GIỚI THIỆU DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI ĐỚI BỜ THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ

(Nguyễn Trường Ngân  Nguyễn Ngọc Tuyến)

1. Mở đầu

1.1. Một số khái niệm

Hệ sinh thái (Ecosystem) Trong bài viết này được hiểu là một phức hệ động giữa các quần xã động, thực vật và vi sinh vật, cùng với môi trường vô sinh, tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng (UNEP, 2004).

Như vậy, có thể hiểu hệ sinh thái là sự tích hợp giữa các quần xã với sinh cảnh.

Chức năng hệ sinh thái (Ecosystem function) là một đặc tính nội tại của HST liên quan đến một tập hợp các điều kiện và tiến trình để duy trì tính toàn vẹn của HST (như năng suất sơ cấp, chuỗi thức ăn, chu trình địa hóa). Các chức năng của HST gồm có các tiến trình như phân hủy, sản xuất, chu trình dinh dưỡng, dòng dinh dưỡng và năng lượng (UNEP, 2004)

Dịch vụ hệ sinh thái (Ecosystem services) là những lợi ích mà con người có được từ HST. DVHST bao gồm: dịch vụ cung cấp, ví dụ lương thực và nước; dịch vụ điều tiết, ví dụ kiểm soát lũ và dịch bệnh; dịch vụ văn hóa, ví dụ tinh thần, giải trí, văn hóa; và dịch vụ hỗ trợ, ví dụ chu trình dinh dưỡng giúp duy trì các điều kiện sống trên trái đất. Khái niệm “hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái (ecosystem goods and services) đồng nghĩa với khái niệm DVHST (UNEP, 2004).

Phản DVHST (Ecosystem Dis-services) là những tác động do con người gây ra làm phá hủy DVHST (Zhang, 2007)

Hệ sinh thái đới bờ (Coastal ecosystem) là một phần diện tích nơi mà đất và nước tham gia để tạo ra một môi trường có một cấu trúc, sự đa dạng và dòng năng lượng riêng biệt. HST đới bờ bao gồm các đầm muối, rừng ngập mặn, đất ngập nước, cửa sông và các vịnh, và là nơi trú ngụ của nhiều loài động thực vật khác nhau. Các HST đới bờ rất nhạy cảm với những thay đổi môi trường (The Environmental Literacy Council, 2015).

Hệ đới bờ (Coastal system) là các hệ thống bao gồm phần diện tích mặt đất bị ảnh hưởng bởi thủy triều và bãi cát, kết hợp với các vùng biển gần bờ. Hệ sinh thái đới bờ thuộc phần đất liền được xác định tối đa 100km tính từ bờ biển hoặc 100m độ cao (tùy giới hạn nào gần biển hơn), và phần biển gần bờ được giới hạn bởi độ sâu 50m tính từ bờ biển (UNEP, 2006).

1.2. Phân loại các hệ sinh thái đới bờ

Là các HST có năng suất sinh học cao nhất, đồng thời cũng là các HST bị đe dọa nhất trên thế giới. Thành phần bao gồm các HST trên cạn (ví dụ HST cồn cát), các HST nước lợ, các HST ven bờ và các HST đại dương. Cơ sở để xác định ranh giới các HST là dựa vào khái niệm hệ đới bờ theo UNEP, 2006.

Các hệ sinh thái đới bờ phân thành 10 dạng như hình 1.

hinh 1
Hình 1. Phân loại các hệ sinh thái đới bờ (Nguồn: tổng hợp từ UNEP, 2006)

  2. Chức năng và dịch vụ của các HST đới bờ

Các tác giả De Groot, Wilson và Boumans (2002) đã tổng hợp được 22 chức năng chính của các HST đới bờ chia thành 4 nhóm, gồm: Điều tiết (10 chức năng), sinh cảnh (2 chức năng), sản xuất (5 chức năng), và thông tin (5 chức năng). Từ 22 chức năng chính này, các tác giả cũng đề xuất môt số DVHST phổ biến đang được con người khai thác trên thế giới.

Các DVHST được các tác giả ghi nhận (bảng 1) là những DV có tính bền vững về mặt sinh thái vì chúng được tạo ra từ các chức năng của hệ sinh thái. Các tác giả này bỏ qua các hoạt động khai thác kém bền vững, ví dụ hoạt động khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên không tái tạo khác (tất cả đều là hàng hóa liên quan đến thị trường). Đối với các hoạt động này, chúng tôi sẽ bàn đến trong nội dung phản DVHST.

Bang 1

3. Dịch vụ của các HST điển hình theo tuyến thực tập đới bờ

3.1. Các HST điển hình

Tuyến thực tập môi trường – tài nguyên đới bờ năm 2018 của sinh viên ngành Khoa học Môi trường trường Đại học Khoa học tự nhiên có tổng chiều dài 346 km, khảo sát chi tiết tại 12 điểm (hình 2)

hinh 2
Hình 2. Bản đồ tuyến thực tập

Căn cứ vào phân loại sinh cảnh đới bờ theo UNEP (Bảng 1) và đối chiếu với thực tế khảo sát, chúng tôi ghi nhận bốn HST điển hình theo tuyến thực tập đới bờ như sau (bảng 2). Continue reading “GIỚI THIỆU DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI ĐỚI BỜ THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ”

