới hôm qua, hôm nay và ngày mai: Hệ thống Mekong. Oceanography 30(3):10–21, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.310.

QGIS (2018): QGIS – Phần mềm hệ thống thông tin địa lý mã nguồn mở và miễn phí. –<https://qgis.org/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Schmitt, K. & T. Albers (2014): Bảo vệ vùng ven biển và sử dụng kè phá sóng tre ở đồng bằng sông Cửu Long. – In: Nguyen, D. T.; Takagi, H. & M. Esteban [eds.] (2014): Thiên tai ven biển và biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Quan điểm kỹ thuật và quy hoạch. 107-132. Amsterdam, Boston, Heidelberg.

Sorgenfrei, R. (2016): Báo cáo về dịch vụ tư vấn cho việc tạo ra một cơ sở dữ liệu địa lý liên quan đến khu vực ven biển bao gồm các bản đồ lịch sử đã được xử lý từ lưu trữ của Pháp cũng như tài liệu GIS gần đây và ước tính hồi quy bờ biển từ năm 1904 ở đồng bằng sông Cửu Long. – <http://coastal-protectionmekongdelta.com/download/library/8.R.Sorgenfrei2016_Coastal_geodatabase_estimation_coastline_regressionsince1904_southernMekongDelta.pdf&gt; (accessed: 02.07.2018).

Thi, V. T., Xuan, A. T. T., Nguyen, H. P., Dahdouh-Guebas, F. & N. Koedam (2014): Ứng dụng viễn thám và GIS để phát hiện các thay đổi bờ biển ngập mặn lâu dài ở Mũi Cà Mau, Việt Nam. – Biogeosciences 11:3781-3795.

Thư viện đại học Texas (2018a): Dịch vụ bản đồ quân đội Mỹ, Đợt bản đồ L7014, Vietnam Bản đồ địa hình 1/50 000. – <http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Thư viện đại học Texas (2018b): Cơ quan lập bản đồ và hình ảnh quốc gia Mỹ, Đợt bản đồ L7015, Bản đồ địa hình Campuchia 1/50 000. –<http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/cambodia/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Sở Địa chất Hoa Kỳ (2018a): DSAS – Hệ thống phân tích bờ biển kỹ thuật số. Phần mềm máy tính để tính toán thay đổi bờ biển. – <http://woodshole.er.usgs.gov/projectpages/DSAS/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Sở Địa chất Hoa Kỳ (2018b): Hệ thống phân tích bờ biển kỹ thuật số (DSAS) phiên bản 4.0 -một phần mở rộng ArcGIS để tính toán thay đổi bờ biển. –<http://woodshole.er.usgs.gov/project-pages/DSAS/version4/index.html&gt; (02.07.2018).

Sở Địa chất Hoa Kỳ (2018c): Thám hiểm trái đất. – <http://earthexplorer.usgs.gov/&gt; (02.07.2018).

Cơ quan Lưu trữ quốc gia nước ngoài (Archives nationales d’outre-mer or ANOM), tiền thân là Cơ quan lưu trữ quốc gia nước ngoài (Centre des archives d’outre-mer), mở ra ở tỉnh năm 1966.

Unverricht, D, (2014): Các quá trình thủy văn, hình thái và trầm tích học ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam, Luận văn, Christian-Albrechts University Kiel.

Nguồn:

http://coastal-protection-mekongdelta.com/download/Tools/TOOLS%20CPMD%20Coastline%20change%20analysis_VN.pdf

 

Điện gió và điện mặt trời sắp rẻ hơn nhiệt điện

Giá của các loại năng lượng tái tạo đang giảm nhanh hơn so với dự đoán từng được đưa ra chỉ cách đây vài năm nhờ các công nghệ mới điển hình như những turbine gió khổng lồ.

Hình 1

Đó là kết luận vừa được Bloomberg New Energy Finance (BNEF) đưa ra. Theo ước tính của nhà sáng lập BNEF Michael Liebreich, năng lượng sạch sẽ chiếm tới 86% trong tổng số 10.200 tỷ USD dự đoán sẽ được rót vào ngành công nghiệp năng lượng từ nay đến năm 2040.

Trong 1 bài thuyết trình ở London tuần trước, Liebreich cho rằng với các công nghệ phát triển giúp giảm chi phí của các trang trại điện gió và điện mặt trời, khó có thể tránh khỏi việc ở nhiều nơi trên thế giới năng lượng sạch sẽ có tính kinh tế cao hơn so với nhiên liệu hóa thạch.

Có thể nhìn thấy rõ ràng sự phát triển vượt bậc của công nghệ điện gió trong biểu đồ dưới đây. Công suất và kích thước của các turbine gió đã tăng lên nhanh chóng.

Hinh 2

Kể từ khi bắt đầu thu thập dữ liệu vào năm 2004, BNEF đã nhìn thấy xu hướng các máy móc trong ngành công nghiệp điện gió ngày càng có kích thước to hơn và công suất cũng lớn hơn. Siemens AG và Vestas Wind Systems A/S đang cung cấp turbine có vòng quay cánh quạt lớn hơn cả 1 chiếc máy bay thân rộng Airbus A380.

Hào hứng với triển vọng trong thập kỷ tới sẽ có những turbine gió khổng lồ, nhà đầu tư của các trang trại điện gió ngoài khơi của Đức đã hứa hẹn các dự án tiếp theo sẽ không cần phải nhận sự trợ cấp của Chính phủ.

“Một trong số nhiều lý do khiến chi phí sản xuất điện gió giảm mạnh là những turbine mới thực sự là những con quái vật”, Liebreich nói. “Hãy tưởng tượng turbine cao hơn cả tòa tháp Shard”.

Liebreich chỉ ra 2 thời điểm bước ngoặt quan trọng sẽ khiến công nghệ sản xuất điện bằng khí đốt và than đá trở nên kém hấp dẫn vì chi phí sản xuất năng lượng tái tạo quá rẻ.

“Thứ nhất là khi năng lượng gió và năng lượng mặt trời trở nên rẻ hơn tất cả mọi thứ”. Ví dụ, ở Nhật Bản, đến năm 2025 chi phí để xây 1 nhà máy điện mặt trời sẽ rẻ hơn so với nhà máy nhiệt điện. Thị trường Ấn Độ sẽ đạt được cột mốc này vào năm 2030.

Hình 3

Thời điểm quan trọng thứ hai là khi chi phí để vận hành các nhà máy điện cũ chạy bằng khí đốt và than đá còn cao hơn so với việc lấy năng lượng từ gió và ánh mặt trời. BNEF dự báo điều này sẽ xảy ra vào khoảng năm 2025, ở cả Đức và Trung Quốc.

Hình 4

Vì chi phí nhiên liệu ở từng nước là rất khác nhau, rất khó để đưa ra 1 mốc thời gian chắc chắn khi nào thì năng lượng tái tạo sẽ vượt qua năng lượng hóa thạch. Ví dụ, Brazil vẫn phụ thuộc vào các đập thủy điện trong khi Pháp chuộng điện hạt nhân. 2 công nghệ này ít được sử dụng ở hầu hết các nước.

