Ý kiến trái chiều về dự án lấn sông xây biệt thự ở Đà Nẵng

“Điều này trái ngược với xu thế hiện nay trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đó là chuyển từ khống chế dòng chảy theo ý muốn của con người sang dành không gian cho sông (rooms for rivers), dành không gian cho giao tiếp giữa con Người với Thiên nhiên”. (1)

Chuyên gia lo ngại việc Đà Nẵng cho triển khai các dự án bất động sản bằng việc đổ đất đá xuống sông Hàn sẽ gây ách tắc dòng chảy.

Những ngày này người dân Đà Nẵng đi qua cầu Thuận Phước nhìn sang sẽ thấy ở cửa sông khu đất nhô hẳn ra mặt nước, đã được làm bờ kè bê tông kiên cố dài 731 m. Đây là diện tích thuộc dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng. Cạnh đó là một dự án khác cũng nằm ở bờ Đông sông Hàn (quận Sơn Trà).

Hai dự án này đều đã được thành phố cấp phép cho xây dựng khu biệt thự nghỉ dưỡng, căn hộ cao cấp, toà nhà cao tầng (phía đường Trần Hưng Đạo và Lê Văn Duyệt).

Năm năm trước

Khu vực dự án bất động sản và bến du thuyền sau 5 năm. Ảnh: Nguyễn Đông

Dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng được phê duyệt từ năm 2009 và 10 năm qua đã nhiều lần điều chỉnh quy hoạch. Cụ thể, năm 2017, thành phố điều chỉnh quy hoạch theo hướng giảm diện tích từ hơn 17 ha xuống còn gần 12 ha, trong đó giữ nguyên diện tích đất và giảm diện tích mặt nước từ trên 6 ha xuống một ha.

Ngoài ra, khu vực bờ sông điều chỉnh từ 13 khối tháp cao tầng còn hai khối tháp (từ 16 – 33 tầng) và 57 căn biệt thự; duy trì lối đi công cộng ven sông rộng 8 m.

Từ năm 2016, người dân Đà Nẵng đã gửi phản ánh trên hệ thống chính quyền điện tử thành phố, với lo lắng dự án đổ đất lấn sông ở vị trí cửa sông Hàn sẽ gây ảnh hưởng đến dòng chảy, đặc biệt là mùa mưa lũ. Sở Xây dựng sau đó có văn bản trả lời, khẳng định không ảnh hưởng.

Theo Sở này, trước khi đồng ý cho nhà đầu tư xây dựng bờ kè và làm dự án, thành phố đã khảo sát điều kiện địa chất, nghiên cứu dòng chảy và lấy ý kiến các đơn vị liên quan. Việc làm tuyến đê, kè này nhằm mục đích “đảm bảo an toàn cho khoảng 500.000 người dân tại các khu đô thị Mân Quang, khu dân cư làng cá Nại Hiên Đông, chống sạt lở bờ sông, bảo vệ các công trình kiến trúc…”.

Ông Thái Ngọc Trung – Phó Giám đốc Sở Xây dựng cũng nhấn mạnh hai khu đất trên “không phải là dự án lấn sông”.

“Bờ kè quy hoạch từ năm 2008, còn các dự án được cấp phép sau. Chủ đầu tư đổ đất trên diện tích quy hoạch bờ kè nên không phải là lấn sông”, ông Trung cho biết.

Chuyên gia thuỷ lợi Huỳnh Vạn Thắng – nguyên Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đà Nẵng cho biết, ông là người trực tiếp thẩm định dự án bất động sản và bến du thuyền và đưa ra ý kiến tham mưu cho thành phố triển khai.

Lý giải việc dự án không ảnh hưởng đến dòng chảy sông Hàn, ông Thắng nói từ thời Pháp thuộc đã cho xây dựng một bờ kè dẫn dòng từ sông Hàn ra đến cảng Tiên Sa (dưới bán đảo Sơn Trà), nhờ đó dòng sông không bị bồi lấp hay thay đổi dòng chảy trong hơn 100 năm qua.

“Dự án đang triển khai nằm trong tuyến đê kè phía trong giúp chống sạt lở bờ sông, không lấn ra lòng sông vì không vượt qua bờ kè dẫn dòng thời Pháp, nghĩa là không cản trở dòng chảy. Ở đây có chăng vấn đề là mất mỹ quan nơi cửa sông”, ông Thắng nói.

KTS Hồ Duy Diệm nêu quan điểm “Đà Nẵng nên dừng dự án ở cửa sông”. Ảnh: Nguyễn Đông.

Nhiều chuyên gia đã phản bác lại lập luận của ông Thắng và Sở Xây dựng. “Dự án rõ ràng đã thu hẹp dòng chảy tự nhiên của sông Hàn, gây ra xung đột khi nước từ thượng nguồn thoát ra biển”, KTS Hồ Duy Diệm – Chủ tịch Hội bảo vệ lưu vực và dải biển Việt Nam nói.

Theo chuyên gia này, lòng sông Hàn bị nhồi đất và các trụ kè bê tông cứng thì sau này sẽ xảy ra hệ lụy; khi hai bên bờ bê tông hóa dĩ nhiên lòng sông sẽ bị bào sâu lớp cát để nước kịp chảy; nếu nước không thoát kịp thì gây ngập úng. Hơn nữa, theo thời gian, đoạn cửa sông bị thắt lại, nước sẽ khoét sâu đáy hai bên bờ khiến bờ có thể đổ sập.

“Sở và các đơn vị đã tham mưu cho thành phố cấp phép, dĩ nhiên họ khẳng định là đúng. Nhưng ngay khi dự án chưa triển khai, dư luận phản ứng thì thành phố nên cho tạm dừng để tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia. Tôi đề nghị dừng dự án và hoàn trả lại nguyên trạng cho dòng sông”, ông Diệm nói thêm.

PGS, TS Vũ Trọng Hồng – nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam cho rằng, chính quyền Đà Nẵng không nên để doanh nghiệp đổ đất xuống sông Hàn làm dự án bất động sản, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu rõ rệt như hiện nay.

“Trên thế giới không ai đi lấn sông cả, trong khi đó sông Hàn lại rất nhỏ”, ông Hồng nói và cho rằng dòng sông hình thành từ tự nhiên, trải qua những trận mưa, lũ từ thượng nguồn đổ về xói dần và tạo thành dòng ổn định. Do đó phải giữ đủ diện tích để tiêu nước mưa và thoát lũ. Nếu lấn sông sẽ gây ra ngập úng, chưa kể còn ảnh hưởng đến tiêu nước ngầm.

Hai dự án ven sông đang đồng loạt triển khai hạ tầng trước khi xây dựng nhà cửa. Ảnh: Nguyễn Đông.

TS Hồng đề xuất Đà Nẵng giao cơ quan chuyên môn tính toán, với lượng nước mưa dự báo trong bao nhiêu năm thì dòng sông có thể dâng nước lên bờ và gây ngập. Nhiều nước ở châu Phi và Nhật Bản đã gặp tình cảnh khi lũ tràn lên thì dân chạy không kịp. Trong khi đó mật độ dân cư ven sông Hàn đang ngày càng đông lên.

Vẫn theo ông Vũ Trọng Hồng, ngành nông nghiệp Đà Nẵng dựa vào những số liệu trước đây để tham mưu cho thành phố cấp phép dự án cũng cần phải xem lại. Vì đang trong thời kỳ biến đổi khí hậu nên tất cả những số liệu cũ không còn phù hợp nữa.

“Các nước đang chung tay chống biến đổi khí hậu. Đà Nẵng lại cho đổ đất đá xuống sông, rồi xây dựng bê tông hóa là không nên. Sông Hàn cần được mở rộng ra nữa mới giúp tiêu nước cho khu đô thị trong tương lai, chứ không nên lấn và không được lấn”, ông Hồng nhấn mạnh.

Nguyễn Đông

Nguồn: https://vnexpress.net/thoi-su/y-kien-trai-chieu-ve-du-an-lan-song-xay-biet-thu-o-da-nang-3910750.html

(1) Trích từ “Dự án Cái Lớn-Cái Bé: Lý do không thế phê duyệt của GS. TSKH, Nguyễn Ngọc Trân; Nguồn: https://www.thiennhien.net/2018/09/14/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet/

 

Advertisements

Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu

Giữa tháng 3, cô Phương Chi mời đi đảo Phú Quí để tìm hiểu những giá trị địa chất – địa mạo phục vụ cho luận án sắp tới. Phương Chi thông báo có Quế Nam (mới bảo vệ luận văn thạc sỹ) và bạn Ngọc Nhiên làm khóa luận về địa du lịch cùng đi; vậy thì đi thôi.

Từ năm 1995 khi tham gia lập bản đồ địa chất Bình Thuận đã rất muốn ra đảo Phú Quí, những năm gần đây khi nghiên cứu về di sản địa chất, địa mạo phục vụ bảo tồn giá trị tự nhiên và phát triển du lịch lại thôi thúc người viết bài này ra đảo.

1.Hành trình tới đảo

14:00 ngày 03/04 bốn thày trò trên xe du lịch The Sing Tourist tại 273 Đề Thám bắt đầu hành trình. 18:30 đến Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Đường Hiền Vương. Homestay nhỏ, bài trí đơn giản nhưng mọi người đều cảm nhận được sự thân thiện: một sơ đồ kiểu mindmap giới thiệu các điểm du lịch, một không gian nhỏ gắn ảnh các du khách để lại, một kệ sách nhỏ, một bàn ăn nhỏ, mấy ghế đu và võng, mấy chậu hoa. Đêm đó, những trận mưa đầu mùa làm cho Phan Thiết có vẻ dịu hơn.