Advertisements

SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ

1. Giới thiệu chung

Toàn cầu, tổng mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp hàng năm (2005) ước tính là 500.1015 Btu. Riêng nước Mỹ tiêu thụ 105.1015 Btu, tập trung trong các lĩnh vực: Công nghiệp, giao thông, thương mại và dân dụng được minh họa trong Hình 1.1. Khoảng 40% tổng mức năng lượng sơ cấp được sử dụng để sản xuất điện. Gần 70% năng lượng được sử dụng trong nhà và văn phòng dưới dạng điện năng. Nhu cầu điện trên toàn thế giới là 15 nghìn tỷ kWh (2005) và đạt 19 nghìn tỷ kWh trong 2015. Mức gia tăng trung bình hàng năm về nhu cầu điện năng trên toàn thế giới là 2,6%. Tốc độ gia tăng ở các nước đang phát triển được dự đoán khoảng 5%, gần gấp đôi mức tăng trung bình của thế giới. Điện trên thế giới được sản xuất chủ yếu bằng nhiên liệu hóa thạch trong hơn hai thế kỷ, vài nơi nhu cầu điện có thể được đáp ứng bằng các nhà máy điện hạt nhân nhưng chỉ mới hơn 5 thập kỷ qua. Những lo ngại môi trường ngày càng gia tăng trong những năm gần đây liên quan đến sự nóng lên toàn cầu và những tác động tiêu cực của phát thải carbon đã đặt ra một yêu cầu mới về các nguồn năng lượng sạch và bền vững như gió, biển, mặt trời, sinh khối và năng lượng địa nhiệt. Trong số này, năng lượng gió và mặt trời đã phát triển đáng kể trong 10 năm qua. Cả hai đều là nguồn năng lượng dồi dào và không gây ô nhiễm. Ngoài ra, với hai nguồn năng lượng này, điện có thể được sản xuất và cung cấp cho khu vực lân cận, gần các nhà máy sản xuất; do đó, giúp tiết giảm chi phí lắp đặt hệ thống đường dây điện cao thế chạy từ khu vực ngoại thành và nội thành. Việc cho phép tư nhân hoá và khuyến khích lựa chọn của người tiêu dùng đối với các nguồn năng lượng xanh (green power) ở nhiều nước đang giúp mở rộng thị trường cho điện gió (wind power) và quang điện (Photovoltaic Energy) với tốc độ ngày càng tăng.

Hinh 1.1Hình 1.1: Tỉ lệ tiêu thụ năng lượng trong 3 lĩnh vực lớn của Mỹ

Tổng nhu cầu điện ở Mỹ đã đạt gần 4 nghìn tỷ kWh trong năm 2005, với tổng giá trị đạt 300 tỷ đô la. Để đáp ứng nhu cầu này, các cơ sở với công suất hơn 800 GW được lắp đặt tại Hoa Kỳ. Nhu cầu điện trên cả nước đã tăng lên theo tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Với tốc độ đó, Mỹ cần phải bổ sung 200 GW vào 2015.

Trung Quốc hiện là nước tiêu thụ điện lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Nhu cầu điện năng của Trung Quốc tăng 15% trong năm 2003, so với dự báo của các nhà hoạch định kinh tế chỉ 5% . Hiện tại, tổng nhu cầu đã vượt quá 460 GW vào cuối 2005. Ấn Độ là một quốc gia có nhu cầu năng về lượng tăng hơn 10% mỗi năm. Tốc độ gia tăng này, cùng với số dân đông, sẽ làm cho hai quốc gia này phát triển nhanh chóng thị trường cho tất cả các nguồn năng lượng điện, bao gồm cả năng lượng tái tạo.

Ngày nay, việc xây dựng các nhà máy sản xuất điện năng đang trở nên phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới vì khó khăn trong việc tìm vị trí cho lắp đặt các cơ sở sản xuất và truyền tải điện dưới bất kỳ hình thức nào. Tại Mỹ, không có nhà máy điện hạt nhân nào được yêu cầu hoặc thiết lập từ năm 1978. Với mức chi phí cao, những đổi mới về thiết kế liên quan đến an toàn trong quá trình xây dựng và sự phản đối của cộng đồng địa phương đối với các nhà máy này, các nhà máy điện hạt nhân không phải là lựa chọn hàng đầu trong ba thập kỷ qua. Nếu không có nhà máy điện hạt nhân mới được xây dựng và các nhà máy hiện tại không được cấp phép lại khi hết thời hạn 40 năm, sản lượng điện hạt nhân dự kiến sẽ giảm mạnh sau năm 2010. Sự suy giảm này phải được thay thế bằng các nguồn năng lượng khác. Với giá khí đốt tăng dài hạn, các cơ sở sản xuất có khả năng sẽ dùng than để sản xuất điện. Mỹ có trữ lượng than khổng lồ, tương đương với hơn 250 năm sử dụng ở mức hiện tại. Tuy nhiên, điều này sẽ yêu cầu các công nghệ đốt than sạch (clean coal-burning technologies) để có được sự chấp thuận hoàn toàn từ cộng đồng.

Các giải pháp thay thế cho điện hạt nhân và nhiên liệu hóa thạch là các công nghệ năng lượng tái tạo như: thủy điện, ngoài các công nghệ đã đề cập bên trên. Các dự án thủy điện quy mô lớn ngày càng trở nên khó triển khai hơn trong những năm gần đây do cạnh tranh trong việc sử dụng đất và tài nguyên nước. Các yêu cầu tái cấp phép của các nhà máy thủy điện hiện tại thậm chí có thể dẫn đến việc yêu cầu loại bỏ một số đập nhằm bảo vệ hoặc phục hồi môi trường sống của động vật hoang dã. Ngược lại, trong số các nguồn năng lượng tái tạo khác, gió và mặt trời gần đây đã cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng trên toàn thế giới.

Hiện trạng và lợi ích của các nguồn năng lượng tái tạo được so sánh với các nguồn thông thường trong Bảng 1.1 và Bảng 1.2.

bang 1.1
Bảng 1.1: So sánh các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng truyền thống
bang 1.2
Bảng 1.2: Lợi ích của việc sử dụng điện tái tạo

Các nhà khoa học và nhà kinh tế về năng lượng tin rằng nguồn năng lượng tái tạo sẽ nhận được nhiều khuyến khích của quốc gia hơn nếu lợi ích xã hội của chúng được công nhận đầy đủ. Ví dụ, giá trị của việc không tạo ra 1 tấn CO2, SO2 và NOx, và giá trị của việc không xây dựng đường dây điện cao thế dài chạy qua khu vực nông thôn và thành thị không được phản ánh đầy đủ cho giá của năng lượng tái tạo hiện tại. Nếu năng lượng tái tạo có được chứng nhận về việc giảm ô nhiễm của phát thải 600 tấn CO2 trên mỗi một triệu kWh điện tiêu thụ, chúng sẽ có được sự thúc đẩy lớn hơn nữa cùng với những ưu đãi nhiều hơn so với hiện tại của chính phủ Mỹ. Continue reading “SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ”

Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?