Dẫu vậy, đối với Liebreich thì hiệu quả kinh tế mà điện gió và điện mặt trời đem lại ngày càng rõ ràng và đủ hấp dẫn để đi đến kết luận than đá không thể mãi mãi duy trì vị thế số 1 trên thị trường năng lượng toàn cầu, cho dù đó là mong muốn của Tổng thống Mỹ Donald Trump.

“Ở Mỹ, than đá đang xuống dốc. Sẽ chẳng có ai làm cho than đá vĩ đại trở lại”, ông nói.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/Bloomberg

http://cafef.vn/dien-gio-va-dien-mat-troi-sap-re-hon-nhiet-dien-20171127161052415.chn

Cháy rừng Australia nhìn từ không gian

Australia vừa trải qua vụ cháy rừng tồi tệ nhất trong lịch sử. Những đám cháy đã làm thiệt mạng 27 người, khoảng 2.000 ngôi nhà bị phá hủy, tàn phá hơn 10 triệu ha đất – diện tích lớn hơn cả quốc gia Bồ Đào Nha. Ước tính có khoảng một tỷ động vật đã chết bao gồm loài có vú, chim và bò sát.

Dưới đây là một số ảnh thu từ vệ tinh về vụ cháy rừng này:

NASA vận hành một nhóm 26 vệ tinh thuộc Hệ thống quan sát Trái đất (EOS) trong đó nổi bật nhất là vệ tinh Terra có kích thước như một chiếc xe buýt vừa đánh dấu 20 năm hoạt động trong không gian vào tháng 5/2019. Các vệ tinh khác như Aqua và Suomi NPP cũng đóng góp vào cơ sở dữ liệu để EOS hoàn thành nhiệm vụ đo lường không khí toàn cầu, biến đổi khí hậu, quan sát đất và nước.

Bản đồ nhiệt vào tháng 5/2019 do vệ tinh Terra ghi nhận dựa vào các phép đo bức xạ sóng cho thấy các số liệu về phát thải nhiệt tăng cao bất thường ở Úc. Ảnh: EOS-Terra/NASA
NASA cho biết những luồng khói từ các đám cháy đầu năm mới đã đi qua Nam Mỹ, khiến bầu trời trở nên mờ mịt và di chuyển “nửa vòng Trái Đất” vào ngày 8/1. Khói bốc lên nhìn từ Trạm Vũ trụ Quốc tế. Ảnh: NASA.
Ảnh vệ tinh cho thấy khói đi về phía New Zealand vào ngày 5/1. Ảnh: NASA.
Tình trạng cháy rừng đã bắt đầu từ tháng 9 và diễn ra trong thời gian dài theo từng đợt do thời tiết hanh, khô bất thường. Đây là hình ảnh của những đám khói bụi từ đám cháy rừng tại Australia diễn ra vào ngày 2/1.
Vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu đã ghi lại được hình ảnh đám cháy rừng đang lan rộng tại Australia vào đêm giao thừa. Theo AP, hỏa hoạn gây ra nhiều thiệt hại cho các cộng đồng ở bang New South Wales và bang Victoria trên bờ biển phía đông nam Australia.
Phạm vi diễn ra cháy rừng cũng rất lớn. New South Wales đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp lần thứ 3 trong vài tháng gần đây. Hai lần trước là vào tháng 11 và tháng 12/2019, mỗi lần kéo dài 7 ngày. Ngày 2/1, hàng nghìn người đã phải sơ tán khỏi bờ biển phía nam của bang New South Wales.

H & H

Tin và ảnh trích từ:

https://vnexpress.net/khoa-hoc/hau-qua-chay-rung-australia-4040750.html

https://news.zing.vn/nasa-khoi-tu-chay-rung-o-australia-bay-xa-nua-vong-trai-dat-post1035953.html

https://news.zing.vn/chay-rung-tai-australia-nhin-tu-khong-gian-post1032058.html

Hai công trình ngăn mặn bỏ hoang ở miền Tây

Cà Mau: Âu thuyền Tắc Thủ và cống Cà Mau là hai công trình thủy lợi được đầu tư hơn trăm tỷ đồng nhưng không phát huy hiệu quả, hiện bỏ hoang.

Âu thuyền Tắc Thủ được khởi công năm 2001, khánh thành năm 2005, do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ đầu tư, với gần 80 tỷ đồng. Dự án đặt tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – Sông Trẹm, thuộc xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình) và xã Khánh An (huyện U Minh).

Âu thuyền Tắc Thủ chắn ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – Sông Trẹm. Ảnh: Minh Thanh

Công trình thi công bằng bêtông cốt thép, hình chữ U, dài hơn 200 m, rộng 14 m, trên diện tích 16 ha. Đây là một trong những đập thủy lợi có quy mô lớn mà Trung ương đầu tư cho tỉnh Cà Mau, nằm trong chương trình ngọt hóa bán đảo này 19 năm trước.

Nhiệm vụ của dự án là ngăn nước mặn xâm nhập vùng Bắc Cà Mau, bảo vệ hơn 200.000 ha đất thuộc vùng ngọt hóa. Tuy nhiên, khi xây xong, âu thuyền không đưa được nước ngọt về như dự kiến ban đầu. Mặt khác, người dân tự phát đưa nước mặn vào ruộng lúa nuôi tôm, nên kế hoạch ngăn mặn, giữ nước ngọt dẫn từ Phụng Hiệp – Hậu Giang về bị phá sản.

Con sông Ông Đốc nối liền sông Cái Tàu về U Minh chảy ra biển Tây, rồi theo dòng sông Trẹm về Kiên Giang – là tuyến vận tải đường thủy quan trọng nối Cà Mau với các tỉnh trong khu vực. Việc Âu thuyền chặn giữa ngã ba sông đã khiến các phương tiện thủy gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại.

Sau những năm 2000, chính quyền địa phương phải lập ra Trạm quản lý và điều tiết giao thông âu thuyền, với hàng chục nhân viên vì lo sợ tại nạn xảy ra. Hiện nay, ngành chức năng cho đóng cửa vào hướng từ Cần Thơ về, chỉ mở cửa ra hướng từ Cà Mau đi các tỉnh.

Do không được sử dụng, bỏ hoang nhiều năm nên hiện tại, âu thuyền chỉ còn là những đống sắt thép khổng lồ. Các phao báo hiệu, ụ cầu tàu… đang gỉ sét, cỏ cây mọc um tùm. Riêng hai bộ cửa bằng thép được lắp ở hai đầu âu thuyền bị móp méo, hoen gỉ…

Những khối sắt thép của âu thuyền bỏ hoang nhiều năm. Ảnh: Hoàng Hạnh

Cách công trình trên khoảng 20 km, trước năm 2000, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đầu tư 40 tỷ đồng xây dựng cống Cà Mau trên kênh Phụng Hiệp, nằm tiếp giáp phường 4 và phường 5 của thành phố. Cống có 2 cửa, 16 m ngang, được đưa vào sử dụng năm 2001.

