Vì sao đường Nguyễn Hữu Cảnh vẫn ngập dù có siêu máy bơm?

Việc chống ngập bằng máy bơm được đánh giá là không khả thi, lãng phí; thiết kế của công trình này chưa đúng tiêu chuẩn thoát nước .

Đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) gần đây lại bị ngập, dù những lần thử nghiệm máy bơm công suất lớn trước đó đều thành công. Nghiêm trọng nhất là trận mưa đêm 1/6 khiến cả đoạn đường biến thành sông, ngập lút yên xe máy.

Công ty Quang Trung (chủ đầu tư máy bơm) cho rằng, rác đã gây nghẽn cống khiến nước không về trạm bơm và không loại trừ khả năng có hành vi “cố tình phá hoại”. Lãnh đạo TP HCM đã đề nghị chuyên gia, nhà khoa học vào cuộc tìm nguyên nhân.

Chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm thoát nước

Trao đổi với VnExpress, Kỹ sư Vũ Hải (hơn 50 năm công tác trong lĩnh vực cấp thoát nước, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa và ĐH Xây dựng Hà Nội) đánh giá, chủ đầu tư giỏi chế tạo máy bơm nhưng lại không phải là đơn vị thoát nước chuyên nghiệp. Họ đã thiết kế công trình không đúng quy phạm, tiêu chuẩn thoát nước, dẫn đến việc chống ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh không hiệu quả.

Ông Hải phân tích, máy bơm phải hút từ bể chứa mới đủ nước để vận hành. Trong khi đó hệ thống đang hút nước trực tiếp từ đường phố, dẫn đến tình trạng thiếu nước, máy bơm không hoạt động.

Về nguyên tắc thiết kế, một trạm cần 2-3 máy bơm. Lúc mưa nhỏ dùng một cái, khi mưa to thì tăng số lượng. Hiện, chủ đầu tư dùng duy nhất một máy bơm, khi hư hỏng sẽ bị động.

Đường Nguyễn Hữu Cảnh sau trận mưa đêm 1/6 dù có siêu máy bơm. Ảnh: Duy Trần.

Máy bơm công suất lớn, tốc độ nước chảy vượt quá tiêu chuẩn có thể làm vỡ ống. Nhất là phải bơm nước nhiều lần nên khả năng bục vỡ ống là rất cao. Lực hút của máy rất mạnh khiến bùn rác luôn bị cuốn vào trong, làm tắc ống.

“Theo tôi không có ai phá hoại máy bơm. Ống bơm có lực chảy nhất định nhưng đang bị cưỡng bức phải chảy nhanh, khiến hệ thống ống rơi vào tình trạng không an toàn. Thực tế là sau một thời gian sử dụng ống bơm đã xuất hiện hàng tấn rác và đơn vị thoát nước đô thị phải vào cuộc dọn dẹp, khơi thông”, ông Hải nói.

Tuy nhiên, theo ông Hải, chống ngập bằng máy bơm chỉ giải quyết bề nổi, không phải giải pháp lâu dài. Trong khi ngập đang là vấn đề lớn của thành phố, nếu vẫn giữ lối tư duy cứng nhắc sẽ khó giải quyết triệt để.

Đường ngập nhưng máy bơm thiếu nước hút

Tương tự, TS Hồ Long Phi (chuyên gia thoát nước) cho rằng, việc dùng máy bơm công suất lớn chống ngập cấp bách cho đường Nguyễn Hữu Cảnh cần tính toán khoa học hơn.

Hệ thống thoát nước tại tuyến đường không đồng bộ, trong khi máy bơm chưa được áp dụng kiến thức về thủy lực, khiến lượng nước về không đủ cho máy hoạt động. Nếu dùng máy bơm công suất nhỏ nhưng chia thành nhiều lưu vực sẽ hiệu quả, hợp lý hơn.

“Giải pháp dùng máy bơm chống ngập là cần thiết cho những khu trũng. Nhưng nó chỉ mang tính tình thế, không thể áp dụng ngày này qua tháng kia. Thành phố phải có những giải quyết căn cơ hơn, đặc biệt là đối với đường Nguyễn Hữu Cảnh và những khu ngập nặng khác phải có hệ thống thoát và ngăn nước”, ông Phi nói.

Siêu máy bơm được đánh giá chống ngập thành công sau hơn chục lần chạy thử nghiệm. Ảnh: Thành Nguyễn.

Lãng phí mà không hiệu quả

Đứng ở góc độ nhà quy hoạch kiến trúc, TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, việc lắp máy bơm chống ngập là xử lý phần ngọn, trong khi cốt lõi vấn đề là vì sao nước chỉ tập trung ở đó.

Hiện, đường Nguyễn Hữu Cảnh có dãy cao ốc nối dài từ Tân Cảng đến Ba Son – giống như một tuyến đê ngăn nước từ thành phố thoát ra sông Sài Gòn. Khi con đường liên tục bị ngập, người dân sống hai bên đường phải nâng nền cục bộ.

“Như vậy là biến con đường thành sông bị kẹp giữa hai tuyến đê, cứ mưa là ngập. Việc này có thể giải quyết triệt để nếu xác định đúng phương pháp”, ông Sơn nói.

Theo ông, thành phố phải tổ chức lại không gian xanh và không gian nước cho các khu vực ngập, vừa ít tốn kém lại hiệu quả lâu dài. Chú ý việc cân đối độ bêtông hóa, độ dốc và độ nền của khu vực xung quanh; đồng thời phải làm những không gian chứa nước tạm thời như: hồ điều tiết, hồ chứa nước ngầm, hệ thống thoát nước từ những hồ này ra sông, để đối phó với những trận mưa lớn.

“Có như thế thì vấn đề mới được giải quyết. Còn việc thấy ngập ở đâu thì lắp máy bơm ở đó sẽ lãng phí tiền tỷ mà không hiệu quả”, ông Sơn nói.

Hữu Nguyên – Minh Ngọc

Nguồn: http://daubao.com/vi-sao-duong-nguyen-huu-canh-van-ngap-du-co-sieu-may-bom/xa-hoi/1728281.html

Advertisements

Báo cáo của Mỹ về dự án đập Sambor ở Campuchia bị giấu nhẹm?

TTO – Đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện Sambor do Trung Quốc chống lưng tại Campuchia cho thấy con đập lớn nhất nước này sẽ giết chết sông Mekong theo đúng nghĩa đen.

Đập Hạ Sesan 2 ở Campuchia khi còn trong quá trình xây dựng. Đập này hiện đã vận hành – Ảnh: GUARDIAN

Theo báo Guardian của Anh, tác động khủng khiếp trên được cảnh báo trong một báo cáo mật do Chính phủ Campuchia thuê tư vấn thực hiện.

Phnom Penh đã được bàn giao toàn bộ tài liệu nghiên cứu 3 năm từ Viện Di sản quốc gia – một tổ chức nghiên cứu và tư vấn của Mỹ hồi năm ngoái, nhưng vì lý do nào đó đến nay chưa công bố dù nhiều tổ chức dân sự đã lên tiếng kêu gọi.

Theo những tài liệu tờ báo Anh tiếp cận được, các chuyên gia Mỹ nhận định dự án Sambor ở tỉnh Kratie thuộc Campuchia là một vị trí “tồi tệ nhất để xây thủy điện” vì tác động của nó đối với môi trường hoang dã quá lớn.

Đập Sambor sẽ chặn luồng cá từ hồ Tonle Sap (Biển Hồ), một chi lưu quan trọng của sông Mekong, trong khi dòng sông này đảm bảo an ninh lương thực cho khoảng 60 triệu người Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam.

Việc Phnom Penh “ém” báo cáo làm dấy lên lo ngại Campuchia vẫn sẽ tiến hành xây đập Sambor mặc cho dự báo ảm đạm đối với số phận loài cá heo nước ngọt sông Mekong và một trong những luồng di cư cá nước ngọt lớn nhất thế giới.

