Từ Bến Lội đến Ngã ba suối Sơn Thái, chân đèo Khánh Lê

Những năm trước, Bến Lội ở chân đèo Khánh Lê là điểm dừng chân học tập và giải trí của đoàn Thực tập môi trường đại cương, Khoa Môi trường. Tại đây – cảnh quan đẹp và hoang sơ, sinh viên được nghe giảng về tài nguyên nước đầu nguồn sông Cái Nha Trang, được lội nước, chơi trò cân bằng đá và tạo kiểu chụp hình cùng nhau, cùng với thày cô.

Năm nay, có một điểm học tập mới hấp dẫn hơn hẳn Bến Lội, đó là Ngã ba suối Sơn Thái. Ngã ba suối Sơn Thái trong một thung lũng rộng để lộ một cảnh quan y như các mô hình trong sách giáo khoa về địa mạo dòng chảy với sự đa dạng địa hình: bãi bồi lòng sông, các bậc thềm, các vết lộ đá gốc, các vách xói lở, các mặt trượt do xâm thực chân vách…

Ngã ba suối Sơn Thái – một điểm học tập hay, một điểm giải trí lý thú, một cảnh tự nhiên đẹp không thể không dừng lại mỗi khi đi qua.

Từ Bến Lội

Năm 2011, lấy lí do tuyến đường đèo Ngoạn Mục đang sửa chữa nên các bác tài đề nghị đi đèo Khánh Lê xuống Nha Trang. Thực ra các bác tài thích đi tuyến này hơn vì rút ngắn lộ trình tới 90 km.  Vậy là phải bổ sung mấy điểm mới cho tuyến hành trình thực tập, chưa có lộ trình tiền trạm nên phụ trách đoàn vừa đi vừa tìm điểm dừng để sinh viên học tập. Bến Lội là một điểm như vậy.

Xuống chân đèo Bidoup – Khánh Lê thường vào khoảng 11:00; đoàn dừng lại nghỉ ăn trưa, mấy quán lợp tole đơn giản là nơi thày cô và sinh viên lấy cơm hộp ra ăn, gọi nước uống. Cơm, nước xong; đi khảo sát loanh quanh, phát hiện một lòng suối có bãi cuội rộng khoảng 50 m, kéo dài tới 200 m, nước ngập chưa đến đầu gối, chảy nhẹ; thế là cả đoàn xuống vui chơi, giải trí cả một giờ đồng hồ.

Từ những năm sau đó, Bến Lội chính thức được đưa vào chương trình học tập. Bến Lội được xem là điểm chuyển tiếp lộ trình giữa núi – cao nguyên sang đồng bằng ven biển. Tại đây có quán Bến Lội, chủ quán làm bậc thềm xuống bãi nên rất tiện cho việc đi lại.

Bến Lội 27.07.2012
Bến Lội 25.07.2913
Bến Lội 24.07.2015
Bến Lội: 22.07.2016

Thày Tự Thành (trưởng đoàn) có ý định không ăn cơm hộp buổi trưa tại Bến Lội nữa; được thày Cảnh giới thiệu quán Chân Đèo có ông chủ quán luôn vui vẻ và giá cả phục vụ phải chăng. Thế là năm 2016, qua điện thoại đoàn đặt cơm trưa tại quán Chân Đèo. Cơm nóng, đồ ăn ngon, giá tốt, chủ quán nhiệt tình (xem Nhật kí thực tập môi trường 2016). Cơm trưa xong, thày trò hành quân xuống Bến Lội khoảng 1 km.

Năm ngoái cũng vậy, cơm trưa xong, thày trò lại hành quân xuống Bến Lội nhưng chuẩn bị theo bậc thềm xuống bãi thì bị chủ quán làm khó – nguyên nhân có lẽ là đoàn đặt ăn ở quán Chân Đèo. Trưởng đoàn nói gì đó, rồi chủ quán cũng cho qua. (Thực ra thì đoàn đã liên hệ đặt ăn tại quán Bến Lội rồi, nhưng mắc nên  thôi).

Đến Ngã ba suối Sơn Thái

Năm nay chủ quán Chân Đèo (ông Nguyễn Luật) liên hệ với địa phương (lãnh đạo xã Sơn Thái) và trực tiếp dẫn đoàn đến bãi Ngã ba suối (tạm gọi Ngã ba suối Sơn Thái). Ngã ba suối đẹp đến không ngờ cả về cảnh quan địa mạo và những vết lộ địa chất, địa chất môi trường.

Ngã ba suối Sơn Thái cách Bến Lội hơn 1 km về phía thượng nguồn. Có thể sơ bộ về địa tầng, địa mạo và các vấn đề môi trường tại đây như sau:

Về địa chất: Ven suối lộ đá phiến màu đen thuộc hệ tầng La Ngà, phía trên là vỏ phong hóa có màu nâu đỏ dày tới 10 m. Giữa lòng suối, rải rác nhô lên các khối đá granit thuộc phức hệ Đèo Cả. Bãi đá cuội, tảng mài tròn kích thước từ vài cm đến 30 – 50 cm, một số tảng tới 1,0 m chủ yếu có màu xám sáng với ba loại đá cơ bản gồm ryolit, ryodacit; granit và đá phiến. Nhìn chung kích thước cuội tảng lớn hơn bãi đá Bến Lội.

Về địa mạo: các tích tụ lòng suối và bãi bồi cuội tảng, cát phân bố bên bờ lồi khúc uốn;  vách xói lở, vách trượt đất phân bố nơi lạch sâu áp sát bờ. Một hệ thống bậc thềm quan sát khá rõ: Thềm 1 nguồn gốc tích tụ, cao 3,0 – 4,0 m gồm các lớp sạn, sỏi xen các lớp cuội. Thềm 2 nguồn gốc xâm thực, cao 7,0 -8,0 m. Thềm 3 cũng là thềm xâm thực, cao 10 – 12 m. Thềm 2 và thềm 3 đều lộ vỏ phong hóa từ trầm tích La Ngà.

Về môi trường: các vách xâm thực và mặt trượt mới xảy ra lộ rất rõ, việc canh tác (chặt bỏ lớp phủ thực vật) gây xói mòn đồi thềm cao dẫn đến tích tụ trên mặt thềm thấp.

Chủ quán Chân Đèo vừa đọc thơ, vừa mời rượu các thày, cô trong bữa cơm trưa
Trước khi dẫn đoàn xuống suối, chủ quán dừng lại đọc thơ
Chân vách trượt lộ đá phiến sét màu xám đen (đá gốc) phân lớp mỏng cắm dốc 70o về lòng suối
Xâm thực để lộ các khối đá granit giữa lòng suối
Trong một khung hình có nhiều dạng địa hình: thềm 1, thềm 2, thềm 3; trầm tích cuội lòng suối, xâm thực lộ đá granit, đá phiến sét và vết trượt thềm 2 và 3
Thềm 1 xâm thực mạnh vào kỳ mưa lũ
Vách xâm thực để lộ cấu tạo thềm bậc 1
Đá phiến sét phân lớp mỏng, mặt lớp láng bóng trở thành mặt trượt. Quá trình xâm thực chân vách dẫn đến hình thành khối trượt kiểu tịnh tiến
Cuội, sỏi lòng sông là nguồn vật liệu xây dựng của người dân
Ngã ba suối là nơi “bẫy” nhưng khối gỗ lớn mà ai đó đã (khai thác) trên vùng núi cao

H & H

Advertisements

Vài nét về địa mạo bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận

Hà Quang Hải

Bờ biển từ mũi Cá Tiên đến cửa Đầm Nại dài khoảng 50 km, là đường biên phía đông của Vườn quốc gia Núi Chúa. Dọc theo bờ biển này, nguồn tài nguyên biển có sự đa dạng và phong phú, đặc biệt là san hô. Dọc theo bờ biển này có những điểm du lịch đẹp như Bãi biển Bình Tiên, Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, Công viên Đá, Hòn Đỏ…được nhiều du khách biết đến.

Có thể nói, nguồn tài nguyên biển phong phú, cảnh quan biển đẹp của dải bờ này được hình thành và phát triển trền nền tảng yếu tố địa chất, địa mạo với sự tương tác lâu dài của quá trình nội sinh và ngoại sinh: nội sinh với sự bóc lộ thể batholith Núi Chúa cùng với những hệ thống khe nứt dầy đặc; ngoại sinh là quá trình phong hóa và phá hủy của sóng biển vào bờ đá, vào các hệ thống khe nứt để hình thành các vách biển dốc đứng, các vịnh biển, các bậc thềm biển, hang đá, cột đá và các khối đá chồng…

Dưới đây trình bày vài nét về địa mạo bờ biển thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa ghi nhận được trong quá trình hướng dẫn sinh viên Khoa Môi trường thực tập thực tế. Hy vọng những nghiên cứu chi tiết sẽ được tỉnh Ninh Thuận, Vườn quốc gia Núi Chúa cũng như các nhà khoa học Trái đất thực hiện trong tương lai.