Đồ nhựa (plastic) không chỉ trông giống thức ăn, nó phát ra mùi và âm thanh hệt như thức ăn. Rác thải nhựa của con người có đủ loại hình dạng, kích cỡ và màu sắc khác nhau, được đổ thẳng trực tiếp ra biển. Lượng rác này tích tụ ngày càng nhiều, xâm lấn môi trường sống của các sinh vật biển, trở thành nguồn “thực phẩm” chính cho chúng.

(ảnh: Troy Mayne/Greenpeace)

Trong chương trình Blue Planet II gần đây, David Attenborough – phát thanh viên, nhà tự nhiên học người Anh – kể về 1 con hải âu đi kiếm thức ăn cho con non. “Nó ngậm đầy trong miệng… không phải cá, cũng không phải mực, mà là nhựa.”

Attenborough mô tả, đây là 1 điều kỳ lạ và rất đáng thương. Loài hải âu Albatrosses có thể bay hàng ngàn cây số để tìm kiếm con mồi và có thể bắt cá một cách dễ dàng. Vậy vì sao chúng lại có thể bị lừa, trở về từ chuyến đi gian nan của mình, không có gì ngoài những miếng nhựa? Thật ra, hải âu không phải là trường hợp duy nhất. Theo ghi nhận gần đây, đã có ít nhất 180 loài động vật biển thường xuyên tiêu thụ nhựa, từ các sinh vật phù du (zooplankton) đến cá voi khổng lồ.

Đồ nhựa đã được tìm thấy trong ruột của 1/3 lượng cá đánh bắt được ở Anh, gồm nhiều loài cá mà chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Ngoài ra, chúng cũng được phát hiện trong ruột con trai và tôm hùm. Tóm lại, vô số các loài động vật biển đang ăn rác thải nhựa, bởi con người vẫn không ngừng đổ 12,7 triệu tấn phế thải vào đại dương mỗi năm.

Vì số lượng này ngày càng tăng qua từng năm, đến một lúc các loài sinh vật biển không còn gì để tiêu thụ ngoài nhựa. Trong đó, các loài sinh vật phù du cũng không ngoại lệ. Moira Galbraith, nhà sinh thái học tại Viện Khoa học Đại dương, Canada cho biết: “Nếu hạt nhựa rơi vào 1 phạm vi kích thước nhất định thì [đối với các loài sinh vật biển] nó được xác nhận là thức ăn.”

Đến nay, nhiều người thắc mắc rằng rác thải từ nhựa thật sự đã trôi xa đến đâu. Một nghiên cứu đã cho thấy chúng đã trầm xuống tận đáy biển. Qua 12 địa điểm thử nước biển tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương từ năm 2001 đến 2012, người ta thấy hàm lượng các vi hạt nhựa (microplastics) tăng đột biến. Kích thước của chúng chỉ dài 1mm và được tìm thấy từ độ sâu 300 mét dưới Địa Trung Hải đến trên 3.000 mét dưới đáy biển, với mật độ cao gấp 1.000 lần so với lượng rác thải nhựa tìm thấy trên bề mặt.

Nhựa đã trôi dạt tới Nam Cực (ảnh: Hội khảo sát Nam Cực của Anh Quốc)

Continue reading “Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?”

Nhận dạng lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long

Hà Quang Hải, Trần Ngọc Lê Duy

I. Giới thiệu

Cho đến nay, những nghiên cứu về lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long rất ít. Xác định những lòng sông cổ thời kỳ Neogen – Pleistocene thực sự khó khăn. Việc này chỉ có thể thực hiện được qua tài liệu các lỗ khoan đủ dày với các kết quả phân tích tin cậy, nhất là tuổi các phân vị địa tầng.

Xác định sông cổ (các dòng đã ngừng hoạt động) trong Holocen thường dễ dàng hơn do những dấu vết còn để lại trên bề mặt đồng bằng qua tư liệu viễn thám và có thể kiểm tra bằng công trình khoan, đào bề mặt. Tư liệu viễn thám rất hữu ích trong việc nhận dạng lòng sông cổ qua đặc trưng tôn ảnh và hình thái dạng địa hình. Tuy vậy, việc nhận dạng lòng sông cổ một số khu vực gặp khó khăn khi bề mặt đồng bằng bị biến đổi nhiều bởi các hoạt động nhân sinh.

Nghiên cứu lòng sông cổ sẽ giúp hiểu biết môi trường cổ địa lý, đồng thời nhìn nhận khách quan hơn những hiện tượng xói lở hay bồi tụ xảy ra dọc theo các sông, rạch hiện nay cũng như trong tương lai. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu có thể góp phần hiểu biết thêm các nền văn hóa cổ gắn với sông nước như Văn hóa Óc Eo chẳng hạn.

Bài viết này giới thiệu dấu vết lòng sông cổ trên bề mặt đồng bằng sông Cửu Long, khu vực tây Sông Hậu từ Ankor Borei đến Rạch Giá được nhận dạng từ tư liệu viễn thám.

II. Sơ lược lịch sử nghiên cứu

Năm 1930, lần đầu tiên Pierre Paris – nhiếp ảnh gia/nhà khảo cổ học người Pháp đã chụp ảnh hàng không khu vực tây sông Hậu (Bassac River) từ Ankor Borei (Campuchia) đến Rạch Giá (Việt Nam). Paris, đã ghi nhận những kênh cổ trên đồng bằng và đường viền hình chữ nhật lớn, sau này được công nhận là tàn tích của đô thị Óc Eo [4].

Vào những năm 1940, Louis Malleret – nhà khảo cổ học người Pháp đã khai quật tại Eo Eo, xác định hệ thống kiểm soát nước rộng lớn, kiến ​​trúc đồ sộ và nhiều loại hàng hóa thương mại quốc tế [4].

Trong thập niên 1970, sau một thời gian gián đoạn kéo dài bởi Thế chiến II và Chiến tranh Việt Nam, các nhà khảo cổ Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều nghiên cứu mới ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Cuộc điều tra các kênh rạch tại Eo Eo gần đây gợi ý rằng chúng đã từng kết nối thành phố với thủ đô Angkor Borei, và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho mạng lưới thương mại đáng chú ý của vương quốc Phù Nam [4].

