Kè mềm tiền tỉ bị hư hại sau 2 năm sử dụng

TTO – Sau hơn 2 năm đưa vào sử dụng (từ tháng 12-2016 đến nay), hệ thống kè mềm chắn sóng, gây bồi tạo bãi được thí điểm ở biển Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã bị hư hỏng, bục rách.

Nhiều người dân thắc mắc tại sao mới đưa vào sử dụng mà hệ thống kè chắn đã hư hỏng?

Theo ghi nhận, thời điểm nước biển rút, kè mềm nhô lên khỏi mặt nước không đều nhau. Có những chỗ kè còn nguyên vẹn thì nhô cao nhưng cũng có những chỗ bị lún sâu, rách nát.

Kè mềm dọc theo biển Gò Công Đông thuộc dự án thí điểm “Gây bồi tạo bãi, trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển Gò Công Đông” bằng kết cấu vật liệu túi Geotube (sản xuất bằng vải dệt polypropylen) được may tại nhà máy thành các ống, sau đó bơm cát vào trong ống tạo thành các con đê mềm, hay còn gọi là đê ngầm.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online về việc này, ông Nguyễn Thiện Pháp – chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và phòng chống lụt bão tỉnh Tiền Giang – cho biết về cơ bản, tuyến đê mềm đã phát huy được công năng khi giữ được phù sa, tạo bãi bồi. Dự án được khởi công từ tháng 3-2016 và đến tháng 12-2016 hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Tuyến đê có chiều dài khoảng 1.400m, chiều cao 1,7m với tổng mức đầu tư hơn 56 tỉ đồng. Theo ông Pháp, nguyên nhân khiến các túi Geotube bị hỏng là do tác động của sóng đánh trực tiếp vào túi, đặc biệt khi sóng biển mang theo các vật cứng như gốc cây, vật cứng tác động vào đầu túi khiến túi bị rách. Một nguyên nhân khác nữa là do túi Geotube có xu hướng bị giảm chất lượng theo thời gian sử dụng.

Một đoạn kè mềm bị hư hỏng sau hơn 2 năm sử dụng – Ảnh: MẬU TRƯỜNG

Trước tình trạng tuyến đê bị hư hại như hiện nay, ông Pháp cho biết để khắc phục tạm thời, ngành chức năng tỉnh Tiền Giang thường xuyên tăng cường kiểm tra, kiểm soát đoạn kè, khi thấy có dấu hiệu hư hỏng ở đâu thì lập tức sửa chữa bằng cách may lại điểm bị rách tại đó.

“Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã có văn bản kiến nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn xem xét, nghiên cứu lại chất liệu làm túi Geotube cho phù hợp hơn” – ông Pháp nói.

MẬU TRƯỜNG – THANH TÚ

https://tuoitre.vn/ke-mem-tien-ti-bi-hu-hai-sau-2-nam-su-dung-20190615101052364.htm

Advertisements

Dự án 10.000 tỉ chưa chắc giúp TP.HCM thoát ngập

Hà Mai

Dự án chống ngập 10.000 tỉ đang gấp rút về đích kịp tiến độ vào quý 1/2020. Vì thế ngay từ lúc này, hiệu quả của dự án là vấn đề được người dân cũng như lãnh đạo TP.HCM đặc biệt quan tâm.

Dự án chống ngập 10.000 tỉ đã hoàn thành 76% tiến độ thi công. H.Mai

Hoàn thành chưa chắc hết ngập?

Sáng nay (14.5), Đoàn giám sát HĐND TP.HCM có buổi thực địa một số hạng mục thuộc dự án Giải quyết ngập do triều cường khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu giai đoạn 1 (dự án chống ngập 10.000 tỉ).

Dự án chống ngập 10.000 tỉ cam kết ‘về đích’ trong năm 2019 Ông Nguyễn Tâm Tiến, Giám đốc Công ty TNHH Trung Nam thông tin toàn bộ dự án hiện đã đạt khoảng 76% tiến độ thi công. Hiện khó khăn lớn nhất của dự án là công tác giải phóng mặt bằng. Tuy phần đê kè đã được điều chỉnh dịch chuyển, giảm số hộ phải đền bù xuống khoảng 50% (giảm 97 hộ so với 238 hộ theo dự kiến ban đầu) nhưng vẫn còn vướng một số tổ chức, hộ dân tại khu vực quận 4, quận 7, huyện Nhà Bè.

Bên cạnh đó, thời gian vay của hợp đồng đã ký liên quan đến nguồn vốn vay ưu đãi chỉ kéo dài đến hết tháng 6. Do một số vướng mắc về thủ tục trong thời gian qua, dự án đã chậm hơn so với tiến độ đề ra ban đầu.

Đáng chú ý, khi các thành viên Đoàn giám sát đặt câu hỏi về tác động của dự án sau khi hoàn thành, có thể giúp TP.HCM hết ngập không, ông Tiến trả lời “có thể có, có thể không”. Giám đốc Công ty Trung Nam giải thích, năm 2001, Chính phủ đã ban hành Quyết định 752 phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước TP.HCM đến năm 2020. Trong đó chủ yếu là các công trình, dự án nạo vét cống, kênh rạch, khơi thông dòng chảy, tiêu thoát nước đô thị. Tuy nhiên do nhiều sự thay đổi khách quan từ biến đổi tự nhiên, đến năm 2008, quy hoạch thủy lợi 1547 chống ngập úng khu vực TP.HCM lại được phê duyệt với mục tiêu giải quyết tình trạng ngập lụt của TP trong phạm vi diện tích vùng trung tâm 209.500 ha và một số vùng phụ cận.

“Dự án chúng tôi đang làm thuộc quy hoạch 1547, nhiệm vụ chính là ngăn triều, hỗ trợ tiêu thoát nước. Nếu trước đây thủy triều đạt mức 1,5 m – >1,7 m TP sẽ ngập thì sau khi dự án đi vào hoạt động, có thể ngăn triều lên tới mức 3 m. Có thể hình dung dự án như lực lượng biên phòng bao quanh vùng diện tích 570 km² khu vực bờ hữu sông Sài Gòn và trung tâm TP.HCM. Nếu các dự án theo quy hoạch 752 chưa hoàn thiện, hệ thống cống, kênh rạch không được khơi thông thì hệ thống cống ngăn triều cũng không thể hoạt động hiệu quả. Do đó, người dân không nên hiểu nhầm dự án hoàn thành là TP.HCM sẽ hết ngập. Đây là công trình quan trọng nhằm bổ trợ cho loạt hệ thống công trình chống ngập của TP” – ông Tiến lý giải.

TP.HCM vẫn khó thoát mùa ngập năm nay. Phạm Hữu

Cần đồng bộ thoát trong, bơm ngoài

8.000 tỉ đồng có giúp TP.HCM giảm ngập? Cung cấp thêm thông tin cho Đoàn giám sát, ông Nguyễn Hoàng Anh Dũng, Phó ban Quản lý khai thác hạ tầng kỹ thuật (Sở Xây dựng TP.HCM) cho biết đơn vị này đang tham mưu cho TP từng bước thực hiện hoàn thiện các dự án nạo vét kênh rạch, cống thoát nước, xây dựng các khu vực trữ nước nhằm giải quyết bài toán thoát nước mưa, nước mặt, đồng bộ cùng công trình kiểm soát ngập do triều. Các dự án thuộc quy hoạch 1547 và quy hoạch 752 đang được triển khai song song, đồng bộ, đảm bảo tương hỗ, bổ trợ cho nhau

“Ngoài nhiệm vụ kiểm soát triều, dự án chống ngập 10.000 tỉ còn giúp giảm mực nước, hỗ trợ thoát nước phía trong TP. Tuy nhiên vẫn cần kết hợp với hệ thống thoát nước đô thị tốt, đồng bộ thoát trong, bơm ngoài mới có thể giải quyết bài toán ngập cho TP.HCM” – ông Dũng nói.

Sau khi nghe báo cáo từ phía chủ đầu tư và các Sở, Ban ngành, bà Nguyễn Thị Lệ, Chủ tịch HĐND TP.HCM ghi nhận sự cố gắng của tất cả các đơn vị trong quá trình triển khai đã sốt sắng, chủ động để dự án “chạy” nhanh nhất trong khả năng có thể. Tuy nhiên bà Lệ vẫn e ngại quá trình giải quyết các kiến nghị liên quan thủ tục giải phóng mặt bằng, gia hạn vốn đầu tư có thể không đảm bảo đúng tiến độ đã cam kết, khiến dự án kéo dài, tăng chi phí. Do đó, bà yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước không chỉ báo cáo, đề xuất trên giấy mà phải trực tiếp đeo bám, sát sao, làm sao đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để chủ đầu tư đảm bảo dự án “về đích đúng hẹn”.

“Trong lần thị sát dự án mới nhất do UBND TP tổ chức, các quận, huyện đã cam kết đến 30.6 sẽ bàn giao toàn bộ mặt bằng để nhà đầu tư thực hiện cam kết dự án về đích vào cuối 2019, đưa vào hoạt động trong quý 1/2020 nhưng với tốc độ thực hiện như hiện nay, tôi e rằng khó. Các quận, huyện cần đeo bám, sốt sắng hơn nữa, thực hiện theo đúng cam kết vì đây là dự án quy mô lớn, tác động mạnh tới đời sống nhân dân. UBND sẽ sớm tổ chức buổi làm việc với các quận, huyện để trực tiếp lắng nghe khó khăn, tháo gỡ, tiếp sức cùng địa phương giúp đẩy nhanh tốc độ dự án” – Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Lệ khẳng định.

https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/du-an-10000-ti-chua-chac-giup-tphcm-thoat-ngap-1081527.html

Đê chắn Cửa Đại cổ và trẻ

Hà Quang Hải

Gần đây một số tờ báo đưa tin về sự xuất hiện ‘đảo cát’ ở vùng biển Hội An. Đã có những đợt khảo sát, có hội thảo về nguyên nhân hình thành ‘đảo cát’ nhưng dường như chưa có sự thống nhất. Thực ra việc hình thành ‘đảo cát’ không phải là câu chuyện mới mẻ. Trong quá khứ, ở Cửa Đại đã từng tồn tại ‘đảo cát’ dài hơn 3 km, rộng 250 m. ‘Đảo cát’ chính là đê cát chắn cửa sông, một dạng địa hình đặc trưng thuộc cấu trúc cửa sông Liman (cửa sông tạo đê chắn), là một trong bốn kiểu cửa sông phổ biến trên thế giới. Bài viết này trình bày sơ lược về cửa sông Liman; đặc điểm hình thái, sự phá hủy đê chắn Cửa Đại cổ và quá trình hình thành đê chắn trẻ, cái được gọi là ‘đảo cát’ vùng biển Hội An hiện nay.

  1. Cửa sông Liman

Liman mượn từ tiếng Nga (Лиман), từ này lại có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là vịnh hoặc bến cảng. Liman hình thành ở cửa sông mở rộng, nông nơi dòng chảy bị chặn bởi đê cát chắn cửa sông (gọi chung là đê chắn). Đê chắn có thể là trầm tích biển (được tạo ra bởi dòng chảy ven biển) hoặc dòng chảy sông (đê cát được tạo ra bởi dòng chảy của một sông lớn tại điểm hợp lưu) [1].

Một thuật ngữ khác đồng nghĩa với Liman là Guba (губа) được sử dụng trong các văn liệu của Nga cho các cửa sông bờ biển ở phía bắc Nga [1]. Trong chuyên khảo về địa mạo, địa chất biển ở các nước Tây Âu, Hoa Kỳ, kiểu cửa sông như Cửa Đại được phân loại cửa sông tao đê chắn (bar built estuary) [2; 3].

Nhiều cửa sông ở Trung Bộ thuộc kiểu Liman với các đê chắn được hình thành do tích tụ trầm tích của dòng chảy ven bờ. Phía trong đê chắn là vũng cửa sông thường rộng và nông. Các đê chắn bịt kín cửa sông khi động lực biển chiếm ưu thế và bị xuyên thủng khi dòng chảy sông trở lên mạnh mẽ vào mùa lũ. Những chỗ đê chắn bị xuyên thủy gọi là ‘phá’ như trường hợp phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế.

Dòng chảy ven bờ (long shore drift) di chuyển cát từ bãi biển, bờ biển để tạo nên các đê chắn cửa sông (Hình 1). Tùy thuộc vào hướng gió thịnh hành mà các đê chắn có hình thái và mức độ phát triển khác nhau (Hình 2).

