TÁC ĐỘNG PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN LƯU VỰC MEKONG ĐẾN SINH KẾ ĐỊA PHƯƠNG

Scott William David Pearse-Smith

Phát triển thủy điện lưu vực Mekong đang tiến triển với tốc độ ngày càng cao. Thủy điện đã ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và xã hội lưu vực Mekong và đe dọa sinh kế ở địa phương vì các dự án thủy điện tăng về quy mô và số lượng. Bài viết này dựa trên kiến ​​thức khoa học về những tác động môi trường của việc phát triển thủy điện Mekong để xem xét những ảnh hưởng do biến đổi môi trường đến sinh kế của người dân địa phương. Bài báo tập trung vào việc phát triển thủy điện sẽ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên tái tạo quan trọng như thế nào và điều này sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất lương thực và thu nhập cho hàng triệu cư dân lưu vực ra sao. Nghiên cứu này cho rằng an ninh lương thực và kinh tế của đa số dân cư địa phương gắn bó không thể tách rời với sự toàn vẹn của môi trường tự nhiên. Do đó, phát triển thủy điện liên tục sẽ tác động xấu đến sinh kế của hàng triệu cư dân lưu vực. Cần có những biện pháp thay thế bền vững hơn.

1.Giới thiệu

Sông Mekong bắt đầu cuộc hành trình 4800 km trên cao nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc, đi về phía đông nam, qua sáu quốc gia đang phát triển và cuối cùng đổ ra Biển Đông của Việt Nam.

Lưu vực Mekong được chia thành hai tiểu lưu vực: thượng lưu và hạ lưu. Thượng lưu sông nằm trong lãnh thổ Trung Quốc và Myanmar, chiếm khoảng 30% diện tích toàn lưu vực và có dân số khoảng 15 triệu. Lưu vực Mekong từ “Tam giác Vàng” về phía Nam là  hạ lưu vực, thuộc lãnh thổ của Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Hạ lưu vực chiếm 70% diện tích lưu vực và có khoảng 60 triệu người. Có khoảng 29,6 triệu người sống và làm việc với 15 km của chính dòng sông Mekong. Nghiên cứu này tập trung vào tác động hạ lưu vực Mekong nơi có tầm quan trọng cả về kinh tế xã hội và môi trường hơn so với thượng lưu.

Tại hạ lưu vực, hiện nay có 25 đập thủy điện đang hoạt động và 99 dự án thủy điện sông nhánh trong các giai đoạn khảo sát khác nhau. Như vậy, hầu hết các sông nhánh Mekong đều có các đập hoặc đã được xây dựng xong hoặc dự kiến hoàn thành vào năm 2030. Phần này tập trung vào hai đập thủy điện đặc biệt được công bố rộng rãi như: đập Pak Mun ở đông bắc Thái Lan và đập Thác Yali ở Việt Nam.

Trung Quốc là quốc gia duy nhất đã chặn dòng chính Mekong, và cho đến nay đã xây dựng 4 đập đầu tiên trong một kế hoạch gồm 8 công trình thủy điện. Trong số này, đập Tiểu Loan sẽ là đập vòm cao nhất thế giới, công trình này sẽ đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử lưu vực Mekong rằng “một sự phát triển đơn độc sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chế độ thuỷ văn” lưu vực. Bốn đập chính cuối cùng ở Vân Nam cũng sẽ được hoàn thành vào năm 2020.

Ở hạ lưu vực Mekong, có ít nhất 12 công trình thuỷ điện dòng chính tiềm năng hiện đang được các nhà đầu tư xem xét. 10 dự án được đề xuất đã được qui hoạch cho Lào, và hai cho Campuchia

Hình 1: Bản đồ các đập thủy điện dòng chính Mekong hiện tại và đề xuất (from Lee & Scurrah, 2009)

2.Phát triển thủy điện hạn chế năng suất nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản

2.1 Môi trường lưu vực biến đổi

Mekong là “một trong số ít lưu vực sông lớn nhưng chưa bị biến đổi bởi cơ sở hạ tầng quy mô lớn” và là sông cuối cùng còn lại vẫn chảy tự do qua năm quốc gia. Hệ thống thuỷ văn Mekong vẫn ở trạng thái cân bằng động với sinh thái và khí hậu lưu vực trong nhiều nghìn năm. Nhiều hệ sinh thái của lưu vực có đặc tính riêng riêng và phụ thuộc vào sự biến động theo mùa của sông có thể dự báo được. Tuy nhiên, trong 15 năm qua, phát triển thủy điện đã bắt đầu làm thay đổi thủy văn lưu vực. Các tác động tích lũy của xây dựng đập thuỷ điện trên dòng chính và các chi lưu đang chuyển đổi đặc trưng cơ bản của chế độ sông với những ảnh hưởng lan rộng không chỉ đối với các hệ thống tự nhiên mà còn bởi các hệ thống xã hội và nền kinh tế.

Việc xây dựng bốn đập dòng chính ở thượng lưu Mekong đã ảnh hưởng đến thời gian và quy mô nhịp điệu tự nhiên của Mekong cũng như nhiều đặc điểm của hệ thống tự nhiên khác bị điều chỉnh.

Đáng chú ý nhất, sự thay đổi môi trường do phát triển thủy điện gây ra ngày càng hạn chế năng suất nông nghiệp và đánh bắt thủy sản. Thủy văn Mekong biến đổi sẽ làm giảm thiểu một số nguồn tài nguyên lưu vực như trữ lượng cá, chất dinh dưỡng tự nhiên, đất nông nghiệp và đất rừng, tất cả đều là đầu vào rất quan trọng cho cả nông nghiệp và đánh bắt thủy sản.

2.2 Tác động phát triển thủy điện đến đánh bắt thủy sản

Nghề cá sông Mekong là nghề đánh bắt cá nước ngọt lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, một số thay đổi môi trường do phát triển thủy điện đã làm giảm nguồn cung cấp cá ở lưu vực sông. Điều đó “về cơ bản làm suy yếu sự phong phú, năng suất và tính đa dạng của nguồn lợi cá. Nói chung, phát triển thủy điện có hai tác động chính đến thủy sản: tạo ra một rào cản vật lý đối với di cư và giảm hoặc phá hủy môi trường sống của cá.

Phát triển thủy điện cũng có thể cản trở năng suất đánh bắt vì các kỹ thuật đánh bắt địa phương đã được điều chỉnh phù hợp với điều kiện dòng chảy cụ thể và có thể phản ứng kém với sự thay đổi chế độ sông. Hơn nữa, như trường hợp phía hạ lưu đập Yali, các sự cố ngập nước bất ngờ có thể cuốn đi thuyền và thiết bị đánh cá cũng như cây trồng và vật nuôi.

2.3 Tác động phát triển thuỷ điện đến nông nghiệp

Phát triển thủy điện ảnh hưởng xấu đến năng suất nông nghiệp bằng cách làm suy thoái hoặc cạn kiệt một số tài nguyên thiên nhiên tạo thành đầu vào nông nghiệp quan trọng, làm giảm nguồn cung đất nông nghiệp. Ước tính tối thiểu 9.000 ha đất nông nghiệp bị ngập bởi các đập dòng chính hạ lưu. Lũ lụt có thể cuốn đi cây trồng và gia súc, và có một nỗi lo đáng kể ở Việt Nam rằng phát triển thủy điện ở thượng nguồn có thể gây ra sự xâm nhập mặn ở đồng bằng Mekong. Phát triển thủy điện làm tăng thêm độ mặn của đất bằng cách giảm nhịp điệu lụt mùa mưa, lượng muối mỗi năm tăng thêm.

Mối quan tâm kế tiếp là việc giảm nguồn cung các chất dinh dưỡng tự nhiên do phát triển thủy điện. Hiện nay, khoảng 26.400 tấn mỗi năm chất dinh dưỡng “được cung cấp cho đồng bằng ngập lụt Mekong từ trầm tích lơ lửng”. Đồng bằng ngập lụt màu mỡ Mekong phụ thuộc vào các chất dinh dưỡng này, đặc biệt là Campuchia và Việt Nam. Tuy nhiên, các đập bẫy trầm tích dinh dưỡng, ngăn không cho đổ vào đồng bằng lụt. Tải lượng dinh dưỡng dòng chảy sẽ giảm 75% vào năm 2030 nếu tất cả các dự án phát triển thủy điện dòng chính được thực hiện.