Các hệ thống khe nứt kiểm soát phương và hình thái địa hình bờ biển

Các đá magma xâm nhập cấu tạo Núi Chúa được các tác giả thuộc công trình lập bản đồ địa chất 1:200.000 xếp vào phức hệ Đèo cả tuổi Kreta [1]. Dọc bờ biển từ mũi Cá Tiên đến mũi Thị phần lớn lộ đá thuộc phức hệ này. Theo tầu du lịch từ cửa Vĩnh Hy về phía nam qua mũi Thủ có thể quan sát các vách đá dốc đứng cao tới 30 m để lộ những hệ khe nứt đứng dầy đặc (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống khe nứt lộ trên vách biển tại mũi Thủ

Tại mũi đá phía nam Bãi Cóc, hai hệ thống khe nứt dốc đứng rõ nét có phương 195o (á kinh tuyến) và 150o (tây bắc-đông nam). Các khe nứt dày, cách nhau từ vài cm đến 20 cm (Hình 2). Kém rõ hơn là hệ khe nứt phương đông bắc và á vĩ tuyến. Tại đây cũng quan sát một hệ khe nứt dạng lớp (Sheet fracture) cắt ngang hệ khe nứt đứng (Hình 3). Hệ khe nứt dạng lớp là cơ sở tạo nên dạng địa hình phân bậc tại các mũi đá (Hình 4) và rải rác chân các vách đá dọc bờ biển. Dọc theo vách biển quan sát khá rõ hệ thống khe nứt này (hình 5).

Hình 2. Các hệ thống khe nứt tại mũi đá Nam Bãi Cóc
Hình 3. Hệ khe nứt dạng lớp cắt ngang hệ khe nứt đứng
Hình 4. Hệ thống khe nứt dạng lớp tạo địa hình phân bậc tại các mũi đá
Hình 5. Hệ thống khe nứt dạng lớp cắt ngang các hệ thống khe nứt đứng là cơ sở hình thành các bậc địa hình chân vách biển

Dễ dàng nhận thấy các hệ thống khe nứt có vai trò kiểm soát phương và hình thái đường bờ biển đá granit. Các đoạn bờ có vách dốc đứng phương á kinh tuyến chiếm ưu thế, điển hình là mũi Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và bờ biển cửa rạch Thái An đến mũi Thị (dài 6,3 km). Bờ biển phương tây bắc – đông nam rõ nhất bao gồm các đoạn bờ khu vực Bãi Rạng (dài 2,8 km); hướng kéo dài vịnh Vĩnh Hy, suối Sâu,  rạch Thái An cũng theo phương hệ khe nứt này. Đoạn bờ từ cửa rạch Vĩnh Hy đến cửa rạch Thái An là sự xen kẽ cả bốn hệ thống khe nứt, trong đó chiếm ưu thế là phương á kinh tuyến và tây bắc – đông nam.

Hệ thống khe nứt dạng lớp là cơ sở hình thành địa hình dạng bậc trên các sườn núi, vách biển và mũi nhô. Hệ thống khe nứt này cũng là cơ sở cho sự hình thành dạng địa hình đá chồng quan sát được nhiều vị trí dọc bờ biển.

Địa hình đá rơi, đá đổ chân vách biển

Hang Rái được hình thành do các khối đá rơi từ vách biển dốc. Vách dốc này bị chia cắt bởi các hệ thống khe nứt đứng và dạng lớp; quá trình phong hóa phát triển theo các hệ khe nứt dần làm các khối đá rơi xếp chồng chất lên nhau tại chân vách (Hình 6), tác động lâu dài của sóng biển làm các khối đá được mài trơn. Những khoảng trống giữa các khối đá được gọi là “hang”, trường hợp Hang Rái được hình thành theo hình thức này (Hình 7).

Hình 6. Các hệ khe nứt đứng và ngang chia vách đá thành các khối tảng đủ loại kích thước và hình dạng. Quá trình phong hóa theo hệ thống khe nứt dần làm các khối đá rơi xuống chân vách. Hình ảnh này cũng cho gợi ý về sự hình thành các khối đá, cột đá chồng
Hình 7. Hang Rái là các khoảng trống được hình thành từ các khối đá rơi từ vách đá

Công viên Đá Láng Chổi

Công viên Đá phân bố khu vực núi Láng Chổi thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Từ đèo Dinh Bà đi theo đường mòn qua khu rừng khô hạn về phía nam khoảng 1 km sẽ đến Công viên Đá. Chúng tôi đề nghị đặt tên Công viên Đá này là Công viên Đá Láng Chổi.

Công viên Đá Láng Chổi là bề mặt thềm biển cao 70 – 80 m hơi nghiêng thoải từ tây sang đông (về phía biển). Các diện tích bằng phẳng có lớp cỏ mỏng và những loài cây phát triển trong điều kiện khô hạn (thấp, lá nhỏ, nhiều gai). Nhô trên mặt bằng là các dải đá, các gò đá, cột đá cao từ 1,0 – 2,0 m đến 5,0 – 7,0 m (Hình 8). Các khối đá đổ trên mặt bằng nằm chen với thực vật, vách thềm xuống mặt biển rất dốc, lộ toàn đá khối (Hình 9).

Trên mặt một số khối đá quan sát được hiện tượng phong hóa bóc vỏ (Hình 10) và các dạng địa hình tafoni (Hình 11).

Hình 8. Các dải đá, cột đá, đá chồng nhô trên mặt bằng (bãi biển cổ). Ảnh: Nguyễn Trường Ngân
Hình 9. Vách thềm biển dốc lộ toàn các khối tảng đá granit
Hình 10. Phong hóa bóc vỏ (bóc vỏ củ hành) trên đá granit
Hình 11. Tafoni do phong hóa muối trên đá granit tại Công viên đá Láng Chổi

Các khối đá chồng phân bố rải rác trong Công viên Đá và trên bề mặt thềm biển cao 80 m, điển hình là khối đá dạng cầu, đường kính khoảng 5 m (Hình 12).

Các hệ thống khe nứt và quá trình phong hóa bóc mòn là yếu tố chính trong việc hình thành khối đá chồng. Hệ khe nứt trực giao cắt nền đá granit thành các khối tảng to nhỏ, quá trình phong hóa và vận động nâng từ từ của mặt đất đã phá hủy các khối đá, mang đi các vật chất vụn bở, chỉ còn các khối lõi đá ở trạng thái cân bằng nhất tồn tại. Hình 13 là phác thảo của Geikie về các giai đoạn hình thành khối đá chồng.

Hình 12. Khối đá chồng dạng cầu có đường kính khoảng 5,0 m trên đường vào Công viên Đá. Có thể thấy các mặt khe nứt trực giao vẫn còn khá rõ trên khối đá này. Ảnh: Nguyễn Hoài Phương Duy.

Hình 13. Phác thảo thể hiện các giai đoạn hình thành đá chồng của Geikie; hình (a): (i) đá granit gốc, (ii) lõi đá trong vụn sét phong hóa, (iii) thổ nhưỡng; hình b: (i) nước thấm xuống theo hệ khe nứt, (ii) đá granit phong hóa với các lõi đá còn lại, (iii) xói mòn mang đi các vụn, sét, để lại các lõi đá. Nguồn [25]
Các mảnh thềm đá vôi san hô ven bờ biển

Từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, các mảnh thềm cấu tạo bởi cát kết vôi san hô và rạn san hô (gọi chung là đá vôi san hô) phân bố rải rác nhô trên mặt biển khi thủy triều xuống thấp. Tại một số nơi, người dân đã khai thác đá vôi san hô làm vật liệu xây dựng.

Tại Hang Rái, mảnh thềm đá vôi san hô phân bố ven theo bờ đá granite phương đông bắc –tây nam khoảng 100 m, nơi rộng nhất khoảng 40 m (Hình 14). Bề mặt thềm cao khoảng 5,0 m so với mặt biển (triều xuống thấp). Mặt thềm khá bằng phẳng, quá trình xâm thực rửa trôi đã hình thành bề mặt đá tai mèo lởm chởm, trên mặt thềm còn có những hố tròn (hố nồi), hố hình trái tim gây sự tò mò và là những câu hỏi đối với du khách (Hình 15). Chân vách thềm có hõm gặm mòn dạng hàm ếch. Hõm gặm mòn làm cho mặt thềm yếu dần và dẫn đến sự sập đổ.