Sơ đồ hệ thống kênh cổ [2] của Paris cho thấy, các kênh đào thường thẳng và ngắn; dài nhất là kênh 4, kéo thành một đường khá thẳng từ Ankor Borei đến Óc Eo (khoảng 85) km. Các kênh tỏa ra từ hai trung tâm: 1) tại Ankor Borei, các kênh tỏa về phía nam; tại Óc Eo các kênh tỏa ra nhiều hướng (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống kênh đào do Pierre Paris thành lập dựa vào quan sát hàng không. Nguồn: hình 1a [2]; hình 1 b [Ban quản lí di tích Óc Eo]
Continue reading “Nhận dạng lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long”

Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ

Sự xuất hiện của sóng thần Indonesia cùng với sức mạnh hủy diệt mà nó mang theo hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của những nhà nghiên cứu.

Bản đồ của Cục khảo sát địa chất Mỹ

Các nhà khoa học bày tỏ sự bất ngờ trước độ mạnh của sóng thần tàn phá thành phố Palu, Indonesia, vào cuối tuần trước, theo New York Times. Họ cho rằng trận động đất xuất hiện trước đó khó có thể kéo theo những cơn sóng mang sức mạnh hủy diệt như vậy.

“Chúng tôi dự đoán động đất có thể gây sóng thần, nhưng không lớn tới mức đó”, Jason Patton, nhà địa vật lý làm việc cho công ty tư vấn Temblor kiêm giảng viên ở Đại học Humboldt, California, cho biết. “Khi những sự kiện kiểu này xảy ra, chúng tôi thường khám phá ra nhiều điều chưa từng quan sát được trước đây”.

Trận động đất 7,5 độ xuất hiện vào chiều tối hôm 28/9 gây chấn động dọc theo vùng ven biển đảo Sulawesi, cách Palu khoảng 80 km về phía bắc. Theo một số nhân chứng, trong vòng 30 phút sau, những cơn sóng cao tới 6 mét đập vào bờ, phá hủy nhiều tòa nhà, đập nát xe cộ và giết chết hàng trăm người dân trong thành phố.

Số người chết cao có thể phản ánh hiện trạng thiếu hệ thống phát hiện và cảnh báo sóng thần tân tiến của Indonesia, theo giới chuyên gia. Những cộng đồng dân cư khác trên đảo Sulawesi, bao gồm thành phố Donggala, cũng bị sóng thần tàn phá, nhưng có rất ít thông tin về mức độ thiệt hại hoặc số người chết bên ngoài Palu.

Thảm họa sóng thần thường là kết quả của siêu động đất khi những mảng lớn vỏ Trái Đất biến dạng, dịch chuyển theo chiều dọc dọc theo đứt gãy. Quá trình này chuyển chỗ đột ngột một lượng nước khổng lồ, tạo ra cơn sóng di chuyển ở tốc độ cao dọc bồn trũng đại dương và gây thiệt hại ở cách nơi hình thành động đất hàng nghìn kilomet.

Một cây cầu bị phá hủy do động đất và sóng thần ở Palu, Indonesia. Ảnh: Reuters.

Continue reading “Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ”

Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia

Indonesia suốt nhiều năm không hoàn thiện được hệ thống cảnh báo sóng thần hiện đại, khiến nhiều người bất ngờ khi thảm họa xảy ra.

Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa lý Indonesia (BMKG) hôm qua thừa nhận việc phải dựa vào dữ liệu không chính xác được thu thập từ cảm biến ở quá xa ngoài khơi đã khiến họ dỡ bỏ cảnh báo sóng thần 34 phút sau khi ban bố, dù bức tường sóng khổng lồ cao tới 6 m ngay sau đó ập vào thành phố Palu trên đảo Sulawesi, cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.200 người.

Giới chuyên gia cho rằng thực tế này phản ánh những hạn chế và cả thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia, quốc gia nằm trên “Vành đai Lửa” của Thái Bình Dương và thường xuyên hứng chịu nguy cơ động đất, sóng thần rất cao, theo AP.

Sau khi thảm họa kép động đất, sóng thần tấn công khu vực vào năm 2004 khiến gần 250.000 người thiệt mạng, cộng đồng quốc tế đã hỗ trợ Indonesia xây dựng một mạng lưới cảm biến công nghệ cao nhằm thay thế cho hệ thống cảnh báo lạc hậu dọc bờ biển nước này, với mục tiêu giảm bớt thương vong khi thảm họa xảy ra.

Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ và Đức khi đó đã giúp Indonesia triển khai mô hình thí điểm cảnh báo trị giá 3 triệu USD, gồm mạng lưới 22 phao nổi kết nối với các cảm biến được đặt dưới đáy biển nhằm kịp thời phát hiện dấu hiệu động đất, sóng thần và đưa ra tín hiệu cảnh báo kịp thời.

Hệ thống này được triển khai ngoài khơi Padang, thành phố nằm ngay cạnh một vết đứt gãy địa chất lớn và rất dễ hứng chịu sóng thần. Các cảm biến áp suất, địa chấn chôn dưới đáy biển có thể phát tín hiệu dưới dạng sóng âm trong lòng biển và chuyển tới các cảm biến khác cách đó 20-30 km rồi tiếp tục truyền vào đất liền.

Mạng lưới này có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sóng thần trong vòng 1-3 phút, thay vì 5-45 phút như phao nổi hay những thông tin rất hạn chế từ thiết bị đo thủy triều. Tuy nhiên, dự án cần được lắp thêm vài km cáp quang để nối cảm biến cuối cùng với một trạm quan trắc trên đất liền, nơi dữ liệu có thể truyền qua vệ tinh tới cơ quan địa chất để phát cảnh báo sóng thần cũng như tới các cơ quan chức năng.

Nhưng từ khi được triển khai thí điểm cho tới tháng 1/2017, dự án vẫn chờ chính phủ Indonesia cấp ngân sách 1 tỷ rupiah (69.000 USD) để lắp đặt đoạn cáp trên và hoàn thiện hệ thống. Sau đó, tình trạng cắt giảm ngân sách khiến dự án liên tục bị đùn đẩy giữa các cơ quan chính phủ và hệ thống vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm.