Mất đất rừng, liên quan trực tiếp và gián tiếp với phát triển thủy điện, sẽ hạn chế năng suất nông nghiệp. Mất rừng ảnh hưởng đến nông nghiệp do gia tăng lũ lụt và hạn hán và làm mất tính ổn định đất. Trường hợp đập Pak Mun và Thá Yali cho thấy việc phát triển thủy điện cũng góp phần gián tiếp phá rừng do dân di cư vào các khu vực rừng, sau đó chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp và đất ở.

Cuối cùng, phát triển thủy điện có thể gây hại cho nông nghiệp Mekong bằng cách giảm lượng nước ngọt sạch. Mặc dù sông Mekong vẫn được xem là sông có chất lượng nước tốt, việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp và thủy điện đang bắt đầu có ảnh hưởng. Ví dụ, sông Sê San ở hạ lưu đập Thác Yali, chất lượng nước đục hơn so với trước khi xây đập do xói mòn bờ sông gia tăng.

3.An ninh lương thực suy giảm

3.1 Tầm quan trọng của nghề cá đối với an ninh lương thực

Nông nghiệp và nghề cá rất quan trọng đối với các vùng nông thôn của Mekong nơi mà người dân được mô tả là “sinh kế dựa vào sông”. Cá cùng với gạo tạo thành “nền tảng an ninh lương thực ở hầu hết các nước ven sông. Bốn quốc gia hạ lưu nói riêng “đặc trưng tiêu thụ cá nước ngọt cao nhất trên thế giới”. Bất kỳ việc suy giảm sản lượng đánh bắt cá hoặc năng suất nông nghiệp sẽ đe doạ sinh kế của người dân và an ninh lương thực.

Nghề cá không chỉ có lợi cho những người sống ven sông hoặc các vùng ngập lũ, mà cho cả các nước hạ lưu sông Mekong. Ví dụ, mức độ sản xuất thủy sản đáng kể ở Tonle Sap không chỉ có tầm quan trọng đặc biệt đối với Campuchia mà còn đối với toàn bộ lưu vực sông Mekong.

3.2 Tầm quan trọng của nông nghiệp đối với an ninh lương thực

Lúa là sản phẩm chủ yếu cho phần lớn cư dân trong vùng. Ở hạ lưu sông Mekong, hơn 10 triệu ha đất canh tác được sử dụng để sản xuất lúa. Gạo là lương thực phổ biến cho dân cư trong lưu vực và chiếm tới 76% lượng tiêu thụ bình quân mỗi ngày. Với mức tiêu thụ năng lượng trung bình chỉ là 2.407 so với chuẩn nghèo về lương thực là 2.100 calo, bất kỳ việc giảm sản xuất gạo nào cũng sẽ gây ảnh hưởng.

Đồng bằng Mekong là vùng nông nghiệp đặc biệt quan trọng trong lưu vực, chiếm đa số sản lượng lương thực của Việt Nam. Hơn một nửa trang trại lúa ở Việt Nam nằm trong đồng bằng này, do đó bất kỳ sự phá vỡ nào đối với năng suất nông nghiệp của đồng bằng có thể là vấn đề đặc biệt khó khăn đối với quốc gia này.

Các vườn ven sông, ngành nông nghiệp truyền thống phổ biến dọc theo hạ lưu sông Mekong cũng bị đe dọa. Nhiều loại trái cây, rau và các cây trồng khác cung cấp nguồn thực phẩm bổ sung quan trọng trong mùa khô được sản xuất ở đây.

4.An ninh kinh tế suy giảm

4.1 Tầm quan trọng của nông nghiệp và nghề cá đối với kinh tế địa phương

83% dân số hoạt động kinh tế ở hạ lưu Mekong liên quan đến tài nguyên nước là nghề chính của họ. Các hoạt động này bao gồm “nông trại, nghề cá, đánh bắt các loài thủy sản khác, trồng rau, nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng thủy điện nhỏ, chế biến cá, mua bán cá, kinh doanh các sản phẩm khác phụ thuộc vào nước, đóng/sửa chữa thuyền hoặc lao động trang trại.

Nông nghiệp là “hoạt động kinh tế quan trọng nhất vùng hạ lưu Mekong”. Trong một cuộc khảo sát gần đây, 73% hộ ở hạ lưu sông cho biết nông nghiệp là ngành nghề quan trọng nhất trong gia đình họ. 50% hộ gia đình nông thôn trong hành lang Mekong có thu nhập từ việc bán gạo.

Nông nghiệp cũng là ngành có việc làm lớn nhất ở mỗi nước hạ lưu, sử dụng từ 65% đến 85% lực lượng lao động ở Việt Nam, Campuchia và Lào. “Ngay cả ở Thái Lan, nơi mà nông nghiệp chiếm dưới 10% GDP, 70% lực lượng lao động ở khu vực phía đông bắc làm việc trong ngành nông nghiệp”. Nếu chỉ tính dân cư ven sông của các quốc gia vùng hạ lưu, ước tính khoảng 90% dân số tham gia vào nông nghiệp.

Nghề cá là hoạt động kinh tế quan trọng tiếp theo ở lưu vực. Nghề này cũng đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực khu vực, nó cũng mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể. 25% hộ gia đình nông thôn trong hành lang Mekong có thu nhập từ việc bán cá. Đây là  nguồn thu nhập thứ hai phổ biến từ những người được khảo sát.

 4.2 Thu nhập và lợi nhuận suy giảm do năng suất nông nghiệp và nghề cá bị hạn chế

Phát triển thủy điện trong 6 năm qua đã ảnh hưởng đến kinh tế địa phương. Gần 1/6 hộ gia đình được hỏi trong một cuộc khảo sát gần đây cho biết có một thành viên đã thay đổi nghề nghiệp do năng suất hệ sinh thái thủy sinh giảm xuống. Riêng ở Campuchia, hơn một triệu người phải đối mặt với mất sinh kế nếu hai đập dòng chính của Campuchia tiến hành. 21% hộ gia đình không có nghề thứ hai đặc biệt dễ bị tổn thương do ảnh hưởng sự khan hiếm tài nguyên đang gia tăng trong lưu vực Mekong.

Một yếu tố nữa làm giảm lợi nhuận là chi phí phát sinh trong cuộc chiến với sự thay đổi môi trường do phát triển thủy điện. Đặc biệt, chi phí của các chương trình dưỡng đất quy mô lớn để bù vào việc giảm nguồn cung cấp chất dinh dưỡng tự nhiên. Chi phí thủy lợi cũng sẽ tăng khi nông dân di chuyển sang vùng đất cận kề. Chi phí thay thế dụng cụ sản xuất do lũ lụt hoặc không phù hợp với điều kiện sinh thái thay đổi.

Nếu sản lượng nông nghiệp và năng suất đánh bắt giảm, thu nhập của nông dân và ngư dân sẽ giảm hoặc không còn. Trong một số trường hợp, chẳng hạn như gần đập Thác Yali, sản lượng nông nghiệp nhiều hộ nông dân bị giảm sút đến nỗi họ buộc phải bán số gạo ít ỏi mà họ sản xuất và mượn gạo để ăn. Cuối cùng, điều này có thể dẫn đến một nền kinh tế địa phương thuần túy là tồn tại, nơi nông dân chỉ có thể sản xuất đủ lương thực cho tiêu dùng cho chính họ, không có dư để trao đổi hàng hoá khác.

Đập Thác Yali là một ví dụ hiếm thấy về phát triển thủy điện ở Mekong, nơi tác động kinh tế đã được đánh giá bằng tiền mặt. McKenny (2001) khảo sát thu nhập của các hộ gia đình Cămpuchia ở hạ lưu đập trước và sau khi xây dựng. Ông nhận thấy rằng thu nhập trung bình hộ gia đình đã giảm từ 109 đô la Mỹ một tháng trước khi xây dựng đập tới 46 đô la Mỹ một tháng ba năm sau khi xây dựng đập.