Cống Cà Mau có nhiệm vụ ngăn mặn, trữ nguồn nước ngọt từ sông Hậu về; đồng thời tiêu úng, xả phèn cho vùng dự án phục vụ sản xuất lúa. “Tuy nhiên, từ khi hoàn thành đến nay cống cũng không phát huy hiệu quả”, ông Trần Quốc Nam – Giám đốc Trung tâm Quản lý, Khai thác công trình thủy lợi tỉnh Cà Mau nói.

Cũng giống như âu thuyền Tắc Thủ, cống đã cản trở việc nuôi tôm của người dân. Ngoài ra, dọc tuyến Quản lộ Phụng Hiệp, Cà Mau còn đến 22 cửa sông thông ra biển, chỉ với công trình này thì không ngăn được mặn để giữ ngọt.

Trước đây, kênh Phụng Hiệp dẫn nước ngọt về, là tuyến đường thủy huyết mạch vận tải hàng hóa nối Cà Mau, Cần Thơ, TP HCM. Khi cống ra đời, nước ứ đọng hôi thối đã “giết chết” con kênh đầy ắp tôm cá. Sau khi đóng được vài năm, cống bị bỏ hoang, trở thành vật cản ngăn tàu thuyền qua lại.

Cống Cà Mau trên kênh Phụng Hiệp. Ảnh: Minh Thanh

Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cà Mau Tô Quốc Nam cho biết, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang khởi công Dự án cống Cái Lớn – Cái Bé, tại Kiên Giang sẽ phân ranh mặn ngọt theo kênh Trắc Băng dọc về tới sông Trẹm, Âu thuyền Tắc Thủ, hay Quản lộ Phụng Hiệp của Cà Mau, nhằm tạo hệ sinh thái sản xuất vụ lúa, vụ tôm trong năm.

“Nếu Âu thuyền Tắc Thủ không được sửa chữa thì hệ thống dẫn ngọt từ Dự án sông Cái Lớn – Cái Bé về Cà Mau vẫn không giữ được ngọt, không có tác dụng”, ông Nam nói.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Cà Mau cho biết, địa phương đã nhiều lần kiến nghị Bộ Giao thông Vận tải bàn giao Âu thuyền Tắc Thủ cho Bộ Nông nghiệp để đầu tư, sửa chữa, nhằm kết hợp với hệ thống thủy lợi hiện có để phát huy công năng ban đầu, nhưng vẫn chưa nhận được trả lời.

Vị trí hai công trình ngăn mặn bỏ hoang. Ảnh: Thanh Huyền

Hoàng Hạnh

https://vnexpress.net/thoi-su/hai-cong-trinh-ngan-man-bo-hoang-o-mien-tay-4029964.html

GĐ Sở Xây dựng Hà Nội phát biểu “vô căn cứ” về công nghệ làm sạch sông Tô Lịch của Nhật?

TS.Tadashi Yamamura – Chủ tịch Tổ chức Xúc tiến thương mại – Môi trường Nhật Bản cho rằng, việc Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội nói công nghệ thí điểm làm sạch sông Tô Lịch của Nhật Bản thất bại là “vô căn cứ, không hiểu mục tiêu…”.

Trước đó, thông tin trên báo chí, ngày 29/11, Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Lê Văn Dục cho biết, vừa qua chính quyền Thủ đô đã nghiên cứu ba phương án làm sạch sông Tô Lịch.

Đầu tiên là thu gom tại chỗ tất cả các điểm xả thải, song phương án này không thực hiện được vì dọc bờ sông có quá nhiều điểm xả thải.

Phương án thứ hai của công ty Việt Nhật, dùng công nghệ Nano-Bioreactor, “vừa rồi thành phố mời đến thí điểm và đơn vị này đã thất bại”.

Ngoài ra, Công ty Thoát nước Hà Nội cũng thí điểm dùng hoá chất làm sạch sông Tô Lịch. Tuy nhiên, người đứng đầu Sở Xây dựng không nói đến kết quả việc thí điểm này.

Chiều 1/12, Tổ chức Xúc tiến thương mại – Môi trường Nhật Bản đã gửi tới báo chí bản thông cáo báo chí do TS.Tadashi Yamamura – Chủ tịch Tổ chức này ký và đóng dấu theo con dấu của Nhật Bản về nội dung phát biểu của Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội nói trên.

Thông cáo báo chí của Tổ chức Xúc tiến thương mại – Môi trường Nhật Bản.

Nội dung bản thông cáo cho biết: “Ông Giám đốc Sở Xây dựng là người đại diện cho chính quyền Hà Nội mà cố tình phát biểu vô căn cứ, không hiểu mục tiêu, trái kết luận của UBND thành phố như thế (chúng tôi không hiểu động cơ, mục đích là gì?) nên buộc chúng tôi phải lên tiếng để bảo vệ danh dự của công nghệ Nhật Bản cũng như danh dự cá nhân chúng tôi liên quan tới dự án tài trợ miễn phí thí điểm xử lý một đoạn sông Tô Lịch”.

Nội dung thông cáo giải thích tiếp, trong buổi họp đánh giá về kết quả dự án này do Chủ tịch UBND Hà Nội chủ trì ngày 29/10/2019, Giám đốc Sở Xây dựng cũng không có ý kiến đánh giá về kết quả không đạt hay thất bại.

Đặc biệt, trong văn bản thông báo số 1338/TB-UBND ngày 5/11/2019 về “Kết luận của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tại buổi làm việc với Tổ chức Xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản về kết quả thí điểm xử lý làm sạch một đoạn sông Tô Lịch và một góc Hồ Tây bằng công nghệ Nano-Bioreactor Nhật Bản” cũng đều không hề có nội dung nào đánh giá về kết quả dự án này là thất bại. Mặt khác, UBND TP Hà Nội còn đang giao cho Tổ chức Xúc tiến thương mại – Môi trường Nhật Bản tiếp tục triển khai làm mở rộng thêm 1 ao tù để tiếp tục đánh giá.

TS.Tadashi Yamamura – Chủ tịch Tổ chức Xúc tiến thương mại – Môi trường Nhật Bản.

“Vậy chúng tôi không hiểu động cơ, mục đích là gì, căn cứ vào kết luận đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường hay UBND TP Hà Nội mà ông Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội lại có thể vượt thẩm quyền và phát ngôn đánh giá rằng kết quả dự án chúng tôi là thất bại?” – nội dung thông cáo nhấn mạnh.