Hình 14: Mảnh thềm đá rạn san hô tại Hang Rái là một trong những điểm thăm quan, thưởng ngoạn của du khách
Hình 15. Đá tai mèo và các hố nồi (vi địa hình) trên mặt thềm san hô. Các dạng vi địa hình này đang bị các bàn chân của du khách hủy hoại

Dọc bờ biển Mỹ Hòa – Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô dài tới 10 km từ  mũi Thị đến hòn Chồng. Thềm bị sóng phá hủy mạnh tạo thành bãi ngầm (chỉ lộ ra khi thủy triều xuống thấp) (Hình 16).

Hình 16. Bãi san hô ngầm tại Mỹ Hòa

Tại Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô khá giống ở Hang Rái. Các mảnh thềm sót có diện tích nhỏ, cao hơn mặt biển khoảng 4,0 m (Hình 17); phía trong bờ bề mặt bị phủ bởi lớp cát màu xám vàng. Chân khối có hõm gặm mòn và mặt thềm cũng đang bị sóng phá hủy.

Hình 17. Mảnh thềm đá vôi san hô tại Mỹ Tân

Hòn Đỏ là một mũi nhỏ nhô ra biển, được cấu tạo bởi cát kết vôi, cao khoảng 3-4 m. Chân khối cũng có hàm ếch gặm mòn sâu 1,0 m. Phủ trên cát kết vôi là cát màu đỏ nhạt (Hình 18), đó cũng là lí do mà địa danh này mang tên hòn Đỏ. Khu vực hòn Đỏ hiện là nơi bảo tồn rạn san hô của tỉnh Ninh Thuận.

Hình 18. Cát đỏ nhạt phủ trên cát kết vôi bị đang bị sóng phá hủy

Tại Khánh Nhơn, các khối đá vôi san hô lộ thành những diện tích nhỏ nhô cao trên mặt nước biển khoảng 1,5 – 2,0.

Hình 19. Mảnh thềm cát kết san hô tại Khánh Nhơn

Cho đến nay, chỉ thấy thông báo của Henri Fon Taine về thể địa chất này [2]. Theo thông báo này, đây là đá cát kết vôi (chứa vụn san hô, sò ốc, foraminifera) phân bố rải rác từ Tuy Phong đến Phan Rang tạo thành thềm cao 15 – 19 m. Dựa vào quan hệ địa chất, ông xếp đá cát kết vôi hình thành trong giai đoạn gian băng Mindel –Riss (Cách ngày nay 430.000 – 240.000 năm); cát đỏ trẻ hơn, hình thành trong giai đoạn gian băng Riss – Wurn (Cách ngày nay 180.000 – 120.000 năm).

Dựa vào không gian phân bố, độ cao các mảnh thềm đá vôi san hô từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, chúng tôi giả thiết rằng đã từng tồn tại rạn san hô riềm (fringing reef) bám theo bờ đá granit ? trong giai đoạn biển tiến Flandrian?.

Thay lời kết

Hầu hết các điểm đến của du khách dọc ven bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa đều gắn với các thuật từ của khoa học địa mạo về các dạng địa hình như Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, thềm san hô hay một quá trình địa chất như phong hóa bóc vỏ hành, đá tai mèo, tổ ong…Diễn giải sự hình thành các dạng địa hình sẽ hấp dẫn du khách hơn nữa (như giải thích sự hình thành các khối đá chồng chẳng hạn) khi họ đến thăm quan các điểm đến này.

Khi hiểu rõ đặc điểm của từng dạng địa hình, việc khai thác các giá trị (khoa học, sinh thái, thẩm mỹ, lịch sử/văn hóa…) cũng như bảo tồn chúng sẽ thực sự hiệu quả. Có thể lấy ví dụ cho trường hợp Hang Rái:

– Đó là sự hình thành vách biển, mô hình đá chồng, đá rơi chân vách (tạo Hang Rái); hay thềm đá vôi san hô có bề mặt hình thành dạng địa hình tai mèo (thường xuất hiện trên đá vôi), các hố hình tròn hoặc trái tim xen giữa tai mèo, hay hõm gặm mòn chân vách thềm do hoạt động của sinh vật và sóng biển.

– Hiểu được quá trình hình thành vách biển sẽ bố trí những tuyến thăm quan, những điểm nhìn an toàn cho du khách (tránh được những rủi ro vì đá có thể rơi bất cứ lúc nào), nghiêm cấm du khách leo trèo trên các khối đá, vách đá chênh vênh.

– Hiểu được giá trị các dạng địa hình sẽ giúp việc bảo tồn tốt hơn như: trên mặt thềm san hô cần tạo một lối đi cho du khách để duy trì lâu dài dạng vi địa hình đá tai mèo, hố nồi, hố trái tim…

Một dải bờ biển có sự đa dạng các yếu tố địa chất địa mạo, rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế, phổ biến khoa học gắn liền với công tác bảo tồn. Vì vậy, những nghiên cứu sâu, chi tiết nên được triển khai.

Lời cảm ơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Vườn Quốc Gia Núi Chúa đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thực tập của sinh viên ngành Khoa học môi trường vừa qua; cảm ơn anh Hoàng Công Thành, anh Cao Thành Ngon, chị Nguyễn Thị Nhụ (công tác tại TT. Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường, Vườn Quốc gia Núi Chúa) đã giúp đoàn thực tập về kế hoạch học tập, nơi ăn ở và trực tiếp giảng bài cho sinh viên tại thực địa.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Xuân Bao và nnk. Bản đồ địa chất khoáng sản tờ tỷ lệ 1:200000 tờ Đà Lạt-Cam Ranh (C-49-I & C-49-II) do Cục Địa Chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản năm 1999.

[2]. Henri Fon Taine. Nhận xét về các thành tạo duyên hải Đệ tứ ở Nam Trung Bộ. Arch Geol Vietnam. No 15, 1972 (bản dịch của Nguyễn Anh Tuấn).

[3]. C.R. Twidale and J. R. Vidal-Romani. Landforms and Geology of Grani te T errains. DOI: 10.13140/RG.2.1.1595.6722.

 

 

 

 

 

Nửa ngày khảo sát xói lở bờ biển Dương Tơ đảo Phú Quốc

Ngày 10 tháng 6, Lê Hoài Nam rủ đi xem xét hiện tượng xói lở bờ biển đảo Phú Quốc theo lời mời của Sở TN và MT tỉnh Kiên Giang. 7: 30 ngày 12, hai thày trò rời sân bay Tân Sơn Nhất trên chuyến bay VN1823; khoảng 8: 30 đã có mặt tại thị trấn Dương Đông. Ngồi quán cà phê 63 Trần Hưng Đạo để Nam liên hệ công việc với cán bộ Sở TN và MT. Chờ đến 10:30, sốt ruột quá, thuê xe đi khảo sát một đoạn bờ biển Dương Tơ, phía tây sân bay Phú Quốc.

Sóng biển xâm thực tạo vách tại điểm PQ_98. Hàng dừa cao mới trồng cùng với vài cây dương cách đường mép nước khoảng 20 m
Cây dương đơn độc lộ rễ cho biết bờ biển bị xói lở

Cơm trưa xong, 14:00 xe của Công ty Cổ phần 99 Núi chở đến bờ biển Dự án Sunset Sanato để khảo sát hiện tượng xói lở bờ biển mà công ty đã báo cho Sở Tài Nguyên và Môi Trường. Ông Đoàn Thành Luân trưởng dự án cho biết bờ biển đang bị xói. Xói lở được phát hiện sau khi công ty làm cầu tạm và nhận thấy sóng biển đã „ngoạn” đi một đoạn bờ biển rộng gần 4,0 m trong khoảng 2 tháng.

Một đoạn bờ biển dài tại Dự Án Sunset Sanato (PQ_99) đang bị sóng biển „tấn công”
Trong hai tháng, bờ bị xói gần 4,0 m (tính từ điểm người đứng mặc áo xanh). Cầu tạm chính là „mốc quan trắc” báo cho Công ty 99 biết bờ biển đang bị xói
Sóng mạnh được cảnh báo du khách không được tắm biển

Xe Công ty 99 đưa nhóm khảo sát thêm một điểm nữa tại bờ biển Dự Án Bim (PQ_100). Bãi biển ở đây đang được cải tạo, những cây dừa cao mới trồng cách đường mép nước khoảng 20 m. Cát mịn trắng từ giồng cát cổ được lấy đổ ra bãi biển để trang trí. Một „cầu tầu” dài khoảng 100 m vuông góc với bờ biển giống như mỏ hàn đã xuất hiện.