Để hoàn thành dự án thủy điện này, người Trung Quốc đề xuất xây một con đập bê tông rộng đến 18km, cao 33m chắn ngang sông Mekong đoạn chảy qua tỉnh Kratie để tạo thành một hồ chứa nước khổng lồ dài 82km.

“Bên cạnh mối đe dọa đối với cá heo Irrawaddy và nghề cá, sinh kế và dinh dưỡng của các cộng đồng nông thôn sẽ bị ảnh hưởng, đẩy nhanh hơn tình trạng sụt lún tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt nam” – ông Marc Goichot, chuyên gia về nguồn nước của tổ chức WWF, nhận định về đập Sambor.

An ninh lương thực của 60 triệu người sống dọc sông Mekong bị đập Sambor đe dọa – Ảnh: GUARDIAN

Trong phần kết luận, báo cáo của Mỹ viết: “Một con đập tại vị trí này có thể giết chết dòng sông, trừ khi được định vị lại, thiết kế và vận hành một cách bền vững. Sambor là vị trí tồi tệ nhất để xây một đập nước lớn”.

Tờ Guardian dẫn lời Thứ trưởng Bộ Năng lượng Campuchia Ith Praing: “Đây là một vấn đề nhạy cảm và còn quá sớm để công bố thông tin về dự án Sambor”.

Ông Praing cho biết sẽ không có quyết định nào được đưa ra trước cuộc bầu cử tháng 7 tới. Nếu dự được thông qua, nhà thầu Trung Quốc Hydrolancang International Energy Company có khả năng được chọn thực hiện dự án Sambor.

Hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác, hành động để sông Mekong mãi là dòng chảy của hòa bình, là kết nối sinh tồn bền vững, thịnh vượng đến muôn đời của các quốc gia, người dân trong khu vực”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3

Tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3 tổ chức tại Campuchia với chủ đề “Một Mekong, một tinh thần chung” vào đầu tháng 4 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng hiện nay, lưu vực sông Mekong phải đối mặt với những thách thức lớn với hậu quả là nguồn tài nguyên nước Mekong đang bị suy kiệt cả về số lượng và chất lượng, lượng phù sa và chất dinh dưỡng bị suy giảm, hệ sinh thái và môi trường bị suy thoái nghiêm trọng.

Các dấu hiệu tiêu cực đó thể hiện rõ rệt và trầm trọng hơn ở các quốc gia hạ lưu Mekong, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đang thường xuyên phải đối mặt với các đợt hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông bờ biển và sụt lún đất… đe dọa sinh kế của hơn 20 triệu người dân.

“Cần phải có những hành động thiết thực, kịp thời để Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, vựa cá của cả khu vực trong hàng trăm năm qua tiếp tục phát triển và là nguồn cung gạo lớn cho bảo đảm an ninh lương thực khu vực”, Thủ tướng nhấn mạnh và đề nghị Ủy hội MRC tập trung cho sử dụng công bằng, hợp lý và bền vững tài nguyên nước Mekong và các tài nguyên liên quan.

PHÚC LONG

Nguồn: https://tuoitre.vn/bao-cao-cua-my-ve-du-an-dap-sambor-o-campuchia-bi-giau-nhem-20180517142846061.htm

Cái chết của biển Aral

Biển Aral, nằm giữa Kazakhstan và Uzbekistan, trước đây là một phần của Liên bang nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết, là một điểm du lịch thịnh vượng trong năm 1960. Việc làm trệch dòng sông để lấy nước phục vụ nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển Aral chỉ trong 30 năm. Giờ đây, biển đã chết với sự bao quanh bởi hàng ngàn km2 muối, và sự biến đổi này đã phá hủy vĩnh viễn nền tảng kinh tế của khu vực.

Năm 1960, diện tích biển Aral vào khoảng 67.000 km2. Sự chuyển hướng chảy hai sông chính dẫn vào biển đã làm giảm độ cao bề mặt hơn 20 m và mất khoảng 28.000 km2 diện tích bề mặt (hình 1.B). Các thị trấn đã từng là những trung tâm hải sản nay đã lùi sâu vào nội địa khoảng 30 km. Mất đi tác động điều tiết của biển đối với thời tiết đang làm biến đổi khí hậu khu vực; ngày nay mùa đông lạnh hơn và mùa hè ấm hơn. Gió bão mang theo bụi, cát mặn và lan tỏa trên diện rộng, làm hư hại đất và ô nhiễm không khí.

Bài học học được từ biển Aral là sự hủy hoại môi trường có thể dẫn đến sự biến đổi khu vực nhanh chóng. Các nhà môi trường, bao gồm các nhà địa chất học, lo lắng rằng những gì mà con người đã làm cho vùng Aral là triệu chứng của những gì mà chúng ta đang thực hiện trên nhiều khía cạch có quy mô toàn cầu.

Hiện nay một dự án khôi phục đầy tham vọng đang được tiến hành để cứu phần phía bắc, phần hồ nhỏ hơn. Một con đập thấp dài 13 km dài đã được xây dựng ngang hồ ngay phía nam nơi sông Syr Darya chảy vào hồ (xem hình 1.B). Với việc bảo tồn nước của dòng sông, lượng nước nhiều hơn đang chảy vào hồ và đập giữ nước ở phía bắc của lòng hồ. Mực nước đang gia tăng, và một số hoạt động đánh bắt cá đã trở lại. Đây là một dấu hiệu đầy hứa hẹn, nhưng cần phải làm nhiều hơn nữa.

Hình 1. Biển chết (a) Biển Aral là biển chết, được bao quanh bởi diện tích hàng ngàn km vuông muối. (b) Sự làm chệch dòng chảy lấy nước cho nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển này. Hai con tàu trong ảnh bị mắc cạn trên bãi biển rộng lớn đầy muối do sự bốc hơi của nước biển Aral.

H & H

Nguồn: Edward A. Keller. Introduction to Environmental Geology. University of California, Santa Barbara. Fifth Edition.

 

Ngổn ngang Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới

Thiên nhiên phải mất ba trăm ngàn năm để chạm khắc nên ngọn Núi Châu Thới. Hơn ba trăm năm trước, tổ tiên – những người mở cõi đã chọn vị trí đắc địa này để dựng Châu Thới Sơn Tự và đó chính là cơ sở để Núi Châu Thới được công nhận Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia. Nhưng ba mươi năm qua, di sản này đã bị xâm phạm nghiêm trọng, môi trường xuống cấp ở mức báo động.

Nếu áp dụng hình thức thẻ như Công viên Địa chất toàn Cầu hiện nay, Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới xứng đáng nhận THẺ ĐỎ.

Cảnh lên chùa Châu Thới như này rất hiếm. Ảnh Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)

Dưới đây là mấy dòng ghi nhận về Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới sau lần hướng dẫn lớp cao học QLMT K27 đi thực địa ngày 01/04/2018.

Tưởng vậy:

Trở thành di tích cấp Quốc gia, chùa cổ trên đỉnh núi Châu Thới với những kiến trúc đặc sắc, cảnh quan đẹp sẽ trở nên nổi tiếng hơn, hoạt động du lịch, nhất là du lịch tâm linh sẽ thu hút du khách, địa phương có thể phát triển các dịch vụ đi kèm, người dân được sống trong môi trường tĩnh lặng và xanh, sạch, đẹp.

Nhưng không phải vậy

Chỉ ít tháng nữa, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia Núi Châu Thới sẽ tròn 30 năm được công nhận, nhưng những gì diễn ra ở đây cho thấy di tích này như không người quản lý: các hố đào to, nhỏ làm biến dạng địa hình, cảnh quan; ô nhiễm bụi khủng khiếp quanh năm; moong ngưng khai thác trở thành ao nước tù và tiềm ẩn rủi ro đối người và vật nuôi; bậc thềm lên chùa thành nơi họp chợ; bãi xe, rác thải ngập ngụa; khuôn viên chùa hỗn độn với ô tô, xe máy, người đi lại, người bán hàng rong, người khấn, nhang khói ghi ngút.