Hình 1. Dòng ven bờ di chuyển cát (trái); đê chắn hình thành tại các cửa sông (phải). Nguồn: internet
Hình 2. Đê chắn cửa sông Ba từ 2 phía (trái); đê chắn cửa sông Ray từ 1 phía kéo dài tới Lộc An (phải). Nguồn ảnh: Google Earth
  1. Giải đoán tư liệu viễn thám khu vực Cửa Đại

Giải đoán ảnh vệ tinh và ảnh hàng không theo thời gian là cơ sở đánh giá sự tồn tại hay phá hủy đê chắn cổ cũng như quá trình hình thành đê chắn trẻ.

1984 – 1989: ảnh 1984 (Hình 3) cho thấy Cửa Đại có hai đê chắn: Đê chắn Bắc (Đê Bắc) tiếp giáp bờ biển Hội An có dạng hơi vòng cung, dài 2,6 km, rông  trung bình 250 m; Đê chắn Nam (Đê Nam) dạng mũi cát gắn vào bờ biển Duy Hải, dài 600 m. Lạch nước sâu (cửa mở) chay giữa Đê Nam và đầu phía đông Đê Bắc, rộng khoảng 200 m. Năm 1989, phần giữa Đê Bắc nhô cao hơn, cửa mở rộng hơn (Hình 3).

Hình 3: Đê chắn Cửa Đại trên ảnh vệ tinh năm 1984 và 1989. Nguồn ảnh: Google Earth

Ảnh hàng không năm 1988 cho thấy rõ các dạng địa hình Cửa Đại gồm: Đê Bắc với phần phía tây bắc đang được dòng ven bờ bổ sung trầm tích. Bãi bồi Hội An và Đê Nam bồi tụ khá rõ. Cửa mở (cửa thoát) phân bố đầu phía đông nam của Đê Bắc (Hình 4).

Hình 4: Đê chắn Cửa Đại trên ảnh hàng không năm 1988

1990 – 1999: hình thái đê chắn cửa sông biến đổi nhanh (Hình 5). Trên ảnh 1991, Đê Bắc đã gắn vào bờ biển Hội An, duỗi thẳng, dài  2,0 km; phần phía đông Đê Bắc và mũi Đê Nam bị phá hủy, cửa thoát hướng về phía đông. Trên ảnh 1995, hình dạng Đê bắc và Nam như hai mỏ neo, xuất hiện một gờ ngầm cửa sông. Trên ảnh 1997, Đê Bắc nhập vào bãi bồi, Đê Nam biến mất; trên ảnh năm 1999, trầm tích cửa sông bị đẩy ra xa, biểu hiện bãi ngầm cách cửa sông khoảng 1,3 km.

Hình 5: Biến động đê chắn Cửa Đại thời đoạn 1990 -2009. Nguồn ảnh: Google Earth

2000 -2009: Đê chắn không còn tồn tại, cửa sông hình thành thùy trầm tích nhưng chưa rõ nét (ảnh 2009). Mũi cát Duy Hải biểu hiện bồi tụ về phía đông (Hình 6).

Hình 6: Đê chắn hoàn toàn biến mất, dòng chảy sông đẩy trầm tích ra xa. Nguồn ảnh: Google Earth

2010 – 2019:  hình dạng bãi bồi mũi Hội An và mũi Duy Hải biến đổi nhanh do xâm thực. Trầm tích Cửa Đại dạng thùy thấy rõ hơn trên ảnh 2015, 2017; đầu thùy xuất hiện đê ngầm. Cuối năm 2018, đê ngầm nổi lên tạo thành ‘đảo cát’ (Hình 7).

Hình 7: Đê ngầm Cửa Đại hình thành tại đầu thùy trầm tích; theo thời gian, đê ngầm phát triển và nhô trên mặt nước thành ‘đảo cát’. Nguồn ảnh: Google Earth
  1. Thảo luận

Đê chắn cổ: từ 1984 (có thể sớm hơn) đến 1989, gió đông bắc tạo dòng chảy ven bờ vận chuyển trầm tích về Cửa Đại hình thành Đê Bắc. Dòng ven bờ nam Cửa Đại yếu hơn chỉ hình thành đê chắn nhỏ dạng mũi cát. Hai đê chắn có tổng chiều dài hơn 3 km, bít gần kín Cửa Đại, tàu bè có lẽ chỉ di chuyển qua cửa mở khoảng 200 m (Hình 3, 4).

Phá hủy đê chắn cổ: Từ 1990 – 2009, dòng chảy sông mạnh hơn đã phá hủy hoàn toàn hai đê chắn. Trầm tích bị đẩy ra xa cửa sông (Hình 5, 6).

Hình thành đê chắn trẻ: từ 2010 đến 2017, một đê ngầm bao quanh đầu thùy trầm tích dần hình thành và ngày càng rõ nét. Năm 2018 một phần đê ngầm đã nhô lên mặt biển, tới đầu năm 2019 lộ thành ‘đảo cát’ với chiều dài khoảng 850 m, rộng 200 m (Hình 7).

Các hình 8, 9 và 10 cho thấy đê chắn trẻ phát triển khá nhanh. Khi nhô lên mặt biển, sóng tác động vào đê chắn tạo một dòng chảy ven bờ mới tiếp tục di chuyển trầm tích về phía nam. Cả phần nhô cao và phần ngầm đã định hình một đê chắn bọc quanh Cửa Đại rõ rệt (Hình 10).

Hình 8: Ảnh ngày 26/4/2017 cho thấy đê chắn ngầm phát triển nhanh, một vài diện tích đã nhô trên mặt biển (đốm trắng trong vòng tròn đỏ). Nguồn ảnh: Google Earth
Hình 9. Ảnh ngày 7/3/2018. Bãi bồi cửa sông tiếp tục bị phá, đê chắn nhô trên mặt biển tại đầu thùy trầm tích. Nguồn ảnh: Google Earth
Hình 10. Ảnh ngày 2/3/1019 cho thấy một đê chắn bao quanh Cửa Đại đã được định hình rõ nét. Các đốm trắng nhỏ bao quanh thùy trầm tích là biểu hiện tác động của sóng vào đê chắn. Nguồn ảnh: Google Earth

Như vậy việc phá hủy đê chắn cổ và hình thành đê chắn mới cách xa cửa sông cho thấy động lực dòng sông đã trở lên mạnh hơn. Dòng chảy sông mạnh hơn là do tác động nhân sinh như mất diện tích rừng đầu nguồn, dòng chảy mùa lũ cộng hưởng với việc xã lũ từ các nhà máy thủy điện.

Thời gian tới, đê chắn sẽ tiếp tục mở rộng và nhô cao. Đê chắn Cửa Đại sẽ tạo thành vòng cung dài khoảng 5 km, khi đó việc di chuyển tàu bè sẽ thật sự khó khăn. Đê chắn phát triển sẽ đẩy dòng chảy về bờ biển Duy Hải, gây xói lở bờ biển này.

  1. Giải pháp

Nghiên cứu xây dựng kè luồng để cố định Cửa Đại. Kè luồng sẽ tạo điều kiện cho tàu bè qua cửa sông dễ dàng, đồng thời ngăn chặn sự phát triển đê chắn lấn về phía nam.

Tiến hành xây dựng một số mỏ hàn dọc bờ biển Hội An (bờ biển phía bắc Cửa Đại) để hạn chế sự phá hủy của sóng vào bờ biển và sự di chuyển cát của dòng chảy ven bờ.

  1. Kết luận

Khoảng 40 năm trước, Cửa Đại đã từng có hai đê chắn. Sự gia tăng động lực dòng chảy sông do hoạt động của con người từ những năm 1990 trở lại đây đã phá hủy hai đê chắn này để hình thành một đê chắn trẻ cách xa cửa sông hơn. Do được bổ sung bởi một lượng trầm tích đáng kể từ dòng ven bờ, đê chắn trẻ phát triển nhanh chóng trở thành ‘đảo cát’ ngày càng nhô cao và mở rộng.

Đê chắn cổ và trẻ phản ảnh sự tương tác sông biển vùng cửa sông Liman hay cửa sông tạo đê chắn, là loại cửa sông khá phổ biến trên thế giới. Có thể nói vị trí hình thành đê chắn trẻ phản ánh sự cân bằng động lực sông biển hiện nay ở Cửa Đại.

Xây dựng kè luồng Cửa Đại và một số mỏ hàn bờ biển Hội An là cách tốt nhất để tàu bè qua cửa sông thuận tiện, đồng thời giảm thiểu xói lở bờ biển. Kè luồng được xây dựng sẽ trở thành một điểm mới thu hút khách du lịch đến thăm quan, tìm hiểu sự tiến hóa Liman Cửa Đại và lịch sử đô thị cổ Hội An ở cửa sông này.

Tài liệu tham khảo

[1]. Liman (landform): https://www.revolvy.com/main/index.php?s=Liman%20(landform)&item_type=topic

[2]. Estuaries. https://www.niwa.co.nz/education-and-training/schools/students/estuaries

[3]. Robin Davidson-Arnott. 2010. An Introduction to Coastal Processes and Geomorphology. Cambridge University Press.

Ý kiến trái chiều về dự án lấn sông xây biệt thự ở Đà Nẵng

“Điều này trái ngược với xu thế hiện nay trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đó là chuyển từ khống chế dòng chảy theo ý muốn của con người sang dành không gian cho sông (rooms for rivers), dành không gian cho giao tiếp giữa con Người với Thiên nhiên”. (1)

Chuyên gia lo ngại việc Đà Nẵng cho triển khai các dự án bất động sản bằng việc đổ đất đá xuống sông Hàn sẽ gây ách tắc dòng chảy.

Những ngày này người dân Đà Nẵng đi qua cầu Thuận Phước nhìn sang sẽ thấy ở cửa sông khu đất nhô hẳn ra mặt nước, đã được làm bờ kè bê tông kiên cố dài 731 m. Đây là diện tích thuộc dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng. Cạnh đó là một dự án khác cũng nằm ở bờ Đông sông Hàn (quận Sơn Trà).

Hai dự án này đều đã được thành phố cấp phép cho xây dựng khu biệt thự nghỉ dưỡng, căn hộ cao cấp, toà nhà cao tầng (phía đường Trần Hưng Đạo và Lê Văn Duyệt).

Năm năm trước

Khu vực dự án bất động sản và bến du thuyền sau 5 năm. Ảnh: Nguyễn Đông

Dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng được phê duyệt từ năm 2009 và 10 năm qua đã nhiều lần điều chỉnh quy hoạch. Cụ thể, năm 2017, thành phố điều chỉnh quy hoạch theo hướng giảm diện tích từ hơn 17 ha xuống còn gần 12 ha, trong đó giữ nguyên diện tích đất và giảm diện tích mặt nước từ trên 6 ha xuống một ha.

Ngoài ra, khu vực bờ sông điều chỉnh từ 13 khối tháp cao tầng còn hai khối tháp (từ 16 – 33 tầng) và 57 căn biệt thự; duy trì lối đi công cộng ven sông rộng 8 m.

Từ năm 2016, người dân Đà Nẵng đã gửi phản ánh trên hệ thống chính quyền điện tử thành phố, với lo lắng dự án đổ đất lấn sông ở vị trí cửa sông Hàn sẽ gây ảnh hưởng đến dòng chảy, đặc biệt là mùa mưa lũ. Sở Xây dựng sau đó có văn bản trả lời, khẳng định không ảnh hưởng.

Theo Sở này, trước khi đồng ý cho nhà đầu tư xây dựng bờ kè và làm dự án, thành phố đã khảo sát điều kiện địa chất, nghiên cứu dòng chảy và lấy ý kiến các đơn vị liên quan. Việc làm tuyến đê, kè này nhằm mục đích “đảm bảo an toàn cho khoảng 500.000 người dân tại các khu đô thị Mân Quang, khu dân cư làng cá Nại Hiên Đông, chống sạt lở bờ sông, bảo vệ các công trình kiến trúc…”.

Ông Thái Ngọc Trung – Phó Giám đốc Sở Xây dựng cũng nhấn mạnh hai khu đất trên “không phải là dự án lấn sông”.

“Bờ kè quy hoạch từ năm 2008, còn các dự án được cấp phép sau. Chủ đầu tư đổ đất trên diện tích quy hoạch bờ kè nên không phải là lấn sông”, ông Trung cho biết.

Chuyên gia thuỷ lợi Huỳnh Vạn Thắng – nguyên Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đà Nẵng cho biết, ông là người trực tiếp thẩm định dự án bất động sản và bến du thuyền và đưa ra ý kiến tham mưu cho thành phố triển khai.

Lý giải việc dự án không ảnh hưởng đến dòng chảy sông Hàn, ông Thắng nói từ thời Pháp thuộc đã cho xây dựng một bờ kè dẫn dòng từ sông Hàn ra đến cảng Tiên Sa (dưới bán đảo Sơn Trà), nhờ đó dòng sông không bị bồi lấp hay thay đổi dòng chảy trong hơn 100 năm qua.