Tại (PQ_100), dừa cũng được trồng không xa đường mép nước, cây dương lẻ loi với phần gốc đã được “kè tạm” bởi các khối đá cát kết
Đã xuất hiện một „cầu tàu” giống như một mỏ hàn tại PQ_100. Tại đây cát trắng mịn (khai thác từ giồng cát cổ) được trải trên bãi biển cát nâu vàng

Bãi biển Dương Tơ, thuộc tế bào bờ biển Dương Tơ, là tế bào có tốc độ xói lở lớn nhất bờ Tây đảo Phú Quốc. Xói lở xảy ra mạnh vào mùa gió tây nam (từ tháng 5 đến tháng 10). Việc Công ty 99 Núi nhận ra hiện tượng xói lở bờ biển sau khi làm cầu tạm như là một lời nhắc nhở về một tai biến địa chất đang diễn ra.

Bãi biển Dương Tơ hoang sơ với con đường đất đỏ mộng mơ ngày nào chạy giữa biển xanh và giồng cát trắng nay không còn nữa; thay vào đó là những công trình bê tông lớn nhỏ, cao thấp đang dần lấp kín. Nhưng hãy lưu ý rằng, những con sóng biển đang ngày đêm cặm cụi cào đi từng hạt cát. Để các công trình này tồn tại lâu dài, những giải pháp chống xói lở cần sớm được thực hiện.

H & H

Vì sao đường Nguyễn Hữu Cảnh vẫn ngập dù có siêu máy bơm?

Việc chống ngập bằng máy bơm được đánh giá là không khả thi, lãng phí; thiết kế của công trình này chưa đúng tiêu chuẩn thoát nước .

Đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) gần đây lại bị ngập, dù những lần thử nghiệm máy bơm công suất lớn trước đó đều thành công. Nghiêm trọng nhất là trận mưa đêm 1/6 khiến cả đoạn đường biến thành sông, ngập lút yên xe máy.

Công ty Quang Trung (chủ đầu tư máy bơm) cho rằng, rác đã gây nghẽn cống khiến nước không về trạm bơm và không loại trừ khả năng có hành vi “cố tình phá hoại”. Lãnh đạo TP HCM đã đề nghị chuyên gia, nhà khoa học vào cuộc tìm nguyên nhân.

Chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm thoát nước

Trao đổi với VnExpress, Kỹ sư Vũ Hải (hơn 50 năm công tác trong lĩnh vực cấp thoát nước, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa và ĐH Xây dựng Hà Nội) đánh giá, chủ đầu tư giỏi chế tạo máy bơm nhưng lại không phải là đơn vị thoát nước chuyên nghiệp. Họ đã thiết kế công trình không đúng quy phạm, tiêu chuẩn thoát nước, dẫn đến việc chống ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh không hiệu quả.

Ông Hải phân tích, máy bơm phải hút từ bể chứa mới đủ nước để vận hành. Trong khi đó hệ thống đang hút nước trực tiếp từ đường phố, dẫn đến tình trạng thiếu nước, máy bơm không hoạt động.

Về nguyên tắc thiết kế, một trạm cần 2-3 máy bơm. Lúc mưa nhỏ dùng một cái, khi mưa to thì tăng số lượng. Hiện, chủ đầu tư dùng duy nhất một máy bơm, khi hư hỏng sẽ bị động.

Đường Nguyễn Hữu Cảnh sau trận mưa đêm 1/6 dù có siêu máy bơm. Ảnh: Duy Trần.

Máy bơm công suất lớn, tốc độ nước chảy vượt quá tiêu chuẩn có thể làm vỡ ống. Nhất là phải bơm nước nhiều lần nên khả năng bục vỡ ống là rất cao. Lực hút của máy rất mạnh khiến bùn rác luôn bị cuốn vào trong, làm tắc ống.

“Theo tôi không có ai phá hoại máy bơm. Ống bơm có lực chảy nhất định nhưng đang bị cưỡng bức phải chảy nhanh, khiến hệ thống ống rơi vào tình trạng không an toàn. Thực tế là sau một thời gian sử dụng ống bơm đã xuất hiện hàng tấn rác và đơn vị thoát nước đô thị phải vào cuộc dọn dẹp, khơi thông”, ông Hải nói.

Tuy nhiên, theo ông Hải, chống ngập bằng máy bơm chỉ giải quyết bề nổi, không phải giải pháp lâu dài. Trong khi ngập đang là vấn đề lớn của thành phố, nếu vẫn giữ lối tư duy cứng nhắc sẽ khó giải quyết triệt để.

Đường ngập nhưng máy bơm thiếu nước hút

Tương tự, TS Hồ Long Phi (chuyên gia thoát nước) cho rằng, việc dùng máy bơm công suất lớn chống ngập cấp bách cho đường Nguyễn Hữu Cảnh cần tính toán khoa học hơn.

Hệ thống thoát nước tại tuyến đường không đồng bộ, trong khi máy bơm chưa được áp dụng kiến thức về thủy lực, khiến lượng nước về không đủ cho máy hoạt động. Nếu dùng máy bơm công suất nhỏ nhưng chia thành nhiều lưu vực sẽ hiệu quả, hợp lý hơn.

“Giải pháp dùng máy bơm chống ngập là cần thiết cho những khu trũng. Nhưng nó chỉ mang tính tình thế, không thể áp dụng ngày này qua tháng kia. Thành phố phải có những giải quyết căn cơ hơn, đặc biệt là đối với đường Nguyễn Hữu Cảnh và những khu ngập nặng khác phải có hệ thống thoát và ngăn nước”, ông Phi nói.

Siêu máy bơm được đánh giá chống ngập thành công sau hơn chục lần chạy thử nghiệm. Ảnh: Thành Nguyễn.

Lãng phí mà không hiệu quả

Đứng ở góc độ nhà quy hoạch kiến trúc, TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, việc lắp máy bơm chống ngập là xử lý phần ngọn, trong khi cốt lõi vấn đề là vì sao nước chỉ tập trung ở đó.

Hiện, đường Nguyễn Hữu Cảnh có dãy cao ốc nối dài từ Tân Cảng đến Ba Son – giống như một tuyến đê ngăn nước từ thành phố thoát ra sông Sài Gòn. Khi con đường liên tục bị ngập, người dân sống hai bên đường phải nâng nền cục bộ.

“Như vậy là biến con đường thành sông bị kẹp giữa hai tuyến đê, cứ mưa là ngập. Việc này có thể giải quyết triệt để nếu xác định đúng phương pháp”, ông Sơn nói.

Theo ông, thành phố phải tổ chức lại không gian xanh và không gian nước cho các khu vực ngập, vừa ít tốn kém lại hiệu quả lâu dài. Chú ý việc cân đối độ bêtông hóa, độ dốc và độ nền của khu vực xung quanh; đồng thời phải làm những không gian chứa nước tạm thời như: hồ điều tiết, hồ chứa nước ngầm, hệ thống thoát nước từ những hồ này ra sông, để đối phó với những trận mưa lớn.

“Có như thế thì vấn đề mới được giải quyết. Còn việc thấy ngập ở đâu thì lắp máy bơm ở đó sẽ lãng phí tiền tỷ mà không hiệu quả”, ông Sơn nói.

Hữu Nguyên – Minh Ngọc

Nguồn: http://daubao.com/vi-sao-duong-nguyen-huu-canh-van-ngap-du-co-sieu-may-bom/xa-hoi/1728281.html

Báo cáo của Mỹ về dự án đập Sambor ở Campuchia bị giấu nhẹm?

TTO – Đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện Sambor do Trung Quốc chống lưng tại Campuchia cho thấy con đập lớn nhất nước này sẽ giết chết sông Mekong theo đúng nghĩa đen.

Đập Hạ Sesan 2 ở Campuchia khi còn trong quá trình xây dựng. Đập này hiện đã vận hành – Ảnh: GUARDIAN

Theo báo Guardian của Anh, tác động khủng khiếp trên được cảnh báo trong một báo cáo mật do Chính phủ Campuchia thuê tư vấn thực hiện.

Phnom Penh đã được bàn giao toàn bộ tài liệu nghiên cứu 3 năm từ Viện Di sản quốc gia – một tổ chức nghiên cứu và tư vấn của Mỹ hồi năm ngoái, nhưng vì lý do nào đó đến nay chưa công bố dù nhiều tổ chức dân sự đã lên tiếng kêu gọi.

Theo những tài liệu tờ báo Anh tiếp cận được, các chuyên gia Mỹ nhận định dự án Sambor ở tỉnh Kratie thuộc Campuchia là một vị trí “tồi tệ nhất để xây thủy điện” vì tác động của nó đối với môi trường hoang dã quá lớn.

Đập Sambor sẽ chặn luồng cá từ hồ Tonle Sap (Biển Hồ), một chi lưu quan trọng của sông Mekong, trong khi dòng sông này đảm bảo an ninh lương thực cho khoảng 60 triệu người Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam.