Không gian xáo trộn

Núi Châu Thới bị bủa vây bởi một hệ thống các ao, hồ đào cũ mới do khai thác đá xây dựng. Trong khi diện tích phía đông thuộc tỉnh Đồng Nai, hoạt động khai thác dường như đã dừng lại thì diện tích thuộc Bình Dương những mỏ đá lớn lân cận núi Châu Thới vẫn đang đào khoét hàng ngày.

Các hố đào do khai thác bủa vây núi Châu Thới, diện tích mầu đen trên ảnh là các moong khai thác cũ nay trở thành ao, hồ nước tù đọng; diện tích màu trắng xám là các moong vẫn đang được khai thác
Khai thác đá đã làm biến dạng hình thể núi Châu Thới. Hai hồ nước tù, đọng và tiềm ẩn rủi ro: hồ phía đông nam rộng 150 m ở chân núi, hồ phía tây rộng khoảng 200 m khoét ngay vào sườn núi với vách dốc đứng chỉ cách khuôn viên chùa khoảng 30 – 40 m.
Một sườn núi với thảm phủ xanh trước đây đã trở thành hồ nước sâu có vách dốc đứng cao tới 40 m. Qua 30 năm, vách vẫn lộ đá “tươi” như thể một chứng tích tố cáo tội ác của con người đối với một di tích lịch sử văn hóa cũng là một di sản tự nhiên hiếm có của vùng Đông Nam Bộ.
Mỏ đá Tân Đông Hiệp (dài 1.100 m, rộng 800 m, độ sâu 80 – 100 m) cách núi Châu Thới khoảng 600 m về phía tây bắc. Mỏ đã hoạt động 23 năm, hình như mỏ này vẫn tiếp tục gia hạn khai thác.
Mỏ đá Núi Nhỏ (dài 800 m, rộng 400 m, sâu 80 m) cách núi Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam. Trong ảnh là một moong khai thác cũ nay là hồ nước, xa hơn (phía trên ảnh) là moong đang khai thác.

Chợ búa nhếch nhác

220 bậc thềm lên chùa trở thành nơi họp chợ, các tấm bạt to nhỏ buộc ngang thân cây làm lều, hàng quán bày lộn xộn dọc lối đi, rác đủ loại ngập tràn từ chân cổng chùa tới khuôn viên chùa.

Bậc thang lên chùa là nơi “họp chợ” với lều bạt tạm bợ
Nhếch nhác quá, lều và rác thải tràn lan
Rác ven hồ (ngay gần cổng chùa)
Rác leo theo 220 bậc thang, người ta còn lấy ống hút uống nước, túi ni lon buộc vào cành cây để cầu may
Và rác lên gần đỉnh núi

Khuôn viên hỗn độn

Khuôn viên chùa vốn là nơi thanh tịnh nay không còn, thay vào đó là cảnh tượng hỗn độn, nhốn nháo, nào là ô tô, xe máy chạy lên xuống, người đi lại, người khấn bái, người bán rong…trên một không gian trật trội.

Bãi xe ô tô, xe máy ngay tại khuôn viên chùa Châu Thới (mặc dù tại chân núi, nơi cổng chùa cũng đã có bãi xe)
Người khấn, người đi và xe cộ chen chúc cùng tượng phật
Nhìn bức hình này cũng đủ thấy Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới được ứng xử ra sao

Khi giới thiệu Núi Châu Thới, website tỉnh Bình Dương có đoạn trích dẫn dưới đây:

Sách “Gia Định Thành Thông Chí ” đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục”.

Châu Thới không thể trở lại như xưa nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn, nếu như những người có trách nhiệm biết khai thác đúng giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên của di sản quí hiếm này.

H & H

Những sự thật thú vị về Biển Chết

Không phải là biển, là nơi có nước mặn nhất thế giới, có khả năng chữa bệnh, được nhắc tới trong Kinh Thánh… là những điều thú vị mà không phải ai cũng biết về Biển Chết.

Nằm giữa Jordan, Palestine và Israel, kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời của thế giới này thu hút hàng nghìn du khách muốn thả mình nổi trên mặt biển đọc báo, và để muối khoáng chăm sóc làn da. Dưới đây là những sự thật bất ngờ về vùng nước nổi tiếng thế giới này:

1.Có tên là Biển Chết, nhưng thực ra đây không phải một vùng biển mà là một hồ nước mặn.

2.Đây là hồ nước mặn sâu nhất hành tinh, với độ sâu lên tới 306 m.

3.Nếu so độ sâu với mực nước biển, hồ nước này còn sâu hơn thế. Bờ và mặt nước Biển Chết nằm dưới mực nước biển 427 m, khiến nơi đây trở thành vùng nước nằm thấp nhất thế giới.

4.Đây là một trong những hồ nước mặn nhất thế giới, với nồng độ muối lên tới 33,7%. Vùng nước mặn nhất là phá Garabogazköl ở biển Caspi với nồng độ muối là 35%.

5. Biển Chết là hồ nên có chiều dài và bề rộng giới hạn. Nơi rộng nhất của hồ là 15 km, và chiều dài của hồ là 50 km.

Biển Chết là điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Ảnh: Muftah.org.

6. Nước Biển Chết mặn hơn gấp 9,6 lần so với nước biển thường, với nồng độ muối NaCl và các khoáng chất khác rất cao.

7.Do độ mặn quá cao, không dạng sống nào có thể phát triển ở đây, đó là lý do hồ có tên Biển Chết. Tuy nhiên, điều này không chính xác. Trong mùa mưa, độ mặn của hồ giảm xuống, tạo điều kiện cho một số vi khuẩn sinh sôi.

8.Nước Biển Chết có khả năng chữa bệnh, do lượng bào tử vi khuẩn trong hồ cực thấp và không có chất gây dị ứng. Trong nước hồ có rất nhiều loại khoáng chất. Lượng tia UV trong ánh nắng ở Biển Chết rất thấp, cộng với áp suất không khí cao (do ở vị trí thấp) tạo nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.

9. Biển Chết có một hiện tượng bất thường: liên tục tạo ra nhựa đường. Loại nhựa đường được người Ai Cập cổ sử dụng để ướp xác lấy từ Biển Chết. Do hiện tượng này, người Hy Lạp cổ gọi nơi đây là hồ Nhựa Đường.

Du khách có thể thả người nổi trên mặt nước mà không sợ chìm. Ảnh: Nextours.wordpress.com.

10. Nước không lưu thông ở Biển Chết vì ba bên xung quanh là đất kín, chỉ có sông suối đổ nước vào hồ chứ không có đường dẫn nước ra.

11.Không như muối ăn, muối ở đây rất đắng. Loại muối đắng này giúp trị nhiều bệnh da liễu như bệnh vấy nến, bệnh sần vỏ cam,  mụn nhọt… Nước hồ cũng giúp giảm căng thẳng, tẩy da chết, giảm đau cơ, điều trị viêm khớp và viêm xoang.

12.Biển Chết là một kỳ quan thiên nhiên. Đặc biệt hơn, hồ nước này còn nằm giữa một kỳ quan thiên nhiên khác. Biển Chết nằm ở điểm thấp nhất của thung lũng giãn tách lớn (Great Rift), địa hình dạng máng dài nhất thế giới (dài khoảng 6.000 km, vắt qua 20 quốc gia).

13.Hồ nước cung cấp nguồn kali lớn cho nông nghiệp toàn thế giới.

14.Khu vực quanh có rừng chà là rộng 2.500 m2.

15.Khoảng 50% kinh tế địa phương là từ nông nghiệp gần vùng Biển Chết.

16.Khướu bụi Ả Rập và các loài chim khác sống quanh khu Biển Chết vào các thời điểm trong năm.