Cũng theo nội dung bản thông cáo trên, mỗi dự án khi triển khai đều có mục tiêu cần đạt được. Trong đợt thí điểm chứng minh công nghệ xử lý của Nhật Bản lần này, kết quả cho thấy 6/6 mục tiêu như dưới đây đều đạt. Vậy căn cứ vào đâu mà ông Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội lại phát ngôn như vậy? Khi thực hiện Tổ chức Xúc tiến thương mại – Môi trường Nhật Bản có mục tiêu rõ ràng và đã có báo cáo UBND TP Hà Nội, các Sở, ngành, đơn vị có liên quan các mục tiêu như sau:

Mục tiêu 1: Thứ nhất là chứng minh việc xử lý triệt để tận gốc mùi hôi thối (ở cấp độ phân tử), khu vực lắp đặt thí điểm công nghệ Nano-Bioreactor mùi hôi thối gần như không còn.

Mục tiêu 2: Thứ hai là chứng minh việc phân hủy tận gốc một phần bùn hữu cơ tồn đọng lâu năm dưới lòng sông tại khu vực thí điểm thành CO2, H2O mà không cần nạo vét cơ học.

Mục tiêu 3: Thứ ba là chứng minh mô phỏng theo xử lý trong 24 giờ lượng nước thải chảy liên tục vào khu quây theo tỉ lệ thực tế trên sông Tô Lịch được xử lý bằng công nghệ Nhật Bản, đảm bảo chất lượng nước đạt quy chuẩn hiện hành của Việt Nam (QCVN 08-MT:2015/BTNMT).

Mục tiêu 4: Thứ tư là bảo tồn hệ sinh thái, cá, thủy sinh phát triển tốt.

Mục tiêu 5: Thứ năm là chứng minh nguyên lý kích hoạt vi sinh vật có lợi tăng, làm ức chế và giảm số lượng vi khuẩn có hại như Coliform, E.coli để không làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dân sống cạnh khu thí điểm và cả dòng sông trong lương lai.

Mục tiêu 6: Thứ sáu là hệ thống xử lý đảm bảo không gây ô nhiễm thứ cấp (không dồn chất ô nhiễm xuống hạ lưu, không nạo vét bùn mang đi nơi khác gây ô nhiễm tại khu vực đổ thải).

Theo kết quả phân tích của các cơ quan chuyên môn Việt Nam, chất lượng nước ở khu thả cá Koi trên sông Tô Lịch và Hồ Tây 36/36 chỉ tiêu đạt QCVN 08-MT:2015/BTNMT; Mùi hôi thối sông Tô Lịch giảm 200 lần, Hồ Tây giảm 30 lần; Nước khu xử lý thả cá Koi tại sông Tô Lịch: Vi khuẩn có hại Coliform giảm hơn 61 triệu lần, E.coli giảm 1.100 lần; Nước khu xử lý thả cá Koi tại Hồ Tây: Vi sinh vật có lợi Bacillus tăng 738 lần, tổng vi sinh vật hiếu khí tăng 47 lần; Bùn sông Tô Lịch giảm nhiều nhất 76,3cm từ 91.3cm về 15cm, bùn Hồ Tây giảm nhiều nhất về 0cm. Ngoài ra, cá Koi và cá chép Việt Nam đã thả tại khu vực nước sau xử lý tại khu thí điểm sống và sinh trưởng tốt sau gần 2 tháng cho đến ngày chuyển sang Hồ Tây.

Trước đó, ngày 16/5, TP Hà Nội khởi động dự án thí điểm làm sạch một đoạn sông Tô Lịch và góc Hồ Tây bằng công nghệ Nano -Bioreactor. Sau một thời gian thí điểm, bước đầu nước sông Tô Lịch, Hồ Tây tại khu vực thí điểm có cải thiện theo chiều hướng tích cực, bớt mùi hôi và nước trong hơn.

Như vậy, kết quả cho thấy 6/6 mục tiêu đặt ra đã đạt, như vậy là dự án chứng minh công nghệ Nano-Bioreactor Nhật Bản đã thành công như dự kiến. Vậy căn cứ vào đâu mà ông Giám đốc Sở Xây dựng lại đánh giá kết quả dự án là thất bại?

“Cũng cần nhắc lại, ngay từ ngày đầu gặp mặt Ngài Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc vào ngày 11/4/2019, chúng tôi đã đưa ra khẳng định “với công nghệ này, chỉ sau 3 ngày, mùi hôi sẽ giảm gần hết. Còn sau khoảng 2 tháng, các chất thải và bùn dưới sông sẽ bị phân hủy” – nội dung thông cáo cho biết.

Ngoài ra, sau ngày 10/11/2019, khi dỡ toàn bộ thiết bị xử lý trên sông Tô Lịch thì người dân sống cạnh khu thí điểm đã cho biết “do không còn thiết bị của Nhật Bản thì đoạn sông lại bốc mùi hôi thối nồng nặc rất khó chịu”.

“Tính đến thời điểm này, Hà Nội chưa mất một đồng chi phí nào cho dự án tài trợ thí điểm này. Có thể vì lý do này lý do khác ở Hà Nội chưa hoặc không muốn sử dụng Công nghệ của Nhật Bản chúng tôi, nhưng tôi nghĩ không thể phát ngôn như ông Giám đốc Sở Xây dựng một cách vô trách nhiệm, vô căn cứ, trái với kết luận của UBND TP Hà Nội và không đúng chuyên môn về môi trường làm ảnh hưởng xấu đến uy tín, danh dự của Công nghệ Nhật Bản” – nội dung thông cáo cho biết thêm.

Nguyễn Dương

https://dantri.com.vn/xa-hoi/gd-so-xay-dung-ha-noi-phat-bieu-vo-can-cu-ve-cong-nghe-lam-sach-song-to-lich-cua-nhat-20191201182103464.htm

 

AirVisual nói về thông tin “Hà Nội là thành phố ô nhiễm nhất thế giới”

Thông tin về chất lượng không khí tại Hà Nội được đăng tải trên PamAir và app AirVisual vào sáng 7.10.2019. Ảnh PamAir và AirVisual

Đại diện AirVisual chính thức có thông báo trên website và khẳng định thông tin Hà Nội bị xếp ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng trên Air Visual không có nghĩa Hà Nội là thành phố ô nhiễm nhất thế giới. Thậm chí trong tháng 3.2018, Hà Nội không nằm trong Top 200 thành phố ô nhiễm nhất thế giới.

Thủ đô Hà Nội nhiều ngày liên tiếp bị xếp ở mục Top trên app Air Visual, điều nay gây ra những tranh cãi và quan tâm ở Việt Nam.

Đại diện AirVisual cho biết “Chúng tôi nhận thấy tại Việt Nam, thông tin Hà Nội bị xếp ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng trên AirVisual trong thời gian gần đây thu hút sự quan tâm của nhiều người.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Hà Nội là thành phố ô nhiễm nhất thế giới. Bảng xếp hạng về chất lượng không khí của AirVisual hiện tại bao gồm khoảng 90 thành phố lớn trên toàn cầu.