Khoản thu nhập thua lỗ hàng năm là 2.5 triệu $ Mỹ cho 3443 hộ gia đình trong vòng 3 năm. Ngoài ra, thiệt hại tài sản 800.000$ Mỹ đã được ghi nhận, mặc dù vậy đây được cho là đánh giá thấp do khó khăn trong việc định lượng thiệt hại; sự mất mát về năng suất kinh tế cũng rất khó đo lường. Lũ lụt do đập Yali gây ra cũng làm chết một số người dân Campuchia, và chất lượng nước giảm đã khiến nhiều người bị ốm.

4.3 Những hạn chế về sức mua

Sự cạn kiệt và suy thoái các nguồn tài nguyên tái tạo do phát triển thủy điện được phản ánh trong việc tăng giá. Ví dụ, với sự cạn kiệt của các khu vực rừng, giá gỗ có khả năng tăng lên. Bởi vì gỗ tạo thành chi phí đầu vào quan trọng, gỗ dùng sưởi ấm, nấu ăn và xây dựng đắt hơn. Tương tự, cá và sản phẩm nông nghiệp sẽ có xu hướng tăng giá do chất lượng môi trường suy giảm.

Một số tác động kinh tế tiềm ẩn nghiêm trọng nhất của việc phát triển thủy điện đến người dân ở lưu vực Mekong không dễ dàng được đánh giá bằng tiền tệ. Nhiều người trong khu vực “nghèo về tiền tệ, nhưng giàu tài nguyên thiên nhiên”. Về mặt này, họ dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho “thu nhập” của họ, không nhất thiết là dưới dạng tiền mặt.

Các ước tính hiện tại về tổng giá trị kinh tế của sản lượng cá ở lưu vực sông Mekong dao động từ 2 đến 3 tỷ $ Mỹ một năm. Tuy nhiên phải thêm vào giá trị chưa biết của tất cả các sản phẩm đánh bắt cá tự cung mà không bao giờ đưa vào thị trường, làm cho việc đánh giá chính xác các nghề cá ở Mekong rất khó khăn. Những nỗ lực tính toán một cách chính xác giá trị tổng sản lượng nông nghiệp – giá trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên đầu vào cho sản xuất nông nghiệp –  cũng gặp phải những thách thức tương tự như nghề cá.

Những khó khăn trong việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên tái tạo có nghĩa là những tác động kinh tế tiêu cực của phát triển thủy điện thường bị đánh giá thấp. Sai sót này đặc biệt phổ biến trong các đánh giá kinh tế xã hội ở cấp vĩ mô, vì những thiệt hại tài sản phát sinh do phát triển thủy điện thường xảy ra ở cấp độ kinh tế vi mô. Vì vậy, mặc dù có sự đồng ý chung rằng sức khoẻ của hệ sinh thái trực tiếp nuôi dưỡng người dân địa phương, các mối liên quan cấp địa phương đối với phát triển thủy điện phần lớn bị bỏ qua bởi các nhà hoạch định chính sách ở cấp quốc gia. Các nhà hoạch định chính sách cho rằng không phát triển thủy điện quy mô lớn hiện nay là sử dụng không hiệu quả tài nguyên của Mekong. Tuy nhiên, trên thực tế, các nguồn tài nguyên của Mekong đang được sử dụng rộng rãi ở quy mô nhỏ hơn, qui mô địa phương.

5.Kết luận

Sinh kế của người dân lưu vực Mekong gắn liền với nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực. Bất kỳ tác nhân thay đổi môi trường làm tổn hại đến các nguồn tài nguyên này sẽ có tác động sâu sắc đến sinh kế địa phương. Việc giảm năng suất nghề cá và nông nghiệp sẽ có những hậu quả nghiêm trọng đối với an ninh lương thực và kinh tế của người dân địa phương. Phát triển thủy điện sẽ loại bỏ khả năng duy trì bền vững của phần lớn dân số lưu vực. Nhiều người sẽ buộc phải tìm kiếm các sinh kế thay thế mà thường dẫn đến phá hủy môi trường hơn nữa, làm trầm trọng sự không bền vững của việc phát triển thủy điện liên tục.

Điều quan trọng là phải áp dụng cách tiếp cận liên ngành trong đánh giá tác động của các dự án phát triển tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù đánh giá tác động môi trường thường được tiến hành đối với các dự án thủy điện Mekong, nhưng các tác động xã hội thường ít được chú ý. Chỉ đánh giá tác động môi trường không thể nhận ra giá trị của các tài nguyên thiên nhiên này đối với người dân lưu vực.

Như Witoon Permpongsacharoen tóm tắt: “Đây là huyết mạch, nguồn sống, cho hàng triệu người. Bạn chỉ đơn giản là không thể mắc bất kỳ sai lầm lớn nào với Mekong”. Nếu người dân lưu vực đã duy trì sinh kế mà họ thụ hưởng trong nhiều thế kỷ, các nhà hoạch định chính sách phải tạo ra một sự cân bằng tinh tế giữa việc theo đuổi tăng trưởng kinh tế và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Huỳnh Thị Luông lược dich

Nguồn: Consilience: The Journal of Sustainable Development Vol. 7, Iss. 1 (2012), Pp. 73-86

Advertisements

Chỉ đúng nguyên nhân ĐBSCL sạt lở và các khuyến nghị

Nguyễn Ngọc Trân*

Tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển ở ĐBSCL ngày càng nhiều và nghiêm trọng.

Các nguyên nhân cơ bản thường được nói đến thời gian gần đây là do thiếu hụt trầm tích bị các đập thủy điện trên dòng chính sông Lancang – Mekong giữ lại, và do lạm khai thác cát sông.

Hiểu sâu để có giải pháp tốt. Nhằm mục đích này, xin đóng góp một số ý kiến vào nhận thức khách quan vấn đề sạt lở và từ đó một số việc cần làm theo thiện ý của tác giả.

1.Trước tiên, việc sạt lở bờ sông ở đồng bằng đã từng xảy ra trong những thập niên 1980 và trước đó, tại thị xã Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và nhiều nơi khác nữa, mỗi lần đã từng “nuốt chững” hàng chục căn nhà kiên cố. Lúc đó chưa có đập thủy điện nào ở thượng nguồn. Bởi lẽ bồi lở hai bờ của một con sông là tất yếu và có tính quy luật. Không chỉ thấy sạt lở mà quên yếu tố bồi. Trong sạt lở có bồi và ngược lại.

2.Sau khi sạt lở, các cơ quan chức năng ở An Giang đã đo địa hình lòng sông trong khu vực sạt lở. Đã “thấy” một hố sâu đến -43 mét và vách đứng nơi sạt lở (Hình 1). Chúng ta sẽ trở lại dưới đây về các hố sâu giữa sông, các vách đứng dọc bờ, kết quả tác động của dòng chảy lên lòng sông và bờ sông.

Hình 1. Ngã ba sông Hậu – sông Vàm Nao (trái) và nơi sạt lở phóng to (phải). Nguồn: Tỉnh An Giang.

Continue reading “Chỉ đúng nguyên nhân ĐBSCL sạt lở và các khuyến nghị”

XÓM KHANH 12.10.2017 – HIỆU ỨNG DOMINO THẢM HỌA ?

Hà Quang Hải

Vào khoảng 1:00 ngày 12-10, một trận sạt lở đất, đá kinh hoàng tại xóm Khanh, xã Phú Cường (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình) đã vùi lấp bốn ngôi nhà dưới chân đồi, 18 người trong sáu gia đình bị nạn, có hai gia đình không còn lấy một ai.

“Bộ Quốc phòng đã huy động hơn 300 người tham gia công tác tìm kiếm cứu hộ… Bộ Công an cũng đã huy động phương tiện gồm máy dò, chó nghiệp vụ, xe chữa cháy…Ngoài ra, hàng trăm công an, bộ đội, dân quân tự vệ, dự bị động viên, cùng các phương tiện máy móc của tỉnh Hòa Bình cũng đã được huy động đến hiện trường” [6].