Việc thiếu ngân sách để bảo trì, bảo dưỡng, cộng thêm tình trạng người dân phá hoại, trộm cắp thiết bị khiến hệ thống này gần như bị vô hiệu hóa. Khi trận động đất lớn xảy ngoài khơi đảo Sumatra năm 2016, toàn bộ các hệ thống phao nổi và cảm biến trị giá hàng trăm nghìn USD mỗi chiếc đều không hoạt động.

Nguyên lý hoạt động của hệ thống cảm biến, phao nổi khi phát hiện sóng thần. Đồ họa: ResearchGate.

Continue reading “Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia”

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8

Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO diễn ra tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Adamello Brenta, tỉnh Trentino, Ý, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 năm 2018.

Hội nghị, với chủ đề chính: “Công viên địa chất và phát triển bền vững

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 9, đã có các cuộc họp của Hội đồng UUG, GGN ExB, và các cuộc họp Mạng lưới Khu vực: EGN AC và CC, APGN AC và CC, LACGN AC và CC.

Lễ khai mạc và các bài giảng quan trọng diễn ra vào ngày 11 tháng 9.

Ngày 11/9, 12 và 14/9 các báo cáo khoa học trình bày đồng thời tại 6 tiểu ban như sau:

  1. CVĐC, du lịch bền vững và phát triển bền vững địa phương (Geoparks, sustainable tourism and sustainable local development)
  2. Bảo tồn, Khoa học và nghiên cứu (Conservation, science and research)
  3. Giáo dục, nhận thức cộng đồng và truyền thông (Education, public awareness and communication)
  4. CVĐC, BĐKH và tai biến địa chất (Geoparks, climate change and geo-hazards)
  5. Hợp tác giữa UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO collaborations)
  6. Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Continue reading “HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8”

Central Park giống hệt cái ‘mỏ hàn’ đe dọa sông Sài Gòn

Nhiều người đang phát cuồng về cao ốc 81 tầng Landmark và công viên Central Park (thuộc tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) đã “lung linh, chễm chệ” trên nền cảng cũ.

Dù tài sản làm cho Nhà nước, cũng không được phép

Tương tự như Đồng Nai, ông Tứ e ngại những gì đang diễn ra ở TP.HCM tiếp tục tạo tiền lệ cho việc gia tăng vi phạm và lấn chiếm hành lang thoát lũ, dòng chảy của các con sông trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo ông, không thể lập luận rằng việc xây Central Park làm công trình công cộng là đúng quy định được. “Dòng chảy sông cần được duy trì một cách tự nhiên như vốn có được quy định bởi tiến trình lịch sử mạng thoát nước tự nhiên, cũng như hệ sinh thái đặc thù riêng. Cầu cảng cũ vẫn khác với khối bê tông mặt đất như hiện nay, bởi cầu cảng vẫn thông nước. Do đó, công trình này sẽ tạo áp lực nước cho phía bờ đối diện”, ông Tứ nói.

Ông cho rằng ở Vinhomes Tân Cảng hiện tồn tại 2 vấn đề. Thứ nhất, lấn chiếm mặt nước để làm công trình, điều đó hoàn toàn sai luật, gồm các Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng chống thiên tai và Luật Giao thông đường thủy nội địa.

“Không ai có quyền lấy sông của mọi người làm tài sản, dù tài sản ấy có làm cho Nhà nước cũng không được phép. Chưa kể, trong điều kiện thiên nhiên đang thê thảm như hiện nay, phải giữ gìn dòng sông, đã không giữ được lại còn phá hoại, lại cứ nhăm nhe “chém nó”, ông Tứ bức xúc.

Một góc Central Park

Thứ hai, về mặt khoa học, khi lấp cầu cảng như vậy đã tạo nên một “mỏ hàn” rất lớn để đẩy nước sang phía bờ bên kia.

Tác động như thế nào, theo ông Tứ cần phải nghiên cứu. Nhưng nguyên tắc về chỉnh trị sông có hai hình thức. Một là kè, như ta thấy người ta thường dùng bê tông đắp lên. Dù không lấn ra sông, nhưng kè vẫn có tác động đến bờ đối diện, bởi tạo ra thế bên này cứng, bên kia vẫn là đất mềm.

Hình thức còn lại nguy hiểm hơn dùng trong trường hợp người ta muốn làm xói lở một bên sông và cho bên còn lại bồi, đó là “mỏ hàn”. Thuật ngữ chuyên môn “mỏ hàn” có thể hình dung là một khối bê tông cứng chòi ra lòng sông.

“Dù không to như Tân Cảng, nhưng “mỏ hàn” có thể lái dòng nước sang phía kia để tác động cho bờ đó lở đi, nói chi cả khu vực cầu cảng đã bị lấp. Nói cách khác, khu vực Tân Cảng như hiện nay là một “mỏ hàn” cực lớn”, ông Tứ phân tích.

Ông nói tiếp: “Họ sẽ cho rằng có ăn thua gì, sông to như thế, chúng tôi chỉ làm một tí “mỏ hàn”. Nhưng với tôi là không! Vì chắc chắn động lực của dòng chảy bị biến động khi các bờ sông bị thay đổi”.

“Dấu ấn” chiếm mặt sông

Luật sư Phùng Thanh Sơn (Đoàn Luật sư TP.HCM) đánh giá tình trạng lấn chiếm, san lấp kênh, rạch, sông để làm dự án ở TP.HCM khá phổ biến và ở nhiều mức độ khác nhau. Tình trạng này không phải mới diễn ra gần đây, nó đã xảy ra từ hàng chục năm trước.

Về nguyên tắc, theo ông Sơn, chủ đầu tư không được phép xây dựng trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch (trừ trường hợp các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các công trình quốc phòng, phòng cháy chữa cháy, công trình phục vụ công ích có thời hạn thì được phép xây dựng).