Homestay Cô Tư tại 160 Hiền Vương, Phan Thiết
Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Hiền Vương
Một góc Homestay Cô Tư Phan Thiết

Sáng 04/04 cô My (chủ quán) gọi xe đưa bốn thày trò ra bến tàu. Tàu Superdong mới hoạt động, thời gian đi Phú Quí là 2,5 giờ, giá vé 350.000 đ/người, vé cho người cao tuối (trên 60) là 295.999 đ, lần đầu tiên trong đời được giảm vé. Tàu khởi hành lúc 9:30, đến bến tàu đảo Phú Quí lúc 12:00. Giỏi ‘Phú Quí’ và Sang đã chờ nhóm ở bến tàu. Đưa 2 xe máy cho thày trò, Sang dẫn mọi người về Homestay Chú Tư nghỉ vì Homestay Cô Sang (mẹ Giỏi) nơi mà nhóm đặt trước chưa bố trí được chỗ do du khách muốn ở lại thêm trên đảo.

2. Khảo sát

15:00 chiều 04/04 điểm khảo sát đầu tiên là Núi Cấm, chùa Linh Bửu, đuốc Bác Hồ và Hải đăng cao 18 m. từ Hải Đăng có thể quan sát, chụp ảnh núi Cao Cát phía đông, địa hình phía nam đảo, các thôn thuộc xã Ngũ Phụng phía tây nam, bờ biển tây và bờ biển bắc. Điểm khảo sát thứ hai là bờ biển mũi Bà Giàng, bờ biển Mũi Mom và ngắm hoàng hôn từ Mũi Mom.

Đảo xanh Phú Quí nhìn từ Đèn biển trên Núi Cấm. Tại đây có thể thấy đảo Hòn Tranh ở phía nam

7:00 ngày 05/05 khảo sát núi Cao Cát, chùa Linh Sơn. Tại đây hướng dẫn các bạn quan sát địa hình, địa mạo, đo thế nằm các lớp trầm tích núi lửa. Tại đỉnh núi Cao Cát (cao 89 m) có thể quan sát bờ biển phía đông với mũi Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ có dạng vòng cung, địa hình phía nam đảo, núi Cấm phía Tây.

Lên chùa Linh Sơn trên núi Cao Cát

Buổi trưa ra nhà bè ở Lạch Dù thưởng thưc mấy món hải sản tươi sống. 14:30 sang đảo nhỏ Hòn Tranh. Các điểm khảo sát gồm Vũng Phật, bãi Nam, hang Đú. 17:00 về lại đảo lớn và chạy đến bờ kè Ngũ Phụng đón hoàng hôn.

Ngày 06/04 khảo sát các đồi cát đỏ đường Lý Thường kiệt, đồi bazan đường Ngô Quyền, Đường hầm xẻ đôi, gành Hang, cột cờ Phú Quí, dốc Phượt, đồi Ông Đụn. Nhiều cấu trúc địa chất đẹp, quan hệ địa tầng xuất lộ như đơn nghiêng của trầm tích núi lửa, bazan lỗ rỗng xen bazan đặc xít, mặt cắt vỏ phong hóa trên bazan… địa mạo cũng khá đa dạng: vách biển, thềm biển, mũi nhô, bãi cát…

Buổi chiều thăm quan Vạn An Thạnh, chùa Linh Quang, đền thờ công chúa Bàn Tranh và ra đón hoàng hôn tại bờ biển Long Hải.

Chuẩn bị đón hoàng hôn
Hoàng hôn trên biển Long Hải

3. Vài nét về tài nguyên địa chất – địa mạo

Núi Cấm cao 108 m là núi lửa kiểu vòm, lộ bazan màu xám đen đặc xít, vỏ phong hóa trên bazan kết tảng, rắn chắc, những khối lăn kích thước tới 1 m3. Hai khối laterit đặt tại cổng chùa Linh Bửu là laterit trên đá bazan Núi Cấm.

Cảnh quan Núi Cấm nhìn từ núi Cao Cát

Núi Cao Cát cao 89 m, quan sát hình thái tại thực địa, thế nằm các lớp cát kết tuf, bột kết tuf, dăm sạn chứa nhiều mảnh và khối đá bazan cho thấy đây là cấu trúc phun nổ. Giới hạn núi lửa là chân phía tây nam núi Cao Cát và một đường gờ dạng vòng cung từ Doi Thày qua Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ đến mũi Long Hải ở phía đông.

Phía sau Phương Chi là di tích vòng cung núi lửa Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ
Đo thế nằm các trầm tích núi lửa trên đỉnh núi Cao Cát

Gò Gành Hang cao 45 m, hình thái và thế nằm các lớp đá cho phép dự đoán đây là núi lửa kiểu trung tâm. Khoảng hơn nửa khối lượng phía đông núi lửa bị biển xâm thực tạo nên các dạng địa hình bờ biển ấn tượng như các gành đá, thềm biển, vách biển, bãi cát…

Các lớp cát kết tuf và bazan lỗ rỗng tại Gành Hang

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Bề mặt cát đỏ cao 30 – 40 m phân bố khá rộng ở trung tâm đảo, thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt mịn, gắn kết yếu. Nhìn chung màu sắc, thành phần và cấp hạt khá giống với cát đỏ Phan Thiết.

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí
Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Các bãi biển cát trắng mịn

Bãi cát vịnh Triều Dương, bãi Nhỏ và bãi Nam (đảo Hòn Tranh) đều là những bãi tắm đẹp, hoang sơ, cát trắng mịn ven chân vách đá núi lửa và chìm dần xuống nước biển trong xanh.

Đi bè xốp từ tàu vào bãi Nam đảo Hòn Tranh

Đa dạng địa hình bờ biển xâm thực

Sự phá hủy của sóng biển vào nền đá bazan dòng chảy, đá vụn núi lửa hay đá cát kết đã tạo nên sự đa dạng địa hình bờ biển xâm thực. Vô số dạng địa hình được đặt tên dựa vào hình dạng như: mũi Gò Cao, bàu Mực Khô (tảng đá giống con mực khô), mũi Xương Cá, gò Móng Tay; dựa vào màu sắc như: mũi Đá Đen, bãi đá bàn Than, bàu đá Đỏ; đặt theo tên người như mũi Doi Thày, mũi Bà Giàng, bàu Ông Giao, hay đặt tên theo truyền thuyết như Vũng Phật.

Vũng Phật phía nam đảo Hòn Tranh

4. Người dân đảo

Những người dân mà chúng tôi gặp đều rất thân thiện, luôn sẵn sàng và nhiệt tình trao đổi những thông tin mà nhóm quan tâm.

Giỏi ‘Phú Quí’ và các bạn trẻ làm du lịch

Giỏi ‘Phú Quí’ tận tình chỉ dẫn những điểm du lịch hấp dẫn trên đảo mà nhóm cần khảo sát, cung cấp số điện thoại những nhân vật am hiểu về danh thắng và lịch sử để nhóm tìm gặp. Sang (chủ homestay Chú Tư) chỉ dẫn cho nhóm đường đi, những nơi thưởng thức món ăn như nhà Bè ở Rạch Dù, quán Ông Già, các quán ăn sáng ở đường Võ Văn Kiệt. Huấn và My dẫn nhóm qua Hòn Tranh thăm quan Vũng Phật, Hang Đú và bãi Nam. Giỏi, Sang, Huấn, My thuộc nhóm tám bạn trẻ làm du lịch đảo Phú Quí.

Giỏi ‘Phú Quí’ đang trao đổi với nhóm về các vị trí khảo sát

Bác Trần Trọng

Qua số điện thoại ghi ở công chùa, chúng tôi liên hệ để gặp bác Trần Trọng quản lý Vạn An Thạnh. Chỉ sau 10 phút bác đã đến mở cửa bảo tàng, giới thiệu cặn kẽ về bộ xương cá nhà táng (thuộc họ cá voi) có chiều dài trên 17 m. Bác Trọng cũng cho biết, đầu năm 2016, Ban quản lý khu di tích lịch sử Vạn An Thạnh đã tiếp nhận một ông Lụy (cá voi chết – cách gọi trang trọng trong tín ngưỡng ngư dân) lớn hơn cá voi ở bảo tàng do ngư dân Bình Định lai dắt từ vùng biển phía nam đảo Phú Quí. Nghi thức an táng ông Lụy đã được tiến hành tại vịnh Triều Dương.

Bác Trọng giới thiệu về Vạn An Thạnh

Bác Đỗ Kim Long

Qua Giỏi ‘Phú Quí’ chúng tôi có số điện thoại của bác Đỗ Kim Long quản lý chùa Linh Quang, bác chính là tác giả bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí viết trên phiến đá bazan đặt tại cổng Chùa. Tấm bản đồ mà nhóm mang theo được trải trên nền sân chùa, từng vị trí trên đảo Phú Quí, nhất là đảo nhỏ Hòn Tranh được bác chỉ dẫn chi tiết. Bác Long cũng lược kể về lịch sử Chùa Linh Quang, về một vụ cháy lớn làm hư hại các pho tượng lúc chùa còn là nhà tranh, về câu chuyện Vũng Phật. Có nhiều công việc phải giải quyết nhưng bác Long vẫn dành gần 2 giờ để chỉ cho chúng tôi về Phú Quí.

Bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí. Từ bài thơ này nhóm tìm gặp bác Đỗ Kim Long (tác giả bải thơ) để xác định các địa danh trên bản đồ
Bác Đỗ Kim Long trao đổi với nhóm về các địa danh trên đảo Phú Quí

Vũng Phật, một vũng nhỏ khoét vào vách đá vụn núi lửa ở tây nam Hòn Tranh. Người dân Phú Quý nói rằng, khi chùa Linh Quang bị cháy, tượng phật bị thiêu rụi; tại vũng này có một linh thạch dáng phật nổi lên vào những ngày trời xanh, biển lặng. Ngư dân đã thỉnh tượng phật về đặt tại chùa Linh Quang để thờ cúng. Kể từ đó đảo Phú Quí thanh bình, dân đảo an lành. Vũng Phật đến giờ vẫn là chỗ dựa tinh thần của ngư dân khi ra khơi đánh bắt cá, tôm.

Bác Năm Quang

Khảo sát khu vực Gành Hang xong, chúng tôi ghé quán nước bác Năm Quang ở lối vào cột cờ Phú Quí. Các hũ rượu ngâm dứa tươi màu nâu thẫm rất bắt mắt, thế là câu chuyện về các cây thuốc trên đảo được bác Năm Quang say sưa kể: rượu dứa trị sỏi thận, hạn chế bệnh tiểu đường; cây ngũ trảo (từ bi) trị bệnh phong, đau nhức; cây chân âm có tác dụng điều hòa máu cho sản phụ; cây rau lẻ (hải sâm) trị bệnh phát ban, nấu canh. Bác năm Quang kể thời trẻ thường đi lấy cây thuốc cho mọi người, đó là việc làm từ thiện mà bác yêu thích.

Hỏi bác Năm Quang về những cây làm thuốc trên đảo Phú Quí

5. Trở về

Ba ngày trên đảo trôi qua thật nhanh, lộ trình và khối lượng đặt ra cho chuyến đi về cơ bản hoàn thành, nhưng để hiểu biết về tự nhiên, văn hóa/lịch sử của hòn đảo này cần thời gian hàng tháng, hàng năm.

Tiếc nhất trong chuyến đi tới đảo lần này là không đón được bình minh ở Gành Hang do không đặt được chỗ khách sạn tại Vịnh Triều Dương.

6:30 ngày 07, trả hai xe máy, Giỏi ‘Phú Quí’ nói mọi người cứ để xe (cả chìa khóa xe) tại bến tàu.

7:00 về Phan Thiết trên tàu Hưng Phát, tàu cũ hơn, chạy chậm hơn, trên 60 tuổi lại không được giảm vé (hình như trên 70 mới được xem là người cao tuổi). Nhưng đi tàu Hưng Phát được ngồi trên mui để ngắm biển, trời bao là và đảo Phú Quí từ khơi xa.

11:00 tàu tới cảng Phan Thiết, ăn trưa tại cảng. 12:00 lên tàu hỏa để trở về Sài Gòn – kết thúc một chuyến đi đẹp đến Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu.

H & H

 

 

 

Lớp cao học Quản lý TNTN và MT – K28 khảo sát hoạt động khai thác và cải tạo mỏ

Sau khi kết thúc phần lý thuyết môn Khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường, chủ nhật 24/03 dẫn 16 bạn học viên cao học khảo sát thực tế hoạt động khai thác khoáng sản (chủ yếu là vật liệu xây dựng) tại ba khu vực: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Châu Thới và Bửu Long. Nội dung khảo sát gồm:

– Các moong khai thác đá, khai thác đất bỏ hoang (trong khuôn viên Đại học Quốc gia)

– Các mỏ đang diễn ra hoạt động khai thác (khu vực Châu Thới)

– Các moong khai thác đá được cải tạo thành Khu du lịch Bửu Long (Phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa).

Một vài hình ảnh dưới đây phần nào nói lên việc sử dụng đất tại các khu vực này.

Hồ Đá (Đại học Quốc gia TP.HCM, trước nhà khách)

Quanh hồ Đá có một số vết lộ mà sinh viên có thể tìm hiểu về thạch học, cấu trúc và khoáng sản
Chọn một vị trí đẹp chụp ảnh kỷ niệm chuyến đi
Hàng rào mới kiên cố hơn thay thế hàng rào cũ. Tuy vậy một vài nơi song sắt đã bị phá

Hồ đất (cạnh Viện Tài nguyên và Môi trường)

Khu vực cấm vào vườn bạch đàn ven hồ đất
Năm nay ai đó có (sáng kiến) dùng xích khóa lu nhựa đựng rác vào gốc cây bạch đàn
Nhưng rác vẫn khủng khiếp
Vẫn tụ tập giải trí, buôn bán và tự xử lý rác (đốt)
Một diện tích rất rộng mặt hồ đất ken kín lục bình
Vừa câu cá vừa thư giãn bên hồ. Hàng rào quanh hồ nay chỉ còn những cột bê tông

Khu vực Châu Thới

Cúng bái tại chùa Núi Châu Thới
Mỏ Núi Nhỏ cách chùa Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam
Bãi tập kết sản phẩm tại chân núi Châu Thới
Mỏ Tân Đông Hiệp cách chùa Châu Thới khoảng 800 m về phía tây bắc. Hiện mỏ đã được khai thác tới độ sâu 100 m

Khu du lịch Bửu Long (thành phố Biên Hòa)

Trước hồ Long Ẩn (được cải tạo từ moong khai thác đá)
Yếu tố văn hóa Tây Nguyên năm nay xuất hiện trong Khu du lịch
Một điểm nhấn mới tại khu du lịch

H &H

 

 

Nhìn lại các công trình ngăn mặn hiện có ở ĐBSCL

Hòa Tân lược ghi

(TBKTSG Online) – LTS: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã nhận được bản thảo về “Đánh giá các hệ thống ngăn mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và dự án thủy lợi sông Cái Lớn – Cái Bé” của nhóm nghiên cứu gồm Lê Anh Tuấn – Nguyễn Hữu Thiện – Dương Văn Ni – Nguyễn Hồng Tín – Đặng Kiều Nhân.

Đây là một công trình khoa học dài hơn 15.000 chữ với 37 trang, xét thấy phần đánh giá tác động các công trình ngăn mặn phù hợp với tờ báo, nên tòa soạn xin được lược đăng. Tựa đề chính và các tựa phụ do tòa soạn đặt.

Ngọt hóa bán đảo Cà Mau

Âu thuyền Tắc Thủ: một điển hình tồi về đầu tư thủy lợi vùng Bán đảo Cà Mau

Dự án Quản Lộ – Phụng Hiệp, ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được khởi công từ những năm đầu của thập niên 1990 với vốn vay của Ngân hàng Thế giới, có trị giá đầu tư xấp xỉ 1.400 tỉ đồng (theo thời giá lúc đó). Trong suốt giai đoạn 1990 – 2000 và tiếp đến nay, hàng trăm công trình cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, giữ ngọt đã được đầu tư.

Bản đồ qui hoạch thủy lợi vùng Nam Bán Đảo cá Mau. Ghi chú: Qui hoạch được duyệt theo quyết định số 1336/QĐ-KH ngày 8/5/2009. Bản đồ không thể hiện các cống nhỏ nội đồng và các cống mới xây sau đợt hạn-mặn 2016

Theo dự tính của ngành thủy lợi, hệ thống đưa nước ngọt từ sông Hậu về bán đảo Cà Mau sẽ cung cấp nước tưới, phục vụ chủ yếu trồng lúa, cho 70.000 ha đất nông nghiệp của tỉnh Bạc Liêu, 50.000 ha đất của Cà Mau và 66.000 ha đất của Kiên Giang. Do nhiều cống ngăn mặn đã cản trở giao thông thủy nên phát sinh ra những công trình khác như hệ thống Âu thuyền Tắc Thủ, được xây dựng tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, thuộc xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình) và xã Khánh An (huyện U Minh, Cà Mau).

Âu thuyền Tắc Thủ được khởi công xây dựng từ năm 2001-2002, với tổng vốn gần 80 tỉ đồng vào thời điểm đó. Công trình này do Công ty Tư vấn xây dựng Thủy lợi II chịu trách nhiệm thiết kế và giám sát thi công xây dựng.

Tuy nhiên, công trình sau hơn 5 năm khởi công đã bắt đầu bộc lộ những bất cập trong mục tiêu và thực tế.

Từ năm 1997-1998, đã có hàng trăm nông dân đòi phá các hệ thống cống – đập này để lấy nước nuôi tôm, điển hình là sự kiện tháng 7/1998 nông dân Bạc Liêu kéo nhau phá đập Láng Trâm (xã Tân Thạnh, huyện Giá Rai).

Người dân Bạc Liêu và Cà Mau phá đập ngăn mặn (Nguồn: VTV, Giữa đôi dòng mặn ngọt). https://vtv.vn/video/phim-tài-liệu-giua-doi-dong-man-ngọt-83951.htm

Và làn sóng phá cống ngăn mặn lan sang tỉnh Cà Mau (như ở các địa điểm Vườn Cò, Rạch Mới, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân). Chính mâu thuẫn mặn – ngọt này, đến năm 2000 Chính phủ quyết định cho các tỉnh vùng ĐBSCL chuyển đổi 450.000 ha đất trồng lúa sang đất nuôi tôm, khiến mục tiêu chính dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau gần như bị thất bại.