Việc Phnom Penh “ém” báo cáo làm dấy lên lo ngại Campuchia vẫn sẽ tiến hành xây đập Sambor mặc cho dự báo ảm đạm đối với số phận loài cá heo nước ngọt sông Mekong và một trong những luồng di cư cá nước ngọt lớn nhất thế giới.

Để hoàn thành dự án thủy điện này, người Trung Quốc đề xuất xây một con đập bê tông rộng đến 18km, cao 33m chắn ngang sông Mekong đoạn chảy qua tỉnh Kratie để tạo thành một hồ chứa nước khổng lồ dài 82km.

“Bên cạnh mối đe dọa đối với cá heo Irrawaddy và nghề cá, sinh kế và dinh dưỡng của các cộng đồng nông thôn sẽ bị ảnh hưởng, đẩy nhanh hơn tình trạng sụt lún tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt nam” – ông Marc Goichot, chuyên gia về nguồn nước của tổ chức WWF, nhận định về đập Sambor.

An ninh lương thực của 60 triệu người sống dọc sông Mekong bị đập Sambor đe dọa – Ảnh: GUARDIAN

Trong phần kết luận, báo cáo của Mỹ viết: “Một con đập tại vị trí này có thể giết chết dòng sông, trừ khi được định vị lại, thiết kế và vận hành một cách bền vững. Sambor là vị trí tồi tệ nhất để xây một đập nước lớn”.

Tờ Guardian dẫn lời Thứ trưởng Bộ Năng lượng Campuchia Ith Praing: “Đây là một vấn đề nhạy cảm và còn quá sớm để công bố thông tin về dự án Sambor”.

Ông Praing cho biết sẽ không có quyết định nào được đưa ra trước cuộc bầu cử tháng 7 tới. Nếu dự được thông qua, nhà thầu Trung Quốc Hydrolancang International Energy Company có khả năng được chọn thực hiện dự án Sambor.

Hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác, hành động để sông Mekong mãi là dòng chảy của hòa bình, là kết nối sinh tồn bền vững, thịnh vượng đến muôn đời của các quốc gia, người dân trong khu vực”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3

Tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3 tổ chức tại Campuchia với chủ đề “Một Mekong, một tinh thần chung” vào đầu tháng 4 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng hiện nay, lưu vực sông Mekong phải đối mặt với những thách thức lớn với hậu quả là nguồn tài nguyên nước Mekong đang bị suy kiệt cả về số lượng và chất lượng, lượng phù sa và chất dinh dưỡng bị suy giảm, hệ sinh thái và môi trường bị suy thoái nghiêm trọng.

Các dấu hiệu tiêu cực đó thể hiện rõ rệt và trầm trọng hơn ở các quốc gia hạ lưu Mekong, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đang thường xuyên phải đối mặt với các đợt hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông bờ biển và sụt lún đất… đe dọa sinh kế của hơn 20 triệu người dân.

“Cần phải có những hành động thiết thực, kịp thời để Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, vựa cá của cả khu vực trong hàng trăm năm qua tiếp tục phát triển và là nguồn cung gạo lớn cho bảo đảm an ninh lương thực khu vực”, Thủ tướng nhấn mạnh và đề nghị Ủy hội MRC tập trung cho sử dụng công bằng, hợp lý và bền vững tài nguyên nước Mekong và các tài nguyên liên quan.

PHÚC LONG

Nguồn: https://tuoitre.vn/bao-cao-cua-my-ve-du-an-dap-sambor-o-campuchia-bi-giau-nhem-20180517142846061.htm

Cái chết của biển Aral

Biển Aral, nằm giữa Kazakhstan và Uzbekistan, trước đây là một phần của Liên bang nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết, là một điểm du lịch thịnh vượng trong năm 1960. Việc làm trệch dòng sông để lấy nước phục vụ nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển Aral chỉ trong 30 năm. Giờ đây, biển đã chết với sự bao quanh bởi hàng ngàn km2 muối, và sự biến đổi này đã phá hủy vĩnh viễn nền tảng kinh tế của khu vực.

Năm 1960, diện tích biển Aral vào khoảng 67.000 km2. Sự chuyển hướng chảy hai sông chính dẫn vào biển đã làm giảm độ cao bề mặt hơn 20 m và mất khoảng 28.000 km2 diện tích bề mặt (hình 1.B). Các thị trấn đã từng là những trung tâm hải sản nay đã lùi sâu vào nội địa khoảng 30 km. Mất đi tác động điều tiết của biển đối với thời tiết đang làm biến đổi khí hậu khu vực; ngày nay mùa đông lạnh hơn và mùa hè ấm hơn. Gió bão mang theo bụi, cát mặn và lan tỏa trên diện rộng, làm hư hại đất và ô nhiễm không khí.

Bài học học được từ biển Aral là sự hủy hoại môi trường có thể dẫn đến sự biến đổi khu vực nhanh chóng. Các nhà môi trường, bao gồm các nhà địa chất học, lo lắng rằng những gì mà con người đã làm cho vùng Aral là triệu chứng của những gì mà chúng ta đang thực hiện trên nhiều khía cạch có quy mô toàn cầu.

Hiện nay một dự án khôi phục đầy tham vọng đang được tiến hành để cứu phần phía bắc, phần hồ nhỏ hơn. Một con đập thấp dài 13 km dài đã được xây dựng ngang hồ ngay phía nam nơi sông Syr Darya chảy vào hồ (xem hình 1.B). Với việc bảo tồn nước của dòng sông, lượng nước nhiều hơn đang chảy vào hồ và đập giữ nước ở phía bắc của lòng hồ. Mực nước đang gia tăng, và một số hoạt động đánh bắt cá đã trở lại. Đây là một dấu hiệu đầy hứa hẹn, nhưng cần phải làm nhiều hơn nữa.

Hình 1. Biển chết (a) Biển Aral là biển chết, được bao quanh bởi diện tích hàng ngàn km vuông muối. (b) Sự làm chệch dòng chảy lấy nước cho nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển này. Hai con tàu trong ảnh bị mắc cạn trên bãi biển rộng lớn đầy muối do sự bốc hơi của nước biển Aral.

H & H

Nguồn: Edward A. Keller. Introduction to Environmental Geology. University of California, Santa Barbara. Fifth Edition.

 

Ngổn ngang Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới

Thiên nhiên phải mất ba trăm ngàn năm để chạm khắc nên ngọn Núi Châu Thới. Hơn ba trăm năm trước, tổ tiên – những người mở cõi đã chọn vị trí đắc địa này để dựng Châu Thới Sơn Tự và đó chính là cơ sở để Núi Châu Thới được công nhận Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia. Nhưng ba mươi năm qua, di sản này đã bị xâm phạm nghiêm trọng, môi trường xuống cấp ở mức báo động.

Nếu áp dụng hình thức thẻ như Công viên Địa chất toàn Cầu hiện nay, Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới xứng đáng nhận THẺ ĐỎ.

Cảnh lên chùa Châu Thới như này rất hiếm. Ảnh Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)

Dưới đây là mấy dòng ghi nhận về Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới sau lần hướng dẫn lớp cao học QLMT K27 đi thực địa ngày 01/04/2018.

Tưởng vậy:

Trở thành di tích cấp Quốc gia, chùa cổ trên đỉnh núi Châu Thới với những kiến trúc đặc sắc, cảnh quan đẹp sẽ trở nên nổi tiếng hơn, hoạt động du lịch, nhất là du lịch tâm linh sẽ thu hút du khách, địa phương có thể phát triển các dịch vụ đi kèm, người dân được sống trong môi trường tĩnh lặng và xanh, sạch, đẹp.

Nhưng không phải vậy

Chỉ ít tháng nữa, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia Núi Châu Thới sẽ tròn 30 năm được công nhận, nhưng những gì diễn ra ở đây cho thấy di tích này như không người quản lý: các hố đào to, nhỏ làm biến dạng địa hình, cảnh quan; ô nhiễm bụi khủng khiếp quanh năm; moong ngưng khai thác trở thành ao nước tù và tiềm ẩn rủi ro đối người và vật nuôi; bậc thềm lên chùa thành nơi họp chợ; bãi xe, rác thải ngập ngụa; khuôn viên chùa hỗn độn với ô tô, xe máy, người đi lại, người bán hàng rong, người khấn, nhang khói ghi ngút.

Không gian xáo trộn

Núi Châu Thới bị bủa vây bởi một hệ thống các ao, hồ đào cũ mới do khai thác đá xây dựng. Trong khi diện tích phía đông thuộc tỉnh Đồng Nai, hoạt động khai thác dường như đã dừng lại thì diện tích thuộc Bình Dương những mỏ đá lớn lân cận núi Châu Thới vẫn đang đào khoét hàng ngày.