17. Khí hậu khô và luôn chan hòa ánh nắng, lượng mưa hàng năm chưa tới 50 mm.

Màu nước tuyệt đẹp của Biển Chết. Ảnh: Insite-israel-tour.com.

18. Đây là hồ tiền sử, hình thành cách đây 2-3,7 triệu năm.

19.Biển Chết là một trong những nơi được Cleopatra yêu thích. Bà thích nơi này đến mức cho xây dựng các khu nghỉ dưỡng và xưởng mỹ phẩm dọc bờ hồ.

20.Biển Chết từng nhiều lần xuất hiện trong Kinh Thánh, có liên hệ với chúa Jesus và tông đồ John. Trong đó có ghi một ngày, vùng nước này sẽ hồi sinh, các động vật sẽ không chỉ sống được mà còn sinh trưởng mạnh

21.Các bản ghi chép của Aristotle cũng nhắc tới Biển Chết.

22.Theo Kinh Thánh, vua David đã trú ngụ gần đây.

23.Với Herod vĩ đại, Biển Chết trở thành khu nghỉ dưỡng điều trị đầu tiên.

24.Ngày nay, khoáng chất và muối Biển Chết được dùng làm túi thơm và mỹ phẩm.

25.Nhiều thế kỷ trước, nơi đây được gọi là “Biển Bốc Mùi”.

Hoàng Linh

Nguồn: https://news.zing.vn/nhung-su-that-thu-vi-ve-bien-chet-post532537.html

Đập thủy điện Trung Quốc tiếp tục uy hiếp sông Mekong

TTO – Nếu Trung Quốc xây thêm đập thủy điện Sambor ở Campuchia, tác động môi trường và xã hội của nó sẽ vô cùng lớn đối với người dân Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Ngư dân đánh cá trên sông Mekong thuộc địa phận tỉnh Kandal – Ảnh: AFP

Giống với nhiều người sống gần sông Mekong và các phụ lưu của nó ở Campuchia, người nông dân 63 tuổi Srey Ly Bik xem dòng nước này là miếng cơm manh áo. Bị tách khỏi gia đình trong thời kỳ thống trị đẫm máu của Khmer Đỏ những năm cuối thập niên 1970, Srey Ly Bik phiêu bạt từ nơi này đến nơi khác với một nhóm thầy thuốc.

Năm 1979, ông tìm lại được người cha thất lạc trước đó ở làng Kbal Romeas bên sông Srepok – một nhánh của sông Mekong. Srey Ly Bik cưới một cô gái trong làng và có với nhau 6 mặt con. Nhờ vào dòng phù màu mỡ bồi đắp cho vùng đất này, cuộc sống của họ trôi qua bình yên với cây lúa, hoa màu…

Nhưng đến tháng 8-2015, gia đình Srey Ly Bik buộc phải dời đi sau khi chính quyền thông báo ngôi làng của họ nằm trong phạm vi 75 km2 ảnh hưởng xả lũ của con đập thủy điện lớn nhất Campuchia – đập Hạ Sesan 2.

Không còn lựa chọn, Srey Ly Bik phải bán hết tài sản gồm 30 con trâu và một chiếc máy cày, vì ông đã quá lớn tuổi để có thể cày cuốc trên vùng đất tái định cư khô cằn và đầy đá sỏi.

“Tôi trở về chỗ cũ cách đây vài ngày để kiểm tra mực nước, ngôi nhà của tôi đã bị ngập hoàn toàn đến mức không còn nhận ra nó nằm chỗ nào” – người đàn ông có số phận long đong tâm sự.

Hoàng hôn trên sông Mekong ở Campuchia. Các học sinh bắt đò để về nhà – Ảnh: SCMP

Dấu ấn Trung Quốc

Đập thủy điện Hạ Sesan 2 ở Campuchia là dự án trị giá 816 triệu USD, có công suất 400 megawatt khi hoàn thành. Đây là một trong những biểu tượng cho sức ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Dưới sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Chủ tịch Tập Cận Bình, Bắc Kinh đang ráo riết “lột xác” hệ thống vận tải và giao thương xuyên suốt Âu – Á và Đông Nam Á thông qua các dự án đầu tư hạ tầng khổng lồ.

“Trung Quốc tin rằng đường sá cần phải được xây trước khi đẻ ra tiền. Đây là cách phát triển họ muốn giới thiệu với cả thế giới thông qua Vành đai, Con đường. Một khi đã thành công ở Đông Nam Á, mô hình này sẽ được nhân rộng ở các nơi khác, ví dụ châu Phi và Nam Mỹ” – giáo sư Hu Zhiyong thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Thượng Hải giải thích.

Ngày 31-3, tại Hà Nội, 6 quốc gia thuộc khu vực Mekong đã thông qua một kế hoạch đầu tư tham vọng gồm 227 dự án trị giá 66 tỉ USD trong 5 năm tới.

Bà Stephanie Jensen-Cormier, giám đốc Chương trình Trung Quốc thuộc Tổ chức Sông ngòi quốc tế (California, Mỹ), thống kê các công ty thủy điện Trung Quốc đang xây dựng 41 đập ở Đông Nam Á. “Con số đó là rất nhiều, do đó tác động môi trường và xã hội vô cùng lớn” – bà nhận định.

Đối với các nước ASEAN nghèo như Campuchia, những dự án của Trung Quốc vô cùng hấp dẫn. Các quan chức Phnom Penh tự hào rằng tiềm năng thủy điện của sông Mekong có thể là thỏi nam châm hút đầu tư và giúp người dân Campuchia thoát nghèo.

“Khó khăn của một đất nước đang phát triển hậu khủng hoảng là chúng tôi phải chật vật cạnh tranh nếu không có được hạ tầng thiết yếu. Hạ tầng rất quan trọng, đặc biệt khi giá điện của anh cao hơn láng giềng, còn thị trường lại nhỏ hơn hơn Việt Nam, Thái Lan, Myanmar… Chúng tôi cần giảm chi phí vận hành doanh nghiệp và điện có lẽ là yếu tố quyết định” – luật sư Sok Siphana, cố vấn cho chính phủ Campuchia, giải thích.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen (phải, hàng đầu) và đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Xiong Bo (trái) tham dự lễ động thổ cây cầu hữu nghị Campuchia – Trung Quốc thứ 8 trên sông Mekong – Ảnh: AFP

Trôi theo dòng nước

Nhưng không phải người dân Campuchia nào cũng chia sẻ sự lạc quan đó. Đối với dân làng Srekor thuộc tỉnh miền bắc Stung Treng, đập Hạ Sesan 2 đã nhấn chìm đất đai, cuối trôi tài sản, truyền thống và văn hóa của họ theo dòng nước.

Anh Futh Kheun, 39 tuổi, cùng 66 hộ gia đình khác trong làng đã từ chối tái định cư khi người ta khởi công xây đập. Họ dời lên một khu đất cao hơn, và từ vị trí đó có thể nhìn thấy dòng nước dâng lên, nhấn chìm cả ngôi làng.

Anh Kheun nói anh xem dự án đập là một thỏa thuận riêng giữa chính quyền hai nước Campuchia và Trung Quốc, trong đó sự cân nhắc dành cho người dân địa phương không đáng là bao.

“Ở các quốc gia khác vốn không có sông ngòi và nguồn nước, họ vẫn có điện. Còn chúng tôi có tất cả, chúng tôi có than, có sông, có nước… Tại sao người ta lại ưu tiên xây đập thủy điện? Công trình này đã và đang khiến dân địa phương khốn khổ” – anh Kheun than thở.

Theo báo SCMP của Hong Kong, Trung Quốc là nhà tài trợ – đầu tư nước ngoài lớn nhất của Campuchia, tuy nhiên tình cảm người Campuchia dành cho Trung Quốc có thể không mấy tích cực.