Âu thuyền Tắc Thủ trong hệ thống ngọt hóa này là một điển hình “phá hoại” lớn của dự án: sau khi hoàn thành năm 2006, công trình trở thành một khối bê tông vô dụng, làm cản trở giao thông, gây thất thoát ngân sách và tạo nhiều bức xúc cho người dân sở tại và dư luận đánh giá xấu cho ngành giao thông – thủy lợi. Gần như đến nay, không ai chịu trách nhiệm về những đầu tư kém hiệu quả và lãng phí này.

Nguồn nước ô nhiễm

Hình ảnh phổ biến ở các vị trí công ngăn mặn: rác tích tụ và nước có màu tối đen do các chất ô nhiễm phân hủy. Cống Bãi Giá, Sóc Trăng chụp ngày 11/12/2017, Lê Anh Tuấn

Do dòng chảy sông rạch thường xuyên bị chặn lại bởi các cống, phía trong cống không còn hiện tượng nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước ròng cho mỗi chu kỳ rằm nửa tháng. Trước khi có cống – đập, biên độ thủy trình trong sông kênh có thể dao động đến gần 2 mét. Do cống đóng gần như suốt mùa khô, dòng sông lúc nào cũng đầy nước nhưng là loại nước tù, không chảy hoặc chảy lờ đờ rất chậm. Điều này khiến tình trạng ô nhiễm tích lũy trong nước rất cao. Rác rến từ nguồn thải dân cư và các chất độc như thuốc trừ sâu, thuộc diệt cỏ và phân bón tràn xuống nước tích tụ dày đặc do thiếu nguồn nước biển để rửa trôi.

Hệ quả là hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước đều rất thấp khiến khả năng tự làm sạch của nguồn nước bằng cơ chế oxy hóa, pha loãng và rửa trôi bằng thủy triều. Nước trong sông rạch mang màu đen đặc trưng và có mùi thối đặc trưng do các hợp chất hữu cơ phân hủy trong nước.

Tại những vùng nước lợ bị đóng kín tù đọng, lục bình phát triển dày đặc, nước bị ô nhiễm bời nhiều chất thải, hoàn toàn không sử dụng được cho sinh hoạt (Ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Hiện nay sông ngòi ở các vùng thủy lợi này gần như không còn sử dụng được cho mục đích ăn uống, thậm chí tắm giặt. Người dân chuyển sang sử dụng nước ngầm, nhiều giếng nước ngầm đã khoan đến độ sâu 80 – 120 m để lấy nước ngọt. Sự khai thác nước ngầm để lấy nước ngọt quá lớn vùng “ngọt hóa” đang làm gia tăng tốc độ sụt lún đất ĐBSCL nhanh gấp nhiều lần nước biển dâng. Hệ quả này sẽ dần dần làm hư hỏng công trình, gây nguy cơ cao cho vấn đề nhiễm mặn và nhiễm bẩn nước ngầm.

Các giếng khoan nước ngầm xuất hiện ngày càng nhiều, ngay trong vùng ngọt hóa, do nước mặt bị ô nhiễm, đe dọa tình trạng lún sụt mặt đất (Hình chụp ở Hậu Giang)

Nguồn lợi thủy sản mất dần

Rất khó để tìm ra các loài cá trắng trên các dòng sông bị chặn bởi các cống đập, thay thế trong thủy vực bằng các loài cá đen nước tĩnh như cá lóc, cá trê và các loài cá ngoại lai như cá rô phi, cá lau kiếng. Lý do là hệ sinh thái sông ngòi (riverine environment) đã bị chuyển sang hệ sinh thái hồ (lacustrine environment).

Trao đổi với người dân trong khu vực, tất cả đều khẳng định nguồn lợi thủy sản gần như bị suy giảm nghiêm trọng, môi trường sống của các loài thủy sinh bị kiệt quệ thấy rõ. Nghiên cứu khảo sát nguồn lợi thủy sản của trường Đại học Cần Thơ ở các khu vực có dự án thủy lợi Ô Môn – Xà No, Quản Lộ – Phụng Hiệp qua thu thập mẫu (3 lần mỗi năm) và thêm phỏng vấn người dân địa phương cho thấy, cả nguồn cá nước ngọt và nước lợ trong vùng có dự án thủy lợi giảm sút gấp 3 lần so với nguồn cá đối chứng ở bên ngoài hệ thống.

Về mặt sinh thái nông nghiệp, nếu độ chua của nước pH > 4 và độ mặn S < 0,4% (4 ppt) thì có thể trồng lúa, nhưng với đặc điểm một vùng sông nước và nuôi trồng thủy sản đa dạng từ vùng nước mặn, nước lợ, nước ngọt thì ngoài 2 thông số nói trên, còn có các thông số hàm lượng oxy hòa tan, độ đục,… và cả yếu tố vi sinh, dịch bệnh… việc quản lý các hệ thống thủy lợi không sao thỏa mãn được hết.

Chất lượng đất thay đổi

Một ghi nhận rõ hơn nữa là chất lượng đất, hay nói cách khác là sức khỏe của đất (soil healthy) bị suy kiệt nhanh chóng ở những vùng đất canh tác có cống ngăn mặn phía bên ngoài. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ, khi lớp đất mặt ngập nhiều ngày, hàm lượng oxy khuếch tán vào nước giảm vài ngàn đến hơn 10 ngàn lần so với điều kiện tiếp xúc với không khí, lúc đó hiện tượng yếm khí toàn phần xảy ra. Đất bị ngập nước hoàn toàn sau một ngày thì hàm lượng oxy giảm nhanh tới mức không phát hiện được sự hiện diện oxy trong đất nữa. Khi đó, các tác nhân như nitrogen dioxide, các hợp chất mangan, sắt, carbon dioxit, ammoniac, hiđro sunfua, metan, acetylene, ethanol, các sản phẩm biến dưỡng của vi sinh vật,… gia tăng, gây tổn thương vùng rễ, làm nhiễm độc cho cây trồng.

Các vườn cây cam đang tươi tốt như thế này sẽ phải lần lượt bị đốn bỏ để trồng tràm vì nông dân không chịu nổi chi phí bơm nước ra liên tục và phải sử dụng nhiều phân thuốc cho đất (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nước cầm tù dâng cao, thấm bão hòa vào các lớp đất mặt khiến các loại cây trồng khó phát triển, các loại cây ăn trái có bộ rễ sâu hơn 20-30 cm dần dần bị vàng lá, thối gốc, thối rễ mà chết. Muốn giảm thiệt hại, người nông dân phải chấp nhận bơm thoát nước liên tục, khiến chi phí đầu tư ban đầu cao vì phải dùng nhiều năng lượng như điện, xăng dầu để chạy máy bơm, chưa kể công sức và thời gian phải lo trực chạy máy, sửa chữa máy, theo dõi mực nước.

Hầu hết khu vực ven biển là đất có tầng phèn hoạt động và nước thủy cấp nhiễm mặn. Xì phèn hoặc mặn xảy ra làm giảm năng suất cây trồng/vật nuôi khi mực thủy cấp thấp và không cấp đủ nước ngọt do vận hành công trình không phù hợp.

Thay đổi về sinh cảnh thực vật

Các dòng sông bị đóng kín sau mùa mưa để giữ lại nước ngọt khiến thủy triều từ biển không vào nội đồng được. Đất đai trong vùng canh tác trở nên thiếu dinh dưỡng và cây trồng phải phụ thuộc vào phân bón. Chính điều này, về lâu dài, đã làm nhiều nông đã bị buộc phải chặt bỏ hàng ngàn ha vườn cây ăn trái, chuyển sang trồng mía, rồi mía cũng thất bại, chuyển sang trồng tràm, nhưng tràm trong điều kiện ngập nước kéo dài cũng rất chậm lớn.

Cây dừa nước bị chết là do sâu bệnh phát triển trong môi trường nước chuyển từ mặn lợ sang ngọt (Ảnh chụp ở Gò Quao, Kiên Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nhiều mảng cây rừng ven biển bị suy kiệt mà chết dần, sạt lở ven biển gia tăng. Còn phía trong đồng thì dòng sông biến thành các hồ chứa, nước bị cầm tù khiến nhanh chóng bị ô nhiễm, hôi thối. Lục bình và nhiều loại tảo lục phát triển, ghe tàu đi lại rất khó khăn, chậm chạp và tốn kém.

Nông dân đang chuyển tràm trồng thay thế các vườn cây ăn trái do đất bị cống chặn giữ nước liên tục (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Các loại cây quen sống ở vùng nước lợ, điển hình như cây dừa nước (Nypa fruticans), sẽ nhanh chóng bị vàng lá, hư hại và chết do hệ sinh thái nước lợ biến thành nước ngọt nên loài sâu ăn lá dừa nước phát triển. Nói chung, tính đa dạng sinh học khu vực bị suy giảm đáng kể.

Sự thay đổi điều kiện giao thông thủy

Ở các vùng có cống ngăn mặn thuộc dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, lục bình phát triển dày đặc, ngăn cản giao thông thủy, hạn chế ánh sáng và không khí cho các nguồn thủy sinh và gây ô nhiễm do tù đọng (ảnh chụp ở cống Mỹ Phước, Sóc Trăng ngày 17/5/2018, Lê Anh Tuấn)

Dễ dàng thấy được các cống đập đặt ngay vị trí dòng chảy thì ảnh hưởng đến giao thông thủy. Nước không lưu thông thì lục bình thuận lợi phát triển bao trùm mặt thoáng. Việc đi lại rất trở ngại. Nhiều nơi người dân đã phải dung thuốc diệt cỏ để xịt lên lục bình nhằm tạo lối đi khiến nước sông càng ô nhiễm hóa chất nặng nề, tôm cá bị tiêu diệt và sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng.