“Dự án đang triển khai nằm trong tuyến đê kè phía trong giúp chống sạt lở bờ sông, không lấn ra lòng sông vì không vượt qua bờ kè dẫn dòng thời Pháp, nghĩa là không cản trở dòng chảy. Ở đây có chăng vấn đề là mất mỹ quan nơi cửa sông”, ông Thắng nói.

KTS Hồ Duy Diệm nêu quan điểm “Đà Nẵng nên dừng dự án ở cửa sông”. Ảnh: Nguyễn Đông.

Nhiều chuyên gia đã phản bác lại lập luận của ông Thắng và Sở Xây dựng. “Dự án rõ ràng đã thu hẹp dòng chảy tự nhiên của sông Hàn, gây ra xung đột khi nước từ thượng nguồn thoát ra biển”, KTS Hồ Duy Diệm – Chủ tịch Hội bảo vệ lưu vực và dải biển Việt Nam nói.

Theo chuyên gia này, lòng sông Hàn bị nhồi đất và các trụ kè bê tông cứng thì sau này sẽ xảy ra hệ lụy; khi hai bên bờ bê tông hóa dĩ nhiên lòng sông sẽ bị bào sâu lớp cát để nước kịp chảy; nếu nước không thoát kịp thì gây ngập úng. Hơn nữa, theo thời gian, đoạn cửa sông bị thắt lại, nước sẽ khoét sâu đáy hai bên bờ khiến bờ có thể đổ sập.

“Sở và các đơn vị đã tham mưu cho thành phố cấp phép, dĩ nhiên họ khẳng định là đúng. Nhưng ngay khi dự án chưa triển khai, dư luận phản ứng thì thành phố nên cho tạm dừng để tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia. Tôi đề nghị dừng dự án và hoàn trả lại nguyên trạng cho dòng sông”, ông Diệm nói thêm.

PGS, TS Vũ Trọng Hồng – nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam cho rằng, chính quyền Đà Nẵng không nên để doanh nghiệp đổ đất xuống sông Hàn làm dự án bất động sản, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu rõ rệt như hiện nay.

“Trên thế giới không ai đi lấn sông cả, trong khi đó sông Hàn lại rất nhỏ”, ông Hồng nói và cho rằng dòng sông hình thành từ tự nhiên, trải qua những trận mưa, lũ từ thượng nguồn đổ về xói dần và tạo thành dòng ổn định. Do đó phải giữ đủ diện tích để tiêu nước mưa và thoát lũ. Nếu lấn sông sẽ gây ra ngập úng, chưa kể còn ảnh hưởng đến tiêu nước ngầm.

Hai dự án ven sông đang đồng loạt triển khai hạ tầng trước khi xây dựng nhà cửa. Ảnh: Nguyễn Đông.

TS Hồng đề xuất Đà Nẵng giao cơ quan chuyên môn tính toán, với lượng nước mưa dự báo trong bao nhiêu năm thì dòng sông có thể dâng nước lên bờ và gây ngập. Nhiều nước ở châu Phi và Nhật Bản đã gặp tình cảnh khi lũ tràn lên thì dân chạy không kịp. Trong khi đó mật độ dân cư ven sông Hàn đang ngày càng đông lên.

Vẫn theo ông Vũ Trọng Hồng, ngành nông nghiệp Đà Nẵng dựa vào những số liệu trước đây để tham mưu cho thành phố cấp phép dự án cũng cần phải xem lại. Vì đang trong thời kỳ biến đổi khí hậu nên tất cả những số liệu cũ không còn phù hợp nữa.

“Các nước đang chung tay chống biến đổi khí hậu. Đà Nẵng lại cho đổ đất đá xuống sông, rồi xây dựng bê tông hóa là không nên. Sông Hàn cần được mở rộng ra nữa mới giúp tiêu nước cho khu đô thị trong tương lai, chứ không nên lấn và không được lấn”, ông Hồng nhấn mạnh.

Nguyễn Đông

Nguồn: https://vnexpress.net/thoi-su/y-kien-trai-chieu-ve-du-an-lan-song-xay-biet-thu-o-da-nang-3910750.html

(1) Trích từ “Dự án Cái Lớn-Cái Bé: Lý do không thế phê duyệt của GS. TSKH, Nguyễn Ngọc Trân; Nguồn: https://www.thiennhien.net/2018/09/14/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet/

 

Lớp cao học Quản lý TNTN và MT – K28 khảo sát hoạt động khai thác và cải tạo mỏ

Sau khi kết thúc phần lý thuyết môn Khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường, chủ nhật 24/03 dẫn 16 bạn học viên cao học khảo sát thực tế hoạt động khai thác khoáng sản (chủ yếu là vật liệu xây dựng) tại ba khu vực: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Châu Thới và Bửu Long. Nội dung khảo sát gồm:

– Các moong khai thác đá, khai thác đất bỏ hoang (trong khuôn viên Đại học Quốc gia)

– Các mỏ đang diễn ra hoạt động khai thác (khu vực Châu Thới)

– Các moong khai thác đá được cải tạo thành Khu du lịch Bửu Long (Phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa).

Một vài hình ảnh dưới đây phần nào nói lên việc sử dụng đất tại các khu vực này.

Hồ Đá (Đại học Quốc gia TP.HCM, trước nhà khách)

Quanh hồ Đá có một số vết lộ mà sinh viên có thể tìm hiểu về thạch học, cấu trúc và khoáng sản
Chọn một vị trí đẹp chụp ảnh kỷ niệm chuyến đi
Hàng rào mới kiên cố hơn thay thế hàng rào cũ. Tuy vậy một vài nơi song sắt đã bị phá

Hồ đất (cạnh Viện Tài nguyên và Môi trường)

Khu vực cấm vào vườn bạch đàn ven hồ đất
Năm nay ai đó có (sáng kiến) dùng xích khóa lu nhựa đựng rác vào gốc cây bạch đàn
Nhưng rác vẫn khủng khiếp
Vẫn tụ tập giải trí, buôn bán và tự xử lý rác (đốt)
Một diện tích rất rộng mặt hồ đất ken kín lục bình
Vừa câu cá vừa thư giãn bên hồ. Hàng rào quanh hồ nay chỉ còn những cột bê tông

Khu vực Châu Thới

Cúng bái tại chùa Núi Châu Thới
Mỏ Núi Nhỏ cách chùa Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam
Bãi tập kết sản phẩm tại chân núi Châu Thới
Mỏ Tân Đông Hiệp cách chùa Châu Thới khoảng 800 m về phía tây bắc. Hiện mỏ đã được khai thác tới độ sâu 100 m

Khu du lịch Bửu Long (thành phố Biên Hòa)

Trước hồ Long Ẩn (được cải tạo từ moong khai thác đá)
Yếu tố văn hóa Tây Nguyên năm nay xuất hiện trong Khu du lịch
Một điểm nhấn mới tại khu du lịch

H &H

 

 

Nhìn lại các công trình ngăn mặn hiện có ở ĐBSCL

Hòa Tân lược ghi

(TBKTSG Online) – LTS: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã nhận được bản thảo về “Đánh giá các hệ thống ngăn mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và dự án thủy lợi sông Cái Lớn – Cái Bé” của nhóm nghiên cứu gồm Lê Anh Tuấn – Nguyễn Hữu Thiện – Dương Văn Ni – Nguyễn Hồng Tín – Đặng Kiều Nhân.

Đây là một công trình khoa học dài hơn 15.000 chữ với 37 trang, xét thấy phần đánh giá tác động các công trình ngăn mặn phù hợp với tờ báo, nên tòa soạn xin được lược đăng. Tựa đề chính và các tựa phụ do tòa soạn đặt.

Ngọt hóa bán đảo Cà Mau

Âu thuyền Tắc Thủ: một điển hình tồi về đầu tư thủy lợi vùng Bán đảo Cà Mau

Dự án Quản Lộ – Phụng Hiệp, ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được khởi công từ những năm đầu của thập niên 1990 với vốn vay của Ngân hàng Thế giới, có trị giá đầu tư xấp xỉ 1.400 tỉ đồng (theo thời giá lúc đó). Trong suốt giai đoạn 1990 – 2000 và tiếp đến nay, hàng trăm công trình cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, giữ ngọt đã được đầu tư.

Bản đồ qui hoạch thủy lợi vùng Nam Bán Đảo cá Mau. Ghi chú: Qui hoạch được duyệt theo quyết định số 1336/QĐ-KH ngày 8/5/2009. Bản đồ không thể hiện các cống nhỏ nội đồng và các cống mới xây sau đợt hạn-mặn 2016

Theo dự tính của ngành thủy lợi, hệ thống đưa nước ngọt từ sông Hậu về bán đảo Cà Mau sẽ cung cấp nước tưới, phục vụ chủ yếu trồng lúa, cho 70.000 ha đất nông nghiệp của tỉnh Bạc Liêu, 50.000 ha đất của Cà Mau và 66.000 ha đất của Kiên Giang. Do nhiều cống ngăn mặn đã cản trở giao thông thủy nên phát sinh ra những công trình khác như hệ thống Âu thuyền Tắc Thủ, được xây dựng tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, thuộc xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình) và xã Khánh An (huyện U Minh, Cà Mau).

Âu thuyền Tắc Thủ được khởi công xây dựng từ năm 2001-2002, với tổng vốn gần 80 tỉ đồng vào thời điểm đó. Công trình này do Công ty Tư vấn xây dựng Thủy lợi II chịu trách nhiệm thiết kế và giám sát thi công xây dựng.

Tuy nhiên, công trình sau hơn 5 năm khởi công đã bắt đầu bộc lộ những bất cập trong mục tiêu và thực tế.

Từ năm 1997-1998, đã có hàng trăm nông dân đòi phá các hệ thống cống – đập này để lấy nước nuôi tôm, điển hình là sự kiện tháng 7/1998 nông dân Bạc Liêu kéo nhau phá đập Láng Trâm (xã Tân Thạnh, huyện Giá Rai).

Người dân Bạc Liêu và Cà Mau phá đập ngăn mặn (Nguồn: VTV, Giữa đôi dòng mặn ngọt). https://vtv.vn/video/phim-tài-liệu-giua-doi-dong-man-ngọt-83951.htm

Và làn sóng phá cống ngăn mặn lan sang tỉnh Cà Mau (như ở các địa điểm Vườn Cò, Rạch Mới, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân). Chính mâu thuẫn mặn – ngọt này, đến năm 2000 Chính phủ quyết định cho các tỉnh vùng ĐBSCL chuyển đổi 450.000 ha đất trồng lúa sang đất nuôi tôm, khiến mục tiêu chính dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau gần như bị thất bại.

Âu thuyền Tắc Thủ trong hệ thống ngọt hóa này là một điển hình “phá hoại” lớn của dự án: sau khi hoàn thành năm 2006, công trình trở thành một khối bê tông vô dụng, làm cản trở giao thông, gây thất thoát ngân sách và tạo nhiều bức xúc cho người dân sở tại và dư luận đánh giá xấu cho ngành giao thông – thủy lợi. Gần như đến nay, không ai chịu trách nhiệm về những đầu tư kém hiệu quả và lãng phí này.

Nguồn nước ô nhiễm

Hình ảnh phổ biến ở các vị trí công ngăn mặn: rác tích tụ và nước có màu tối đen do các chất ô nhiễm phân hủy. Cống Bãi Giá, Sóc Trăng chụp ngày 11/12/2017, Lê Anh Tuấn

Do dòng chảy sông rạch thường xuyên bị chặn lại bởi các cống, phía trong cống không còn hiện tượng nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước ròng cho mỗi chu kỳ rằm nửa tháng. Trước khi có cống – đập, biên độ thủy trình trong sông kênh có thể dao động đến gần 2 mét. Do cống đóng gần như suốt mùa khô, dòng sông lúc nào cũng đầy nước nhưng là loại nước tù, không chảy hoặc chảy lờ đờ rất chậm. Điều này khiến tình trạng ô nhiễm tích lũy trong nước rất cao. Rác rến từ nguồn thải dân cư và các chất độc như thuốc trừ sâu, thuộc diệt cỏ và phân bón tràn xuống nước tích tụ dày đặc do thiếu nguồn nước biển để rửa trôi.

Hệ quả là hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước đều rất thấp khiến khả năng tự làm sạch của nguồn nước bằng cơ chế oxy hóa, pha loãng và rửa trôi bằng thủy triều. Nước trong sông rạch mang màu đen đặc trưng và có mùi thối đặc trưng do các hợp chất hữu cơ phân hủy trong nước.