Bất cứ lúc nào, một thành phố nào đó cũng có thể đứng đầu bảng xếp hạng. Điều này đã từng xảy ra với thành phố London và thậm chí San Francisco vào năm ngoái. Chi tiết về cách chúng tôi sắp xếp thứ hạng của thành phố lớn trên thế giới để làm cho nó phù hợp với mọi người ở đây

Hàng năm, chúng tôi hợp tác với Greenpeace để công bố bảng xếp hạng thế giới. Báo cáo được công bố vào tháng 3.2018 cho thấy Hà Nội không nằm trong top 200 thành phố ô nhiễm nhất thế giới.

Chỉ số chất lượng không khí tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được đăng tải trên App AirVisual vào sáng ngày 7.10.2019. Ảnh AirVisual

Trên nền tảng ứng dụng, chúng tôi minh bạch về nơi Air Visual thu thập dữ liệu và cách công bố thông tin đó. Để tính toán chất lượng không khí của Hà Nội, AirVisual sử dụng dữ liệu từ Cổng thông tin giám sát môi trường Hà Nội của Chính phủ và thông tin từ đại sứ quán Hoa Kỳ để báo cáo mức độ ô nhiễm không khí theo thời gian thực.

Trong ứng dụng AirVisual và trên trang web, chúng tôi luôn công bố nguồn dữ liệu để mọi thông tin được minh bạch cho người dùng. Nếu các bạn không chắc chắn về dữ liệu, vui lòng tham khảo nguồn và liên hệ với chúng tôi để báo cáo vấn đề.

Chúng tôi tin rằng khi con người có nhận thức về mức độ ô nhiễm sẽ giúp dẫn đến thay đổi. Đó là những gì đã xảy ra ở Bắc Kinh: khi mọi người nhận ra ô nhiễm không khí nghiêm trọng như thế nào, họ đã thúc đẩy chính phủ thực hiện các chính sách môi trường mạnh mẽ hơn. Do đó, ô nhiễm Bắc Kinh đã giảm đáng kể”.

Lan Hương (dịch)

Nguồn: https://laodong.vn/xa-hoi/airvisual-noi-ve-thong-tin-ha-noi-la-thanh-pho-o-nhiem-nhat-the-gioi-758714.ldo

Nguyên nhân ngập mưa đường Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Hồ Chí Minh

Triệu Xuân Tú, Hà Quang Hải

Bài viết được biên tập từ kết quả đề tài Khóa luận “Nguyên nhân ngập do mưa đường Nguyễn Hữu Cảnh” do sinh viên Triệu Xuân Tú ngành Khoa học Môi trường, Trường đại học Khoa học Tự nhiên thực hiện. Bài có sự bổ sung tài liệu lưu trữ và hình ảnh trên internet.

  1. Giới thiệu

Đường Nguyễn Hữu Cảnh (NHC) thi công từ năm 1997 và được kỳ vọng giải quyết bài toán giao thông cho thành phố. Đây là tuyến đường huyết mạch, kết nối cửa ngõ phía Đông với khu vực trung tâm thành phố, có tổng vốn đầu tư gần 420 tỷ đồng.

Con đường dài khoảng 3 km có tới 5 phức hợp gồm chung cư (hơn 18.500 căn hộ cao cấp), bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại. Tuy nhiên, sau khi được đưa vào khai thác, đường NHC liên tiếp bị sụt cầu, lún đường, ngập nước mưa làm cản trở giao thông, có người gọi đây là ‘con đường đắt đỏ và đau khổ nhất Sài Gòn’ [1].

Đã có nhiều hội họp, ý kiến về giải pháp thoát ngập cho đường NHC nhưng chưa có kết quả, nay thành phố đã phải chi hàng chục tỉ đồng mỗi năm để thuê máy bơm khủng thoát nước – đây chỉ là giải pháp tình thế. Muốn có giải pháp đúng cần phải tìm đúng nguyên nhân, tức là phải chẩn ‘đúng bệnh’ của đường NHC.

Bài viết này nhằm góp thêm thông tin để các nhà qui hoạch đô thị và những cơ quan hữu trách tham khảo trong việc tìm giải pháp giải ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh.

  1. Khu vực nghiên cứu

Ví trí:  Khu vực nghiên cứu có tổng diện tích là 436 ha, được giới hạn:

Phía tây: đường Nguyễn Thị Minh Khai – Xô Viết Nghệ Tĩnh

Phía bắc: đường Ung Văn Khiêm

Phía đông: bờ sông Sài Gòn

Phía nam: đường Tôn Đức Thắng

Địa hình, địa chất

Khu vực Thảo Cầm Viên thuộc địa hình cao cấu tạo bởi aluvi cổ. Phần lớn diện tích phía bắc là bãi bồi sông Sài Gòn có độ cao trung bình 0,6 đến 1,0 m cấu tạo bởi aluvi trẻ chủ yếu là sét xám xanh thuộc hệ tầng Bình Chánh và sét xám đen chứa mùn thực vật thuộc hệ tầng Cần Giờ, bề dầy chung tới 30 m [2].

Thủy văn: Trên bản đồ địa hình tỉ lệ 1:10.000 xuất bản năm 1989 (chưa đô thị hóa mạnh) cho thấy diện tích phía bắc khu vực nghiên cứu là lưu vực Văn Thánh kéo dài hướng bắc nam. Rạch Văn Thánh là dòng chính thoát nước lưu vực, ngoài ra có rạch R.VT2 và R.VT3 cùng tham gia thoát nước lưu Văn Thánh (Hình 1).

Hình 1. Khu vực nghiên cứu và lưu vực Văn Thánh trên bản đồ địa hình 1:10.000 năm 1989
  1. Phương pháp

Ngoài việc tham khảo tài liệu địa chất và các thông tin trên internet, hai phương pháp cơ bản được sử dụng là 1) Bản đồ, viễn thám và GIS và 2) khảo sát thực địa.

  1. 1 Bản đồ, viễn thám và GIS

Bản đồ địa hình tỉ lệ 1:10.000 năm 1989 (Hình 2A) gồm các tờ Ấp 1 – C-48-46-C-b-6; Bình Triệu – C-48-46-C-b-3; Phú Nhuận – C-48-46-C-b-2; Bến Thành-C-48-46-C-b-5.

– Ảnh Google năm 2010 (Hình 2B) và 2018 (Hình 2C). Các ảnh này cho thấy khu vực nghiên cứu có sự đô thị hóa mạnh mẽ.

Bản đồ sử dụng đất các thời điểm 1989, 2010 và 2018 được xây dựng trong đó các lớp thông tin sử dụng đất được giải đoán gồm: giao thông (a1, a2, a3), nhà (b1, b2,b3) và thủy hệ (c1,c2,c3). Lớp đất trống là diện tích không có công trình xây dựng và thực phủ.