Đoạn kênh ở Long Mỹ, Hậu Giang: do dòng chảy bị chận nên lục bình phát triển ưu thế, giao thông thủy tắc nghẽn, chi phí ghe xuồng đi lại gia tăng, có lúc người dân buộc phải dùng thuốc diệt cỏ để xịt lục bình lấy đường cho ghe xuồng chạy, hệ quả ô nhiễm hóa chất gia tăng (ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Chi phí vận chuyển lúa ra ngoài đê tăng xấp xỉ 10%, máy gặt đập bên ngoài đưa bằng xà lan vào trong đê rất khó, hoặc không vào được (như vùng Xà Phiên, Long Mỹ).  Tại khu vực Ngã Bảy, Phụng Hiệp, Hậu Giang lượng tàu ghe đến giao dịch giảm đi hẳn.

Hệ thống tời kéo-đường ray để kéo vỏ lãi qua cống

Một số cống gây hạn chế giao thông thủy khi đóng cống hoặc do thiết diện chiều rộng cống hạn chế. Trong khi ở khu vực nông thôn nơi chưa có hạ tầng phát tiển, giao thông thủy đóng vai trò rất quan trọng. Khi thu hoạch lúa, hoặc vận chuyển hàng hóa nặng, giao thông thủy là lựa chọn ưu tiên của người dân.

Hệ thống tời kéo võ lãi qua cống Nàng Rền, nhưng rất ít hoạt động (ảnh chụp ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Tại một cống, có sáng kiến làm bộ tời kéo vỏ lãi vượt qua cống trên 2 thanh ray, muốn qua người dân phải trả phí. Tại một số cống ngăn mặn, người dân muốn lưu thông qua cống phải chi tiền đút lót cho người quản lý cống mở cống.

Sự thay đổi văn hóa – xã hội

Một điều mà nhiều người nhận xét, ở những nơi có cống – đập chặn dòng, tình trạng di dân ngày càng phổ biến. Việc canh tác khó khăn, chi phí đầu tư cao mà lợi nhuận giảm, cộng thêm tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm, nhiều người đã bỏ đồng ruộng đi mưu sinh ở các khu công nghiệp hoặc thành phố (ở địa phương quen gọi một tên chung là “đi Bình Dương”). Hiện tượng này không phải do vấn đề dân số, tốc độ tăng dân số của ĐBSCL hiện nay là âm, mà do kinh tế nông thôn đang đi xuống. Trong vấn đề di dân, phụ nữ và trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Do sông ngòi ô nhiễm, trẻ em nông thôn ngày nay không biết bơi, chỉ trừ những đứa trẻ ở các nhánh sông lớn như Sông Tiền, Sông Hậu. Đây là một nét văn hóa đã bị mất của ĐBSCL. Hoạt động giao thông thủy sút giảm cũng là mất một nét quan trọng của văn hóa sông nước ĐBSCL. Lượng cá trắng sút giảm nghiêm trọng nên một số món ăn mất hình ảnh con cá trên thực đơn.

Sự suy giảm chất lượng nguồn nước, đi lại khó khăn,… cũng là một vấn đề khó khăn liên quan đến tiện nghi, an toàn, chất lượng sống và sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em. Hầu hết các dự án không quan tâm đến yếu tố giới, qua trao đổi với các địa phương, tham vấn và quản lý nước đều không xem xét sự tham gia của phụ nữ.

Trong hầu hết các dự án thủy lợi, đối tượng cư dân được nói đến nhiều là nông dân, đặc biệt là nông dân trồng lúa.  Thực tế, trong vùng nông thôn ven biển châu thổ Cửu Long, có rất nhiều nhóm cư dân khác nhau của địa phương, có các sinh kế khác nhau như thương buôn, chế biến nông sản, bốc xếp hàng hóa, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… Ảnh hưởng công trình đến sinh kế của họ, gần như không được chú ý nên dễ gây những tác động dây chuyền.

Tính kém hiệu quả kinh tế công trình

Ngân sách sử dụng cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm tỷ lệ cao ở các công trình thủy lợi. Chi phí nhiều ngàn tỉ của các công trình thủy lợi là do ngân sách trung ương hoặc địa phương thực hiện, tập trung cho các công trình xây dựng và chi phí duy tu, bảo dưỡng và vận hành, nhưng chưa bao giờ được hạch toán vào bài toán kinh tế được – mất. Cái được là tăng sản lượng, vụ lúa, nhưng chi phí các công trình này là “miễn phí-trên trời rơi xuống” không hề được đưa vào giá thành sản xuất. Ngoài ra những tổn thất về tài nguyên và môi trường to lớn khủng khiếp cũng chưa được tính vào chi phí.

Nói cách khác, nếu nhìn tổng thể trên bình diện nền kinh tế quốc gia, nếu càng tiếp tục cách như hiện nay, càng làm quốc gia càng nghèo thêm.

Mặt được của các công trình thủy lợi ngăn mặn, ngăn lũ là góp phần tăng vụ, chủ yếu là lúa, làm tăng thu nhập của người dân từ 1 lên 2 vụ, hoặc từ 2 lên 3 vụ. Tuy nhiên,với một nơi vốn sẵn giàu tài nguyên thiên nhiên như ĐBSCL chỉ cách đây vài thập niên, sự hủy hoại nguồn thủy sản và nguồn nước sông ngòi để đánh đổi sản lượng lúa chất lượng thấp để xuất khẩu hơn 50% là điều đáng tiếc.

Hiệu suất và hiệu quả sử dụng của các công trình hạn chế, ít hơn dự kiến trong thiết kế bởi vì thời gian và tần suất vận hành ít. Nhiều công trình cống chưa một lần vận hành từ ngày xây dựng đến nay. Điều này gây thất thoát và lãng phí lớn vì các công trình này chi phí đầu tư rất cao so với các giải pháp phi công trình.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung, lúa là quan trọng nhưng ĐBSCL không nhất thiết phải làm lúa và không chỉ có cây lúa, khi có nước lợ vào sẽ có sự đa dạng sinh học khác nhau hoàn toàn, thuận theo tự nhiên hơn khi mình ngăn chặn, bài học cống đê bao ngăn lũ (có nhiều tác động đến sản xuất nông nghiệp), cần xem xét học tập bài học từ dự án chống lũ, hay là chuyển sang cách làm khác, không tác động đến tự nhiên, đảm bảo cho nông dân sản xuất thực tế khách quan, người dân an toàn sinh sống.

https://www.thesaigontimes.vn/279478/nhin-lai-cac-cong-trinh-ngan-man-hien-co-o-dbscl.html

Phê duyệt dự án công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé dù có nhiều tranh cãi, phản đối

Dù có nhiều tranh cãi, phản đối của một số nhà khoa học, chuyên gia am hiểu về ĐBSCL ở Trường ĐH Cần Thơ, nhưng Bộ NN&PTNT đã chính thức có quyết định “phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1”.

Trước đó, ngày 18.12.2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé tại văn bản số 3805/QĐ-BTNMT.

Vùng Tây Nam sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có ba dự án “khủng”, được tính bằng đơn vị ngàn tỉ đồng, gồm Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn – Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Nhiều ý kiến cho rằng các dự án này không thành công. Vì vậy, trước khi quyết định phê duyệt một dự án khủng, Bộ NN&PTNT nên thực hiện một nghiên cứu toàn diện những dự án thủy lợi đã triển khai vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng Tây sông Hậu nói riêng về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé triển khai sẽ tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên và xã hội trên một diện tích đáng kể vùng đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được thông qua, dự án đã được phê duyệt, nhưng nhiều vấn đề mà các nhà khoa học đặt ra vẫn còn đó hoặc tiếp tục chờ đợi các cơ quan có trách nhiệm giải trình.

Dưới đây là một số ý kiến của các chuyên gia về dự án này được tổng hợp từ nhiều nguồn.

I.Tóm tắt dự án [1; 2]

Dự án thủy lợi CLCB được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư giai đoạn 1 ngày 17-4-2017, dựa theo tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) ngày 5-4-2017.

Công trình do Ban Quản lý đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10 – thuộc Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư. Đơn vị tư vấn lập báo cáo đầu tư dự án là Liên danh Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam – Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam – Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Thủy lợi 2.

Cơ quan lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường là Viện Kỹ thuật Biển, Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam. Dự án là sự kế thừa của các đề tài nghiên cứu từ năm 2000 và dự án được lập từ năm 2010 đến nay.

Dự án nằm chủ yếu ở vùng Bán đảo Cà Mau; phía bắc là kênh Cái Sắn, phía Nam và Đông Nam là kênh Quản lộ-Phụng Hiệp, phía Đông Bắc là sông Hậu và phía Tây là Vịnh Thái Lan. Tổng diện tích đất tự nhiên vùng dự án là 909.248 ha (chiếm hơn 20% diện tích toàn ĐBSCL), thuộc Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và TP Cần Thơ.

Vị trí vùng dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé
Vị trí cống Cái Lớn-Cái Bé

Mục tiêu đầu tư

Dự án có 4 mục tiêu:

– Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn – Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang.
–  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định.

– Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn;

– Kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án.

Qui mô đầu tư dự án giai đoạn 1

Xây dựng cụm công trình giai đoạn 1, gồm các hạng mục:

– Cống Cái Lớn, cống Cái Bé;

– Đê nối hai cống Cái Lớn, Cái Bé với Quốc lộ 61;

– Kênh nối sông Cái Lớn – Cái Bé;

– Sửa chữa cống âu Tắc Thủ.

Tổng mức đầu tư dự kiến: 3.309,5 tỷ đồng

Sơ họa tổng thể các hạng mục công trình dự án [3]
Phối cảnh cống Cái Lớn – Cái Bé

II.Ý kiến trước khi phê duyệt dự án

1) Nhóm chuyên gia ở Trường Đại học Cần Thơ (PGS. TS. Lê Anh Tuấn, TS. Dương Văn Ni, TS. Nguyễn Hồng Tín, TS. Đặng Kiều Nhân và chuyên gia độc lập về sinh thái, ThS. Nguyễn Hữu Thiện) [4]

Về mục tiêu kiểm soát nguồn nước mặnphải trả lời được 2 câu hỏi: Nguồn nước mặn nào? Tại sao phải kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển? Vì ở ĐBSCL không có nhánh sông tự nhiên nào từ sông Hậu chảy ra biển Tây. Đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp mà do phù sa từ phía biển bồi tụ; trong đất có muối. Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối trong đất bị mao dẫn lên mặt đất; vào mùa mưa, nước mưa hòa tan muối và đổ vào sông rạch. Như vậy là có hai nguồn nước mặn: nước mặn từ phía biển và nước mặn hình thành tại chỗ. Vậy mục tiêu của dự án chỉ kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển (xây cống) liệu có đúng?

Về mục tiêu giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng thuộc lưu vực sông CLCB. Theo đề cương dự án thì đó là mâu thuẫn mặn – ngọt. Nhưng thực tế ở đây, nơi nào đất gò hơn thì bà con xẻ mương phèn trồng lúa do dễ tiêu thoát nước còn nơi nào đất trũng thấp (đất láng) thì bao vuông nuôi tôm sú, nên đất nông nghiệp xen kẽ với đất nuôi trồng thủy sản. Cách sử dụng nước là nếu cần bơm nước ngọt cho lúa thì người dân chọn lúc nước ròng và nếu cần bơm nước mặn cho tôm thì người ta chọn lúc nước lớn. Có mâu thuẫn gì đâu? Bài học về việc người dân đòi phá bỏ cống Láng Trâm (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau) để có đủ nguồn nước mặn cho nuôi trồng thủy sản vẫn còn nguyên giá trị.

Về mục tiêu góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang. Thủy sản này là nuôi trồng hay đánh bắt tự nhiên? Năng suất thủy sản nuôi trồng của khu vực này là rất thấp so với thủy sản đánh bắt tự nhiên trên sông rạch và vùng biển tiếp giáp. Trong đó có rất nhiều loài thủy sản sử dụng sông rạch như là bãi đẻ và vùng biển tiếp giáp là bãi ăn, và nhiều loài thì sử dụng ngược lại. Vì vậy lúc nước lớn là lúc nhiều loài thủy sản từ biển vào sông rạch để sinh sôi và kiếm ăn. Vậy việc đóng cống lúc này sẽ làm ảnh hưởng ra sao?

Với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn ngọt cho vùng ven biển. Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn-phèn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loãng độ mặn-phèn này không? Rồi rửa lượng mặn – phèn này đi đâu? Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ, chưa chắc có đủ nước ngọt để bơm. Nếu có, chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau. Những tình huống này, trong đề cương của dự án chưa đưa ra được giải pháp.

Với mục tiêu tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn. Đây là mục tiêu mà từ các giải pháp đến tính khả thi đều kém thuyết phục. Vì sự di chuyển nước của vùng bán đảo Cà Mau là nhờ hai chế độ triều khác nhau giữa biển Đông (bán nhật triều) và biển Tây (nhật triều) và mực nước trên sông Hậu, mà chúng tạo ra lực hút – đẩy rất nhịp nhàng, làm cho nước di chuyển trong toàn vùng và di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây.

PGS. TS Lê Anh Tuấn [5]

Dự án chưa đưa ra được những dữ liệu đầy đủ để chứng minh việc bỏ ra một khoản tiền lớn như trên để xây đập, thì lợi ích thu được có đủ để bù cho khoản đầu tư đó hay không? “Tăng canh tác, tăng sản lượng (từ việc xây đập bảo vệ vùng ngọt hóa, nếu có), nó có bù được cho những tác động khác hay không.

Hệ sinh thái trong khu vực sẽ bị thay đổi vì ĐBSCL có 3 vùng sinh thái, gồm vùng nước ngọt ở phía trên, vùng nước lợ ở giữa và vùng nước mặn giáp biển. Nếu làm đập chặn ngang thì sẽ làm phá vỡ hệ sinh thái nước lợ, trong khi đó, chưa đánh giá được việc chặn như vậy sẽ có lợi nhiều hay bị hại nhiều.

Việc xây dựng đập có thể dẫn đến chất lượng nước sẽ thay đổi theo hướng xấu đi, bởi giữa sông và biển có mối quan hệ, biển giúp cải tạo ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông, khi công trình đó được xây thì ô nhiễm có khả năng xảy ra ở phần bên trong đập.

Việc ngăn mặn, giữ ngọt thông qua xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé để sản xuất lúa (hay một sản phẩm nông nghiệp nào đó liên quan sử dụng nước ngọt) có mang lại lợi ích lớn hơn nuôi tôm hay không? “Đến bây giờ chưa thể chứng minh được rất nhiều vấn đề ở đây (dự án) thì trước tiên cần rút ra những bài học từ cống đập Ba Lai (Bến Tre) – dự án ngăn mặn, giữ ngọt tỉnh Bến Tre”.

PGS. TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh rằng nếu chưa rút ra được bài học từ cống Ba Lai thì việc đầu tư làm dự án Cái Lớn – Cái Bé là điều chưa nên trong lúc này.

ThS. Nguyễn Hữu Thiện (chuyên gia độc lập về sinh thái đồng bằng SCL) [6]

Theo ThS. Nguyễn Hữu Thiện, việc đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi này là không cần thiết. Bốn luận điểm được đưa ra trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, để khẳng định sự cần thiết và cấp bách phải đầu tư dự án nêu trên, chưa có tính thuyết phục.

Luận điểm thứ nhất được nêu ra xuất phát tình trạng khô hạn của mùa khô năm 2016. Theo ông Thiện, đây là một sự kiện cực đoan 90 năm mới có một lần, không phải là xu hướng chung của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nên không thể căn cứ vào yếu tố cực đoan đó để khẳng định cần thiết phải đầu tư dự án nêu trên.

“Ngay từ tháng 4-2016 chúng tôi đã nói phải hết sức bình tĩnh vì cái này (khô hạn, xâm nhập mặn) không phải là tình hình chung của đồng bằng. Thực tế chứng minh năm 2017 bình thường, 2018 bình thường và thậm chí bây giờ ngồi đây tôi có thể dự đoán năm 2019 cũng bình thường”, ông cho biết.

Luận điểm thứ hai được viện dẫn là nguy cơ nước biển dâng. Ông Thiện cho rằng, đây là luận điểm thiếu căn cứ, không đúng với thực tế của ĐBSCL, tức khả năng nước biển dâng đến năm 2100 chỉ khoảng 53 cm, chứ không phải là 1 mét như những kịch bản được đưa ra trước đó.

“Vì vậy, đừng lấy chuyện nước biển dâng đề “hù dọa””, ông nói và cho biết sụt lún đất mới là vấn đề đáng lo hơn. Nguyên nhân sụt lún là do sử dụng nước ngầm vì sông ngòi bị hủy hoại, không chảy được, trong khi lượng phân bón, thuốc trừ sâu sử dụng quá nhiều cho nền nông nghiệp và do đắp đập.

Luận điểm thứ ba được đưa ra để xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé khi nói ĐBSCL gánh trọng trách đảm bảo an ninh lương thực, theo ông Thiện là không đúng vì nói năm khô hạn 2016 an ninh lương thực bị đe dọa, nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu hơn 4,8 triệu tấn gạo, tức có dư cả chục triệu tấn lúa, thì rõ ràng an ninh lương thực không hề bị đe dọa.

Luận điểm thứ tư được đưa ra khi nói nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt ở ĐBSCL do tác động của thượng nguồn. Ông Thiện không đồng tình và cho rằng đập thủy điện không làm hết nước, mà chỉ có tác động đến phù sa và thủy sản.

Theo ông, việc bỏ ra hơn 3.300 tỉ đồng (giai đoạn 1) để xây dựng dự án thì rất cần sự thận trọng. “Nó liên quan trách nhiệm của những người đưa ra quyết định, đánh giá tác động, phải có trách nhiệm với thế hệ sau, chứ không thể xài tiền một cách vô tội vạ như thế này”, ông cho biết.

Cũng theo ông Thiện, việc xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé có thể đẩy quy hoạch tích hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư rơi vào “thất thủ”; chiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng thuận thiên, theo nguyên tắc Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu cũng sẽ thất bại.

2) TS. Lê Xuân Thuyên, Giảng viên, Bộ môn Sinh thái và sinh học tiến hóa, Khoa Sinh học và Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh [7].