Tại những vùng nước lợ bị đóng kín tù đọng, lục bình phát triển dày đặc, nước bị ô nhiễm bời nhiều chất thải, hoàn toàn không sử dụng được cho sinh hoạt (Ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Hiện nay sông ngòi ở các vùng thủy lợi này gần như không còn sử dụng được cho mục đích ăn uống, thậm chí tắm giặt. Người dân chuyển sang sử dụng nước ngầm, nhiều giếng nước ngầm đã khoan đến độ sâu 80 – 120 m để lấy nước ngọt. Sự khai thác nước ngầm để lấy nước ngọt quá lớn vùng “ngọt hóa” đang làm gia tăng tốc độ sụt lún đất ĐBSCL nhanh gấp nhiều lần nước biển dâng. Hệ quả này sẽ dần dần làm hư hỏng công trình, gây nguy cơ cao cho vấn đề nhiễm mặn và nhiễm bẩn nước ngầm.

Các giếng khoan nước ngầm xuất hiện ngày càng nhiều, ngay trong vùng ngọt hóa, do nước mặt bị ô nhiễm, đe dọa tình trạng lún sụt mặt đất (Hình chụp ở Hậu Giang)

Nguồn lợi thủy sản mất dần

Rất khó để tìm ra các loài cá trắng trên các dòng sông bị chặn bởi các cống đập, thay thế trong thủy vực bằng các loài cá đen nước tĩnh như cá lóc, cá trê và các loài cá ngoại lai như cá rô phi, cá lau kiếng. Lý do là hệ sinh thái sông ngòi (riverine environment) đã bị chuyển sang hệ sinh thái hồ (lacustrine environment).

Trao đổi với người dân trong khu vực, tất cả đều khẳng định nguồn lợi thủy sản gần như bị suy giảm nghiêm trọng, môi trường sống của các loài thủy sinh bị kiệt quệ thấy rõ. Nghiên cứu khảo sát nguồn lợi thủy sản của trường Đại học Cần Thơ ở các khu vực có dự án thủy lợi Ô Môn – Xà No, Quản Lộ – Phụng Hiệp qua thu thập mẫu (3 lần mỗi năm) và thêm phỏng vấn người dân địa phương cho thấy, cả nguồn cá nước ngọt và nước lợ trong vùng có dự án thủy lợi giảm sút gấp 3 lần so với nguồn cá đối chứng ở bên ngoài hệ thống.

Về mặt sinh thái nông nghiệp, nếu độ chua của nước pH > 4 và độ mặn S < 0,4% (4 ppt) thì có thể trồng lúa, nhưng với đặc điểm một vùng sông nước và nuôi trồng thủy sản đa dạng từ vùng nước mặn, nước lợ, nước ngọt thì ngoài 2 thông số nói trên, còn có các thông số hàm lượng oxy hòa tan, độ đục,… và cả yếu tố vi sinh, dịch bệnh… việc quản lý các hệ thống thủy lợi không sao thỏa mãn được hết.

Chất lượng đất thay đổi

Một ghi nhận rõ hơn nữa là chất lượng đất, hay nói cách khác là sức khỏe của đất (soil healthy) bị suy kiệt nhanh chóng ở những vùng đất canh tác có cống ngăn mặn phía bên ngoài. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ, khi lớp đất mặt ngập nhiều ngày, hàm lượng oxy khuếch tán vào nước giảm vài ngàn đến hơn 10 ngàn lần so với điều kiện tiếp xúc với không khí, lúc đó hiện tượng yếm khí toàn phần xảy ra. Đất bị ngập nước hoàn toàn sau một ngày thì hàm lượng oxy giảm nhanh tới mức không phát hiện được sự hiện diện oxy trong đất nữa. Khi đó, các tác nhân như nitrogen dioxide, các hợp chất mangan, sắt, carbon dioxit, ammoniac, hiđro sunfua, metan, acetylene, ethanol, các sản phẩm biến dưỡng của vi sinh vật,… gia tăng, gây tổn thương vùng rễ, làm nhiễm độc cho cây trồng.

Các vườn cây cam đang tươi tốt như thế này sẽ phải lần lượt bị đốn bỏ để trồng tràm vì nông dân không chịu nổi chi phí bơm nước ra liên tục và phải sử dụng nhiều phân thuốc cho đất (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nước cầm tù dâng cao, thấm bão hòa vào các lớp đất mặt khiến các loại cây trồng khó phát triển, các loại cây ăn trái có bộ rễ sâu hơn 20-30 cm dần dần bị vàng lá, thối gốc, thối rễ mà chết. Muốn giảm thiệt hại, người nông dân phải chấp nhận bơm thoát nước liên tục, khiến chi phí đầu tư ban đầu cao vì phải dùng nhiều năng lượng như điện, xăng dầu để chạy máy bơm, chưa kể công sức và thời gian phải lo trực chạy máy, sửa chữa máy, theo dõi mực nước.

Hầu hết khu vực ven biển là đất có tầng phèn hoạt động và nước thủy cấp nhiễm mặn. Xì phèn hoặc mặn xảy ra làm giảm năng suất cây trồng/vật nuôi khi mực thủy cấp thấp và không cấp đủ nước ngọt do vận hành công trình không phù hợp.

Thay đổi về sinh cảnh thực vật

Các dòng sông bị đóng kín sau mùa mưa để giữ lại nước ngọt khiến thủy triều từ biển không vào nội đồng được. Đất đai trong vùng canh tác trở nên thiếu dinh dưỡng và cây trồng phải phụ thuộc vào phân bón. Chính điều này, về lâu dài, đã làm nhiều nông đã bị buộc phải chặt bỏ hàng ngàn ha vườn cây ăn trái, chuyển sang trồng mía, rồi mía cũng thất bại, chuyển sang trồng tràm, nhưng tràm trong điều kiện ngập nước kéo dài cũng rất chậm lớn.

Cây dừa nước bị chết là do sâu bệnh phát triển trong môi trường nước chuyển từ mặn lợ sang ngọt (Ảnh chụp ở Gò Quao, Kiên Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nhiều mảng cây rừng ven biển bị suy kiệt mà chết dần, sạt lở ven biển gia tăng. Còn phía trong đồng thì dòng sông biến thành các hồ chứa, nước bị cầm tù khiến nhanh chóng bị ô nhiễm, hôi thối. Lục bình và nhiều loại tảo lục phát triển, ghe tàu đi lại rất khó khăn, chậm chạp và tốn kém.

Nông dân đang chuyển tràm trồng thay thế các vườn cây ăn trái do đất bị cống chặn giữ nước liên tục (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Các loại cây quen sống ở vùng nước lợ, điển hình như cây dừa nước (Nypa fruticans), sẽ nhanh chóng bị vàng lá, hư hại và chết do hệ sinh thái nước lợ biến thành nước ngọt nên loài sâu ăn lá dừa nước phát triển. Nói chung, tính đa dạng sinh học khu vực bị suy giảm đáng kể.

Sự thay đổi điều kiện giao thông thủy

Ở các vùng có cống ngăn mặn thuộc dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, lục bình phát triển dày đặc, ngăn cản giao thông thủy, hạn chế ánh sáng và không khí cho các nguồn thủy sinh và gây ô nhiễm do tù đọng (ảnh chụp ở cống Mỹ Phước, Sóc Trăng ngày 17/5/2018, Lê Anh Tuấn)

Dễ dàng thấy được các cống đập đặt ngay vị trí dòng chảy thì ảnh hưởng đến giao thông thủy. Nước không lưu thông thì lục bình thuận lợi phát triển bao trùm mặt thoáng. Việc đi lại rất trở ngại. Nhiều nơi người dân đã phải dung thuốc diệt cỏ để xịt lên lục bình nhằm tạo lối đi khiến nước sông càng ô nhiễm hóa chất nặng nề, tôm cá bị tiêu diệt và sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng.

Đoạn kênh ở Long Mỹ, Hậu Giang: do dòng chảy bị chận nên lục bình phát triển ưu thế, giao thông thủy tắc nghẽn, chi phí ghe xuồng đi lại gia tăng, có lúc người dân buộc phải dùng thuốc diệt cỏ để xịt lục bình lấy đường cho ghe xuồng chạy, hệ quả ô nhiễm hóa chất gia tăng (ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Chi phí vận chuyển lúa ra ngoài đê tăng xấp xỉ 10%, máy gặt đập bên ngoài đưa bằng xà lan vào trong đê rất khó, hoặc không vào được (như vùng Xà Phiên, Long Mỹ).  Tại khu vực Ngã Bảy, Phụng Hiệp, Hậu Giang lượng tàu ghe đến giao dịch giảm đi hẳn.

Hệ thống tời kéo-đường ray để kéo vỏ lãi qua cống

Một số cống gây hạn chế giao thông thủy khi đóng cống hoặc do thiết diện chiều rộng cống hạn chế. Trong khi ở khu vực nông thôn nơi chưa có hạ tầng phát tiển, giao thông thủy đóng vai trò rất quan trọng. Khi thu hoạch lúa, hoặc vận chuyển hàng hóa nặng, giao thông thủy là lựa chọn ưu tiên của người dân.

Hệ thống tời kéo võ lãi qua cống Nàng Rền, nhưng rất ít hoạt động (ảnh chụp ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Tại một cống, có sáng kiến làm bộ tời kéo vỏ lãi vượt qua cống trên 2 thanh ray, muốn qua người dân phải trả phí. Tại một số cống ngăn mặn, người dân muốn lưu thông qua cống phải chi tiền đút lót cho người quản lý cống mở cống.

Sự thay đổi văn hóa – xã hội

Một điều mà nhiều người nhận xét, ở những nơi có cống – đập chặn dòng, tình trạng di dân ngày càng phổ biến. Việc canh tác khó khăn, chi phí đầu tư cao mà lợi nhuận giảm, cộng thêm tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm, nhiều người đã bỏ đồng ruộng đi mưu sinh ở các khu công nghiệp hoặc thành phố (ở địa phương quen gọi một tên chung là “đi Bình Dương”). Hiện tượng này không phải do vấn đề dân số, tốc độ tăng dân số của ĐBSCL hiện nay là âm, mà do kinh tế nông thôn đang đi xuống. Trong vấn đề di dân, phụ nữ và trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Do sông ngòi ô nhiễm, trẻ em nông thôn ngày nay không biết bơi, chỉ trừ những đứa trẻ ở các nhánh sông lớn như Sông Tiền, Sông Hậu. Đây là một nét văn hóa đã bị mất của ĐBSCL. Hoạt động giao thông thủy sút giảm cũng là mất một nét quan trọng của văn hóa sông nước ĐBSCL. Lượng cá trắng sút giảm nghiêm trọng nên một số món ăn mất hình ảnh con cá trên thực đơn.

Sự suy giảm chất lượng nguồn nước, đi lại khó khăn,… cũng là một vấn đề khó khăn liên quan đến tiện nghi, an toàn, chất lượng sống và sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em. Hầu hết các dự án không quan tâm đến yếu tố giới, qua trao đổi với các địa phương, tham vấn và quản lý nước đều không xem xét sự tham gia của phụ nữ.

Trong hầu hết các dự án thủy lợi, đối tượng cư dân được nói đến nhiều là nông dân, đặc biệt là nông dân trồng lúa.  Thực tế, trong vùng nông thôn ven biển châu thổ Cửu Long, có rất nhiều nhóm cư dân khác nhau của địa phương, có các sinh kế khác nhau như thương buôn, chế biến nông sản, bốc xếp hàng hóa, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… Ảnh hưởng công trình đến sinh kế của họ, gần như không được chú ý nên dễ gây những tác động dây chuyền.

Tính kém hiệu quả kinh tế công trình

Ngân sách sử dụng cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm tỷ lệ cao ở các công trình thủy lợi. Chi phí nhiều ngàn tỉ của các công trình thủy lợi là do ngân sách trung ương hoặc địa phương thực hiện, tập trung cho các công trình xây dựng và chi phí duy tu, bảo dưỡng và vận hành, nhưng chưa bao giờ được hạch toán vào bài toán kinh tế được – mất. Cái được là tăng sản lượng, vụ lúa, nhưng chi phí các công trình này là “miễn phí-trên trời rơi xuống” không hề được đưa vào giá thành sản xuất. Ngoài ra những tổn thất về tài nguyên và môi trường to lớn khủng khiếp cũng chưa được tính vào chi phí.

Nói cách khác, nếu nhìn tổng thể trên bình diện nền kinh tế quốc gia, nếu càng tiếp tục cách như hiện nay, càng làm quốc gia càng nghèo thêm.

Mặt được của các công trình thủy lợi ngăn mặn, ngăn lũ là góp phần tăng vụ, chủ yếu là lúa, làm tăng thu nhập của người dân từ 1 lên 2 vụ, hoặc từ 2 lên 3 vụ. Tuy nhiên,với một nơi vốn sẵn giàu tài nguyên thiên nhiên như ĐBSCL chỉ cách đây vài thập niên, sự hủy hoại nguồn thủy sản và nguồn nước sông ngòi để đánh đổi sản lượng lúa chất lượng thấp để xuất khẩu hơn 50% là điều đáng tiếc.