Hình 2. A_Bản đồ địa hình 1:10.000 năm 1989; B và C_Ảnh Google Earth năm 2010, 2018; a1, a2, a3; b1, b2, b3; c1, c2, c3_các lớp sử dụng đất thời kỳ tương ứng được giải đoán từ bản đồ A và ảnh B, C.

3.2 Khảo sát thực địa

Tiến hành khảo sát hiện trạng tại 26 vị trí (Hình 3). Công việc khảo sát gồm: mô tả đặc điểm địa hình, địa vật (đo cao độ nền nhà so với mặt đường thiết bị laser), điều tra tình hình ngập do mưa.

Hình 3. Các điểm khảo sát thực địa
  1. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Diện tích bê tông hóa gia tăng

Bản đồ sử dụng đất các năm 1989, 2010, 2018 (Hình 4) cho thấy sau 30 năm phần lớn diện tích lưu vực Văn Thánh đã phủ kín công trình xây dựng.

Hình 4. Bản đồ sử dụng đất năm 1989, 2010, 2018
Bảng 1 Diện tích các lớp sử dụng đất các năm 1989, 2010, 2018
Hình 5. Tỷ lệ cơ cấu sử dụng đất năm 1989, 2010, 2018
Hình 6. Biến động diện tích các loại hình sử dụng đất giai đoạn 1989-2010-2018

Nhận xét:

Năm 1990 khu vực nghiên cứu là địa hình thấp (bãi bồi, trũng lầy) chủ yếu là diện tích mặt đệm tự nhiên, đây là diện tích chứa nước mưa và nước triều.

Đến năm 2010, các công trình xây dựng khu vực này tăng lên, diện tích đất bê tông hóa (nhà và giao thông) chiếm 76 % kèm theo ngập mưa đường NHC.

Đến năm 2018, diện tích bê tông hóa gần như chiếm toàn bộ khu vực (96%), ngập mưa đường NHC gia tăng.

Diện tích nhà và giao thông (diện tích bê tông hóa) tăng lên, diện tích đất trống và thủy hệ giảm xuống dẫn đến tình trạng khu vực không còn khả năng thấm, vùng trũng chứa nước trước đây không còn, dòng chảy mặt tăng lên gây ngập nhanh địa hình trũng thấp như đường Nguyễn Hữu Cảnh.

4.2 Đường Nguyễn Hữu Cảnh và phức hợp cao ốc chặn đường thoát nước lưu vực

Đường Nguyễn Hữu Cảnh cắt ngang lưu vực Văn Thánh và xóa bỏ chức năng thoát nước của rạch R.VT2 và R.VT3 (Hình 7A, 7B).

Khu phức hợp cao ốc trong đó Vinhomes Central Park, Saigon Pearl, Sun Wah Pearl mọc ven sông Sài Gòn theo hướng đông bắc – tây nam đã chặn đường thoát nước lưu vực R.VT2 và RVT3 (Hình 7A, 7B, 7C, 7D).

Hình 7. A-Đường NHC chặn hướng thoát nước bắc –nam; B-Đoạn đường bắc-nam nằm trên rạch cũ; C-Phức hợp cao ốc [1]; D-Phức hợp cao ốc trên ảnh Google Earth.
4.3 Đường – ‘Kênh và Rốn ngập’ Nguyễn Hữu Cảnh

Đường NHC xây dựng trên bãi bồi cấu tạo bởi tầng đất yếu, việc khảo sát, thiết kế và thi công không đảm bảo kỹ thuật đã dẫn đến sụt cầu, lún đường, ngập đường phải mất nhiều năm sửa chữa tốn kém nhưng vẫn không đạt yêu cầu.

Hiện tại Đường NHC xem như có ‘hai chức năng’: 1) đường giao thông bộ và 2) ‘kênh dẫn và chứa nước’ (Hình 8) khi lượng mưa quá sức tải của kênh thoát ngầm.

Hình 8. Nguyễn Hữu Cảnh- tuyến đường của các siêu dự án sẽ trở thành kênh dẫn nước khi nước mưa dồn xuống các công trình hai bên và từ thượng lưu vực Văn Thánh. Ảnh: Lê Quân [1].

Đoạn từ Chi cục đường thuỷ nội địa phía Nam (số nhà 90, vị trí số 7, hình 7B) đến cầu vượt (vị trí số 9, hình 7B) nằm trùng với lòng rạch thoát nước cũ R.VT2 và một phần R.VT3; mặc dù đô thị hóa đã làm biến dạng lưu vực trước đó, nhưng đây vẫn là nơi địa hình thấp của lưu vực Văn Thánh vì vậy nước dồn vào ‘rốn ngập’ (Hình 9) khi mưa quá sức tải cống ngầm.

Hình 9-Cầu vượt Văn Thánh – một trong những điểm của “rốn ngập”. A dấu hiệu sụt lún (mũi tên đỏ); B-vết ngập; C – ngập trưa 17/10/2017 [3]; D- Ngập chiều 14/9/2019 [4].
  1. Kết luận

Nguyên nhân ngập mưa đường Nguyễn Hữu Cảnh gồm:

1) Đô thị hóa (bê tông hóa) quá mức ngay trên địa hình thấp, trũng nơi vốn dĩ có chức năng thoát nước mưa cho vùng đất cao và chứa nước khi triều lên.

2) Đường Nguyễn Hữu Cảnh và phức hợp cao ốc chặn và xóa bỏ một số kênh thoát nước lưu vực Văn Thánh.

3) Đoạn đường ngập sâu ‘rốn ngập’ nằm trên lòng rạch cũ (vị trí hạ lưu vực Văn Thánh) vẫn là nơi thấp trũng nên trở thành kênh dẫn và chứa nước mưa khi hệ thống cống thoát ngầm quá tải.

4) Khảo sát, thiết kế, xây dựng đường trên địa hình thấp có nền đất yếu không đáp ứng kỹ thuật.

Nguyên nhân của các nguyên nhân trên chính là năng lực qui hoạch và quản lý đô thị.

Tham khảo

[1] Hà Hương: Nguyễn Hữu Cảnh – con đường đắt đỏ và đau khổ nhất Sài Gòn

http://tphcm.tintuc.vn/tin-tuc/nguyen-huu-canh-con-duong-dat-do-va-dau-kho-nhat-sai-gon.html

[2] Hà Quang Hải, Ma Công Cọ (chủ biên). Bản đồ địa chất thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:50.000. Lưu trữ Cục Địa Chất Việt Nam.

[3] Hoàng Minh: Bắt bệnh trị ngập đường

https://www.baogiaothong.vn/bat-benh-tri-ngap-duong-d249052.html

[4] Minh Quân: “Rốn ngập” Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Hồ Chí Minh

https://laodong.vn/photo/tphcm-ron-ngap-nguyen-huu-canh-ngap-nhu-song-sau-mua-lon-754667.ldo

 

“Rốn ngập” Nguyễn Hữu Cảnh, thành phố Hồ Chí Minh

Một số báo đưa hình ảnh về ngập mưa đường Nguyễn Hữu Cảnh chiều ngày 14.9. Năm nay đường Nguyễn Hữu Cảnh có tên mới “Rốn ngập”, một thuật từ cô đọng và chính xác.