Dân thành thị kêu ca việc khách du lịch Trung Quốc tràn ngập danh lam thắng cảnh, chất lượng hàng Tàu tồi; dân nông thôn thì lo các nhà đầu tư Trung Quốc lấy đi hết mọi tài nguyên tự nhiên – sinh kế của họ…

Ông Leang Bunleap, giám đốc Tổ chức Mạng lưới Bảo vệ sông ngòi 3S, cho biết tại tỉnh Stung Treng, nơi có con đập Hạ Sesan 2, các nhà đầu tư Trung Quốc hay phớt lờ các mối quan tâm của người dân, nhưng lại luôn o bế để có mối quan hệ tốt với chính quyền.

“Nhà đầu tư Trung Quốc khuyến khích chính quyền tiếp tục cấp phép dự án cho họ với lý do tăng thu nhập, công ăn việc làm cho dân, phát triển kinh tế… nhưng lợi ích đó không dành cho tất cả, nhiều người giờ đây phải rời nhà cửa, còn môi trường thì bị hủy hoại” – ông Leang Bunleap kể.

Đã có nhiều bài học đau thương liên quan đến “đầu tư Trung Quốc” ở Đông Nam Á. Cách đây 7 năm, Chính phủ Myanmar phải cho dừng dự án đập Myitsone trị giá 3,6 tỉ USD trên thượng nguồn sông Irrawaddy dưới áp lực phản đối dữ dội từ công chúng.

Cũng tại Campuchia, năm 2015, Thủ tướng Hun Sen phải ra lệnh hoãn dự án thủy điện Chhay Areng ở tỉnh tây nam Koh Kong do Trung Quốc chống lưng đến năm 2018 để xoa dịu sự tức giận trong dân…

Làng Srekor chìm trong biển nước vì đập Hạ Sesan 2 – ảnh: International Rivers

Hiểm nguy mới

Chuyên gia về Trung Quốc Ren Peng thuộc Tổ chức Viện Môi trường toàn cầu nhận xét trong quá trình mở rộng đầu tư của Bắc trên khắp thế giới, làn sóng phản đối của dân địa phương, đặc biệt ở Đông Nam Á, châu Phi và Nam Mỹ, ngày càng trở nên phổ biến.

Khác với Nhật Bản và phương Tây, các nước luôn quan tâm đến sinh kế của dân địa phương, nhà đầu tư Trung Quốc thường chỉ ưu tiên quan hệ với chính quyền sở tại. “Tại Đông Nam Á, nhà đầu tư càng gần gũi với chính quyền bao nhiêu, người dân càng nghi ngờ bấy nhiêu” – ông Ren nhận xét.

Cách đập Hạ Sesan 2 khoảng 140km về phía nam, cuộc sống của người dân cù lao Kaoh Real trên dòng Mekong – đoạn qua địa phận tỉnh Kratie – đã bị xáo trộn từ khi người Trung Quốc xuất hiện năm 2007.

“Tôi nghe nói người ta muốn xây một đập thủy điện ở đây, nhưng chưa có gì cụ thể. Tôi không biết người khác ra sao nhưng tôi không muốn bồi thường gì cả, vì tôi có mọi thứ ở đây. Nếu phải di dời, tôi sẽ mất tất cả” – người nông dân Loeurn Sitha tỏ ra lo lắng.

Với rất ít thông tin chính thức, mọi bàn tán về dự án đập và sự liên quan của Trung Quốc khá nhạy cảm. Một quan chức giấu tên tiết lộ với báo SCMP rằng bất cứ quyết định nào bật đèn xanh cho dự án này đều có hệ quả nghiêm trọng, vì đây sẽ là một đập nước nằm trên dòng chính sông Mekong gần với bờ biển nhất, và lớn nhất Campuchia.

Vị trí dự án Hạ Sesan 2 và Sambor trên bản đồ – đồ họa: SCMP

Dân làng Sambor trên cù lao Kaoh Real cho biết họ đã được khảo sát ý kiến về dự án thủy điện này từ hồi đầu tháng 1-2018.

Năm 2006, Tập đoàn China Southern Power Grid ký bản ghi nhớ với Chính phủ Campuchia về việc tiến hành một khảo sát mới về đập Sambor. Dự án này được đề xuất lần đầu tiên hồi thập niên 1950 nhưng tập đoàn Trung Quốc rút lui năm 2011 sau khi tiến hành khảo sát địa chất với lý do “chúng tôi là một công ty có trách nhiệm”.

Không hiểu tại sao bây giờ đập Sambor bỗng nhiên được cân nhắc lại. Nếu trở thành hiện thực, đây sẽ là mối nguy hiểm tiềm tàng vô cùng lớn đối với hàng chục triệu người dân ở hạ lưu sông Mekong, trong đó có ĐBSCL.

PHÚC LONG

Nguồn: https://tuoitre.vn/dap-thuy-dien-trung-quoc-tiep-tuc-uy-hiep-song-mekong-2018040113203744.htm

Hàng trăm thuỷ điện thượng nguồn Mekong đe dọa Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

Thượng nguồn sông Mekong dự kiến có 467 thủy điện trong đó khoảng 1/4 đang trong quá trình xây dựng hoặc dự kiến xây dựng, gia tăng nguy cơ gây sạt lở và xói mòn ở hạ lưu.

Sông Cửu Long, bên lở bên bồi là quy luật bình thường của tự nhiên, tạo cân bằng tương đối cho hai bên bờ. Thế nhưng từ năm 2010 trở lại đây, sạt lở diễn ra nhanh hơn bồi tụ và vô cùng phức tạp, tác động không hề nhỏ đến phát triển kinh tế – xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vùng đất phía Nam Việt Nam.

Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng. Nằm ở khu vực hạ lưu sông Mekong, là nơi hứng chịu những hệ lụy gây ra bởi hoạt động của các đập thủy điện phía thượng nguồn.

Dự kiến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 468 đập thủy điện lớn nhỏ. Ảnh: Zing

Những năm gần đây, thủy điện trên dòng chính sông Mekong đua nhau mọc lên. Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch hơn 20 đập thủy điện, trong đó Trung Quốc đã xây được 8 đập ở thượng nguồn. Lào và Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn. Gần đây nhất, Lào tuyên bố xây dựng đập Pak Beng – đập thủy điện lớn thứ ba, sau hai đập Xayaburi và Don Sahong, bất chấp sự phản đối từ phía các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong.

Trong một báo cáo của Ủy ban Sông Mekong, nếu cả 3 công trình thủy điện của Lào: Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng đi vào hoạt động, thì tổng lượng dòng chảy sẽ giảm 6,2%/tháng, xâm nhập trên sông xâm nhập mặn trên sông Tiền, sông Hậu lấn sâu vào từ 2,8 – 3,8 km. Và với viễn cảnh không xa, khi cả chuỗi 11 đập thủy điện hoạt động thì tổng lượng dòng chảy sẽ giảm hơn 27%/tháng, xâm nhập mặn sẽ vào sâu trên sông Tiền, sông Hậu khoảng từ 10 – 18 km.

Ảnh: Zing

Theo ước tính của CGIRA, Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế, đến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 470 đập thủy điện lớn nhỏ. Số lượng hồ chứa được quy hoạch trên thượng lưu sông Mekong sẽ đạt tổng dung tích 101,9 tỷ m3.

Việc xây dựng và lên kế hoạch xây dựng hàng chục con đập trên dòng Mekong mang lại một số lợi ích cho quốc gia sở hữu nhưng lại gây ra vô vàn hệ lụy cho khoảng 60 triệu người sống phía dưới hạ lưu.

Điều khiến các chuyên gia lo ngại lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về đồng bằng sông Cửu Long nữa.