Hiệu suất và hiệu quả sử dụng của các công trình hạn chế, ít hơn dự kiến trong thiết kế bởi vì thời gian và tần suất vận hành ít. Nhiều công trình cống chưa một lần vận hành từ ngày xây dựng đến nay. Điều này gây thất thoát và lãng phí lớn vì các công trình này chi phí đầu tư rất cao so với các giải pháp phi công trình.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung, lúa là quan trọng nhưng ĐBSCL không nhất thiết phải làm lúa và không chỉ có cây lúa, khi có nước lợ vào sẽ có sự đa dạng sinh học khác nhau hoàn toàn, thuận theo tự nhiên hơn khi mình ngăn chặn, bài học cống đê bao ngăn lũ (có nhiều tác động đến sản xuất nông nghiệp), cần xem xét học tập bài học từ dự án chống lũ, hay là chuyển sang cách làm khác, không tác động đến tự nhiên, đảm bảo cho nông dân sản xuất thực tế khách quan, người dân an toàn sinh sống.

https://www.thesaigontimes.vn/279478/nhin-lai-cac-cong-trinh-ngan-man-hien-co-o-dbscl.html

Phê duyệt dự án công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé dù có nhiều tranh cãi, phản đối

Dù có nhiều tranh cãi, phản đối của một số nhà khoa học, chuyên gia am hiểu về ĐBSCL ở Trường ĐH Cần Thơ, nhưng Bộ NN&PTNT đã chính thức có quyết định “phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1”.

Trước đó, ngày 18.12.2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé tại văn bản số 3805/QĐ-BTNMT.

Vùng Tây Nam sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có ba dự án “khủng”, được tính bằng đơn vị ngàn tỉ đồng, gồm Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn – Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Nhiều ý kiến cho rằng các dự án này không thành công. Vì vậy, trước khi quyết định phê duyệt một dự án khủng, Bộ NN&PTNT nên thực hiện một nghiên cứu toàn diện những dự án thủy lợi đã triển khai vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng Tây sông Hậu nói riêng về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé triển khai sẽ tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên và xã hội trên một diện tích đáng kể vùng đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được thông qua, dự án đã được phê duyệt, nhưng nhiều vấn đề mà các nhà khoa học đặt ra vẫn còn đó hoặc tiếp tục chờ đợi các cơ quan có trách nhiệm giải trình.

Dưới đây là một số ý kiến của các chuyên gia về dự án này được tổng hợp từ nhiều nguồn.

I.Tóm tắt dự án [1; 2]

Dự án thủy lợi CLCB được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư giai đoạn 1 ngày 17-4-2017, dựa theo tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) ngày 5-4-2017.

Công trình do Ban Quản lý đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10 – thuộc Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư. Đơn vị tư vấn lập báo cáo đầu tư dự án là Liên danh Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam – Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam – Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Thủy lợi 2.

Cơ quan lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường là Viện Kỹ thuật Biển, Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam. Dự án là sự kế thừa của các đề tài nghiên cứu từ năm 2000 và dự án được lập từ năm 2010 đến nay.

Dự án nằm chủ yếu ở vùng Bán đảo Cà Mau; phía bắc là kênh Cái Sắn, phía Nam và Đông Nam là kênh Quản lộ-Phụng Hiệp, phía Đông Bắc là sông Hậu và phía Tây là Vịnh Thái Lan. Tổng diện tích đất tự nhiên vùng dự án là 909.248 ha (chiếm hơn 20% diện tích toàn ĐBSCL), thuộc Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và TP Cần Thơ.

Vị trí vùng dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé
Vị trí cống Cái Lớn-Cái Bé

Mục tiêu đầu tư

Dự án có 4 mục tiêu:

– Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn – Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang.
–  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định.

– Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn;

– Kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án.

Qui mô đầu tư dự án giai đoạn 1

Xây dựng cụm công trình giai đoạn 1, gồm các hạng mục:

– Cống Cái Lớn, cống Cái Bé;

– Đê nối hai cống Cái Lớn, Cái Bé với Quốc lộ 61;

– Kênh nối sông Cái Lớn – Cái Bé;

– Sửa chữa cống âu Tắc Thủ.

Tổng mức đầu tư dự kiến: 3.309,5 tỷ đồng

Sơ họa tổng thể các hạng mục công trình dự án [3]
Phối cảnh cống Cái Lớn – Cái Bé

II.Ý kiến trước khi phê duyệt dự án

1) Nhóm chuyên gia ở Trường Đại học Cần Thơ (PGS. TS. Lê Anh Tuấn, TS. Dương Văn Ni, TS. Nguyễn Hồng Tín, TS. Đặng Kiều Nhân và chuyên gia độc lập về sinh thái, ThS. Nguyễn Hữu Thiện) [4]

Về mục tiêu kiểm soát nguồn nước mặnphải trả lời được 2 câu hỏi: Nguồn nước mặn nào? Tại sao phải kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển? Vì ở ĐBSCL không có nhánh sông tự nhiên nào từ sông Hậu chảy ra biển Tây. Đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp mà do phù sa từ phía biển bồi tụ; trong đất có muối. Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối trong đất bị mao dẫn lên mặt đất; vào mùa mưa, nước mưa hòa tan muối và đổ vào sông rạch. Như vậy là có hai nguồn nước mặn: nước mặn từ phía biển và nước mặn hình thành tại chỗ. Vậy mục tiêu của dự án chỉ kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển (xây cống) liệu có đúng?

Về mục tiêu giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng thuộc lưu vực sông CLCB. Theo đề cương dự án thì đó là mâu thuẫn mặn – ngọt. Nhưng thực tế ở đây, nơi nào đất gò hơn thì bà con xẻ mương phèn trồng lúa do dễ tiêu thoát nước còn nơi nào đất trũng thấp (đất láng) thì bao vuông nuôi tôm sú, nên đất nông nghiệp xen kẽ với đất nuôi trồng thủy sản. Cách sử dụng nước là nếu cần bơm nước ngọt cho lúa thì người dân chọn lúc nước ròng và nếu cần bơm nước mặn cho tôm thì người ta chọn lúc nước lớn. Có mâu thuẫn gì đâu? Bài học về việc người dân đòi phá bỏ cống Láng Trâm (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau) để có đủ nguồn nước mặn cho nuôi trồng thủy sản vẫn còn nguyên giá trị.

Về mục tiêu góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang. Thủy sản này là nuôi trồng hay đánh bắt tự nhiên? Năng suất thủy sản nuôi trồng của khu vực này là rất thấp so với thủy sản đánh bắt tự nhiên trên sông rạch và vùng biển tiếp giáp. Trong đó có rất nhiều loài thủy sản sử dụng sông rạch như là bãi đẻ và vùng biển tiếp giáp là bãi ăn, và nhiều loài thì sử dụng ngược lại. Vì vậy lúc nước lớn là lúc nhiều loài thủy sản từ biển vào sông rạch để sinh sôi và kiếm ăn. Vậy việc đóng cống lúc này sẽ làm ảnh hưởng ra sao?

Với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn ngọt cho vùng ven biển. Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn-phèn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loãng độ mặn-phèn này không? Rồi rửa lượng mặn – phèn này đi đâu? Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ, chưa chắc có đủ nước ngọt để bơm. Nếu có, chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau. Những tình huống này, trong đề cương của dự án chưa đưa ra được giải pháp.

Với mục tiêu tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn. Đây là mục tiêu mà từ các giải pháp đến tính khả thi đều kém thuyết phục. Vì sự di chuyển nước của vùng bán đảo Cà Mau là nhờ hai chế độ triều khác nhau giữa biển Đông (bán nhật triều) và biển Tây (nhật triều) và mực nước trên sông Hậu, mà chúng tạo ra lực hút – đẩy rất nhịp nhàng, làm cho nước di chuyển trong toàn vùng và di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây.

PGS. TS Lê Anh Tuấn [5]

Dự án chưa đưa ra được những dữ liệu đầy đủ để chứng minh việc bỏ ra một khoản tiền lớn như trên để xây đập, thì lợi ích thu được có đủ để bù cho khoản đầu tư đó hay không? “Tăng canh tác, tăng sản lượng (từ việc xây đập bảo vệ vùng ngọt hóa, nếu có), nó có bù được cho những tác động khác hay không.

Hệ sinh thái trong khu vực sẽ bị thay đổi vì ĐBSCL có 3 vùng sinh thái, gồm vùng nước ngọt ở phía trên, vùng nước lợ ở giữa và vùng nước mặn giáp biển. Nếu làm đập chặn ngang thì sẽ làm phá vỡ hệ sinh thái nước lợ, trong khi đó, chưa đánh giá được việc chặn như vậy sẽ có lợi nhiều hay bị hại nhiều.

Việc xây dựng đập có thể dẫn đến chất lượng nước sẽ thay đổi theo hướng xấu đi, bởi giữa sông và biển có mối quan hệ, biển giúp cải tạo ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông, khi công trình đó được xây thì ô nhiễm có khả năng xảy ra ở phần bên trong đập.

Việc ngăn mặn, giữ ngọt thông qua xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé để sản xuất lúa (hay một sản phẩm nông nghiệp nào đó liên quan sử dụng nước ngọt) có mang lại lợi ích lớn hơn nuôi tôm hay không? “Đến bây giờ chưa thể chứng minh được rất nhiều vấn đề ở đây (dự án) thì trước tiên cần rút ra những bài học từ cống đập Ba Lai (Bến Tre) – dự án ngăn mặn, giữ ngọt tỉnh Bến Tre”.

PGS. TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh rằng nếu chưa rút ra được bài học từ cống Ba Lai thì việc đầu tư làm dự án Cái Lớn – Cái Bé là điều chưa nên trong lúc này.

ThS. Nguyễn Hữu Thiện (chuyên gia độc lập về sinh thái đồng bằng SCL) [6]

Theo ThS. Nguyễn Hữu Thiện, việc đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi này là không cần thiết. Bốn luận điểm được đưa ra trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, để khẳng định sự cần thiết và cấp bách phải đầu tư dự án nêu trên, chưa có tính thuyết phục.

Luận điểm thứ nhất được nêu ra xuất phát tình trạng khô hạn của mùa khô năm 2016. Theo ông Thiện, đây là một sự kiện cực đoan 90 năm mới có một lần, không phải là xu hướng chung của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nên không thể căn cứ vào yếu tố cực đoan đó để khẳng định cần thiết phải đầu tư dự án nêu trên.

“Ngay từ tháng 4-2016 chúng tôi đã nói phải hết sức bình tĩnh vì cái này (khô hạn, xâm nhập mặn) không phải là tình hình chung của đồng bằng. Thực tế chứng minh năm 2017 bình thường, 2018 bình thường và thậm chí bây giờ ngồi đây tôi có thể dự đoán năm 2019 cũng bình thường”, ông cho biết.

Luận điểm thứ hai được viện dẫn là nguy cơ nước biển dâng. Ông Thiện cho rằng, đây là luận điểm thiếu căn cứ, không đúng với thực tế của ĐBSCL, tức khả năng nước biển dâng đến năm 2100 chỉ khoảng 53 cm, chứ không phải là 1 mét như những kịch bản được đưa ra trước đó.

“Vì vậy, đừng lấy chuyện nước biển dâng đề “hù dọa””, ông nói và cho biết sụt lún đất mới là vấn đề đáng lo hơn. Nguyên nhân sụt lún là do sử dụng nước ngầm vì sông ngòi bị hủy hoại, không chảy được, trong khi lượng phân bón, thuốc trừ sâu sử dụng quá nhiều cho nền nông nghiệp và do đắp đập.

Luận điểm thứ ba được đưa ra để xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé khi nói ĐBSCL gánh trọng trách đảm bảo an ninh lương thực, theo ông Thiện là không đúng vì nói năm khô hạn 2016 an ninh lương thực bị đe dọa, nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu hơn 4,8 triệu tấn gạo, tức có dư cả chục triệu tấn lúa, thì rõ ràng an ninh lương thực không hề bị đe dọa.

Luận điểm thứ tư được đưa ra khi nói nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt ở ĐBSCL do tác động của thượng nguồn. Ông Thiện không đồng tình và cho rằng đập thủy điện không làm hết nước, mà chỉ có tác động đến phù sa và thủy sản.

Theo ông, việc bỏ ra hơn 3.300 tỉ đồng (giai đoạn 1) để xây dựng dự án thì rất cần sự thận trọng. “Nó liên quan trách nhiệm của những người đưa ra quyết định, đánh giá tác động, phải có trách nhiệm với thế hệ sau, chứ không thể xài tiền một cách vô tội vạ như thế này”, ông cho biết.

Cũng theo ông Thiện, việc xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé có thể đẩy quy hoạch tích hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư rơi vào “thất thủ”; chiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng thuận thiên, theo nguyên tắc Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu cũng sẽ thất bại.