Cuộc tìm kiếm cứu hộ được thực hiện ngay sau thảm họa, đến trưa ngày 18 tháng 10 hai thi thể cuối cùng mới được tìm thấy. Như vậy phải mất một tuần, với một lực lượng đông đảo, cùng nhiều thiết bị, việc tìm kiếm nạm nhân mới kết thúc.

Có thể nói 18 người chết tức tưởi do đất đá vùi lấp giữa đêm là một thảm họa. Trong tuần xảy ra thảm họa và tìm kiếm nạn nhân, báo chí tràn ngập những bài viết sự kiện này; tuy vậy thông tin đến với người đọc nghèo nàn, đơn điệu và lặp đi lặp lại.

Thảm họa Xóm Khanh đến nay đã đi qua, nhưng chưa thấy Sở Khoa học, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Viện Khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực thảm họa tự nhiên đến khảo sát, điều tra thực địa nhằm xác định nguyên nhân để có giải pháp phòng tránh những thảm họa tương tự trong tương lai.

Do không có điều kiện khảo sát thực tế, dựa vào các hình ảnh, những lời kể từ những nhân chứng tại hiện trường thảm họa; người viết bài này đề cập một số nội dung liên quan dưới dạng câu hỏi và mong muốn được các nhà chuyên môn cùng thảo luận, làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn đến thảm họa. Continue reading “XÓM KHANH 12.10.2017 – HIỆU ỨNG DOMINO THẢM HỌA ?”

ỨNG DỤNG CÔNG CỤ SAFA ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC QUY MÔ NÔNG HỘ

Nguyễn Trường Ngân1, Nông Thị Ngọc Vân2

(1) Khoa Kỹ thuật Xây dựng – Trường Đại học Bách khoa TP HCM

(2)Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM

(Nguồn: kỷ yếu Hội nghị Khoa học Công nghệ lần 15 – Đại học Bách Khoa Tp.HCM)

Tóm tắt: Đất nông nghiệp nước ta bị suy thoái nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất người dân. Việc tìm kiếm và nhân rộng các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững và phù hợp tập quán sản xuất của người bản địa là một yêu cầu cấp thiết. Bộ tiêu chí SAFA (Sustainability Assessment of Food and Agriculture systems) cung cấp một bộ gồm 4 lĩnh vực, 21 chủ đề và 58 chủ đề phụ được chi tiết hóa thành 118 tiêu chí. SAFA đã được áp dụng rộng rãi và cho kết quả tốt trong đánh giá nông nghiệp bền vững theo nhiều quy mô khác nhau. Nghiên cứu này áp dụng công cụ SAFA ở quy mô nông hộ, nghiên cứu điển hình trên hai mô hình nông nghiệp của người M’Nông tại xã Yang Mao, huyện Krông Bông, tỉnh Đak Lak. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai mô hình đều đạt mức bền vững cao. Các hạn chế cần cải thiện gồm: an toàn nguồn nước, sự công bằng trong thương mại cho người sản xuất và đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho người trực tiếp lao động sản xuất.

Từ khóa: Nông nghiệp bền vững, SAFA, nông hộ, M’Nông, Đak Lak.

  1. Giới thiệu

Đến nay, 106 quốc gia đã xây dựng khung mục tiêu và tiêu chí phục vụ phát triển bền vững [5]. Mặc dù vậy, vẫn chưa có những quy chuẩn quốc tế nào rõ ràng để xác định các yêu cầu trong sản xuất nông nghiệp bền vững, cũng như chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi để đánh giá một nhà sản xuất nông nghiệp là “bền vững”.

Để khắc phục sự khiếm khuyết này, SAFA được xây dựng để áp dụng đánh giá tính bền vững cho các nhà sản xuất nông nghiệp ở nhiều quy mô khác nhau. Khung SAFA phân thành 4 cấp độ: 4 khía cạnh, 21 chủ đề, 58 chủ đề phụ và 118 tiêu chí [2].

Năm 2016, Việt Nam có đến 49,19% hộ ở nông thôn là hộ sản xuất nông nghiệp. Số hộ này sản xuất 70% rau, quả, thịt, trứng, cá và khoảng 30% quỹ lương thực cho cả nước [1].

Hình 1: Sơ đồ vị trí xã Yang Mao

Do đó, việc đánh giá, lựa chọn và áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững ở quy mô nông hộ sẽ mang lại một sự cải thiện rất lớn cho kinh tế nông nghiệp xanh của cả nước.

Xã Yang Mao là một trong 11 xã có địa phận thuộc VQG Chư Yang Sin. Năm 2015, đất nông nghiệp của xã chiếm đến 90,48%. Người M’nông chiếm đến 65% nhân khẩu của xã và hầu hết sinh sống bằng nghề nông [4]. Các cây trồng chủ lực của người M’nông là mỳ và bắp. Các vật nuôi phổ biến là bò và heo. Continue reading “ỨNG DỤNG CÔNG CỤ SAFA ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC QUY MÔ NÔNG HỘ”

10 mỏ khoáng lộ thiên ấn tượng nhất thế giới nhìn từ trên cao

Theo trang Mining Global, danh sách dưới đây là TOP 10 mỏ khoáng lộ thiên lớn nhất, ấn tượng nhất và ngoạn mục nhất thế giới trong công nghiệp khai khoáng hiện nay.

Khai thác lộ thiên là một trong những kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất để khai thác khoáng sản dưới lòng đất. Phương pháp này được sử dụng trong trường hợp vùng quặng khoáng nằm gần bề mặt Trái Đất. Phương pháp này không chỉ mang lại hiệu suất khai thác cao mà còn tạo nên những  mỏ khoáng lộ thiên cực kỳ ấn tượng và ngoạn mục.

Dưới đây là 10 mỏ lộ thiên lớn nhất, ấn tượng và ngoạn mục nhất thế giới trong công nghiệp khai khoáng  hiện nay:

10. Mỏ đồng Escondida – Chile

Mỏ đồng Escondida – Chile – Ảnh: Mining Global

Nằm trên vùng đất rộng lớn của sa mạc Atacama thuộc Chilê, mỏ đồng Escondida là một trong những mỏ lộ thiên lớn nhất thế giới. Escondida gồm hai mỏ lộ thiên  là Escondida  và Escondida NORTA, dài 3,9 km, rộng 2,7 km và sâu 645m. Escondida cũng được biết đến là mỏ lộ thiên sâu nhất thế giới. Continue reading “10 mỏ khoáng lộ thiên ấn tượng nhất thế giới nhìn từ trên cao”

BIẾN ĐỘNG BỜ BIỂN MŨI CÀ MAU QUA 20 NĂM (1995 – 2015)

Nguyễn Lương Thanh Hằng

  1. Giới thiệu

Tỉnh Cà Mau được bao bọc bởi hai mặt biển: biển Đông và biển Tây với đường bờ dài 254 km. Trong những năm qua, cộng đồng sống dọc ven biển Cà Mau đang bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự xâm thực biển. Trong tương lai, hàng trăm ngàn ha đất canh tác dự kiến sẽ bị ngập do nước biển dâng. Nước biển dâng và xâm nhập mặn cũng ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái của rừng ngập mặn và đa dạng sinh học.

Trong ba mươi năm (1965-1995), bờ biển Đông tương đối ổn định; bờ biển Mũi và Bờ Tây bồi tụ với tốc độ khoảng hơn 100m mỗi năm. Tuy nhiên, từ vài chục năm qua, bờ biển đã bị xói mòn nghiêm trọng kể cả bờ biển Mũi.

Đề tài “Biến động bờ biển mũi Cà Mau trong hai mươi năm (1995-2015)” được thực hiện nhằm làm sáng tỏ quá trình xói lở và bồi tụ, góp phần phục vụ quy hoạch bảo vệ bờ biển, đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội bền vững trong tương lai.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp xử lý ảnh viễn thám, trong đó đường bờ biển được lọc bằng phương pháp Gathot Winasor. Năm 2011, Gathot Winasor đã dùng phép tỷ số ảnh để tách tự động vùng nước và vùng bờ. Trong nghiên cứu này các kênh tỷ lệ 4/2 và 5/2 (ảnh Landsat 5 và Landsat 7); 5/3 và 6/3 (Landsat 8) được sử dụng. Hình 1 trình bày quá trình xử lý đánh giá biến động đường bờ biển.