Các hố đào do khai thác bủa vây núi Châu Thới, diện tích mầu đen trên ảnh là các moong khai thác cũ nay trở thành ao, hồ nước tù đọng; diện tích màu trắng xám là các moong vẫn đang được khai thác
Khai thác đá đã làm biến dạng hình thể núi Châu Thới. Hai hồ nước tù, đọng và tiềm ẩn rủi ro: hồ phía đông nam rộng 150 m ở chân núi, hồ phía tây rộng khoảng 200 m khoét ngay vào sườn núi với vách dốc đứng chỉ cách khuôn viên chùa khoảng 30 – 40 m.
Một sườn núi với thảm phủ xanh trước đây đã trở thành hồ nước sâu có vách dốc đứng cao tới 40 m. Qua 30 năm, vách vẫn lộ đá “tươi” như thể một chứng tích tố cáo tội ác của con người đối với một di tích lịch sử văn hóa cũng là một di sản tự nhiên hiếm có của vùng Đông Nam Bộ.
Mỏ đá Tân Đông Hiệp (dài 1.100 m, rộng 800 m, độ sâu 80 – 100 m) cách núi Châu Thới khoảng 600 m về phía tây bắc. Mỏ đã hoạt động 23 năm, hình như mỏ này vẫn tiếp tục gia hạn khai thác.
Mỏ đá Núi Nhỏ (dài 800 m, rộng 400 m, sâu 80 m) cách núi Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam. Trong ảnh là một moong khai thác cũ nay là hồ nước, xa hơn (phía trên ảnh) là moong đang khai thác.

Chợ búa nhếch nhác

220 bậc thềm lên chùa trở thành nơi họp chợ, các tấm bạt to nhỏ buộc ngang thân cây làm lều, hàng quán bày lộn xộn dọc lối đi, rác đủ loại ngập tràn từ chân cổng chùa tới khuôn viên chùa.

Bậc thang lên chùa là nơi “họp chợ” với lều bạt tạm bợ
Nhếch nhác quá, lều và rác thải tràn lan
Rác ven hồ (ngay gần cổng chùa)
Rác leo theo 220 bậc thang, người ta còn lấy ống hút uống nước, túi ni lon buộc vào cành cây để cầu may
Và rác lên gần đỉnh núi

Khuôn viên hỗn độn

Khuôn viên chùa vốn là nơi thanh tịnh nay không còn, thay vào đó là cảnh tượng hỗn độn, nhốn nháo, nào là ô tô, xe máy chạy lên xuống, người đi lại, người khấn bái, người bán rong…trên một không gian trật trội.

Bãi xe ô tô, xe máy ngay tại khuôn viên chùa Châu Thới (mặc dù tại chân núi, nơi cổng chùa cũng đã có bãi xe)
Người khấn, người đi và xe cộ chen chúc cùng tượng phật
Nhìn bức hình này cũng đủ thấy Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới được ứng xử ra sao

Khi giới thiệu Núi Châu Thới, website tỉnh Bình Dương có đoạn trích dẫn dưới đây:

Sách “Gia Định Thành Thông Chí ” đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục”.

Châu Thới không thể trở lại như xưa nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn, nếu như những người có trách nhiệm biết khai thác đúng giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên của di sản quí hiếm này.

H & H

Những sự thật thú vị về Biển Chết

Không phải là biển, là nơi có nước mặn nhất thế giới, có khả năng chữa bệnh, được nhắc tới trong Kinh Thánh… là những điều thú vị mà không phải ai cũng biết về Biển Chết.

Nằm giữa Jordan, Palestine và Israel, kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời của thế giới này thu hút hàng nghìn du khách muốn thả mình nổi trên mặt biển đọc báo, và để muối khoáng chăm sóc làn da. Dưới đây là những sự thật bất ngờ về vùng nước nổi tiếng thế giới này:

1.Có tên là Biển Chết, nhưng thực ra đây không phải một vùng biển mà là một hồ nước mặn.

2.Đây là hồ nước mặn sâu nhất hành tinh, với độ sâu lên tới 306 m.

3.Nếu so độ sâu với mực nước biển, hồ nước này còn sâu hơn thế. Bờ và mặt nước Biển Chết nằm dưới mực nước biển 427 m, khiến nơi đây trở thành vùng nước nằm thấp nhất thế giới.

4.Đây là một trong những hồ nước mặn nhất thế giới, với nồng độ muối lên tới 33,7%. Vùng nước mặn nhất là phá Garabogazköl ở biển Caspi với nồng độ muối là 35%.

5. Biển Chết là hồ nên có chiều dài và bề rộng giới hạn. Nơi rộng nhất của hồ là 15 km, và chiều dài của hồ là 50 km.

Biển Chết là điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Ảnh: Muftah.org.

6. Nước Biển Chết mặn hơn gấp 9,6 lần so với nước biển thường, với nồng độ muối NaCl và các khoáng chất khác rất cao.

7.Do độ mặn quá cao, không dạng sống nào có thể phát triển ở đây, đó là lý do hồ có tên Biển Chết. Tuy nhiên, điều này không chính xác. Trong mùa mưa, độ mặn của hồ giảm xuống, tạo điều kiện cho một số vi khuẩn sinh sôi.

8.Nước Biển Chết có khả năng chữa bệnh, do lượng bào tử vi khuẩn trong hồ cực thấp và không có chất gây dị ứng. Trong nước hồ có rất nhiều loại khoáng chất. Lượng tia UV trong ánh nắng ở Biển Chết rất thấp, cộng với áp suất không khí cao (do ở vị trí thấp) tạo nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.

9. Biển Chết có một hiện tượng bất thường: liên tục tạo ra nhựa đường. Loại nhựa đường được người Ai Cập cổ sử dụng để ướp xác lấy từ Biển Chết. Do hiện tượng này, người Hy Lạp cổ gọi nơi đây là hồ Nhựa Đường.

Du khách có thể thả người nổi trên mặt nước mà không sợ chìm. Ảnh: Nextours.wordpress.com.

10. Nước không lưu thông ở Biển Chết vì ba bên xung quanh là đất kín, chỉ có sông suối đổ nước vào hồ chứ không có đường dẫn nước ra.

11.Không như muối ăn, muối ở đây rất đắng. Loại muối đắng này giúp trị nhiều bệnh da liễu như bệnh vấy nến, bệnh sần vỏ cam,  mụn nhọt… Nước hồ cũng giúp giảm căng thẳng, tẩy da chết, giảm đau cơ, điều trị viêm khớp và viêm xoang.

12.Biển Chết là một kỳ quan thiên nhiên. Đặc biệt hơn, hồ nước này còn nằm giữa một kỳ quan thiên nhiên khác. Biển Chết nằm ở điểm thấp nhất của thung lũng giãn tách lớn (Great Rift), địa hình dạng máng dài nhất thế giới (dài khoảng 6.000 km, vắt qua 20 quốc gia).

13.Hồ nước cung cấp nguồn kali lớn cho nông nghiệp toàn thế giới.

14.Khu vực quanh có rừng chà là rộng 2.500 m2.

15.Khoảng 50% kinh tế địa phương là từ nông nghiệp gần vùng Biển Chết.

16.Khướu bụi Ả Rập và các loài chim khác sống quanh khu Biển Chết vào các thời điểm trong năm.

17. Khí hậu khô và luôn chan hòa ánh nắng, lượng mưa hàng năm chưa tới 50 mm.

Màu nước tuyệt đẹp của Biển Chết. Ảnh: Insite-israel-tour.com.

18. Đây là hồ tiền sử, hình thành cách đây 2-3,7 triệu năm.

19.Biển Chết là một trong những nơi được Cleopatra yêu thích. Bà thích nơi này đến mức cho xây dựng các khu nghỉ dưỡng và xưởng mỹ phẩm dọc bờ hồ.

20.Biển Chết từng nhiều lần xuất hiện trong Kinh Thánh, có liên hệ với chúa Jesus và tông đồ John. Trong đó có ghi một ngày, vùng nước này sẽ hồi sinh, các động vật sẽ không chỉ sống được mà còn sinh trưởng mạnh

21.Các bản ghi chép của Aristotle cũng nhắc tới Biển Chết.

22.Theo Kinh Thánh, vua David đã trú ngụ gần đây.

23.Với Herod vĩ đại, Biển Chết trở thành khu nghỉ dưỡng điều trị đầu tiên.

24.Ngày nay, khoáng chất và muối Biển Chết được dùng làm túi thơm và mỹ phẩm.

25.Nhiều thế kỷ trước, nơi đây được gọi là “Biển Bốc Mùi”.