“Dự án HTTL CL-CB có một lỗ hổng lớn là không có phân tích và quản lý rủi ro, một đòi hỏi theo thông lệ đối với bất cứ dự án lớn nào. Do không làm việc này nghiêm túc từ đầu nên nhiều dự án của Việt Nam sau khi hoàn thành thường đổ bể, hoặc hoạt động không đúng mục tiêu và lại phải có hậu điều chỉnh…làm thêm, mới…

Mặt khác dự án “lồng ghép” hai nội dung có thuộc tính tương đối tách biệt nhau. Đó là ứng phó với thiên tai và phát triển kinh tế vùng.

Để ứng phó thì không thế thiếu xác định phạm vi hứng chịu tác động (exposure) và tần suất xuất hiện (frequency) của thiên tai, và đánh giá khả năng tự phục hồi (resilience) của hệ thống (ở đây là môi trường và các hệ sinh thái tự nhiên và nông nghiệp).

Đợt hạn cực trị năm 2016 được các nhà chuyên môn xác định có tần suất xảy ra là 70 năm/1 lần. Vì vậy lấy hạn 2016 làm mục tiêu ứng phó và đầu tư nhiều ngàn tỷ để ứng phó liệu có hợp lý không, có quá lãng phí không (giả thiết rằng đầu tư các công trình là đúng).

Đối với nội dung phát triển kinh tế, dự án cần có hiệu quả kinh tế là dĩ nhiên, nhưng cũng cần có các giải pháp thay thế (alternative solutions) vì mô hình sản xuất, hệ thống sản suất thay đổi theo nhu cầu thị trường, theo tinh thần NQ 120, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp. Trong dự án, cây lúa dường như là đối tượng tham chiếu gần như duy nhất và chưa thấy dự án đưa ra những giải pháp thay thế.

Khi dự án có mục tiêu lồng ghép thì nó sẽ phải thỏa mãn các mục tiêu riêng một cách rõ ràng, đầy đủ và thực chất. Lồng ghép không có nghĩa là “pha trộn” một cách chủ quan các vấn đề nhằm “minh giải” về sự cần thiết của dự án với lý do là đã có đề cập tới cả hai mục tiêu ứng phó với thiên tai và phát triển kinh tế.”

III. Ý kiến khi phê duyệt dự án

1) Thông qua ĐTM với tỷ lệ 100%, dù còn nhiều tranh cãi! [8]

Theo báo nguoidothi.net.vn, tại buổi thẩm định ĐTM dự án Cái Lớn Cái Bé vào ngày 3.11.2018, ý kiến đánh giá, phản biện của các thành viên Hội đồng thẩm định là khoa học, khách quan, chỉ ra nhiều điểm chưa thuyết phục và vấn đề của dự án.

Theo đó, nội dung ĐTM dự án cho thấy các số liệu được đưa ra tính toán là chưa đáng tin cậy, chưa đầy đủ.

Cơ chế vận hành hai cống Cái Lớn, Cái Bé chưa được tính toán đầy đủ, quá sơ sài, đơn giản và không thực tế.

Báo cáo chỉ mới đánh giá tác động của giai đoạn 1 mà không đầy đủ hai giai đoạn để có những đánh giá toàn diện dự án.

Báo cáo ĐTM cũng cho thấy dự án chỉ đánh giá tác động theo đúng một chiều là ủng hộ, thiếu khách quan khi cho rằng chỉ duy nhất một phương án là cần thực hiện dự án;…

Một vấn đề khác được ghi nhận tại buổi thẩm định dự án, đã có nhiều ý kiến thành viên hội đồng cho rằng: nên chăng là hoãn dự án sông Cái Lớn Cái Bé, do việc tính toán tác động của dự án với quy mô công trình quá lớn này cho đến nay vẫn chưa có đủ cơ sở để thực hiện.

Tuy nhiên, kết thúc buổi thẩm định, kết quả: 21/21 thành viên hội đồng đã bỏ phiếu thông qua báo cáo ĐTM dự án, với điều kiện phải điều chỉnh, bổ sung bản báo cáo đánh giá theo ý kiến hội đồng.

2) GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân (1) [9]

“Việc phê duyệt sẽ không có gì phải bàn luận nếu các điều kiện được thực hiện nghiêm túc.” Nghiên cứu văn bản và ĐTM đã được phê duyệt, tôi cho rằng ĐTM đã không được chỉnh sửa, bổ sung đúng với yêu cầu và vì vậy việc phê duyệt là khó chấp nhận và cần làm rõ một số điểm.

Có hai ý quan trọng trong phát biểu kết luận của Chủ tịch Hội đồng thẩm định:

(1) Yêu cầu chủ đầu tư phải nghiên cứu kỹ, lập bảng giải trình đối với từng ý kiến mà cuộc họp đã góp để tiếp tục hoàn chỉnh dự án và báo cáo ĐTM, đặc biệt về cơ chế vận hành của các cống, và báo cáo ĐTM phải có đầy đủ ba giai đoạn: chuẩn bị thi công, thi công và sau khi công trình đi vào hoạt động.

(2) Câu hỏi gửi đến Thứ trưởng Hoàng văn Thắng về ý kiến của nhiều ủy viên đề nghị hoãn việc phê duyệt dự án đến khi công bố Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL theo tinh thần NQ 120 của Chính phủ. Trong thời gian đó chủ đầu tư hoàn chỉnh việc sửa đổi các báo cáo NCKT và ĐTM như đã góp ý.

Những ý kiến nổi trội đã được nhiều ủy viên HĐTĐ phát biểu là:

+ Báo cáo NCKT phải nêu rõ các yếu tố đặc thù của vùng dự án, phải bổ sung thông tin về trầm tích, về mưa, về nước biển dâng, về địa hình, về sụt lún đất, làm rõ hiện trạng về đa dạng sinh học, về sản xuất nông lâm thủy sản, về rừng U Minh Thượng ngày trước và Vườn quốc gia UMT hiện nay. Làm rõ để đánh giá các tác động và khả năng thoát lũ của dự án.

+ Vùng tác động cũng như vùng hưởng lợi từ dự án không có biên cố định như trong báo cáo NCKT, mà thay đổi theo nhiều yếu tố, đặc biệt nước biển dâng, sụt lún ở đồng bằng, và từ chính công trình.

+ Báo cáo NCKT và ĐTM của dự án đưa ra nhiều kết luận từ mô hình số. Số liệu phải có độ dài đủ để đáng tin. Các chuỗi số liệu được sử dụng là quá ngắn.

+ Chế độ vận hành các cống Cái Lớn, Cái Bé là không thực tế.

Báo cáo ĐTM đã được chỉnh sửa bổ sung thế nào

Báo cáo ĐTM được phê duyệt đã được gửi kèm văn bản số 1661/BQL10-TD ngày 21.11.2018 của chủ đầu tư đến Bộ TNMT. Như vậy việc chỉnh sửa bổ sung được thực hiện chỉ trong vòng hai tuần, một thời gian rất ngắn để làm hết những việc mà Hội đồng thẩm định yêu cầu một cách nghiêm túc.

Dưới đây là bảng so sánh Mục lục của ba ĐTM, phiên bản tháng 9 (trái), phiên bản trình Hội đồng thẩm định (giữa) và phiên bản được phê duyệt (phải).

Số trang, cách đánh số các đoạn, phân đoạn có thể thay đổi, nhưng đọc kỹ và so sánh các phiên bản tôi đã thấy nội dung cơ bản vẫn giữ nguyên, đặc biệt phần tác động môi trường khi các cống đi vào vận hành, và chế độ vận hành của các cống. Việc chỉnh sửa, bổ sung báo cáo ĐTM chỉ là kết quả sử dụng các thao tác “lược bỏ”, “chép” và “dán” trên máy tính. Nó đã không đi vào nội dung được yêu cầu mà chỉ làm mang tính hình thức, nghĩa là đã làm không nghiêm túc.

Quyết định phê duyệt 3805/QĐ-BTNMT, một số điều cần làm rõ

Quyết định của Bộ TNvMT phê duyệt báo cáo ĐTM của một dự án là một văn bản quan trọng để Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án. Vì vậy cần tiến hành hết sức khoa học, khách quan, tuyệt đối không bị chi phối bởi lợi ích ngành, lợi ích nhóm.

Quyết định 3805/QĐ-BTNMT có nhiều điều cần làm rõ. Chỉ xin nêu hai ví dụ.

Ví dụ 1. Tại Điều 1, khoản 2.8. “Xây dựng chế độ vận hành (đóng/mở) cống, điều chỉnh chế độ vận hành để giảm thiểu tác động đến tính tự nhiên của dòng chảy, xói lở đường bờ và môi trường, đa dạng sinh học; đảm bảo thuận tiện cho người dân và phương tiện giao thông thủy đi lại qua cống”.

Yêu cầu là vậy, trong khi sơ đồ vận hành cống trong ĐTM được phê duyệt là “Vào mùa khô (từ tháng 1÷6): chỉ đóng khoảng 20 – 26 ngày vào các tháng 2 đến tháng 5, trong 1 tháng chỉ đóng tối đa 6 ngày để kiểm soát mặn/ngọt; Vào mùa mưa (từ tháng 7÷12): bình thường hầu như cống mở cửa hoàn toàn trả lại gần như hiện trạng lòng sông tự nhiên, chỉ đóng vào thời điểm có xảy ra mưa lớn, lũ lớn và triều lớn” (trang 292).