Hình 1. Sơ đồ thể hiện quá trình xử lý ảnh

Continue reading “BIẾN ĐỘNG BỜ BIỂN MŨI CÀ MAU QUA 20 NĂM (1995 – 2015)”

Đừng ảo tưởng về trữ lượng mà khai thác titan bừa bãi

TTO – Các nhà khoa học chia sẻ nhận định này tại tọa đàm về khai thác, sử dụng khoáng sản titan-zircon của Bình Thuận, tổ chức sáng 8-7 ở TP Phan Thiết.

Khai thác titan ở Bình Thuận – Ảnh: DƯƠNG ANH THƠ

Nhiều vấn đề, bất cập trong khai thác titan ở Bình Thuận đã được chỉ ra tại buổi tọa đàm về quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng titan đến năm 2020, xét tới 2030 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2013. Continue reading “Đừng ảo tưởng về trữ lượng mà khai thác titan bừa bãi”

Mỹ rút, Thỏa thuận Paris về đâu?

TTO – Với tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris, Tổng thống Donald Trump tiếp tục chính sách “Nước Mỹ trên hết”, để lại một tương lai bất định cho nỗ lực lớn nhất của thế giới chống lại biến đổi khí hậu.

Tổng thống Mỹ Donald Trump: “Để thực hiện nhiệm vụ cao cả bảo vệ đất nước và người dân Mỹ, tôi quyết định rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu” – Ảnh: Reuters

Nhà Trắng đang gặp sức ép lớn từ quốc tế sau tuyên bố bị coi như hành động ích kỷ, phục vụ chính sách “Nước Mỹ trên hết” của Tổng thống Trump.

Cái lý của ông Trump

Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu 2015 (COP 21) ở Paris (Pháp), tổng cộng 195 nước đã đồng ý thỏa thuận biến đổi khí hậu với mục tiêu chung duy trì nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng từ 2°C trở xuống tính tới 
hết thế kỷ này.

Thỏa thuận xuất phát từ giả thuyết do các nhà khoa học đồng thuận và các quốc gia chấp nhận: hiện tượng Trái đất nóng lên do khí gây hiệu ứng nhà kính, trong đó có CO2, tạo ra nhiều hệ lụy như lũ lụt, hạn hán dẫn tới khủng hoảng an ninh lương thực.

Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia cam kết cắt giảm lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trong từng giai đoạn. Như Mỹ cam kết giảm 26-28% đến năm 2025, Trung Quốc giảm 
18% đến năm 2030.

Khác với Nghị định thư Kyoto, thỏa thuận tại COP 21 không có tính ràng buộc, mà theo tinh thần tự nguyện của mỗi quốc gia cả về chỉ tiêu giảm phát thải lẫn mức tài chính đóng góp cho thỏa thuận.

Cứ sau mỗi 5 năm, họ sẽ họp lại để đánh giá, nhưng những quốc gia không hoàn thành chỉ tiêu sẽ không phải chịu bất kỳ chế tài nào.

Ngoài ra, COP 21 thống nhất kêu gọi các nước giàu/phát triển có nhiệm vụ “huy động” 100 tỉ USD/năm từ công quỹ và các khu vực tài chính tư nhân để giúp các nước nghèo tính tới năm 2025, trước khi đặt ra một cột mốc đóng góp mới với số tiền 
đóng góp tăng lên.

Trong tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris tại Nhà Trắng hôm 1-6, ông Trump khẳng định các thỏa thuận này thiếu công bằng và làm tổn hại nền kinh tế Mỹ.

Tổng thống Mỹ nói rằng để giảm khí thải, Mỹ phải giảm sản xuất, đóng cửa bớt nhà máy, người dân mất việc làm, doanh nghiệp tốn thêm chi phí và Mỹ sẽ tiêu tốn “hàng tỉ, hàng tỉ, hàng tỉ USD” trong khi “chúng ta còn nợ công 20.000 tỉ USD”.

Thực tế việc rút khỏi Thỏa thuận Paris (mà tổng thống Obama ký tham gia năm 2005) là lời hứa của ông Trump trong cuộc bầu cử 2016. Ông đã chỉ trích thỏa thuận này là “trò lừa đảo”, và rằng tại sao Mỹ phải trả tiền cho một thỏa thuận 
không có tính ràng buộc.

Tương lai mông lung

Số phận của Thỏa thuận Paris sau khi không có Mỹ đang là vấn đề đáng quan tâm. Sự hiện diện của Mỹ trước hết là nguồn cung tài chính, do Mỹ nằm trong số các nước phải “huy động” 100 tỉ USD cho các nước nghèo.

Nhưng báo Telegraph (Anh) chỉ ra thực tế rằng ngay từ thỏa thuận của Liên Hiệp Quốc năm 1992 đã mập mờ về khái niệm “quốc gia phát triển” dẫn tới đóng góp không đồng đều, mà ông Trump cho rằng “đặt Mỹ vào thế bất lợi so với nước khác”.

Năm 1992, có 6 trên 10 nước hiện nay là giàu nhất thế giới được xếp vào dạng “nước đang phát triển”, điển hình là Trung Quốc và Ấn Độ.

Trong phát biểu của mình, ông Trump nói thẳng rằng Mỹ đã bất lợi khi phải trả tiền, phải thi hành, còn Trung Quốc “có 13 năm muốn làm gì thì làm (tới 2030)” và Ấn Độ “nhận hàng tỉ, hàng tỉ tiền tài trợ” cho vấn đề môi trường của nước này.

Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia “mạnh miệng” nhất trong cam kết về biến đổi khí hậu sau khi ông Trump tuyên bố rút lui. Dư luận quốc tế cũng bày tỏ sự thất vọng với quyết định của ông Trump, từ Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Âu đến những quốc đảo như Fiji… .

Họ lo lắng khi Mỹ rút lui, ngoài yếu tố tài chính, sẽ khiến các nước nhỏ hơn làm theo, New York Times cho biết. Khi ấy, nhiều nước sẽ cảm thấy bất lợi khi phải tiết giảm sản xuất bằng năng lượng hóa thạch, phải chi trả chi phí cho vấn đề môi trường trong khi khoản đóng góp 
dành cho họ sẽ ít đi.

Về mặt khoa học, việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận sẽ tổn hại tới môi trường. Mỹ hiện chiếm tỉ lệ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính cao thứ hai thế giới (18%) chỉ sau Trung Quốc.

Trong năm 2015, Mỹ thải ra 5,1 triệu kilotons CO2, cao gấp đôi Ấn Độ, gấp 4 lần Nhật Bản, gấp 15 lần Pháp và gấp… 1.007 lần Iceland.

Đài CNN dẫn lời các chuyên gia về biến đổi khí hậu ước tính việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận sẽ khiến nhiệt độ Trái đất tăng thêm 0,3 độ so với trường hợp họ tôn trọng thỏa thuận.

Nhật Đăng

http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20170603/my-rut-thoa-thuan-paris-ve-dau/1325316.html

Những điểm chính trong thỏa thuận khí hậu Paris

ThienNhien.Net – Theo Thoả thuận Paris, Mỹ và 187 quốc gia khác cam kết sẽ duy trì nhiệt độ toàn cầu “thấp hơn” mức thời tiền công nghiệp cộng 2 độ C, và “nỗ lực hạn chế” ở mức thấp hơn nữa, chỉ cộng 1,5 độ C.

 

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bế cháu gái Isabelle khi ký thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Ảnh: AFP

Thêm đập thủy điện trên sông Mekong, miền Tây chồng chất nỗi lo

Các chuyên gia Việt Nam lo ngại cuộc sống 20 triệu dân miền Tây bị xáo trộn lớn khi Lào xây thêm đập thủy điện Pak Beng trên sông Mekong.

Ủy ban sông Mekong Việt Nam vừa tổ chức tham vấn quốc gia về thủy điện Pak Beng, dự kiến được xây dựng trên sông Mekong ở Tây Bắc nước Lào. Buổi tham vấn diễn ra tại Cần Thơ nhằm ý kiến của các chuyên, các sở, ngành của các tỉnh phía Nam.