“Từ đó, có thể thấy nhiều lý do để chủ đầu tư muốn lấn sông. Do hành lang bảo vệ sông, kênh rạch có thể tính từ mép được xây dựng, cải tạo nên nếu việc xây dựng, cải tạo đó lấn sông, kênh rạch thì phần đất trong hành lang bảo vệ bờ thực tế sẽ ít đi. Hay nói cách khác, việc lấn sông, kênh rạch sẽ đem lại nhiều lợi ích cho chủ đầu tư như diện tích đất mà chủ đầu tư có thể xây dựng nhà ở, cao ốc… sẽ tăng lên mà không vượt quá mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất mà pháp luật quy định”, ông Sơn nói.

Việc biến đất vốn dĩ thuộc hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch thành đất thương mại bán cho khách hàng giúp chủ đầu tư có đủ không gian để có thể tạo ra một “dấu ấn” cho dự án của mình, để bán nhà với giá cao bằng việc xây công trình hạ tầng xã hội trong hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch đó, theo luật sư Sơn.

Tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng trước đây là khu vực cảng nên hiển nhiên phải có các công trình bến cảng, cầu cảng… để phục vụ cho việc neo đậu tàu, bốc dỡ hàng hóa.

“Đã là cầu cảng thì không thể xây dựng sát bờ mà phải cách xa bờ. Do đó cầu cảng không được xem là bờ của sông Sài Gòn nên không thể lấy cầu cảng làm cơ sở để xác định hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn và cho xây dựng công viên trên đó. Chưa kể, thiết kế cảng rất khác với việc lấp các vùng nước trong cảng để làm công viên. Bởi điều đó ảnh hưởng và thay đổi dòng chảy”, ông Sơn lập luận.

Theo ông, việc trên rất dễ kiểm chứng. Cứ lấy hồ sơ thiết kế cảng trước đây và so với thực trạng hiện nay sẽ biết ngay là Vingroup có lấn, lấp sông Sài Gòn hay không; vùng nước nào trong cảng bị lấp, vùng nước nào không. Dựa vào thiết kế cảng trước đây chúng ta cũng xác định được vị trí bờ sông Sài Gòn đang ở đâu để từ đó xác định chính xác hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn.

Theo Quyết định 150/2004/QĐ-UBND trước đây về quy định quản lý, sử dụng hành lang trên bờ sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố và nay là Quyết định 22/2017/QĐ-UBND của UBND TP.HCM, thì hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch cấp kỹ thuật I, II mỗi bên là 50m; cấp kỹ thuật III, IV mỗi bên là 30m; cấp kỹ thuật V, VI mỗi bên là 20m và đối với kênh rạch chưa được phân cấp kỹ thuật mỗi bên là 10m, được tính từ mép bờ cao của sông, kênh, rạch (theo dạng tự nhiên hoặc được xây dựng, cải tạo) vào bên trong phía đất liền. Chủ đầu tư không được xây dựng các công trình nhà ở, cơ sở kinh doanh trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch… Và các công trình xây dựng phải đảm bảo độ lùi so với hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/thoi-su/central-park-giong-het-cai-mo-han-de-doa-song-sai-gon-136152/

Nam Anh

Thành lập bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang do mực nước biển dâng trong tương lai

Hoàng Thị Phương Chi, Hà Quang Hải

1.Giới thiệu

Nhiều nghiên cứu trong khuôn khổ Tổ chức Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu – IPCC đã dự báo mức biển toàn cầu sẽ tăng từ 17,8 – 54,42 cm vào cuối thế kỷ (2090 – 2099 so với giai đoạn 1980 – 1999) [8]. Dựa vào các kịch bản của IPCC [8], Bộ Tài nguyên môi trường Việt Nam cũng đưa ra kịch bản dự đoán vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 2,3oC, và mực nước biển dâng 75cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 [2].

Mực biển dâng sẽ kéo theo các tai biến đới bờ mà nghiêm trọng nhất là ngập lụt trên diện rộng [10]. Một khu vực ngập dài hạn sẽ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên cũng như làm thay đổi điều kiện kinh tế xã hội của khu vực đó. Do đó đánh giá mức độ tổn thương đới bờ do mực biển dâng trong tương lai là cơ sở cho việc xây dựng hành động ứng phó. Phương pháp đánh giá tổn thương trong bài báo này được sử dụng dựa trên các yếu tố về hải văn và địa chất, địa mạo.

Bài báo này trình bày phương pháp thành lập bản đồ phân vùng tổn thương bờ biển do mực nước biển dâng với kịch bản 75 cm vào năm 2100. Các điểm đánh giá và thể hiện mức độ tổn thương trên bản đồ sẽ là cơ sở cho việc đánh giá rủi ro ven biển và là công cụ hữu ích phục vụ cho việc Quản lý tổng hợp đối bờ (ICZM – Integrated Coastal zone Management) [10].

2.Khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu thuộc dải bờ biển từ Hà Tiên đến Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, dài 72,8 km. Khí hậu gió mùa cận xích đạo chịu ảnh hưởng của biển với đặc điểm chung là nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa nhưng ít bão. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.600 đến 2.000mm [3]. Nhiệt độ trung bình năm cao 27,3oC [3]. Chế độ nhật triều là chủ yếu.

Đây là một vùng đất giàu tài nguyên: đất, nước, biển, khoáng sản và nhất là tài nguyên du lịch. Bên cạnh đó tính đa dạng sinh học và đa dạng địa học cũng là một thế mạnh của vùng [6]. Bảo tồn tính đa dạng sinh học cũng là một vấn đề được quan tâm ở khu vực này. Nhất là các hệ sinh thái mang tính chất đặc trưng của cả vùng như thảm thực vật trên núi đá vôi, hay hệ sinh thái đồng cỏ bàng [6].

Dân cư phân bố tập trung chủ yếu tại thị xã Hà Tiên, thị trấn Kiên Lương và các vùng đất thấp ven biển, hay dọc theo quốc lộ. Nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp trồng lúa, hoa màu, kết hợp nuôi trồng thủy sản cũng như du lịch, dịch vụ, khai thác khoáng sản.