Sinh kế người dân ĐBSCL bị đe dọa

Sông Mekong bắt nguồn từ tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc, chảy qua Tây Tạng và Vân Nam trước khi đi vào Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và đổ ra biển tại Việt Nam. Theo tính toán, tổng lượng dòng chảy các sông suối vào lãnh thổ Việt Nam khoảng 830 – 850 tỉ m3/năm, trong đó sông Mekong đóng góp là 475 tỉ m3, tương đương với 53 – 57% tổng lượng dòng chảy toàn lãnh thổ.

Con sông này có vị trí quan trọng không chỉ đối với ĐBSCL mà đối với phát triển nhiều vùng khác như Tây Nguyên và những vùng lãnh thổ Việt Nam nằm trong lưu vực.

Tuy nhiên thời gian trở lại đây, nguồn nước suy giảm trên sông Mekong, tình trạng xâm nhập mặn tăng nhanh và nguy cơ nước biển dâng ảnh hưởng đến kế sinh nhai của bà con vùng ĐBSCL.

Sự mất mát lương thực do tác động của chuỗi các đập thủy điện sẽ rất cao và tăng dần theo thời gian. Khả năng “tan rã” quá trình kiến tạo đồng bằng khiến vùng châu thổ có thể không còn là vựa lúa của Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia.

Trong điều kiện chịu tác động của biến đổi khí hậu, thủy điện trên Mekong còn mở đường cho xâm nhập mặn lấn sâu vào ĐBSCL trong mùa khô, nông dân sẽ phải vất vả hơn.

Ngoài ra, phù sa bị giữ lại phía thượng nguồn sẽ dẫn đến suy giảm nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL.

Hạn mặn đe dọa vùng ĐBSCL. Ảnh: Ngọc Trinh

Tính toán sơ bộ của các cơ quan chức năng Việt Nam, tác động tích lũy của dự án thủy điện trên dòng chính cùng với các bậc thang thủy điện dòng chính sông Mekong có thể làm giảm từ 6 – 10% nguồn chất dinh dưỡng (đạm và lân) cho ĐBSCL. Theo đó, năng suất cây trồng được dự báo sẽ giảm từ 0,6 – 1 tấn/ha.

“Các dự án phát triển thủy điện làm ngưỡng đói nghèo gia tăng,” Tiến sĩ Naruepon Sukumasvin, Ban Thư ký Ủy hội sông Mê Kông Quốc tế cảnh báo. “Sản lượng đánh bắt cá ở hành lang sông Mê Kông sẽ giảm khoảng 1,57 tỉ USD”.

“Lượng cá trên dòng Mê Kông giảm, trọng lượng cá cũng giảm và ít cá to. Khoảng 60% thành phần loài di cư bị giảm sút. Theo đó xuất khẩu cá da trơn có giá trị hàng tỉ đô la của Việt Nam bị đe dọa, do cá da trơn phụ thuộc nguồn thức ăn là cá trắng di cư”, Tiến sĩ Naruepon Sukumasvin thông tin thêm.

Cuộc sống của gần 20 triệu cư dân ĐBSCL sống nương nhờ nông nghiệp, nương nhờ đánh bắt cá đang bị đe dọa bởi những đập thủy điện được xây dựng ngày một nhiều phía thượng nguồn.

Author: Hà Phương/Theo Zing

Nguồn: http://news.vinacircle.com/hang-tram-thuy-dien-thuong-nguon-mekong-de-doa-dong-bang-song-cuu-long-cua-viet-nam-post16015.html

 

Núi Taranaki ở New Zealand sắp được trao quyền hợp pháp của một con người

Núi Taranaki ở New Zealand sắp được trao quyền hợp pháp của một con người, trở thành thực thể địa lý thứ ba tại nước này được công nhận “tư cách pháp nhân”.

 

Núi lửa Taranaki

Núi Taranaki (hay Egmont), là kiểu núi lửa phân tầng (stratovolcano) phân bố tại khu vực Taranaki thuộc bờ biển phía tây Đảo Bắc New Zealand. Núi cao 2.518 mét, là một trong số những nón núi lửa đối xứng nhất thế giới. Núi còn có một nón thứ cấp là đỉnh Fanthams (Māori: Panitahi) cao 1.966 mét, ở phía nam. Núi Taranaki khá giống Núi Phú Sĩ (Mount Fuji) nên đã được dùng làm bối cảnh cho bộ phim The Last Samurai.

Taranaki có tuổi địa chất trẻ, bắt đầu hoạt động khoảng 135.000 năm trước. Vụ phún xuất lớn cuối cùng xảy ra vào khoảng năm 1655. Các nghiên cứu gần đây cho thấy trong 9000 năm qua, các đợt phún xuất nhỏ xảy ra trung bình khoảng 90 năm một lần, các đợt phún xuất lớn cách nhau khoảng 500 năm.

Năm 1881, một khu vực hình tròn với bán kính 9,6 km bao quanh đỉnh núi được bảo vệ như một Khu bảo tồn Rừng. Sau đó, các khu vực bao gồm các tàn tích núi lửa cổ của Pouakai và Kaitake đã được bổ sung vào khu Bảo tồn này. Năm 1900 Công viên Quốc gia Egmont đã được thành lập, đây là công viên quốc gia thứ hai ở New Zealand.

Ảnh: stokedforsaturday.com.

Hoạt động giải trí

Các hoạt động trượt tuyết, leo núi đã được tổ chức trên núi Taranaki như Khu trượt tuyết Manganui ở sườn phía đông. Các cuộc leo núi công cộng tới đỉnh Taranaki tổ chức vào những tháng mùa hè trên sườn núi phía bắc.

Taranaki sẽ được coi là một ngọn núi vừa phải để trèo. Người có thể lực tốt phải mất một ngày để lên và xuống núi. Thời tiết trên núi có thể thay đổi nhanh, gây rủi ro cho những người trèo núi. Tính đến ngày 27 tháng 6 năm 2017, có 84 người đã chết trên núi kể từ năm 1891 do sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Taranaki là ngọn núi nguy hiểm thứ hai ở New Zealand sau núi  Aoraki/Cook.

Trao quyền hợp pháp

Theo Guardian, 8 bộ tộc Maori địa phương và chính phủ sẽ chia quyền giám sát ngọn núi thiêng ở bờ tây Đảo Bắc của New Zealand. Từ lâu, người bản địa ở đây đã coi ngọn núi như tổ tiên và gia đình của họ. Quyền mới cấp của ngọn núi có nghĩa là nếu có ai làm hại đến nó, hành động này sẽ tương đương với làm hại các bộ tộc bản địa về mặt pháp lý.

Trong bản ghi nhớ ký kết mới đây giữa chính phủ và 8 bộ tộc, núi Taranaki sẽ trở thành “pháp nhân với quyền lợi riêng”. Bộ trưởng về đàm phán thỏa thuận Andrew Little cho hay ngọn núi giờ có quyền tương tự con sông Whanganui, được công nhận hồi tháng 1 năm nay là một cá nhân hợp pháp.

“Là người dân sống ở New Plymouth, tôi lớn lên dưới bóng ngọn núi ấy, vì thế mà tôi rất vui mừng với sự công nhận này”, ông Little bày tỏ.

Ông cho hay thỏa thuận sẽ giúp cho ngọn núi có được sự bảo vệ tốt nhất có thể, đặc biệt là khi nơi đây đang ngày càng thu hút nhiều khách du lịch từ sau khi Lonely Planet xếp hạng vùng Taranaki là địa điểm đáng đến thứ hai trên thế giới vào năm ngoái. Taranaki cũng được cho là ngọn núi được leo nhiều nhất ở New Zealand.

Nguồn: 1. Mountain Taranaki. Wikipedia

2. Núi thiêng 120 nghìn tuổi ở New Zealand được trao quyền con người. https://news.zing.vn/nui-thieng-120-nghin-tuoi-o-new-zealand-duoc-trao-quyen-con-nguoi-post806231.html

NASA giúp Việt Nam làm nông nghiệp công nghệ cao

ICTNEWS – Các vệ tinh của NASA từ vũ trụ sẽ theo dõi hình ảnh từ các vựa lúa tại tỉnh An Giang ở Đồng bằng Sông Cửu Long để đưa ra những phân tích về tình hình sản xuất, góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh lương thực toàn cầu.