Phóng viên Minh Quân, Báo Lao động có bài TPHCM: “Rốn ngập” Nguyễn Hữu Cảnh ngập như sông sau mưa lớn [1].

Ghi nhận thực tế tại đường Nguyễn Hữu Cảnh, đoạn ngập sâu nhất là dưới chân cầu vượt Nguyễn Hữu Cảnh. Nơi đây nước ngập lút bánh xe máy [1].
Được biết khu vực đường Nguyễn Hữu Cảnh đã có “siêu máy bơm” chống ngập. Tuy nhiên đoạn dưới chân cầu vượt Nguyễn Hữu Cảnh nằm ngoài phạm vi chống ngập của siêu máy bơm thường xuyên bị ngập sâu sau mưa [1].
Phóng viên Quỳnh Trần báo vnexpress có bài Nhiều tuyến đường ngập nặng sau mưa [2]

Trên đường Nguyễn Hữu Cảnh, khoảng 3 km đoạn gần chân cầu Sài Gòn lênh láng nước. “Chỗ này là rốn ngập, cứ mưa dai dẳng là thành biển nước”, anh Trần Tấn Tài (bán hàng) cho biết [2].
Nước ngập lút bánh xe máy trên đường Nguyễn Hữu Cảnh [2].
Phóng viên Châu Tuấn báo Tuổi Trẻ Online có bài Mưa lớn, hàng loạt tuyến đường TP.HCM lại ngập sâu [3].

Xe chết máy ở đường Nguyễn Hữu Cảnh, Q.Bình Thạnh [3].
Đường Nguyễn Hữu Cảnh từ trên cao [3].
H & H tổng hợp

[1] Minh Quân:

https://laodong.vn/photo/tphcm-ron-ngap-nguyen-huu-canh-ngap-nhu-song-sau-mua-lon-754667.ldo

[2] Quỳnh Trần

https://vnexpress.net/thoi-su/nhieu-tuyen-duong-ngap-nang-sau-mua-lon-3982215.html

[3] Châu Tuấn

https://tuoitre.vn/mua-lon-hang-loat-tuyen-duong-tp-hcm-lai-ngap-sau-20190914192542297.htm

Người dân Phú Quốc bàng hoàng vì gần 1 km bờ biển sạt lở

Hoàng Trung

Đến sáng 1.9, nhiều người dân ở các tổ 6, 7, 8, 9 thuộc KP9 (TT. Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc, Kiên Giang) vẫn chưa hết bàng hoàng khi ngồi nhìn phần bờ biển trước mặt nhà mình bị sóng đánh làm sạt lở.

Bờ biển bị sạt lở khiến căn nhà của bà Thuý luôn trong tình trạng nguy hiểm

Từ chiều đến sáng hôm sau mất 1km bờ biển

Người dân đảo ngọc Phú Quốc vô cùng lo lắng khi cho rằng nếu tình trạng này kéo dài, căn nhà của họ nằm bên trong cũng sẽ chịu chung số phận trong thời gian không lâu sau này.

Ông Tăng Văn Dũng (49 tuổi, ngụ tổ 9, KP9) cho biết ông đã sống ở đây hơn 30 năm. Ông bàng hoàng kể lại, sự việc xảy ra vào khoảng 15 giờ ngày 30.8, khi đó biển có sóng lớn đã đánh mạnh vào bờ làm một cây dừa to đổ ngã. Sóng đã đánh dần vào bên trong bờ biển và đến sáng ông thức dậy thì đã thấy một cảnh tượng tan hoang, 1 đoạn bờ biển gần 1km đã không còn nữa.

Mặc dù vị trí bị sạt lở vẫn còn cách nhà ông Dũng một con đường nhỏ, nhưng ông Dũng vẫn lo lắng nếu tình trạng này không được khắc phục, sẽ không lâu sau, căn nhà ông đang ở và nhiều nhà dân xung quanh cũng chịu chung số phận.

Người dân làm tạm đê chắn sóng trong khi chờ chính quyền giúp đỡ.
Cây dừa gãy đổ, phơi gốc rễ lên trên
Sóng đánh làm tường nhà bị nứt, vết nứt khá rộng
Dân mua đá về tự làm đê chắn sóng
Cảnh tượng bờ biển sạt lở sát nhà dân ở tổ 9, KP9

Ông Dũng cho rằng nguyên nhân gây sạt lở do sóng lớn, có lẽ là do ảnh hưởng của cơn bão số 4. Tuy nhiên, bà Lê Ngọc Thuý (38 tuổi, ngụ tổ 9, KP9) thì cho rằng ngoài sóng lớn ra thì việc khai thác cát quá nhiều tại khu vực này trong thời gian gần đây đã làm cho đáy biển ở đây sụp xuống tạo thành một lòng chảo. Gần đây do tình hình biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao, sóng biển đánh vào bờ đã kéo cát từ trong bờ ra nên gây sạt lở như vậy. Riêng bà Thuý cho biết đã bị sóng đánh hư hết 3 căn nhà.

Bà Thuý còn cho biết, từ hơn 1 năm trước, do lo sợ tình trạng lấy cát quá mức làm cho nước biển tràn vào sẽ khiến khu vực mình sinh sống bị nhiễm mặn nên đã phản ánh với chính quyền địa phương, thế nhưng đến nay không thấy một cơ quan nào đến xem xét xử lý.

Bờ biển lở sát vách nhà dân

Nếu tình trạng này không được khắc phục, nhiều hộ dân lo lắng nhà sẽ bị sóng đánh sụp theo

Nhà từng cách bờ 50m nay nằm gọn trên bãi biển

“Trước đây nhiều nhà dân có đất cất nhà ở cách bờ biển 50m, thế nhưng hiện giờ nhiều nhà đã phải bị rơi vào tình trạng sóng biển đánh đến tận vách”, bà Thuý nói.

“Nhà đất chúng tôi có giấy tờ hẳn hoi, nằm cách bờ biển 50m, thế nhưng giờ đây căn nhà tôi đang sử dụng tự nhiên nằm gọn trên bãi biển, thử hỏi chúng tôi phải sống làm sao”, bà Thuý chia sẻ.

Theo ghi nhận của Thanh Niên, đoạn bị sạt lở kéo dài từ tổ 6 đến tổ 9 của KP9 gần 1km, độ rộng sạt lở trung bình khoảng 10m. Chỉ tay về phía biển cách bờ chừng 100m, người dân cho biết cách đây khoảng 20 năm trước, bờ biển nằm ở đó.

Trên bờ biển, nhiều cây dừa cao to hơn chục mét nằm ngã sóng xoài trên bãi cát, gốc bị bật ngượi nằm hướng lên trên, một số nhà bị sóng đánh bật cả móng, tường nứt nhiều đoạn dài với vết nứt rộng đến nổi có thể thò tay vào.