3. Dữ liệu

Ngoài việc các tài liệu tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực, nghiên cứu này chủ yếu dựa vào các dữ liệu thuộc tính và không gian của các bản đồ và ảnh viễn thám. Các dữ liệu sử dụng chính được trình bày trong Bảng 1.

4.Phương pháp

Chỉ số tổn thương đới bờ (CVI) được V. Gornitz và cộng sự [11] xây dựng như là công cụ để đánh giá khả năng thay đổi của vùng bờ biển. Chỉ số này được áp dụng cho cả khu vực quy mô vùng hoặc quốc gia trong việc quản lý tài nguyên đới bờ.

Theo V. Gornitz và cộng sự [8], CVI được tính toán như sau:

Chỉ số tổn thương đới bờ được xây dựng từ các biến mà có tác động lý học trực tiếp lên sự thay đổi đường bờ biển trong điều kiện mực nước biển dâng gồm: địa mạo bờ biển (đặc điểm hình thái các vách bờ), địa chất bờ biển (đặc điểm thạch học các đá cấu tạo bờ và bãi), độ dốc của bờ về phía biển, tốc độ bồi/ xói, độ cao địa hình, mực nước biển dâng trung bình, mực triều trung bình, độ cao sóng trung bình.

Sự định lượng tổn thương đới bờ dựa vào các biến sẽ phản ánh cụ thể vùng bị tác động lý học của nước biển dâng tùy theo mức độ. Do đó công thức tính CVI trong nghiên cứu sẽ là:

Địa mạo

Yếu tố địa mạo được phân chia làm 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa đặc điểm hình thái các vách bờ và mức độ xói lở. Thang phân chia được tính điểm từ 1 đến 5 theo mức độ gia tăng sự tổn thương đới bờ đối với hiện tượng nước biển dâng. Trong nghiên cứu này, yếu tố địa mạo chủ yếu dựa vào khảo sát thực địa. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Địa chất

Yếu tố địa chất cũng được phân thành 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa các loại đá/ trầm tích cấu tạo nên bờ biển và mức độ xói lở. Bờ có cấu tạo từ đá gốc của hệ tầng Núi Cọp (Đá tuff, ryolit xen phiến silic, cát kết, bột kết) hoặc hệ tầng Hòn Heo (Đá cát kết thạch anh, cát kết quazit, đá phiến bột kết) là các loại đá vững chắc nhất trong khu vực nghiên cứu, do đó mức độ tổn thương do biển dâng sẽ là thấp nhất (thang điểm 1). Dạng bờ có cấu tạo bởi trầm tích bở rời như cát, bột, sét kém ổn định nhất, do đó mức độ tổn thương sẽ là cao nhất (thang điểm 5). Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương cũng được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Tốc độ bồi/xói

Tốc độ bồi xói (mm/năm) được tính toán dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat năm 1979, 1992 và 2009 (30 năm). Từ các ảnh trên, dùng phần mềm ENVI 4.0 để tách ra đường bờ của hai thời kỳ bằng phương pháp chọn ngưỡng cho band 4 của ảnh Landsat TM và ETM+. Từ bản đồ đường bờ hai thời kỳ, giải đoán sự thay đổi bằng mắt, đường bờ được chia thành 41 đoạn dựa theo hiện tượng bồi, xói. Tốc độ bồi xói sẽ được tính toán bằng cách đo các khoảng cách của các đường bờ trong một đoạn và tính trung bình. Đới bờ của khu vực nghiên cứu có tất cả 10/41 đoạn xói lở (11,95/72,80 km) với tốc độ cao nhất lên đến -3,2m/năm, có 16/41 đoạn bờ bồi tụ (41,25/72,80 km) với tốc độ cao nhất khoảng +6,38 m/năm, và có 14/41 đoạn bờ ổn định (17,32 km) (bao gồm khu vực bờ nhân tạo và các vùng có kè bảo vệ). Vùng bờ càng xói thì mức độ tổn thương do mực biển dâng trong tương lai càng cao và ngược lại. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ dốc bờ biển (%)

Độ dốc vùng bờ thể hiện mối tương quan giữa mức độ tổn thương do ngập đến khả năng thay đổi của đường bờ; vùng bờ thoải có thể thay đổi (lùi về phía đất liền) nhanh hơn vùng bờ dốc [10].

Độ dốc bờ được tính toán dựa trên dữ liệu cao độ đáy biển của khu vực nghiên cứu. Đoạn bờ dùng để tính độ dốc được quy ước là phần bờ về phía biển và cách đường bờ 7,5 km. Độ dốc được tính bằng % tỷ số độ chênh cao mép bờ và vị trí cách bờ 7,5 km với khoảng cách giữa hai vị trí đó. Cứ mỗi đoạn bờ sẽ tính 3 điểm và lấy trung bình. Theo tính toán trong khu vực nghiên cứu, độ dốc lớn nhất là 0,95% và độ dốc nhỏ nhất là 0,44%. Theo phân cấp tổn thương, độ dốc càng thấp thì mức độ tổn thương càng cao. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ cao địa hình – Xây dựng kịch bản ngập 0,75 m

Nghiên cứu này sử dụng kịch bản mực biển dâng 0,75 m vào năm 2100 [2] làm cơ sở để dự báo. Phân vùng ngập do mực biển dâng được thực hiện dựa trên bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất, ảnh Landsat và dữ liệu vệ tinh Google Earth. Khu vực nghiên cứu sẽ được phân thành hai vùng: trên 0,75 m và dưới 0,75 m.

Theo khảo sát thực địa, người dân đã tìm những vùng đất cao và an toàn để sinh sống, hầu như cao trình của các khu dân cư và đường giao thông đều trên 0,75 m. Vùng trên 0,75 m được xác định là các vùng: đất ở nông thôn và đô thị; đường giao thông; núi, đồi và các khu vực khác cao trên 0,75 m. Phần còn lại của khu vực nghiên cứu, bao gồm các kênh rạch, đầm hoặc các vùng trũng ngập nước, các khu vực RNM ven biển, các khu nuôi trồng thủy hải sản.