Hoàng Linh

Nguồn: https://news.zing.vn/nhung-su-that-thu-vi-ve-bien-chet-post532537.html

Đập thủy điện Trung Quốc tiếp tục uy hiếp sông Mekong

TTO – Nếu Trung Quốc xây thêm đập thủy điện Sambor ở Campuchia, tác động môi trường và xã hội của nó sẽ vô cùng lớn đối với người dân Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Ngư dân đánh cá trên sông Mekong thuộc địa phận tỉnh Kandal – Ảnh: AFP

Giống với nhiều người sống gần sông Mekong và các phụ lưu của nó ở Campuchia, người nông dân 63 tuổi Srey Ly Bik xem dòng nước này là miếng cơm manh áo. Bị tách khỏi gia đình trong thời kỳ thống trị đẫm máu của Khmer Đỏ những năm cuối thập niên 1970, Srey Ly Bik phiêu bạt từ nơi này đến nơi khác với một nhóm thầy thuốc.

Năm 1979, ông tìm lại được người cha thất lạc trước đó ở làng Kbal Romeas bên sông Srepok – một nhánh của sông Mekong. Srey Ly Bik cưới một cô gái trong làng và có với nhau 6 mặt con. Nhờ vào dòng phù màu mỡ bồi đắp cho vùng đất này, cuộc sống của họ trôi qua bình yên với cây lúa, hoa màu…

Nhưng đến tháng 8-2015, gia đình Srey Ly Bik buộc phải dời đi sau khi chính quyền thông báo ngôi làng của họ nằm trong phạm vi 75 km2 ảnh hưởng xả lũ của con đập thủy điện lớn nhất Campuchia – đập Hạ Sesan 2.

Không còn lựa chọn, Srey Ly Bik phải bán hết tài sản gồm 30 con trâu và một chiếc máy cày, vì ông đã quá lớn tuổi để có thể cày cuốc trên vùng đất tái định cư khô cằn và đầy đá sỏi.

“Tôi trở về chỗ cũ cách đây vài ngày để kiểm tra mực nước, ngôi nhà của tôi đã bị ngập hoàn toàn đến mức không còn nhận ra nó nằm chỗ nào” – người đàn ông có số phận long đong tâm sự.

Hoàng hôn trên sông Mekong ở Campuchia. Các học sinh bắt đò để về nhà – Ảnh: SCMP

Dấu ấn Trung Quốc

Đập thủy điện Hạ Sesan 2 ở Campuchia là dự án trị giá 816 triệu USD, có công suất 400 megawatt khi hoàn thành. Đây là một trong những biểu tượng cho sức ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Dưới sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Chủ tịch Tập Cận Bình, Bắc Kinh đang ráo riết “lột xác” hệ thống vận tải và giao thương xuyên suốt Âu – Á và Đông Nam Á thông qua các dự án đầu tư hạ tầng khổng lồ.

“Trung Quốc tin rằng đường sá cần phải được xây trước khi đẻ ra tiền. Đây là cách phát triển họ muốn giới thiệu với cả thế giới thông qua Vành đai, Con đường. Một khi đã thành công ở Đông Nam Á, mô hình này sẽ được nhân rộng ở các nơi khác, ví dụ châu Phi và Nam Mỹ” – giáo sư Hu Zhiyong thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Thượng Hải giải thích.

Ngày 31-3, tại Hà Nội, 6 quốc gia thuộc khu vực Mekong đã thông qua một kế hoạch đầu tư tham vọng gồm 227 dự án trị giá 66 tỉ USD trong 5 năm tới.

Bà Stephanie Jensen-Cormier, giám đốc Chương trình Trung Quốc thuộc Tổ chức Sông ngòi quốc tế (California, Mỹ), thống kê các công ty thủy điện Trung Quốc đang xây dựng 41 đập ở Đông Nam Á. “Con số đó là rất nhiều, do đó tác động môi trường và xã hội vô cùng lớn” – bà nhận định.

Đối với các nước ASEAN nghèo như Campuchia, những dự án của Trung Quốc vô cùng hấp dẫn. Các quan chức Phnom Penh tự hào rằng tiềm năng thủy điện của sông Mekong có thể là thỏi nam châm hút đầu tư và giúp người dân Campuchia thoát nghèo.

“Khó khăn của một đất nước đang phát triển hậu khủng hoảng là chúng tôi phải chật vật cạnh tranh nếu không có được hạ tầng thiết yếu. Hạ tầng rất quan trọng, đặc biệt khi giá điện của anh cao hơn láng giềng, còn thị trường lại nhỏ hơn hơn Việt Nam, Thái Lan, Myanmar… Chúng tôi cần giảm chi phí vận hành doanh nghiệp và điện có lẽ là yếu tố quyết định” – luật sư Sok Siphana, cố vấn cho chính phủ Campuchia, giải thích.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen (phải, hàng đầu) và đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Xiong Bo (trái) tham dự lễ động thổ cây cầu hữu nghị Campuchia – Trung Quốc thứ 8 trên sông Mekong – Ảnh: AFP

Trôi theo dòng nước

Nhưng không phải người dân Campuchia nào cũng chia sẻ sự lạc quan đó. Đối với dân làng Srekor thuộc tỉnh miền bắc Stung Treng, đập Hạ Sesan 2 đã nhấn chìm đất đai, cuối trôi tài sản, truyền thống và văn hóa của họ theo dòng nước.

Anh Futh Kheun, 39 tuổi, cùng 66 hộ gia đình khác trong làng đã từ chối tái định cư khi người ta khởi công xây đập. Họ dời lên một khu đất cao hơn, và từ vị trí đó có thể nhìn thấy dòng nước dâng lên, nhấn chìm cả ngôi làng.

Anh Kheun nói anh xem dự án đập là một thỏa thuận riêng giữa chính quyền hai nước Campuchia và Trung Quốc, trong đó sự cân nhắc dành cho người dân địa phương không đáng là bao.

“Ở các quốc gia khác vốn không có sông ngòi và nguồn nước, họ vẫn có điện. Còn chúng tôi có tất cả, chúng tôi có than, có sông, có nước… Tại sao người ta lại ưu tiên xây đập thủy điện? Công trình này đã và đang khiến dân địa phương khốn khổ” – anh Kheun than thở.

Theo báo SCMP của Hong Kong, Trung Quốc là nhà tài trợ – đầu tư nước ngoài lớn nhất của Campuchia, tuy nhiên tình cảm người Campuchia dành cho Trung Quốc có thể không mấy tích cực.

Dân thành thị kêu ca việc khách du lịch Trung Quốc tràn ngập danh lam thắng cảnh, chất lượng hàng Tàu tồi; dân nông thôn thì lo các nhà đầu tư Trung Quốc lấy đi hết mọi tài nguyên tự nhiên – sinh kế của họ…

Ông Leang Bunleap, giám đốc Tổ chức Mạng lưới Bảo vệ sông ngòi 3S, cho biết tại tỉnh Stung Treng, nơi có con đập Hạ Sesan 2, các nhà đầu tư Trung Quốc hay phớt lờ các mối quan tâm của người dân, nhưng lại luôn o bế để có mối quan hệ tốt với chính quyền.

“Nhà đầu tư Trung Quốc khuyến khích chính quyền tiếp tục cấp phép dự án cho họ với lý do tăng thu nhập, công ăn việc làm cho dân, phát triển kinh tế… nhưng lợi ích đó không dành cho tất cả, nhiều người giờ đây phải rời nhà cửa, còn môi trường thì bị hủy hoại” – ông Leang Bunleap kể.

Đã có nhiều bài học đau thương liên quan đến “đầu tư Trung Quốc” ở Đông Nam Á. Cách đây 7 năm, Chính phủ Myanmar phải cho dừng dự án đập Myitsone trị giá 3,6 tỉ USD trên thượng nguồn sông Irrawaddy dưới áp lực phản đối dữ dội từ công chúng.

Cũng tại Campuchia, năm 2015, Thủ tướng Hun Sen phải ra lệnh hoãn dự án thủy điện Chhay Areng ở tỉnh tây nam Koh Kong do Trung Quốc chống lưng đến năm 2018 để xoa dịu sự tức giận trong dân…

Làng Srekor chìm trong biển nước vì đập Hạ Sesan 2 – ảnh: International Rivers

Hiểm nguy mới

Chuyên gia về Trung Quốc Ren Peng thuộc Tổ chức Viện Môi trường toàn cầu nhận xét trong quá trình mở rộng đầu tư của Bắc trên khắp thế giới, làn sóng phản đối của dân địa phương, đặc biệt ở Đông Nam Á, châu Phi và Nam Mỹ, ngày càng trở nên phổ biến.