Đập Pak Beng do một công ty của Trung Quốc thiết kế và đầu tư xây dựng. Nguồn: Pak Beng Hydropower project

Các chuyên gia cho rằng số liệu trong tài liệu phía Lào cung cấp đã cũ, giải pháp cũng lạc hậu, không đánh giá tác động xuyên biên giới. Ba công trình thủy điện của Lào gồm Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng tác động lớn đến dòng chảy của sông Mekong vào mùa khô; sẽ làm tăng hiện tượng xâm nhập mặn trên sông Tiền và sông Hậu, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của 20 triệu dân đồng bằng sông Cửu Long.

Nếu xét tác động tổng thể cả chuỗi 11 đập thủy điện trên sông Mekong mà hai nước Lào và Campuchia dự kiến xây dựng (Lào 9 đập, Campuchia 2 đập) thì lượng nước xuống hạ nguồn thiếu hụt đến 28%; nước mặn sẽ lấn sâu vào đất liền. Mặt khác, hồ chứa Pak Beng lưu giữ đến 90% bùn cát đáy và một phần bùn cát lơ lửng từ thượng nguồn…

Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân cho rằng báo cáo dự án thủy điện Pak Beng có các vấn đề là thiếu số liệu, chuỗi số liệu quá ngắn so với các thời gian sử dụng của đập, không tính đến tác động địa chất trong không gian và theo thời gian…

Theo giáo sư Trân, miền Tây đang bị sạt lở nghiêm trọng do tích lũy trầm tích thiếu, nguy cơ bị xâm thực, sụt lún vùng đất này quá rõ. “Một đập thủy điện hoạt động trăm năm chứ không phải 20 năm nên phải đánh giá rõ ràng tác động như thế nào? Đặc biệt là tích lũy trầm tích, phù sa bị con đập này giữ lại thì sẽ vô cùng tai hại cho đồng bằng phía hạ lưu”, ông nói.

Giáo sư Trân cũng lưu ý đập Pak Beng nằm trong vùng động đất hoạt động rất mạnh mà báo cáo của dự án chưa nói tới. Chu kỳ động đất 10-20 năm là 5-6 độ Richter, 50 năm thì 7 độ Richter. Gần nơi Pak Peng sẽ toạ lạc, nhiều địa phương đã ghi nhận các trận động đất 6-7 độ Richter. “Trên dòng Mekong Lào xây dựng đập dây chuyền, nếu xảy ra động đất thì sẽ đổ vỡ dây chuyền”, ông quan ngại.

“Tôi đề nghị Lào hoãn xây dựng đập, làm báo cáo đánh giá tác động toàn diện, đầy đủ hơn để trình các quốc gia trong khu vực”, giáo sư Trân nói và cho biết đối với Việt Nam, đây là vấn đề sống còn nên khó khăn cách mấy cũng yêu cầu phía bạn hoãn lại.

Tiến sĩ Vũ Ngọc Long (Viện Sinh thái học miền Nam) cho rằng đồng bằng sông Cửu Long được hình thành do phù sa sông Mekong. Vùng đất này sẽ bị sụt lún khi không còn phù sa. Bài toán biến đổi khí hậu sẽ xảy ra nhanh hơn, nặng nề hơn khi các đập thủy điện lần lượt chặn dòng chính Mekong. Do đó, báo cáo dự án nên bổ sung nghiên cứu vấn đề xuyên biên giới với Việt Nam, nhất là về tác động sinh thái biển.

Địa phương vừa xảy ra sạt lở nghiêm trọng ở bờ sông Vàm Nao – Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lâm Quang Thi cho rằng các đập thủy điện thượng nguồn đều gây lo lắng cho cả miền Tây và cấp độ quốc gia. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá tác động riêng kinh tế, xã hội và môi trường là chưa đủ. “Nếu như Lào và Campuchia cho xây toàn bộ 11 đập trên song Mekong và các công ty của Trung Quốc đầu tư tất cả thì tình hình sẽ như thế nào?”, ông Thi nói.

Tiến sĩ Dương Văn Ni (Khoa môi trường, đại học Cần Thơ) nói tham vấn thủy điện Pak Beng lần này cũng giống như khi tham vấn thủy điện Xayaburi mấy năm trước. Khi đó, Thủ tướng Việt Nam cũng có văn bản đề xuất Lào cho dời lại 10 năm sau hãy xây đập. “Nhưng nước bạn vẫn xây, vì sao? Vì tham vấn chỉ mang tính góp ý chứ không có tính pháp lý. Rõ ràng chúng ta đang rơi vào vòng luẩn quẩn”, ông Ni lo lắng.

Các đập thủy điện trên sông Mekong

Bộ Trưởng Tài nguyên – Môi trường, Chủ tịch Ủy ban sông Mekong Việt Nam Trần Hồng Hà cho biết, là quốc gia cuối nguồn sông Mekong, Việt Nam theo dõi đặc biệt với sự quan tâm đặc biệt và quan ngại sâu sắc trước việc các quốc gia đầu nguồn xây dựng đập thủy điện. Việc làm này cùng với biến đổi khí hậu đã tác động kép lên toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long mà đỉnh điểm là xâm nhập mặn năm 2016 và sạt lở khắp nơi, đặc biệt là ở bờ sông Vàm Nao vừa qua.

Hồi tháng 2, trong buổi tham vấn tại Lào, tiến sĩ Davong Phonekeo – thư ký thường trực của Bộ Năng lượng và Mỏ Lào – cho rằng dù có tăng trưởng kinh tế ấn tượng gần đây, Lào vẫn là quốc gia kém phát triển nhất khu vực Mekong. Do đó việc phát triển thủy điện theo cách bền vững và có trách nhiệm là chất xúc tác cho phát triển kinh tế và giúp cho hàng triệu người nước này 
thoát nghèo.

Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Lào Sommath Pholsena cho rằng, dư luận không nên quá lo lắng về các tác động từ dự án đập thủy điện Pak Beng. Lào sẽ phải đảm bảo và phải chịu trách nhiệm đối với người dân Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan.

Pak Beng là thủy điện thứ nhất trong chuỗi 11 bậc thang thủy điện dòng chính dự kiến xây dựng trong vùng hạ lưu vực sông Mekong. Đây là công trình thứ 3 của Lao (thuộc huyện Pak Beng, tỉnh Oudomxay, Tây Bắc Lào), sau Xayaburi và Don Sahong, cách đồng bằng sông Cửu Long gần 2.000 km.

Thủy điện Pak Beng có công suất thiết kế 912 MW, điện lượng 4,765 GWh. Khi hoàn thành sẽ có đến 90% lượng điện sản xuất ra được bán sang Thái Lan. Chính phủ Lào cho biết công trình đập Pak Beng dự kiến được khởi công năm 2017, hoàn tất vào năm 2023 và bắt đầu đi vào hoạt động thương mại năm 2024.

Trước đó, Chính phủ Lào đã nộp cho Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) báo cáo về nghiên cứu khả thi, đánh giá tác động môi trường và xã hội của thủy điện Pak Beng. Cuối năm 2016, các nước thành viên MRC thống nhất quá trình tham vấn cho dự án thủy điện này trong vòng 6 tháng.