Theo kết quả tính toán (hình 11), vùng cao trên 0,75m có diện tích gần 170 km2, khu vực có cao độ dưới 0,75 m là khu vực dự báo ngập vào năm 2010 có diện tích khoảng 373 km2, chiếm tỉ lệ tới 68,84% toàn bộ khu vực nghiên cứu.

Dựa theo số liệu tính toán này, vùng bờ nào có độ cao địa hình trên 0,75m sẽ được xem là vùng ít bị tổn thương trong điều kiện mực biển dâng trong tương lai, và có thang điểm là 1 trong thang phân loại mức độ tổn thương; vùng bờ nào có độ cao địa hình dưới 0,75m sẽ có điểm đánh giá là 5 và là vùng có mức độ tổn thương rất cao.

Các thông số khác

Trong nghiên cứu này, các biến mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực nước biển dâng toàn cầu được xem là đồng nhất cho tất cả 41 đoạn bờ. Điểm 3 cho ba biến này được cho theo thang phân loại nghiên cứu bờ biển Tây Ấn [10]: mực triều trung bình 0,95m [3], 5 điểm (mức độ tổn thương rất cao); chiều cao sóng trung bình 2,5m [3], mực nước biển dâng toàn cầu 3,1 mm/năm [3] đều 4 điểm (mức độ tổn thương cao).

5.Kết quả và thảo luận

Mức độ tổn thương được thể hiện trong hình 12. Giá trị CVI tính được trong khoảng 5,00 – 158,11. Giá trị trung bình là 38,63, trung vị 43,30, độ lệch chuẩn 46,83. CVI được chia thành 4 khoảng đều nhau theo giá trị của 25%, 50% và 75% là 13,69; 43,30; và 70,71. Mức độ tổn thương đường bờ sẽ được phân thành 4 cấp độ ứng với giá trị CVI như sau:

Hình 12. Tỉ lệ tổn thương bờ biển Hà Tiên – Kiên Lương tính theo phần trăm

Tổng chiều dài đường bờ khu vực nghiên cứu là 72,80 km. Trong đó, vùng tổn thương rất cao dài 16,19 km chiếm 22,24%; vùng tổn thương cao dài 28,11 km chiếm tỷ lệ cao nhất 38,61%; vùng tổn thương trung bình dài khoảng 14,97 km, chiếm 20,56%, và vùng tổn thương thấp dài 13,53 km, chiếm 18,59%. Kết quả phân vùng tổn thương được thể hiện trên bản đồ hình 13.

Bản đồ phân vùng (hình 13) cho thấy: khu vực tổn thương cao đa phần là các khu vực phân bố trầm tích bở rời; khu vực không có rừng ngập mặn che chắn; khu vực có kè bờ nhưng vị trí thường nằm trong khu vực cung lõm có hai mũi chắn, ví dụ các đoạn bờ thuộc vịnh Ba Hòn, Vịnh Cây Dương. Khu vực tổn thương rất cao là các đoạn bờ thuộc vịnh Thuận Yên, vịnh Hòn Chông.

Hình 13. Bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương

6. Kết luận

Dựa trên số liệu tính toán của tám yếu tố: địa chất, địa mạo, tốc độ bồi/xói, độ dốc bờ biển, độ cao địa hình, mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực biển dâng trung bình, nghiên cứu này xác định được các mức tổn thương do mực biển dâng trong tương lai cho 41 đoạn bờ của vùng Hà Tiên – Kiên Lương. Kết quả cho thấy: 22,24% vùng bờ có mức độ tổn thương rất cao; 38,61% vùng bờ có mức độ tổn thương cao. Phần lớn bờ và bãi cấu tạo bởi trầm tích bở rời phân bố trong cung lõm giữa 2 mũi đều có mức độ tổn thương từ cao đến rất cao.

Tham Khảo

[1]. Hà Quang Hải và nnk (2009). Nghiên cứu, đánh giá và phân loại các Geosite phục vụ công tác bảo tồn các di sản thiên nhiên (Ví Dụ: Vùng Hà Tiên – Kiên Lương). Báo cáo Giai đoạn 1. Đề tài KHCN cấp Đại Học Quốc Gia trọng điểm.

[2]. Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam (2009). Bộ tài nguyên và môi trường.

[3]. Mai Trọng Nhuận và nnk (2009). Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dư báo tai biến địa chất vùng biển Phú Quốc – Hà Tiên tỉ lệ 1:100.000.

[4]. Nguyễn Ngọc Trân (2009). Ứng phó với Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng. Tham luận tại Hội nghị Hội người Việt Nam tại Pháp. Tháng 5 và 6 năm 2009.

[5]. Trần Thục (2009). Biến đổi Khí hậu ở Việt Nam. Hội thảo Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu – Hội An – Quảng Nam.

[6]. Trần Triết (chủ biên) (2001). Kỷ yếu hội thảo Bảo tồn và sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học vùng đất ngập nước Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. ĐH KHTN, ĐH QG TPHCM.

[7]. Trương Công Đượng (chủ biên) (1998). Báo cáo đo vẽ Địa chất và tìm kiếm khoáng sản. Nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc. tỷ lệ 1:50.000. Tập III: Địa mạo, Tân kiến tạo, Địa chất thủy văn. Liên Đoàn bản đồ Địa chất Miền Nam.

[8]. IPCC Special Report. Emissions scenarios (2000). Intergovernmental Panel on Climate Change. ISBN: 92-9169-113-5

[9]. Jeremy Carew–Reid. ICEM – International Centre for Environmental Management (2008). Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet Nam.

[10]. G.S. Dwarakish, S.A. Vinay, Usha Natesan, Toshiyuki Asano, Taro Kakinuma, Katta Venkataramana, B. Jagadeesha Pai, M.K. Babita  (2009). Coastal vulnerability assessment of the future sea level rise in Udupi coastal zone of Karnataka state, west coast of India. Ocean & Coastal Management 52 (2009) 467–478

[11]. Vivien M. Gornitz, Tammy W. Beaty, Richard C. Danielst (1997). A coastal hazards data base for the US. West Coast.

[12]. Integrated coastal zone management (ICZM) Glossary (2005).

[13]. Ảnh vệ tinh http://glovis.usgs.gov/;        http://glcfapp.glcf.umd.edu:8080/esdi/index.jsp