Cũng theo ghi nhận, tại tổ 6, nhiều người dân đang thuê xe cuốc để đưa những hòn đá to xuống biển làm đê chắn sóng.

Bà Nguyễn Thị Thuý Lệ (39 tuổi, ngụ tổ 6, KP9) cho biết đã phải mua đá về làm việc này. Tại nhà bà Lệ, sóng đánh vào tạo thành một hố hàm ếch sâu gần 2m trong nhà. Bà rất lo lắng về an toàn của các thành viên trong gìa đình mình.

Trao đổi với Thanh Niên, ông Mai Văn Huỳnh, Bí thư kiêm Chủ tịch UBND H.Phú Quốc cho biết vẫn chưa nắm được thông tin, sẽ cho kiểm tra lại.

https://thanhnien.vn/doi-song/nguoi-dan-phu-quoc-bang-hoang-vi-gan-1km-bo-bien-sat-lo-1120942.html

 

Chuyên gia Nhật: Sở TN&MT TP.HCM chưa hiểu công nghệ làm sạch sông Tô Lịch

Chuyên gia Nhật Bản cho rằng báo cáo của Sở TN&MT TP.HCM có nhiều nhận định sai về công nghệ Nano-Bioreactor đang áp dụng tại sông Tô Lịch.

Sở TN&MT TP.HCM mới đây có công văn gửi UBND TP về đề xuất xử lý nước kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, rạch Xuyên Tâm và kênh 19/5 của công ty cổ phần cải thiện môi trường Việt Nhật (JVE).

Sau khi tham khảo thông tin và tài liệu, Sở TN&MT đưa ra đánh giá, nhận xét ban đầu về khả năng phân hủy bùn và các chất ô nhiễm, khả năng cung cấp oxy mà JVE đưa ra. Sở TN&MT cho biết cần theo dõi, đánh giá sự hiệu quả việc làm sạch sông Tô Lịch bằng công nghệ Nano-Bioreactor rồi mới tính chuyện áp dụng cho xử lý nước kênh rạch ở TP.HCM.

Các chuyên gia thuộc Tổ chức xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho rằng báo cáo mà Sở TN&MT gửi có nhiều nhận định sai về công nghệ Nano-Bioreactor của Nhật Bản. Do vậy, phía chuyên gia Nhật Bản chính thức phản đối báo cáo này.

Nguồn oxy được cung cấp “vô tận”

Sở TN&MT TP.HCM cho rằng khả năng cung cấp oxy “vô tận” là không thể vì các máy tạo khí cần cung cấp năng lượng, nếu ngưng cung cấp điện thì các máy này sẽ không hoạt động.

Tổ chức xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho biết công nghệ Nano-Bioreactor có 2 nguồn tạo ra oxy. Thứ nhất là hệ thống máy Nano (có dùng điện) tạo ra trực tiếp oxy, thứ hai yếu tố tạo ra oxy “vô tận” là các tấm vật liệu thiên nhiên Bioreactor (không dùng điện).

Vật liệu Bioreacror được làm từ đá núi lửa dạng tổ ong, xốp, được chế tạo qua bí quyết đặc biệt của phát minh tại Nhật Bản, sau khi được đặt trong nước là việc cung cấp các “giá thể” dạng tổ ong để vi sinh vật trú ngụ và phát triển, do vậy nó kích hoạt được hầu hết các vi sinh vật ở cả 3 dạng hiếu khí, thiếu khí nhưng chủ yếu là vi sinh vật yếm khí, các vi sinh vật này tiết ra rất nhiều enzyme.

Theo nghiên cứu khoa học tại Nhật Bản, các enzyme này cung cấp năng lượng rất lớn và liên tục cho phân tử nước, giải phóng oxy từ trong phân tử nước từ đó cung cấp nguồn oxy vô tận.

Chứng minh cho nhận định sai của Sở TN&MT TP.HCM, JVE cho biết tháng 5/2017, công nghệ Bioreactor phiên bản đầu tiên đã thực hiện tại hồ Hạnh Phúc (Kiến An, Hải Phòng). Sau theo dõi sau hơn 2 năm, mặc dù không cần bổ sung hay bảo trì, nhưng theo kết quả phân tích của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ VN) hàm lượng oxy hòa tan trong nước vẫn luôn duy trì, cá sinh trưởng tốt không bị tái ô nhiễm.

Kích hoạt vi sinh vật

Trong báo cáo, Sở TN&MT TP.HCM cho biết giải pháp Nano-Bioreactor không kích hoạt đủ số lượng vi sinh vật mà cần kết hợp việc sử dụng các loại thực vật nước mới mang lại hiệu quả.

Chuyên gia Nhật Bản cho rằng đây là thông tin không chính xác. Công nghệ Nano kích hoạt các vi sinh vật hiếu khí, công nghệ Bioreactor là giá thể để kích hoạt vi sinh vật yếm khí (có thêm một phần vi sinh vật thiếu khí và hiếu khí).

Công nghệ này hiện đang áp dụng tại dự án xử lý tại hồ Hùng Thắng (TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh), thí điểm tại một góc Hồ Tây. Kết quả phân tích số liệu khoa học do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN thực hiện cho thấy chất lượng nước, lượng vi sinh vật có hại giảm, số lượng vi sinh vật có lợi tăng hàng chục ngàn lần.

Sở TN&MT TP.HCM nhận định một yếu tố nữa mà công nghệ của JVE chưa đáp ứng là thời gian xử lý, phục hồi cần 2-3 tháng trong khi nước thải ra hàng ngày.

Về vấn đề này, Tổ chức xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho biết Sở TN&MT chưa hiểu về quy trình công nghệ đang áp dụng tại sông Tô Lịch. Sau khi phân hủy lượng bùn hữu cơ ô nhiễm ở tầng đáy thành khí CO2 và nước H2O, dù nước thải từ bên ngoài có đổ vào liên tục hàng ngày nhưng sẽ được xử lý ngay mà không cần thu gom, tách nước thải từ nguồn, không luân chuyển nước thải đi nơi khác, không dồn chất ô nhiễm xuống hạ lưu.

Còn thời gian 2-3 tháng là xử lý phân hủy bùn hữu cơ mà không cần nạo vét cơ học chứ không phải là riêng thời gian xử lý nước thải.

Ngoài ra, chuyên gia Nhật cũng cho rằng những thông tin trong báo cáo mà Sở TN&MT TP.HCM đưa ra về khả năng phân hủy bùn và các chất ô nhiễm, nguyên lý phân hủy chất ô nhiễm của công nghệ Nano-Bioreactor, nguyên lý xử lý nitơ, phốt pho của công nghệ Nano-Bioreactor cũng đều chưa chính xác.

Thành Nam

https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/moi-truong/chuyen-gia-nhat-so-tn-mt-tp-hcm-chua-hieu-cong-nghe-lam-sach-song-to-lich-559247.html