2) TS. Lê Xuân Thuyên, Giảng viên, Bộ môn Sinh thái và sinh học tiến hóa, Khoa Sinh học và Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh [7].

“Dự án HTTL CL-CB có một lỗ hổng lớn là không có phân tích và quản lý rủi ro, một đòi hỏi theo thông lệ đối với bất cứ dự án lớn nào. Do không làm việc này nghiêm túc từ đầu nên nhiều dự án của Việt Nam sau khi hoàn thành thường đổ bể, hoặc hoạt động không đúng mục tiêu và lại phải có hậu điều chỉnh…làm thêm, mới…

Mặt khác dự án “lồng ghép” hai nội dung có thuộc tính tương đối tách biệt nhau. Đó là ứng phó với thiên tai và phát triển kinh tế vùng.

Để ứng phó thì không thế thiếu xác định phạm vi hứng chịu tác động (exposure) và tần suất xuất hiện (frequency) của thiên tai, và đánh giá khả năng tự phục hồi (resilience) của hệ thống (ở đây là môi trường và các hệ sinh thái tự nhiên và nông nghiệp).

Đợt hạn cực trị năm 2016 được các nhà chuyên môn xác định có tần suất xảy ra là 70 năm/1 lần. Vì vậy lấy hạn 2016 làm mục tiêu ứng phó và đầu tư nhiều ngàn tỷ để ứng phó liệu có hợp lý không, có quá lãng phí không (giả thiết rằng đầu tư các công trình là đúng).

Đối với nội dung phát triển kinh tế, dự án cần có hiệu quả kinh tế là dĩ nhiên, nhưng cũng cần có các giải pháp thay thế (alternative solutions) vì mô hình sản xuất, hệ thống sản suất thay đổi theo nhu cầu thị trường, theo tinh thần NQ 120, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp. Trong dự án, cây lúa dường như là đối tượng tham chiếu gần như duy nhất và chưa thấy dự án đưa ra những giải pháp thay thế.

Khi dự án có mục tiêu lồng ghép thì nó sẽ phải thỏa mãn các mục tiêu riêng một cách rõ ràng, đầy đủ và thực chất. Lồng ghép không có nghĩa là “pha trộn” một cách chủ quan các vấn đề nhằm “minh giải” về sự cần thiết của dự án với lý do là đã có đề cập tới cả hai mục tiêu ứng phó với thiên tai và phát triển kinh tế.”

III. Ý kiến khi phê duyệt dự án

1) Thông qua ĐTM với tỷ lệ 100%, dù còn nhiều tranh cãi! [8]

Theo báo nguoidothi.net.vn, tại buổi thẩm định ĐTM dự án Cái Lớn Cái Bé vào ngày 3.11.2018, ý kiến đánh giá, phản biện của các thành viên Hội đồng thẩm định là khoa học, khách quan, chỉ ra nhiều điểm chưa thuyết phục và vấn đề của dự án.

Theo đó, nội dung ĐTM dự án cho thấy các số liệu được đưa ra tính toán là chưa đáng tin cậy, chưa đầy đủ.

Cơ chế vận hành hai cống Cái Lớn, Cái Bé chưa được tính toán đầy đủ, quá sơ sài, đơn giản và không thực tế.

Báo cáo chỉ mới đánh giá tác động của giai đoạn 1 mà không đầy đủ hai giai đoạn để có những đánh giá toàn diện dự án.

Báo cáo ĐTM cũng cho thấy dự án chỉ đánh giá tác động theo đúng một chiều là ủng hộ, thiếu khách quan khi cho rằng chỉ duy nhất một phương án là cần thực hiện dự án;…

Một vấn đề khác được ghi nhận tại buổi thẩm định dự án, đã có nhiều ý kiến thành viên hội đồng cho rằng: nên chăng là hoãn dự án sông Cái Lớn Cái Bé, do việc tính toán tác động của dự án với quy mô công trình quá lớn này cho đến nay vẫn chưa có đủ cơ sở để thực hiện.

Tuy nhiên, kết thúc buổi thẩm định, kết quả: 21/21 thành viên hội đồng đã bỏ phiếu thông qua báo cáo ĐTM dự án, với điều kiện phải điều chỉnh, bổ sung bản báo cáo đánh giá theo ý kiến hội đồng.

2) GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân (1) [9]

“Việc phê duyệt sẽ không có gì phải bàn luận nếu các điều kiện được thực hiện nghiêm túc.” Nghiên cứu văn bản và ĐTM đã được phê duyệt, tôi cho rằng ĐTM đã không được chỉnh sửa, bổ sung đúng với yêu cầu và vì vậy việc phê duyệt là khó chấp nhận và cần làm rõ một số điểm.

Có hai ý quan trọng trong phát biểu kết luận của Chủ tịch Hội đồng thẩm định:

(1) Yêu cầu chủ đầu tư phải nghiên cứu kỹ, lập bảng giải trình đối với từng ý kiến mà cuộc họp đã góp để tiếp tục hoàn chỉnh dự án và báo cáo ĐTM, đặc biệt về cơ chế vận hành của các cống, và báo cáo ĐTM phải có đầy đủ ba giai đoạn: chuẩn bị thi công, thi công và sau khi công trình đi vào hoạt động.

(2) Câu hỏi gửi đến Thứ trưởng Hoàng văn Thắng về ý kiến của nhiều ủy viên đề nghị hoãn việc phê duyệt dự án đến khi công bố Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL theo tinh thần NQ 120 của Chính phủ. Trong thời gian đó chủ đầu tư hoàn chỉnh việc sửa đổi các báo cáo NCKT và ĐTM như đã góp ý.

Những ý kiến nổi trội đã được nhiều ủy viên HĐTĐ phát biểu là:

+ Báo cáo NCKT phải nêu rõ các yếu tố đặc thù của vùng dự án, phải bổ sung thông tin về trầm tích, về mưa, về nước biển dâng, về địa hình, về sụt lún đất, làm rõ hiện trạng về đa dạng sinh học, về sản xuất nông lâm thủy sản, về rừng U Minh Thượng ngày trước và Vườn quốc gia UMT hiện nay. Làm rõ để đánh giá các tác động và khả năng thoát lũ của dự án.

+ Vùng tác động cũng như vùng hưởng lợi từ dự án không có biên cố định như trong báo cáo NCKT, mà thay đổi theo nhiều yếu tố, đặc biệt nước biển dâng, sụt lún ở đồng bằng, và từ chính công trình.

+ Báo cáo NCKT và ĐTM của dự án đưa ra nhiều kết luận từ mô hình số. Số liệu phải có độ dài đủ để đáng tin. Các chuỗi số liệu được sử dụng là quá ngắn.

+ Chế độ vận hành các cống Cái Lớn, Cái Bé là không thực tế.

Báo cáo ĐTM đã được chỉnh sửa bổ sung thế nào

Báo cáo ĐTM được phê duyệt đã được gửi kèm văn bản số 1661/BQL10-TD ngày 21.11.2018 của chủ đầu tư đến Bộ TNMT. Như vậy việc chỉnh sửa bổ sung được thực hiện chỉ trong vòng hai tuần, một thời gian rất ngắn để làm hết những việc mà Hội đồng thẩm định yêu cầu một cách nghiêm túc.

Dưới đây là bảng so sánh Mục lục của ba ĐTM, phiên bản tháng 9 (trái), phiên bản trình Hội đồng thẩm định (giữa) và phiên bản được phê duyệt (phải).

Số trang, cách đánh số các đoạn, phân đoạn có thể thay đổi, nhưng đọc kỹ và so sánh các phiên bản tôi đã thấy nội dung cơ bản vẫn giữ nguyên, đặc biệt phần tác động môi trường khi các cống đi vào vận hành, và chế độ vận hành của các cống. Việc chỉnh sửa, bổ sung báo cáo ĐTM chỉ là kết quả sử dụng các thao tác “lược bỏ”, “chép” và “dán” trên máy tính. Nó đã không đi vào nội dung được yêu cầu mà chỉ làm mang tính hình thức, nghĩa là đã làm không nghiêm túc.

Quyết định phê duyệt 3805/QĐ-BTNMT, một số điều cần làm rõ

Quyết định của Bộ TNvMT phê duyệt báo cáo ĐTM của một dự án là một văn bản quan trọng để Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án. Vì vậy cần tiến hành hết sức khoa học, khách quan, tuyệt đối không bị chi phối bởi lợi ích ngành, lợi ích nhóm.

Quyết định 3805/QĐ-BTNMT có nhiều điều cần làm rõ. Chỉ xin nêu hai ví dụ.

Ví dụ 1. Tại Điều 1, khoản 2.8. “Xây dựng chế độ vận hành (đóng/mở) cống, điều chỉnh chế độ vận hành để giảm thiểu tác động đến tính tự nhiên của dòng chảy, xói lở đường bờ và môi trường, đa dạng sinh học; đảm bảo thuận tiện cho người dân và phương tiện giao thông thủy đi lại qua cống”.

Yêu cầu là vậy, trong khi sơ đồ vận hành cống trong ĐTM được phê duyệt là “Vào mùa khô (từ tháng 1÷6): chỉ đóng khoảng 20 – 26 ngày vào các tháng 2 đến tháng 5, trong 1 tháng chỉ đóng tối đa 6 ngày để kiểm soát mặn/ngọt; Vào mùa mưa (từ tháng 7÷12): bình thường hầu như cống mở cửa hoàn toàn trả lại gần như hiện trạng lòng sông tự nhiên, chỉ đóng vào thời điểm có xảy ra mưa lớn, lũ lớn và triều lớn” (trang 292).

Câu hỏi 1: Tại sao ĐTM vẫn được phê duyệt với một sơ đồ vận hành các cống quá sơ lược đưa ra nhằm mục đích giảm thiểu các tác động? để rồi yêu cầu xây dựng một chế độ vận hành khác?

Câu hỏi 2: Nếu không xây dựng được chế độ vận hành theo yêu cầu ở khoản 2.8. Điều 1 thì sao? Làm gì với công trình đã xây xong?

Ví dụ 2. Điều 1, khoản 3.1. “Chủ dự án chỉ được phép triển khai Dự án sau khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:

(a) Được Thủ tướng Chính phủ, Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư Dự án; bảo đảm các yêu cầu của Nghị quyết số 120 (…); phù hợp vói Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012-2020 được phê duyệt tại Quyết định số 1387/QD-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2012, Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL (điều chỉnh) trong giai đoạn tiếp theo (…).

Câu hỏi 3: Đầu tư cho Dự án giai đoạn 1 là 3309,5 tỷ đồng thuộc loại phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư. Tại sao có thêm Bộ NNvPTNT cho phép? 

Câu hỏi 4: Tuân thủ NQ 120 là yêu cầu cao nhất, hay là phù hợp với Quy hoạch thủy lợi 2012 cũng đủ, cho dù quy hoạch này (ban hành từ năm 2012) có những chỗ không phù hợp với quan điểm chỉ đạo của NQ 120 ban hành tháng 11.2017?

Hai câu hỏi 3 và 4 cần được làm rõ vì mập mờ ở các điểm này có thể mở ngõ cho việc “lách” để Dự án được Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư.

(b) Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật của Dự án (…) trình Bộ NNvPTNT phê duyệt.

Câu hỏi 5: Báo cáo NCKT là một tài liệu cốt lõi của Dự án, cần phải được hoàn thiện như Hội đồng thẩm định yêu cầu, trên cơ sở đó mới đánh giá ĐTM. Quan điểm của Bộ TNMT là thế nào mà lại phê duyệt ĐTM rổi yêu cầu báo cáo NCKT “tiếp tục hoàn thiện”?

Câu hỏi 6: Có gì đảm bảo là báo cáo NCKT của Dự án sẽ được “tiếp tục hoàn thiện” một cách nghiêm túc, sẽ không làm theo kiểu chỉnh sửa bổ sung báo cáo ĐTM? Bộ NNvPTNT là cấp phê duyệt báo cáo NCKT? Sẽ là một khe hở khổng lồ nếu Bộ NNvPTNT là cấp phê duyệt (vừa đá bóng vừa thổi còi)!

Chỉ hai ví dụ trên đây cho thấy văn bản 3805/QĐ-BTNMT có rất nhiều điểm cần làm sáng tỏ. Dự án HTTL CL-CB rất hệ trọng về nhiều mặt. Không thể chấp nhận bất kỳ một sự mập mờ nào cho phép nó được duyệt trái luật, như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong công văn 11482/VPCP-NN, ngày 24.11.2018, gửi Bộ NNvPTNT và các Bộ có liên quan về Dự án HTTL CL-CB.