Theo thông cáo của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ – NASA, khi giá lương thực toàn cầu tăng vọt đáng kể vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008, chi phí trong các khẩu phần ăn cơ bản tăng gấp đôi hoặc gấp ba tại nhiều nơi trên thế giới, gây ra những cuộc biểu tình và bạo loạn.

Nhằm ngăn chặn những cuộc khủng hoảng diễn ra, các nhà lãnh đạo toàn cầu đã đưa ra sáng kiến về một nhóm nông nghiệp giám sát, quy tụ đại diện đến từ các quốc gia và nhóm hỗ trợ.

Sáng kiến này được đặt tên là GEOGLAM, theo đó, các vệ tinh sẽ thu dữ liệu hình ảnh từ trái đất và đưa ra dự đoán tốt hơn về thời tiết, cũng như năng suất mùa màng trong tương lai.

Một trong những cây trồng được ưu tiên giám sát là cây lúa, đây là nguồn cung cấp lương thực chính cho hàng tỷ người trên thế giới.

Tuy nhiên, lúa lại là loại cây khá phức tạp để đưa ra những dự đoán, chủ yếu là do thiếu các thông tin liên quan đến việc canh tác, sản xuất liên quan đến loại cây này. Chẳng hạn, một đợt lũ lụt hay hán hán ở khu vực Đông Nam Á có thể khiến hàng trăm nghìn người trên khắp thế giới chết đói, sáng kiến GEOGLAM được thành lập để giải quyết vấn đề này.

Ảnh chụp vùng nông nghiệp của An Giang từ vệ tinh từ NASA, trong đó những vùng tối màu đen sẫm là vùng đang ngập úng nước cần được xử lý – Ảnh: NASA

Một số vệ tinh phổ biến được sử dụng trong GEOGLAM là các vệ tinh Landsat đã được phóng lên trên quỹ đạo trái đất từ năm 1972, mới nhất là vệ tinh Landsat 8, ngoài ra còn có các vệ tinh Terra và Aqua cũng được sử dụng để phục vụ cho dự án.

Những bức ảnh chi tiết, được chụp bằng nhiều thiết bị kỹ thuật cao sẽ thể hiện cả những dải nhiệt hồng ngoại, giúp quan sát độ ẩm, nhiệt độ trên bề mặt các vùng canh tác để xem xét, đưa ra những phản ứng phù hợp.

Nathan Torbick, Giám đốc của một trong những công ty tham gia vào GEOGLAM, Applied Geosolutions cho biết, nhiệm vụ này không hề đơn giản: “Bạn phải là một chuyên gia để biến dữ liệu thành những thông tin hữu ích”.

Applied Geosolutions cùng với sự hỗ trợ của những giải pháp đến từ trung tâm vũ trụ Stennis Space Center đã thiết kế ra một chương trình gọi là RDSS, kết hợp dữ liệu từ vệ tinh của NASA và nhiều phương pháp phân tích khác nhau, đưa ra những thông tin: “cung cấp một bức tranh đầy đủ về những gì đang xảy ra trên mặt đất, tạo ra các thông tin trong thời gian thực, giai đoạn sinh trưởng, sản lượng dự kiến của cây lúa…”.

Tại các quốc gia ngoài Mỹ, trước mắt hệ thống này sẽ hỗ trợ thử nghiệm tại Indonesia và Việt Nam, trong các chương trình hỗ trợ về an ninh lương thực.

Bradley Doorn, quản lý của chương trình Water Resources Applied Sciences cho biết: “Khi chúng tôi mù thông tin về các hoạt động sản xuất, thị trường sẽ trở nên khó suy đoán và rất dễ biến động, điều này không tốt cho các chính phủ, doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng”.

Thành Lương

Các vấn đề môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long

Nguyễn Trần Nhẫn Tánh

Khoa Kỹ Thuật – Công nghệ – Môi trường, Trường Đại học An Giang

Tóm tắt

Bài viết này xem xét các vấn đề môi trường chính ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Điều kiện môi trường ở ĐBSCL đã thay đổi mạnh mẽ theo thời gian. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ĐBSCL đang đối mặt các vấn đề về cấp nước, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng. Người dân đã áp dụng các giải pháp để đối phó với sự thay đổi. Tuy nhiên, các giải pháp vẫn còn nhiều hạn chế.

I.Giới thiệu

Các con sông hình thành nên các đồng bằng trên thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành từ sông Mekong có nguồn gốc từ Tây Tạng. Đây là con sông lớn nhất Châu Á. Ở ĐBSCL, người dân địa phương khai thác các nguồn tài  nguyên thiên nhiên chủ  yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động này làm thay đổi mạnh mẽ đồng bằng. Nhìn chung, ĐBSCL có các vấn đề môi trường về cấp nước, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng như các đồng bằng khác như Vịnh Chesapeake, sông Columbia, Everglades-South Florida, sông San Joaquin, sông Colorado, sông Mississippi, the Puget South, the Netherlands và sông Po.

II.Các vấn đề môi trường ở ĐBSCL

Các vấn đề môi trường ở ĐBSCL liên quan nhiều đến sông Mekong. Sông Mekong có chiều dài khoảng 4200 km (trong đó, phần ở Việt Nam khoảng 230km). Lưu vực sông khoảng 795000km2 (trong đó 39000 km2 ở Việt Nam). Diện tích ngập ở Việt Nam vào khoảng 19000 km2. Ở ĐBSCL, lũ là hiện tượng tự nhiên. Nhìn về lịch sử cho thấy con  người  đã  phát  triển  các  hệ  thống kênh và đê bao để quản lý nước. Năm 1820, Thoại Ngọc Hầu đã khởi đầu đào một kênh chính. Sau đó, vua Minh Mạng đã xây dựng một con kênh nối với vịnh Siam để tăng khả năng kiểm soát khu vực.  Từ  thời  Pháp,  từ  năm  1880  đến 1960, ĐBSCL là nơi để canh tác nông nghiệp với việc phát triển của nhiều con kênh và đê (Biggs, 2001).

Hoạt động chủ yếu ở ĐBSCL là sản xuất nông nghiệp. Đồng bằng có hai mùa rõ rệt. Trong đó, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Hai mùa này cung cấp các điều kiện môi trường thích hợp cho việc canh tác. Thông thường, rau được canh tác trong mùa khô và lúa vào mùa mưa (Nakai  and  Cuc,  2005).  Bên  cạnh  đó, nghề nuôi cá Basa cũng là một hoạt động tiêu biểu mang nhiều lợi ích cho người dân địa phương.

Ở ĐBSCL, người dân nhận nhiều lợi ích từ nguồn nước. Phù sa trong nước tạo một môi trường trong đó có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết người dân ở vùng  ĐBSCL  sử  dụng  nước  dọc  theo sông cho các hoạt động và hoàn trả lại các thành phần độc hại. Hiện tại, nguồn nước đang bị ô nhiễm ngày càng tăng do thuốc trừ sâu, trừ cỏ và phân bón… Mỗi năm, nông dân bơm nước trực tiếp vào đất canh tác và giữ đó trong 1 vài tháng và sau đó tháo nước vào các con kênh và sông trực tiếp. Họ lặp lại  chu kỳ này nhiều lần cho đến khi thu hoạch lúa. Do nhiều người nhất là người dân ở nông thôn lấy nước trực tiếp từ các con kênh và sông nên họ nhận các chất ô nhiễm nước trong cả năm. Mặc dầu mỗi tỉnh ở ĐBSCL có hệ thống nước cấp riêng nhưng các hệ thống chỉ phục vụ cho người dân sống ở các vùng đô thị hoặc thị xã, thị trấn và một số khu vực nông thôn.  Điều  này  cho  thấy,  vấn  đề  cấp nước vẫn đang là một nhu cầu lớn cho người dân ở ĐBSCL.