Cửu Long

Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/them-dap-thuy-dien-tren-song-mekong-mien-tay-chong-chat-noi-lo-3584312.html

Biến động bờ biển Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau qua phân tích ảnh vệ tinh (1973-2014)

Manon Besset, Edward J. Anthony, Guillaume Brunier et Philippe Dussouillez

  1. Giới thiệu

Đồng bằng sông Cửu Long (hình 1) được coi là đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới với diện tích gần 100.000 km² (Coleman và Huh, 2004). Với 18 triệu dân, ĐBSCL thâm canh nông nghiệp gồm ruộng lúa, cây ăn quả cũng như nuôi tôm và cá, từng loại chiếm 60%, 70% và 60% tổng sản lượng của Việt Nam (Uỷ ban sông Mekong, 2010 ). ĐBSCL được mô tả như vựa lúa của Đông Nam Á, được nối với một con sông với chiều dài 4.750 km và lưu vực thoát nước khoảng 832.000 km² (Milliman và Ren, 1995). Lưu lượng nước trung bình ước tính của sông Mekong khoảng 14.500 m³/s (Uỷ ban Sông Mekong, 2010). Chế độ thuỷ văn hàng năm theo mùa với một mùa lũ (tháng 5 đến tháng 10), trong đó trầm tích của sông được đưa đến đồng bằng và bờ biển. Ước tính tải lượng trầm tích hàng năm của sông Mekong tại Kratie, Campuchia, chỉ ở thượng nguồn đồng bằng (hình 1), dao động từ 50 đến 160 Mt. Gió mùa Ấn Độ cũng tương ứng với sóng năng lượng thấp từ phía tây nam gây suy yếu dòng dọc bờ về phía Đông Bắc. Trong mùa này, lượng bùn cao từ sông Mekong chủ yếu lắng đọng trong khu vực gần bờ biển của các cửa sông phân lưu (Wolanski et al, 1998;.. Unverricht et al, 2013), khác với với mùa khô, lượng bùn mang tới do sóng mạnh bởi gió Đông Bắc Thái Bình Dương (hình 1). Trầm tích vận chuyển dọc theo phía tây nam từ cửa sông bởi những đợt gió tín phong, sức gió và thủy triều. Dải triều giảm từ khoảng 3m vào mùa xuân dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa xuống dưới 1m ở Vịnh Thái Lan, cũng như vùng biển được che chắn từ các sóng theo mùa Thái Bình Dương có năng lượng cao hơn.

Vùng ĐBSCL phát triển nhanh để hình thành đường bờ dài 700 km ở Biển Đông từ 5,3 đến 3,5 ngàn năm với tốc độ bồi tụ lên đến 16 m/năm (Tạ et al., 2002). Khi tiếp xúc với sóng biển ngày càng tăng, tỷ lệ này giảm xuống dưới 10 m/năm ở cửa sông. Tuy vậy, tỷ lệ này vẫn ở mức cao lên đến 26 m/năm trong khu vực Cà Mau ở phía tây nam (Ta và cộng sự, 2002). Sự chênh lệch về tỷ lệ này là do hình thái lệch của đồng bằng về phía tây nam (hình 1). Sự khác biệt này cũng  phản ánh sự biến đồi kích thước hạt, từ cát ưu thế ở cửa sông, nơi bị chi phối bởi các giồng cát (Tamura et al., 2012), đến bùn ưu thế khu vực phía tây trong quá khứ là rừng ngập mặn.

Hình 1: Khu vực nghiên cứu. A: Lưu vực sông Mekong và phần nội địa với sáu lưu vực sông. B: Vùng ĐBSCL Việt Nam. Đồng bằng và một phần mạng lưới kênh rạch và đê. C: Sóng Biển Đông. (Dữ liệu Wavewatch III từ Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia (NCEP)

Vùng ĐBSCL ngày càng bị tác động tiêu cực bởi các hoạt động nhân sinh (Syvitski, 2008; Evans, 2012; Anthony, 2013), đặc biệt là xây đập ở thượng nguồn sông, khai thác vật liệu đáy sông, khai thác nước. Tác động chính trị và sinh thái tiềm ẩn của các đập thủy điện ở ĐBSCL là đối tượng của nhiều nghiên cứu khác nhau (Grumbine và Xu, 2012, Yong và Grundy-Warr, 2012, Ziv và cộng sự, 2012). Loisel et al. (2014) cho rằng sự suy giảm trầm tích lơ lửng hàng năm ở đồng bằng khoảng 5%/năm từ năm 2003-2012 rất có thể liên quan đến việc các đập ngăn trầm tích. Loisel et al. (2014) cho thấy việc giảm nồng độ trầm tích lơ lửng 5% hàng năm tại các cửa sông Mekong không phải do sự thay đổi các điều kiện sóng và lưu lượng dòng chảy, cả hai đều tương đối ổn định trong giai đoạn 1997-2012.

Khai thác cát, sỏi đáy sông được thực hiện trên quy mô rộng trong thập kỷ qua do áp lực phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở Campuchia và Việt Nam (Bravard và cộng sự, 2013). Brunier et al. (2014) ghi nhận sự thâm hụt lũy tích ròng 200,106 m3 đối với hai phụ lưu đồng bằng từ việc so sánh 10 năm về sự thay đổi thể tích đáy. Độ cao mực nước đồng bằng cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc khai thác nước gây ra sụt lún nhanh. Các hoạt động lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản phát triển rộng rãi gây thiệt hại cho thảm thực vật, bao gồm rừng tràm và rừng ngập mặn, hai loài chính là Rhizophora apiculataAvicennia Alba (Phan và Hoàng, 1993).

  1. Phương pháp

Để theo dõi những biến động bờ biển và cửa sông Mekong, các ảnh vệ tinh Landsat năm 1973 và 2014 từ Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ được sử dụng. Độ phân giải là 60m đối với ảnh L1-5 MSS (1973) và 30m đối với ảnh L8 OLI-TIRS (2014). Các ảnh được chọn có tỉ lệ mây thấp và mức triều cao nhất có thể. Các ảnh được hiệu chỉnh từ kết quả của USGS tham chiếu trong Hệ thống đo đạc toàn cầu WGS 1984, Universal Transitor Mercator (UTM zone 48N). Việc tái điều chỉnh hình ảnh được thực hiện bằng cách sử dụng các hình ảnh SPOT5 năm 2003 và năm 2011 (độ phân giải 2,5 m) để thiết lập cơ sở địa lý. Bờ biển được số hóa cho mỗi hình ảnh cũng như tham khảo các giới hạn ngoài của thảm thực vật.

  1. Kết quả

Bờ biển có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ biến đổi diện tích (hình 2). Đới bờ bị xói lở 4,40 km²/năm trong giai đoạn 1973-2014, thậm chí nhiều hơn trong khoảng từ năm 2003 đến năm 2011 với mức xói lở 6,98 km²/năm. Diện tích bồi tụ hàng năm cho giai đoạn nghiên cứu tổng thể là 3,75 km²/năm. Trong giai đoạn từ 2003 đến 2011, mức bồi tụ chỉ đạt 0,37 km²/năm. Tốc độ thay đổi diện tích trong giai đoạn 1973-2014 và 2003-2011 tương ứng là -0,65 km²/năm và -6,61 km²/năm. Đánh giá cho thấy sự mất cân bằng rõ rệt trong giai đoạn 2003-2011 giữa bồi tụ và xói lở.

Hình 2: Các đồ thị tỷ lệ thay đổi bờ biển (km²/yr) từ năm 1973 – 2014 (nghiên cứu này) và từ năm 2003 – 2011 (Anthony và cộng sự., 2013) phân tích từ các ảnh vệ tinh Landsat và SPOT 5

Gần 70% diện tích bờ biển bị xói lở trong khoảng thời gian từ năm 1973 đến năm 2014, sự sụt giảm này ảnh hưởng đáng kể đến tỉnh Cà Mau (Hình 3). Tốc độ xói lở vượt quá 20 m/năm ở nhiều nơi, nhiều nhất là hơn 50 m/năm. Tổng mức xói lở đã gây mất đất đồng bằng đáng kể dọc bờ biển này (hình 3-4).

Hình 3: Biến động bờ biển ĐBSCL. A: Đồ thị biến động diện tích bờ biển (km²/yr) từ năm 1973 – 2014 được phân tích từ ảnh vệ tinh Landsat. B: Đồ thị biến động diện tích bờ biển (m/yr) từ năm 1973 – 2014 được phân tích từ ảnh vệ tinh Landsat. C: Đồ thị biến động diện tích bờ biển (km²/năm) từ năm 2003 – 2011 được phân tích từ ảnh vệ tinh SPOT 5 (Anthony et al., 2015). D: Bản đồ biến động bờ biển từ năm 1973 – 2014 được phân tích từ ảnh vệ tinh Landsat
Hình 4: Ảnh (2012) cho thấy xói lở bờ biển điển hình ở phía tây nam, sóng biển xói vào bãi bùn

Mất đất đáng kể dọc theo bờ biển bùn cùng với những thay đổi trong việc sử dụng đất. Điều này bắt đầu từ việc rừng ngập mặn giảm mạnh trong Chiến tranh Việt Nam từ những năm 1960 đến đầu những năm 1970, tiếp theo là khai thác gỗ quá mức vào những năm 1980 và 1990 để cung cấp gỗ cho ngành xây dựng và sản xuất than củi và sau đó là việc lập các trang trại nuôi tôm vào những năm 2000 (Phan và Hoàng, 1993, Christensen và cộng sự, 2008). Hình 5 và 6 trình bày các ví dụ về thay đổi sử dụng đất và mất thảm thực vật từ năm 2003 đến năm 2011, chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển dọc theo khu vực bờ biển đang bị xói mòn ở tỉnh Bạc Liêu. Trên diện tích 1.700 ha, 60 ha thảm thực vật đã bị mất trong giai đoạn 2003-2011. Rừng ngập mặn đã được thay thế bởi nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm (Hình 8).