 “Thông qua với điều kiện”, “phê duyệt với điều kiện” và trách nhiệm giải trình

Tham dự cuộc họp với hội đồng thẩm định, ngày 03.11.2018, tôi đã trải nghiệm một cuộc bỏ phiếu “thông qua với điều kiện …”. Sau khi biết kết quả tôi không chút hoài nghi rằng ĐTM rồi sẽ được phê duyệt, vì với các thủ thuật chỉnh sửa, cộng với những kỷ năng thuyết minh – thuyết phục, thì khả năng được phê duyệt không có gì là khó. Chấm đỗ một thí sinh không đạt yêu cầu, tầm tác hại không thể so sánh với “thông qua với điều kiện” một dự án tiêu phí nhiều ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước, chưa nói đến tác hại đến môi trường và sinh kế của người dân.

Phê duyệt ĐTM một dự án còn nhiều lỗ hổng “với điều kiện phải chỉnh sửa”, trách nhiệm còn nặng nề hơn. Nếu cánh cửa trước khi dự án được Thủ tướng cho phép đầu tư mà còn mập mờ và khe hở thì tác hại sẽ khôn lường.

Kiến nghị

  1. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết ý kiến về 6 câu hỏi nêu trên đây.
  2. Thủ tướng Chính phủ xem xét cẩn trọng việc duyệt đầu tư Dự án Hệ thống thủy Cái Lớn – Cái Bé; yêu cầu một lần nữa các Bộ ngành có liên quan đến Dự án thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng trong công văn 11482/VPCP-NN.
  3. Để bảo vệ môi trường, chống lãng phí và tham nhũng một cách thiết thực, để việc đầu tư công có hiệu quả, xin kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ phải luật hóa nghiêm minh trách nhiệm giải trình của những người ra hay tham gia quyết định bằng lá phiếu hay bằng văn bản.

Viết bổ sung

Khi bài viết này được gửi đến Thủ tướng Chính phủ, và bạn đọc, Ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chính thức ký quyết định 5078/QĐ-BNN-XD về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn- Cái Bé giai đoạn 1.

Tình hình đã diễn ra đúng như tác giả dự báo và tìm cách ngăn chặn. Thực tế càng cho thấy các câu hỏi cần được trả lời, các kiến nghị thêm nóng bỏng.

Chú thích: (1) Là đại biểu tham dự Hội đồng được Bộ TNMT mời, tôi đã tham dự, phát biểu nhưng không bỏ phiếu. Sau cuộc họp, tôi đã đề nghị với Tổng Cục Môi trường, cơ quan thẩm định ĐTM, gửi cho tôi biên bản cuộc họp, nhưng tôi không được hồi âm. Những ý kiến ghi lại trong bài này là do chính tôi ghi. GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI

IV. Để kết luận cho bài này, xin trích ý kiến của GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân tại hội nghị lấy ý kiến về dự án ngày 7.9 do Bộ NN-PTNT và UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức [10].

“Tôi dự hội nghị này với tư cách Trưởng ban Chỉ đạo nghiên cứu ngọt hóa bán đảo Cà Mau (trước đây). Chúng ta đã triển khai dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau, dự án cống đập Ba Lai (Bến Tre) đến nay tại sao không thành công? Trước khi triển khai các dự án mới phải trả lời câu hỏi vì sao các dự án cũ không thành công. Trở lại với công trình sông Cái Lớn – Cái Bé, thiếu nước ngọt chỉ là hiện tượng, phải tìm nguyên nhân đúng thì mới có giải pháp đúng”.

“Chúng ta đang sống trên một vùng mà hệ sinh thái rất đa dạng nhưng chúng ta đang đơn giản nó. Từ rất nhiều sản vật tự nhiên chúng ta gom lại chỉ còn cây lúa và con tôm. Ta đang nghèo hóa môi trường và hệ sinh thái của chúng ta. Dựa trên tinh thần Nghị quyết 120, tôi cho rằng cần cân nhắc thật kỹ, khách quan và khoa học. Nên có hội thảo về biện pháp phi công trình trước khi đưa ra quyết định cho một giải pháp công trình”.

H & H

Tham khảo

[1]  https://baocantho.com.vn/ban-ve-du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-a102369.html

[2]http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet-3365429/

[3] https://nguoidothi.net.vn/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-thong-qua-dtm-voi-ty-le-100-du-con-nhieu-tranh-cai-16266.html

[4] https://baocantho.com.vn/ban-ve-du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-a102369.html

[5]https://www.thesaigontimes.vn/279478/nhin-lai-cac-cong-trinh-ngan-man-hien-co-o-dbscl.html

[6]https://www.thesaigontimes.vn/273170/chuyen-gia-khong-can-thiet-phai-xay-dung-du-an-thuy-loi-cai-lon–cai-be-.html

[7]http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon–cai-be-nhung-phan-hoi-quy-bau-3365595/

[8]https://nguoidothi.net.vn/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-thong-qua-dtm-voi-ty-le-100-du-con-nhieu-tranh-cai-16266.html

[9] http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/phe-duyet-mot-dtm-va-trach-nhiem-giai-trinh-3372499/

[10]https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nguy-co-ngheo-hoa-ban-dao-ca-mau-1000792.html

 

Đoàn tàu tro xỉ

Cuối năm 2013, trên đường lái xe về quê ăn Tết dọc duyên hải miền Trung, chúng tôi dừng uống nước tại một quầy bán dưa hấu ven lộ. Gần đó, những mảng tường thép cùng ống khói sơn trắng – đỏ chọc thẳng lên nền trời xanh đầy nắng gió. Đó là nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, thuộc tổ hợp điện lực Vĩnh Tân, đang được xây dựng.

Trong câu chuyện, người bán hàng vui mừng vì huyện có nhà máy mới, sẽ có nhiều công nhân mua hàng của họ. Bà còn hy vọng tổ hợp điện lực sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân địa phương, “như lời các anh ở trển”.

Bẵng đi một thời gian, giữa tháng 4-2015, cuộc “tụ tập đông người” với quy mô chưa từng có đã diễn ra ở Bình Thuận. Nguyên nhân chính bởi những bức xúc chồng chất do ô nhiễm tạo ra bởi nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 khiến môi trường sống của dân cư bị bức tử.

Người dân Bình Thuận đã bức xúc không chỉ bởi những ống khói phá hỏng bầu trời, mà còn bởi một hậu quả khác của điện lực Vĩnh Tân: phát tán bụi và các chất độc hại từ bãi tro xỉ đang gây ô nhiễm nước ngầm, bức hại biển và nguồn lợi thủy sản – sinh kế của họ. Chỉ chưa đầy năm năm từ ngày tổ máy nhiệt điện than đầu tiên vận hành tại đây, số liệu của Bộ Công thương cho thấy bãi tro xỉ Vĩnh Tân đã chứa khoảng 4,5 triệu m3.

Lượng tro xỉ thải ra từ nhiệt điện Vĩnh Tân nếu chứa trong các container 40 feet với tải trọng 30 tấn, đặt trên các toa tàu thì phải cần đến gần 127.000 toa tàu. Đoàn tàu tro xỉ đó có chiều dài là 1.900 km, với đầu máy tại ga Sài Gòn và toa cuối ở ga Đồng Đăng. Đều đặn mỗi năm, điện lực Vĩnh Tân tạo ra một đoàn tàu tro xỉ dài như thế.

Nhưng Việt Nam không chỉ có mỗi điện lực Vĩnh Tân, mà còn điện lực Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), Mông Dương (Quảng Ninh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Quỳnh Lập (Nghệ An), Quảng Trạch (Quảng Bình), Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, Long An… và rất nhiều nữa. Chúng cũng đang và sẽ tạo ra những “đoàn tàu” tro xỉ khác.

Có một sự liên hệ đáng suy ngẫm về vụ “tụ tập đông người” ở Vĩnh Tân. Năm 2015 cũng là năm mà Việt Nam chính thức chuyển từ quốc gia xuất khẩu năng lượng sang nhập khẩu năng lượng, trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là than đá để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng cao của các nhà máy nhiệt điện.

Lịch sử hơn 120 năm xuất khẩu than đá của Việt Nam nay đã kết thúc để chuyển sang một trang mới. Trang mới này ngày càng “đen” hơn. Chỉ riêng năm 2018, số liệu thống kê cho thấy Việt Nam đã chi một số tiền kỷ lục là hơn 2 tỷ USD để nhập khẩu than đá. Thực tế thì tiêu thụ than đá của Việt Nam đã tăng phi mã đến 350% chỉ trong vòng 10 năm qua, so với tỷ lệ trung bình cùng giai đoạn toàn thế giới là 26%. Nhưng “cơn nghiện” than đá của Việt Nam vẫn chưa thấy điểm dừng, nếu không muốn nói là càng ngày nghiện càng nặng.

Các chất ô nhiễm phát thải từ nhiệt điện than trên thế giới từ lâu đã được xác định là thủ phạm gây ra ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất trồng, phá hủy các hệ sinh thái, và gây ra bệnh tật cho các cộng đồng dân cư. Không chỉ thế, nhiệt điện than còn bị chỉ đích danh là thủ phạm chính phát thải khí nhà kính, gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Năm 2016, nguyên Chủ tịch Ngân hàng thế giới Jim Yong Kim đã có một phát biểu chấn động: “Nếu Việt Nam tiến hành lắp đặt 40 GW nhiệt điện than và toàn bộ khu vực thực thi các kế hoạch nhiệt điện than, tôi nghĩ cuộc sống sẽ kết thúc. Đây sẽ là một thảm họa cho hành tinh của chúng ta”.

Chính sách lấy nhiệt điện than làm trụ cột phát triển nguồn điện của Việt Nam là rào cản thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch trong suốt thời gian qua. Chỉ riêng trong địa bàn huyện Tuy Phong đã thấy hai bức tranh đối lập. Phía Nam huyện là những cánh đồng điện gió đang chật vật vươn lên để tạo ra những dòng điện xanh trong sự đón chào của người dân. Phía Bắc của huyện là trung tâm điện lực Vĩnh Tân thuộc “diện bảo vệ an ninh đặc biệt”.

Hai bức tranh đối lập đó đủ để nói lên một nhu cầu cấp thiết hiện nay ở tầm vĩ mô: Chính phủ cần ban hành một bản quy hoạch điện lực mới, lấy năng lượng sạch làm trụ cột, đưa ra lộ trình từ bỏ hoặc hạn chế nhiệt điện than ở mức tối thiểu. Câu hỏi quan trọng nhất là: Làm sao để nền năng lượng quốc gia được đảm bảo an ninh an toàn, tạo ra sự thịnh vượng mà ở đó chất lượng sống của mọi người đều tốt hơn?

Bộ Công thương cho tới lúc này vẫn đang kêu gọi công luận “không nên cực đoan với nhiệt điện than” với lý do an ninh năng lượng quốc gia. Nhưng sự cảm thông không thể kéo dài vĩnh viễn, và người dân cần được nhìn thấy bản chiến lược năng lượng mới của quốc gia trước khi quá muộn.

ECIU, một tổ chức phi chính phủ, trong báo cáo năm 2016 đã “vinh danh” bốn “con hổ nhiệt điện than” châu Á gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam – nhóm quốc gia đóng góp đến 74% công suất nhiệt điện than toàn cầu. Sẽ chẳng ai tự hào khi được “vinh danh” như vậy.

“Việt Nam không thể hóa rồng trong khi xung quanh đầy bụi của nhiệt điện than” – Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, ông Ousmane Dione, đã nói như vậy.

Nguyễn Đăng Anh Thi

Nguồn: https://vnexpress.net/goc-nhin/doan-tau-tro-xi-3884638.html

Lập đoàn chuyên gia đánh giá hiện trạng bãi đá 7 màu

(Tin Môi Trường) – UBND tỉnh Bình Thuận yêu cầu đề xuất giải pháp để khôi phục bãi đá bảy màu, bãi rêu và khu vực liền kề đã bị san ủi trái phép, huyện Tuy Phong phải báo cáo trách nhiệm quản lý trước ngày 28-2.

Ngày 20-2, ông Nguyễn Đức Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã ký công văn gởi Sở TN&MT; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL), UBND huyện Tuy Phong liên quan đến việc bãi đá bảy màu ở xã Bình Thạnh (Tuy Phong) bị xâm hại nghiêm trọng.

Núi cát cao hơn 10m với độ dốc cao có thể sập xuống bãi đá bất cứ lúc nào

Công văn này yêu cầu Sở TN&MT chủ trì, phối hợp với Sở NN&PTNT; Sở VHTT&DL; UBND huyện Tuy Phong khẩn trương tổ chức đoàn công tác gồm các chuyên gia về tài nguyên môi trường, thủy lợi, bảo tồn bảo tàng kiểm tra, đánh giá cụ thể. Từ đó xác định chính xác hiện trạng, có báo cáo, đề xuất giải pháp khả thi để khôi phục, trả lại hiện trạng ban đầu cho bãi đá bảy màu, bãi rêu và khu vực liền kề đã bị san ủi trái phép.