Song song với vấn đề nước cấp, lũ là một trong những vấn đề đáng ngại ở vùng đồng bằng. Mỗi năm, khu vực có một  mùa  lũ  thường  kéo  dài  trong  3 tháng. Vào mùa lũ, người dân có thể tận dụng lợi ích từ phù sa trong việc cung cấp  dinh  dưỡng  cho  đất  đai  và  nuôi dưỡng cá (Nga, 1999). Ở ĐBSCL, lũ thường bao phủ từ 1,4 đến 1,9 triệu ha (chiếm khoảng 50% diện tích của đồng bằng). Lũ lớn thường xuất hiện 2 năm một lần. Trong nhiều trường hợp, vùng đồng bằng có lũ trong 3-4 năm liên tiếp chẳng hạn như 1937-1940, 1946-1949 và 1994-1996. Năm 2000 và năm 2001 là thời điểm mà ĐBSCL có các cơn lũ lớn gây  ra  nhiều  khó  khăn  cho  đời  sống người dân. Người dân địa phương đối phó với lũ bằng cách xây dựng nhiều con đê để bảo vệ lúa và đẩy mạnh làm lúa 3 vụ trong năm (Tanh, 2004). Tuy nhiên, việc xây dựng đê để kiểm soát lũ gây ra các tác động tiêu cực đến canh tác lúa. Trong nghiên cứu về so sánh lợi ích và chi phí của làm lúa 2 vụ (không có đê khép kín) và làm lúa 3 vụ (có đê khép kín), Tanh (2004) chỉ ra rằng chênh lệch về lợi ích chi phí giữa 2 khu vực là khoảng 11 triệu đồng/ha/năm, trong đó khu vực không có đê khép kín có lợi ích cao hơn. Điều này đã đã đặt ra bài toán về các giải pháp nào tốt nhất đối với việc kiểm soát lũ ở khu vực.

Bên cạnh vấn đề nước cấp và lũ, sự thay đổi về hệ sinh thái cũng là một vấn đề quan trọng mà nhiều người quan tâm. ĐBSCL có các hệ sinh thái đa dạng như hệ sinh thái nước ngọt, nước mặn, rừng ngập mặn,… ĐBSCL cùng với các đặc điểm của đồng bằng đã thay đổi theo thời gian. Hoạt động nông nghiệp và nhà ở được xem như là các nhân tố chính làm thay đổi hệ sinh thái của đồng bằng. Các hoạt động này góp  phần vào việc các cùng đất tự nhiên dành cho hệ sinh thái bị mất đi, nhất là đất ngập nước. Trong một bức tranh khác, sự thay đổi khí hậu liên quan đến chảy tràn có thể làm tăng việc chảy tràn ở vùng Đông Nam Châu Á (IPPC, 2001). Sự thay đổi này sẽ thay đổi các hệ sinh thái ở ĐBSCL. Sự thay đổi về sinh thái là một tình trạng chung không chỉ riêng ĐBSCL mà cũng là một vấn đề của tất cả các đồng bằng trên thế giới.

Trong bất kỳ sự thay đổi nảo của đồng bằng, cuối cùng thì sự thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của công cộng. Sự thay đổi về điều kiện môi trường của Đồng bằng sẽ làm cho người dân gặp khó khăn nhiều hơn về sức khỏe. Bên cạnh Tây dược, nhiều người ở vùng nông thôn sử dụng các loại lá và cây cỏ để trị bệnh như ở Vườn Quốc gia Tràm Chim, Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen (Maltby, Linstead, Ni, Beazley, Khiem và Tanh, 2006). Sự biến đổi về các hệ sinh thái có thể làm mất đi các loại thực vật  phục  vụ  nhu  cầu  của  người  dân. Thêm vào đó, chất lượng nước cũng bị ảnh hưởng từ sự thay đổi này. Do việc xâm nhập mặn đang ngày càng phát triển ở ĐBSCL, nhiều người đang thiếu các nguồn nước chất lượng tốt cho sức khỏe. Các loại thuốc trừ sâu trong nước phát sinh từ sản xuất nông nghiệp đang tổn hại đến những người không tham gia vào hệ  thống cấp  nước của  các  tỉnh  trong vùng Đồng bằng.

Quản lý ĐBSCL đang là vấn đề thách thức. Sự ưu tiên phát triển kinh tế làm tổn hại đến  môi trường của đồng bằng. Chính  quyền địa  phương đã  cải thiện về luật lệ về môi trường và đã bắt đầu gặt hái được một số thành tựu trong việc bảo vệ đồng bằng. Các tỉnh đang thảo luận để hợp tác trong việc bảo vệ đồng bằng mặc dầu các hành động vẫn còn hạn chế. Nhiều tỉnh đã thiết lập các kế hoạch cho việc thích nghi với biến đổi khí hậu. Nhiều cuộc họp về bảo vệ môi trường, nhất là quản lý đê bao đã được tổ chức ở cấp độ địa phương và vùng để đạt được các thỏa thuận chung giữa các tỉnh (Tanh, 2004). Hiện tại chính quyền địa phương và trung ương đang tăng cường sẽ hỗ trợ tài chính cho việc bảo vệ ĐBSCL. Tuy nhiên, việc quản lý ĐBSCL là một bài toán khó bởi vì Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển mà đang thiếu các nguồn lực về tài chính không chỉ cho phát triển kinh tế mà còn đáp ứng việc bảo vệ môi trường.

III. Kết luận

Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi mạnh mẽ. Sự thay đổi thể hiện ở các ảnh hưởng về nước cấp, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng. Người dân địa phương đã xây dựng vài giải pháp để ứng phó với các vấn đề của đồng bằng cũng như với các tác động của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên các giải pháp thì vẫn còn  nhiều    hạn  chế.  Trong  tương  lại, dưới các tác động của biến đổi khí hậu, các kịch bản về thay đổi của đồng bằng nên được xem xét cẩn thận để tìm ra các kế hoạch hành động và chính sách khả thi cho sự sống còn và phát triển của đồng bằng.

Tài liệu tham khảo

Biggs, David. 2001. Comparing stories of flood control in Misssissippi and the Mekong Deltas: What lessons can be learned?. Seminar in Department of Environment and Natural resources management, Can Tho University, pp. 1-12

Intergovernmental Panel on  Climate Change (IPPC). 2001.  Climate Change 2001: Impacts, Adaptation, and Vulnerability. Cambridge University Press.

Nakai M. and N. T. T. Cuc. 2005. Field application of an insect virus in the Mekong Delta: Effects of a Vietnamese nucleopolyhedrovirus on Spodoptera litura (Lepidoptera: Noctuidae) and its parasitic natural enemies. Biocontrol Science & Technology, vol.15, p.443-453.

Nga, T.T. 1999. Ảnh hưởng của phù sa trên năng suất lúa và một số động vật thủy sinh chính tại An Giang (phần I và II) (Effects of alluvial on rice production yield and some major aqua-fauna in An Giang Province (Part I and II). Department of Science, Technology and Environment, An Giang Province.

Maltby,  E.,  C  Linstead,  DV  Ni,  H  Beazley,  NT  Khiem  and  NTN  Tanh.  2006. Application  of  Ecosystem  Approach  to  strategic  wetland  management  in  Vietnam’s Mekong Delta. Darwin Initiative.

Tanh, N.T.T. 2004. Tác động của đê bao đến kinh tế, xã hội và môi trường huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (Socio-economic and environmental impacts of full flood protection levees  in  Phu  Tan  district,  An  Giang  Province).  Master’s  program  thesis.  Can  Tho University.

Nguồn: http://daihocxanh.hoasen.edu.vn/hoi-thao/cac-van-de-moi-truong-o-dong-bang-song-cuu-long-527.html