Hình. 5: Biến động diện tích thảm thực vật từ năm 2003 đến năm 2011. A. Ảnh vệ tinh SPOT 5 năm 2003 tại vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu. B. Ảnh vệ tinh SPOT 5 năm 2011 trong cùng khu vực. C. Một ví dụ thể hiện phân tích so sánh biến động thực vật ở ven biển tỉnh Bạc Liêu. Những thay đổi này liên quan đến mất rừng ngập mặn ven biển từ năm 2003 đến năm 2011 từ hai ảnh vệ tinh SPOT 5 có độ phân giải cao.
Hình. 6: Ảnh (năm 2012) cho thấy khu rừng ngập mặn còn sót lại và sự xói mòn liên tục dọc theo bờ biển
  1. Thảo luận

Biến động dài hạn (41 năm) bằng cách so sánh ảnh Landsat cho thấy sự xói lở ở phần lớn phía nam bờ biển khu vực nghiên cứu so với sự ổn định tương đối của ở bờ biển dọc Vịnh Thái Lan và phía bắc của bờ biển Nam Trung Quốc (Anthony và cộng sự, 2013, Besset, 2015). ĐBSCL đã bị con người làm biến đổi mạnh mẽ kể từ đầu thế kỷ 18 (Thanh, 2014), nhưng rõ rệt nhất trong thập kỷ qua liên quan đến việc xây dựng đập nước, khai thác quá mức.

Sự xói mòn lâu dài có thể là do nguồn cấp trầm tích giảm liên quan đến sự cô lập đáng kể của trầm tích sông trên vùng đồng bằng ngập nước đang sụt lún khi con người chiếm cứ và khai thác tăng lên trong những thập kỷ qua. Mô hình hóa trầm tích cho thấy phần xói mòn này của vùng đồng bằng hiện nay nhận được ít hơn 2% nguồn bùn nội địa được tích lũy trong vùng cửa sông (Xue et al., 2012). Việc giảm nguồn cấp trầm tích này dẫn đến sự xói mòn bờ biển bùn do năng lượng sóng ít bị tiêu giảm. Phan và cộng sự (2015) gần đây đã cho thấy tầm quan trọng của tiêu hao năng lượng sóng do bùn dọc theo bờ biển ĐBSCL. Khi quá trình xói mòn tiến triển và bùn bị phân tán, các vách bờ biển dốc hơn có vai trò ít tiêu hao năng lượng sóng hơn.

Ngoài khả năng bẫy bùn trong những con đập làm suy giảm nguồn cấp trầm tích hạt mịn về phía biển, không còn nghi ngờ gì nữa có mối liên kết khác giữa xói mòn và sự gia tăng tác động của con người. Mật độ dân số cao và các hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản quy mô lớn đã dẫn đến sự phát triển kỹ thuật và cơ sở hạ tầng rộng khắp vùng đồng bằng (Manh et al., 2014, 2015). Sự sụt lún gia tăng có thể dẫn đến bẫy trầm tích tràn bờ tăng lên, trong khi những thay đổi do con người gây ra về hình thái và quĩ trầm tích có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp trầm tích cho bờ biển đồng bằng. Manh và cộng sự (2014) đã ước tính rằng trầm tích lưu giữ ở ĐBSCL dao động từ 1% vào năm lũ thấp đến 6% vào năm lũ cao so với tổng lượng trầm tích ở Kratie. Điều này tương ứng với tỷ lệ bồi tụ đồng bằng ngập lụt trung bình năm là 0,3-1,8 mm. Các tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ sụt lún hiện tại 2-3 cm do Erban và cộng sự xác định (2014).

Sự xói mòn nghiêm trọng dọc theo khu vực cực nam của đồng bằng có thể là do sự định hướng đường bờ biển đối với sóng gió mùa Thái Bình Dương. Do sự giảm mức dâng cao thủy triều, dải triều thấp hơn dọc theo bờ biển này cũng gia tăng sự tái hoạt động của sóng. Do đó, xói mòn cũng phải cao hơn so với phần phía đông bắc của bờ biển gần vùng cửa sông nơi mà trầm tích được phân phân phối về hướng tây nam. Ngoài các yếu tố này, những biến đổi dọc bờ (hình 3) có thể phản ánh sự khác biệt do sự hiện diện hoặc không có rừng ngập mặn và xây dựng đê biển, cả hai đều phản ánh gián tiếp về áp lực dân số dọc theo bờ biển (hình 7) và tương ứng với những chuyển đổi nhân sinh vùng vùng ven bờ. Đê biển đã được xây dựng rộng rãi dọc theo phần lớn bờ biển để chống ngập và bảo vệ các trang trại nuôi tôm. Điều này đã dẫn đến việc “thu hẹp rừng ngập mặn” và làm giảm khả năng tiêu hao năng lượng sóng của rừng ngập mặn (Phan et al., 2015). Các khía cạnh của việc xây dựng đê để chống xói mòn bờ biển đã được Schmitt và Albers (2014) lưu ý rằng việc xây dựng đê sau dải rừng ngập mặn hẹp ven biển có thể làm trầm trọng thêm sự xói mòn bờ biển. Tuy nhiên, đê thường đạt hiệu quả trong việc giảm tốc độ xói mòn (Schmitt và Albers, 2014). Điều thú vị là các đê thường không có trong khu vực bị xói mòn nghiêm trọng nhất của tỉnh Cà Mau (Hình 3). Đây cũng là tỉnh có ít dân cư nhất trong số ba tỉnh (Hình 7).

Hình 7: Thống kê dân số ba tỉnh dọc theo bờ đồng bằng sông Cửu Long
Hình 8: Ảnh (năm 2012) cho thấy các trang trại nuôi tôm bên trái ngăn với rừng ngập mặn bên phải bởi đê đất
  1. Kết luận

Dải bờ biển phía tây nam ĐBSCL phần lớn đang bị xói lở, sự  suy thoái ảnh hưởng tới hơn 70% bờ biển bùn dài 160 km. Xu hướng này chiếm ưu thế ít nhất trong bốn mươi năm qua bằng việc phân tích ảnh vệ tinh.

Chúng tôi cho rằng sự suy giảm nguồn cấp trầm tích sông dẫn đến xói lở bờ biển có nguyên nhân chính là các hoạt động nhân sinh, các yếu tố bao gồm các kiểu tích lũy và tái phân bố bùn trên một vùng đồng bằng rộng đang sụt lún và sự loại bỏ rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản có thể làm trầm trọng thêm quá trình này. Rất nhiều đập được lên kế hoạch cho tương lai trong lưu vực hạ lưu sông Mekong sẽ làm gia tăng sự mất ổn định của đồng bằng hiện tại. Tính dễ tổn thương cao do sự sụt lún đồng bằng, nguồn cung cấp trầm tích cần thiết để cân bằng quá trình này sẽ càng làm cạn kiệt trầm tích sông, do đó xói mòn sẽ có thể trầm trọng hơn.

Thanh Hằng lược dịch từ bài: Shoreline change of the Mekong River delta along the southern part of the South China Sea coast using satellite image analysis (1973-2014).

Nguồn: https://geomorphologie.revues.org/11336

Diamoitruong đặt lại tiêu đề bài báo cho phù hợp với vị trí địa lý vùng nghiên cứu.