UBND tỉnh giao Sở VH,TT&DL chỉ đạo Bảo tàng tỉnh đưa vào kế hoạch khảo sát, nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học và khoanh vùng bảo vệ thắng cảnh bãi đá bảy màu, bãi rêu. Hồ sơ này trình UBND tỉnh để xem xét, xếp hạng thắng cảnh cấp tỉnh vào năm 2020 sau khi đã thực hiện khôi phục cơ bản hiện trạng bãi đá bảy màu và bãi rêu.

Tỉnh cũng yêu cầu UBND huyện Tuy Phong có báo cáo cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước; hành vi vi phạm trên lĩnh vực đất đai tại khu vực bãi đá 7 màu, bãi rêu, kết quả chỉ đạo xử lý vụ việc nói trên. Thời gian báo cáo, đề xuất cho UBND tỉnh chậm nhất trước ngày 28-2.

Như tin đã đưa, từ đầu tháng 1-2019, ông Cao Văn Cư, một hộ dân ở đây đã lấn chiếm hơn 4.000 m2 đất công, tự ý thuê xe xúc, xe ủi san lấp mặt bằng. Núi cát do hoạt động san lấp đã lấp một phần bãi đá bảy màu, làm biến mất bãi đá con, đe dọa bãi rêu và phần còn lại bãi đá. Đáng ngạc nhiên là ông Cư đưa cơ giới vào san lấp rầm rộ, ngày đêm, tác động đến một địa chỉ du lịch nổi tiếng và độc đáo nhưng không hề bị chính quyền ngăn chặn mà chỉ lập biên bản rồi để đó.

Sau khi báo phản ảnh sự việc, Sở  VH,TT&DL Bình Thuận đã cử đoàn công tác đến kiểm tra. Qua kiểm tra, Đoàn công tác cho biết, việc san ủi trái phép đất, cát từ trên đồi xuống phía biển với chiều dài khoảng 100m dọc bãi biển đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thắng cảnh bãi đá bảy màu và bãi rêu. Cụ thể, tại trước bãi đá Bà Khòm (bãi rêu) đã bị cát phủ ra tới mép nước biển, hiện đã không còn nhìn thấy bãi đá con phía trước; tại bãi đá bảy màu cũng bị cát phủ lấp một phần. Việc san ủi trái phép nêu trên đã phá hủy toàn bộ thảm thực vật trên mặt đất và dải phân cách tự nhiên (cây bụi, xương rồng) kéo dài khoảng 100m ngăn cách giữa bãi biển với thửa đất liền kề bị san ủi trái phép. Nguy cơ cát tiếp tục phủ lấp lên trên bãi rêu và bãi đá bảy màu là rất cao.

Theo Đoàn công tác, hiện nay UBND huyện Tuy Phong đang bố trí phương tiện cơ giới để đưa phần cát tràn lấp ra bãi biển lên phía trên, dự kiến sẽ trồng phi lao để chắn gió và ngăn cát tràn xuống biển. Tuy nhiên, xét về trực quan thì giải pháp này không khả thi về trước mắt cũng như lâu dài.

Tiếp đó, ông Hồ Lâm, Giám đốc Sở TN&MT Bình Thuận đã có văn bản hỏa tốc gởi UBND huyện Tuy Phong. Theo Sở TN&MT, khu vực ven biển xã Bình Thạnh thuộc đoạn TP 5.2 là khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển quốc gia trong đó có bãi đá bảy màu.

Khu vực này được thiết lập với ba tiêu chí: Bảo vệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên vùng bờ; giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. Sở TN&MT Bình Thuận đề nghị chủ tịch UBND huyện Tuy Phong thực hiện nghiêm quy định tại theo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và đầy đủ các nội dung của chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã chỉ đạo về hành lang bảo vệ bờ biển.

Toàn cảnh bãi đá bảy màu và bãi rêu bị xâm hại nhìn từ trên cao

Núi cát do san ủi trái phép xâm hại nghiêm trọng bãi đá
Đá bà khòm (bãi rêu) trước nguy cơ bị núi cát đe dọa
Huyện Tuy Phong điều cơ giới ra khắc phục nhưng không khả thi

Nguồn: http://www.tinmoitruong.vn/bao-ve-moi-truong/lap-doan-chuyen-gia-danh-gia-hien-trang-bai-da-7-mau_80_55503_1.html

Kênh xáng Xà No

ĐÌNH TUYỂN

Kênh xáng Xà No dài 40 km, bắt nguồn từ ngã ba Vàm Xáng, sông Cần Thơ (nhánh lớn sông Hậu), đoạn qua huyện Phong Điền chạy dài tới ngã ba sông Ba Voi (Hậu Giang) trước khi đổ ra sông Cái Lớn (Kiên Giang) chảy ra biển Tây. Con kênh được người Pháp thi công bằng cơ giới, chỉ trong 2 năm (từ 1901 – 1903) đã hoàn thành, mặt kênh rộng 60 m, đáy 40 m; phí tổn lên tới gần 3,7 triệu quan (Franc). Đây cũng là công trình đường thủy lớn đầu tiên của Nam kỳ có thể so sánh với việc thiết lập đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho.

Cải tạo vùng “đất chết”

Ngồi quây quần cùng con cháu trong căn nhà sát bờ kênh xáng Xà No, cụ ông Nguyễn Văn Kiểu (92 tuổi, ngụ xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, Hậu Giang) không nhớ hết tên cháu chắt của mình nhưng thuộc vanh vách những câu chuyện về con kênh xáng trước nhà. Câu chuyện của ông Kiểu thường bắt đầu từ tên con kênh. Cụ bảo, người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của phum Sok Snor (phum có nhiều cây điên điển của người Khmer), nơi con kênh chảy qua. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

Gốc gác xứ Sóc Trăng, cụ Kiểu theo cha mẹ lưu lạc về vùng đất dọc kênh Xà No khai khẩn, lập nghiệp từ khi mới 5 tuổi. Cụ nhớ cả vùng đất từ Một Ngàn, Bảy Ngày cho tới Vị Thanh, Hỏa Lựu thuở ấy toàn là rừng trũng, đầy cỏ năn, cỏ lác. Mùa mưa ghe xuồng luồn lách đi được nhưng ít ai dám vào sâu bên trong vì toàn cá sấu, cọp beo… Còn mùa nắng, lại toàn là phèn, chẳng trồng được cây gì. “Cả chục năm sau khi Pháp đào con kênh, đưa nước ngọt từ Hậu Giang về thau chua, rửa phèn, lúa mới trúng, nhà máy xay xát của điền chủ mọc lên, ghe lúa, rồi dân thương hồ tứ xứ qua lại con kênh, chợ búa hình thành, người dân về lập nghiệp kín bờ kênh”, cụ Kiểu kể.

Người về dựng lều, nhà cửa kín bờ kênh, họ lại lấn vào trong 2 – 3 lớp nhà, dần dần hình thành xóm, thành làng. Ở các ngã ba, ngã tư sông tập trung nhiều hộ dân thì mở chợ, xây đình, cất trường học. Sống nơi sông sâu nước chảy, đất ruộng thẳng cánh cò bay, nông dân làm tá điền tuy có vất vả, nhưng “làm chơi mà ăn thiệt” sạ lúa bỏ đó, cuối mùa cũng gặt hái 5 – 7 giạ/công.

Cánh đồng lớn

Khi đã có con kênh xáng, những năm 1920 – 1930, Pháp đẩy mạnh việc khai thác đất đai. Dọc hai bên bờ kênh được quy hoạch thành những cánh đồng lúa bạt ngàn. Đó là những điền Bảy Ngàn của Tây Albert, một trong những điền chủ lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ với trên 30.000 mẫu đất, hơn 3.000 hộ tá điền. Mỗi năm Tây Albert thu lúa ruộng, lúa vay hàng triệu giạ. Nơi kho chứa lúa và nhà của Tây Albert tại thị trấn Bảy Ngàn được người dân gọi là Lầu Trắng rộng hơn 1 ha. Những cánh đồng nhỏ hơn như điền Tây Duval và điền Tây Guery cũng sở hữu 2.500 mẫu; điền do các công ty của Pháp đầu tư, quản lý, khai thác chí ít cũng 10.000 mẫu.

Đoạn đầu kênh xáng Xà No tiếp giáp với sông Cần Thơ (H.Phong Điền, TP.Cần Thơ)

Nhâm nhi ly trà bên quán nước cạnh Bảo tàng Cần Thơ, soạn giả Nhâm Hùng, người dành nhiều thời gian nghiên cứu về văn hóa Nam bộ, bảo rằng: “Tới bây giờ ta mới đẩy mạnh các mô hình cánh đồng lớn và xem đó như là hướng đi của nông nghiệp sản xuất tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật. Ấy thế mà những năm đầu thế kỷ 20, bằng việc đào kênh xáng Xà No, người Pháp đã hình thành những điền trại quy mô hàng chục ngàn héc ta, máy cày đã chạy sáng đồng ở vùng đất này”.

Chỉ trong một thời gian ngắn, kênh xáng Xà No đã làm thay đổi diện mạo một vùng đất úng ngập, ứ phèn quanh năm. Diện tích ruộng đất hai bên bờ kênh lại được mở rộng hơn khi những chuyên gia thủy lợi Pháp cho đào tiếp hệ thống kênh nhỏ “xôm lươn” (như xương cá) để điều hòa dòng chảy. Cứ cách 500 m xẻ một kênh nhỏ; cách 1.000 m đào con kênh lớn hơn. Các con kênh nhỏ đào sâu và hai bên xáng Xà No 1.000 m được nối bằng những con kênh sườn, phân đất ra như những ô bàn cờ. Việc tưới tiêu nhờ đó mà ngày càng thuận lợi, giúp các chủ điền mở rộng thêm diện tích, tăng năng suất, sản lượng lúa. Từ việc Tây Albert cho đánh số các kênh thủy lợi trên diện tích đất của mình mà sau này còn hình thành nên những đơn vị hành chính, như thị trấn Một Ngàn, thị trấn Bảy Ngàn, Hai Ngàn Rưỡi… Chỉ 5 năm sau ngày đào kênh xáng Xà No, lúa gạo miền Hậu Giang đưa đi xuất cảng tăng vọt: chiếm đến 900.000 tấn, trong tổng số 1,3 triệu tấn của toàn Nam kỳ.

Di sản thủy lợi

“Nếu người Pháp thời đó không đào kênh xáng Xà No thì cho đến bây giờ, chúng ta cũng khó mà làm được”, TS Dương Văn Ni, chuyên gia về đa dạng sinh học, khẳng định. Ông phân tích: Không chỉ khơi thông vùng đất trũng nhất của ĐBSCL là Vị Thanh – Long Mỹ – Phụng Hiệp (Hậu Giang), kênh xáng Xà No giúp vùng nông nghiệp trọng điểm Thới Lai, Cờ Đỏ của Cần Thơ thoát lũ mỗi năm. “Kênh Xà No còn là đường đi tắt từ Cần Thơ xuống Kiên Giang cực kỳ dễ dàng nhờ sự giao thoa giữa chế độ bán nhật triều (ngày 2 con nước lớn – ròng) của sông Hậu và nhật triều (chỉ 1 con nước lớn – ròng) của sông Cái Lớn”.

Soạn giả Nhâm Hùng nói, cơ giới của người Pháp không chỉ cải tạo vùng đất “chết” thành vùng ngọt hóa, xanh tốt mà còn hình thành nên nền “văn minh kênh xáng”. Nó bắt đầu từ việc cơ giới hóa thủy nông, tiếp cận với sản xuất bằng cơ giới, sản xuất lớn. Sau đó, việc phát triển của công nghiệp xay xát, nghề buôn bán, dịch vụ trên sông… Nhiều khu chợ cũng hình thành từ đó như chợ Vàm Xáng (lập năm 1907), chợ Một Ngàn, chợ Bảy Ngàn, chợ Cái Nhum, chợ Hỏa Lựu. Đặc biệt hơn là chợ nổi Cái Răng, Phong Điền. Tại chợ Cái Răng, hàng chục nhà máy xay xát hình thành bên cạnh các chành lúa khổng lồ. Các ghe lúa tập nập mua gom từ Rạch Giá, Bạc Liêu và vùng lân cận kênh xáng Xà No đưa về đây xay xát, rồi chở lên Chợ Lớn xuất cảng. Kênh xáng Xà No trở thành “con đường lúa gạo” lớn sầm uất nhất Đông Dương.

Đồ họa: Duy Quang | Ảnh: Đình Tuyển

https://thanhnien.vn/doi-song/kenh-dao-huyen-thoai-mien-tay-mo-con-duong-lua-gao-tu-vung-dat-sau-loi-cop-dua-1048395.html