Khác với Nhật Bản và phương Tây, các nước luôn quan tâm đến sinh kế của dân địa phương, nhà đầu tư Trung Quốc thường chỉ ưu tiên quan hệ với chính quyền sở tại. “Tại Đông Nam Á, nhà đầu tư càng gần gũi với chính quyền bao nhiêu, người dân càng nghi ngờ bấy nhiêu” – ông Ren nhận xét.

Cách đập Hạ Sesan 2 khoảng 140km về phía nam, cuộc sống của người dân cù lao Kaoh Real trên dòng Mekong – đoạn qua địa phận tỉnh Kratie – đã bị xáo trộn từ khi người Trung Quốc xuất hiện năm 2007.

“Tôi nghe nói người ta muốn xây một đập thủy điện ở đây, nhưng chưa có gì cụ thể. Tôi không biết người khác ra sao nhưng tôi không muốn bồi thường gì cả, vì tôi có mọi thứ ở đây. Nếu phải di dời, tôi sẽ mất tất cả” – người nông dân Loeurn Sitha tỏ ra lo lắng.

Với rất ít thông tin chính thức, mọi bàn tán về dự án đập và sự liên quan của Trung Quốc khá nhạy cảm. Một quan chức giấu tên tiết lộ với báo SCMP rằng bất cứ quyết định nào bật đèn xanh cho dự án này đều có hệ quả nghiêm trọng, vì đây sẽ là một đập nước nằm trên dòng chính sông Mekong gần với bờ biển nhất, và lớn nhất Campuchia.

Vị trí dự án Hạ Sesan 2 và Sambor trên bản đồ – đồ họa: SCMP

Dân làng Sambor trên cù lao Kaoh Real cho biết họ đã được khảo sát ý kiến về dự án thủy điện này từ hồi đầu tháng 1-2018.

Năm 2006, Tập đoàn China Southern Power Grid ký bản ghi nhớ với Chính phủ Campuchia về việc tiến hành một khảo sát mới về đập Sambor. Dự án này được đề xuất lần đầu tiên hồi thập niên 1950 nhưng tập đoàn Trung Quốc rút lui năm 2011 sau khi tiến hành khảo sát địa chất với lý do “chúng tôi là một công ty có trách nhiệm”.

Không hiểu tại sao bây giờ đập Sambor bỗng nhiên được cân nhắc lại. Nếu trở thành hiện thực, đây sẽ là mối nguy hiểm tiềm tàng vô cùng lớn đối với hàng chục triệu người dân ở hạ lưu sông Mekong, trong đó có ĐBSCL.

PHÚC LONG

Nguồn: https://tuoitre.vn/dap-thuy-dien-trung-quoc-tiep-tuc-uy-hiep-song-mekong-2018040113203744.htm

Hàng trăm thuỷ điện thượng nguồn Mekong đe dọa Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

Thượng nguồn sông Mekong dự kiến có 467 thủy điện trong đó khoảng 1/4 đang trong quá trình xây dựng hoặc dự kiến xây dựng, gia tăng nguy cơ gây sạt lở và xói mòn ở hạ lưu.

Sông Cửu Long, bên lở bên bồi là quy luật bình thường của tự nhiên, tạo cân bằng tương đối cho hai bên bờ. Thế nhưng từ năm 2010 trở lại đây, sạt lở diễn ra nhanh hơn bồi tụ và vô cùng phức tạp, tác động không hề nhỏ đến phát triển kinh tế – xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vùng đất phía Nam Việt Nam.

Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng. Nằm ở khu vực hạ lưu sông Mekong, là nơi hứng chịu những hệ lụy gây ra bởi hoạt động của các đập thủy điện phía thượng nguồn.

Dự kiến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 468 đập thủy điện lớn nhỏ. Ảnh: Zing

Những năm gần đây, thủy điện trên dòng chính sông Mekong đua nhau mọc lên. Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch hơn 20 đập thủy điện, trong đó Trung Quốc đã xây được 8 đập ở thượng nguồn. Lào và Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn. Gần đây nhất, Lào tuyên bố xây dựng đập Pak Beng – đập thủy điện lớn thứ ba, sau hai đập Xayaburi và Don Sahong, bất chấp sự phản đối từ phía các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong.

Trong một báo cáo của Ủy ban Sông Mekong, nếu cả 3 công trình thủy điện của Lào: Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng đi vào hoạt động, thì tổng lượng dòng chảy sẽ giảm 6,2%/tháng, xâm nhập trên sông xâm nhập mặn trên sông Tiền, sông Hậu lấn sâu vào từ 2,8 – 3,8 km. Và với viễn cảnh không xa, khi cả chuỗi 11 đập thủy điện hoạt động thì tổng lượng dòng chảy sẽ giảm hơn 27%/tháng, xâm nhập mặn sẽ vào sâu trên sông Tiền, sông Hậu khoảng từ 10 – 18 km.

Ảnh: Zing

Theo ước tính của CGIRA, Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế, đến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 470 đập thủy điện lớn nhỏ. Số lượng hồ chứa được quy hoạch trên thượng lưu sông Mekong sẽ đạt tổng dung tích 101,9 tỷ m3.

Việc xây dựng và lên kế hoạch xây dựng hàng chục con đập trên dòng Mekong mang lại một số lợi ích cho quốc gia sở hữu nhưng lại gây ra vô vàn hệ lụy cho khoảng 60 triệu người sống phía dưới hạ lưu.

Điều khiến các chuyên gia lo ngại lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về đồng bằng sông Cửu Long nữa.

Sinh kế người dân ĐBSCL bị đe dọa

Sông Mekong bắt nguồn từ tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc, chảy qua Tây Tạng và Vân Nam trước khi đi vào Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và đổ ra biển tại Việt Nam. Theo tính toán, tổng lượng dòng chảy các sông suối vào lãnh thổ Việt Nam khoảng 830 – 850 tỉ m3/năm, trong đó sông Mekong đóng góp là 475 tỉ m3, tương đương với 53 – 57% tổng lượng dòng chảy toàn lãnh thổ.

Con sông này có vị trí quan trọng không chỉ đối với ĐBSCL mà đối với phát triển nhiều vùng khác như Tây Nguyên và những vùng lãnh thổ Việt Nam nằm trong lưu vực.

Tuy nhiên thời gian trở lại đây, nguồn nước suy giảm trên sông Mekong, tình trạng xâm nhập mặn tăng nhanh và nguy cơ nước biển dâng ảnh hưởng đến kế sinh nhai của bà con vùng ĐBSCL.

Sự mất mát lương thực do tác động của chuỗi các đập thủy điện sẽ rất cao và tăng dần theo thời gian. Khả năng “tan rã” quá trình kiến tạo đồng bằng khiến vùng châu thổ có thể không còn là vựa lúa của Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia.

Trong điều kiện chịu tác động của biến đổi khí hậu, thủy điện trên Mekong còn mở đường cho xâm nhập mặn lấn sâu vào ĐBSCL trong mùa khô, nông dân sẽ phải vất vả hơn.

Ngoài ra, phù sa bị giữ lại phía thượng nguồn sẽ dẫn đến suy giảm nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL.

Hạn mặn đe dọa vùng ĐBSCL. Ảnh: Ngọc Trinh

Tính toán sơ bộ của các cơ quan chức năng Việt Nam, tác động tích lũy của dự án thủy điện trên dòng chính cùng với các bậc thang thủy điện dòng chính sông Mekong có thể làm giảm từ 6 – 10% nguồn chất dinh dưỡng (đạm và lân) cho ĐBSCL. Theo đó, năng suất cây trồng được dự báo sẽ giảm từ 0,6 – 1 tấn/ha.

“Các dự án phát triển thủy điện làm ngưỡng đói nghèo gia tăng,” Tiến sĩ Naruepon Sukumasvin, Ban Thư ký Ủy hội sông Mê Kông Quốc tế cảnh báo. “Sản lượng đánh bắt cá ở hành lang sông Mê Kông sẽ giảm khoảng 1,57 tỉ USD”.

“Lượng cá trên dòng Mê Kông giảm, trọng lượng cá cũng giảm và ít cá to. Khoảng 60% thành phần loài di cư bị giảm sút. Theo đó xuất khẩu cá da trơn có giá trị hàng tỉ đô la của Việt Nam bị đe dọa, do cá da trơn phụ thuộc nguồn thức ăn là cá trắng di cư”, Tiến sĩ Naruepon Sukumasvin thông tin thêm.

Cuộc sống của gần 20 triệu cư dân ĐBSCL sống nương nhờ nông nghiệp, nương nhờ đánh bắt cá đang bị đe dọa bởi những đập thủy điện được xây dựng ngày một nhiều phía thượng nguồn.

Author: Hà Phương/Theo Zing

Nguồn: http://news.vinacircle.com/hang-tram-thuy-dien-thuong-nguon-mekong-de-doa-dong-bang-song-cuu-long-cua-viet-nam-post16015.html