Câu hỏi 1: Tại sao ĐTM vẫn được phê duyệt với một sơ đồ vận hành các cống quá sơ lược đưa ra nhằm mục đích giảm thiểu các tác động? để rồi yêu cầu xây dựng một chế độ vận hành khác?

Câu hỏi 2: Nếu không xây dựng được chế độ vận hành theo yêu cầu ở khoản 2.8. Điều 1 thì sao? Làm gì với công trình đã xây xong?

Ví dụ 2. Điều 1, khoản 3.1. “Chủ dự án chỉ được phép triển khai Dự án sau khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:

(a) Được Thủ tướng Chính phủ, Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư Dự án; bảo đảm các yêu cầu của Nghị quyết số 120 (…); phù hợp vói Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012-2020 được phê duyệt tại Quyết định số 1387/QD-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2012, Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL (điều chỉnh) trong giai đoạn tiếp theo (…).

Câu hỏi 3: Đầu tư cho Dự án giai đoạn 1 là 3309,5 tỷ đồng thuộc loại phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư. Tại sao có thêm Bộ NNvPTNT cho phép? 

Câu hỏi 4: Tuân thủ NQ 120 là yêu cầu cao nhất, hay là phù hợp với Quy hoạch thủy lợi 2012 cũng đủ, cho dù quy hoạch này (ban hành từ năm 2012) có những chỗ không phù hợp với quan điểm chỉ đạo của NQ 120 ban hành tháng 11.2017?

Hai câu hỏi 3 và 4 cần được làm rõ vì mập mờ ở các điểm này có thể mở ngõ cho việc “lách” để Dự án được Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư.

(b) Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật của Dự án (…) trình Bộ NNvPTNT phê duyệt.

Câu hỏi 5: Báo cáo NCKT là một tài liệu cốt lõi của Dự án, cần phải được hoàn thiện như Hội đồng thẩm định yêu cầu, trên cơ sở đó mới đánh giá ĐTM. Quan điểm của Bộ TNMT là thế nào mà lại phê duyệt ĐTM rổi yêu cầu báo cáo NCKT “tiếp tục hoàn thiện”?

Câu hỏi 6: Có gì đảm bảo là báo cáo NCKT của Dự án sẽ được “tiếp tục hoàn thiện” một cách nghiêm túc, sẽ không làm theo kiểu chỉnh sửa bổ sung báo cáo ĐTM? Bộ NNvPTNT là cấp phê duyệt báo cáo NCKT? Sẽ là một khe hở khổng lồ nếu Bộ NNvPTNT là cấp phê duyệt (vừa đá bóng vừa thổi còi)!

Chỉ hai ví dụ trên đây cho thấy văn bản 3805/QĐ-BTNMT có rất nhiều điểm cần làm sáng tỏ. Dự án HTTL CL-CB rất hệ trọng về nhiều mặt. Không thể chấp nhận bất kỳ một sự mập mờ nào cho phép nó được duyệt trái luật, như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong công văn 11482/VPCP-NN, ngày 24.11.2018, gửi Bộ NNvPTNT và các Bộ có liên quan về Dự án HTTL CL-CB.

 “Thông qua với điều kiện”, “phê duyệt với điều kiện” và trách nhiệm giải trình

Tham dự cuộc họp với hội đồng thẩm định, ngày 03.11.2018, tôi đã trải nghiệm một cuộc bỏ phiếu “thông qua với điều kiện …”. Sau khi biết kết quả tôi không chút hoài nghi rằng ĐTM rồi sẽ được phê duyệt, vì với các thủ thuật chỉnh sửa, cộng với những kỷ năng thuyết minh – thuyết phục, thì khả năng được phê duyệt không có gì là khó. Chấm đỗ một thí sinh không đạt yêu cầu, tầm tác hại không thể so sánh với “thông qua với điều kiện” một dự án tiêu phí nhiều ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước, chưa nói đến tác hại đến môi trường và sinh kế của người dân.

Phê duyệt ĐTM một dự án còn nhiều lỗ hổng “với điều kiện phải chỉnh sửa”, trách nhiệm còn nặng nề hơn. Nếu cánh cửa trước khi dự án được Thủ tướng cho phép đầu tư mà còn mập mờ và khe hở thì tác hại sẽ khôn lường.

Kiến nghị

  1. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết ý kiến về 6 câu hỏi nêu trên đây.
  2. Thủ tướng Chính phủ xem xét cẩn trọng việc duyệt đầu tư Dự án Hệ thống thủy Cái Lớn – Cái Bé; yêu cầu một lần nữa các Bộ ngành có liên quan đến Dự án thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng trong công văn 11482/VPCP-NN.
  3. Để bảo vệ môi trường, chống lãng phí và tham nhũng một cách thiết thực, để việc đầu tư công có hiệu quả, xin kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ phải luật hóa nghiêm minh trách nhiệm giải trình của những người ra hay tham gia quyết định bằng lá phiếu hay bằng văn bản.

Viết bổ sung

Khi bài viết này được gửi đến Thủ tướng Chính phủ, và bạn đọc, Ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chính thức ký quyết định 5078/QĐ-BNN-XD về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn- Cái Bé giai đoạn 1.

Tình hình đã diễn ra đúng như tác giả dự báo và tìm cách ngăn chặn. Thực tế càng cho thấy các câu hỏi cần được trả lời, các kiến nghị thêm nóng bỏng.

Chú thích: (1) Là đại biểu tham dự Hội đồng được Bộ TNMT mời, tôi đã tham dự, phát biểu nhưng không bỏ phiếu. Sau cuộc họp, tôi đã đề nghị với Tổng Cục Môi trường, cơ quan thẩm định ĐTM, gửi cho tôi biên bản cuộc họp, nhưng tôi không được hồi âm. Những ý kiến ghi lại trong bài này là do chính tôi ghi. GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI

IV. Để kết luận cho bài này, xin trích ý kiến của GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân tại hội nghị lấy ý kiến về dự án ngày 7.9 do Bộ NN-PTNT và UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức [10].

“Tôi dự hội nghị này với tư cách Trưởng ban Chỉ đạo nghiên cứu ngọt hóa bán đảo Cà Mau (trước đây). Chúng ta đã triển khai dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau, dự án cống đập Ba Lai (Bến Tre) đến nay tại sao không thành công? Trước khi triển khai các dự án mới phải trả lời câu hỏi vì sao các dự án cũ không thành công. Trở lại với công trình sông Cái Lớn – Cái Bé, thiếu nước ngọt chỉ là hiện tượng, phải tìm nguyên nhân đúng thì mới có giải pháp đúng”.

“Chúng ta đang sống trên một vùng mà hệ sinh thái rất đa dạng nhưng chúng ta đang đơn giản nó. Từ rất nhiều sản vật tự nhiên chúng ta gom lại chỉ còn cây lúa và con tôm. Ta đang nghèo hóa môi trường và hệ sinh thái của chúng ta. Dựa trên tinh thần Nghị quyết 120, tôi cho rằng cần cân nhắc thật kỹ, khách quan và khoa học. Nên có hội thảo về biện pháp phi công trình trước khi đưa ra quyết định cho một giải pháp công trình”.

H & H

Tham khảo

[1]  https://baocantho.com.vn/ban-ve-du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-a102369.html

[2]http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet-3365429/

[3] https://nguoidothi.net.vn/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-thong-qua-dtm-voi-ty-le-100-du-con-nhieu-tranh-cai-16266.html

[4] https://baocantho.com.vn/ban-ve-du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-a102369.html

[5]https://www.thesaigontimes.vn/279478/nhin-lai-cac-cong-trinh-ngan-man-hien-co-o-dbscl.html

[6]https://www.thesaigontimes.vn/273170/chuyen-gia-khong-can-thiet-phai-xay-dung-du-an-thuy-loi-cai-lon–cai-be-.html

[7]http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon–cai-be-nhung-phan-hoi-quy-bau-3365595/

[8]https://nguoidothi.net.vn/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-thong-qua-dtm-voi-ty-le-100-du-con-nhieu-tranh-cai-16266.html

[9] http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/phe-duyet-mot-dtm-va-trach-nhiem-giai-trinh-3372499/

[10]https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nguy-co-ngheo-hoa-ban-dao-ca-mau-1000792.html

 

Đoàn tàu tro xỉ

Cuối năm 2013, trên đường lái xe về quê ăn Tết dọc duyên hải miền Trung, chúng tôi dừng uống nước tại một quầy bán dưa hấu ven lộ. Gần đó, những mảng tường thép cùng ống khói sơn trắng – đỏ chọc thẳng lên nền trời xanh đầy nắng gió. Đó là nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, thuộc tổ hợp điện lực Vĩnh Tân, đang được xây dựng.

Trong câu chuyện, người bán hàng vui mừng vì huyện có nhà máy mới, sẽ có nhiều công nhân mua hàng của họ. Bà còn hy vọng tổ hợp điện lực sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân địa phương, “như lời các anh ở trển”.

Bẵng đi một thời gian, giữa tháng 4-2015, cuộc “tụ tập đông người” với quy mô chưa từng có đã diễn ra ở Bình Thuận. Nguyên nhân chính bởi những bức xúc chồng chất do ô nhiễm tạo ra bởi nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 khiến môi trường sống của dân cư bị bức tử.

Người dân Bình Thuận đã bức xúc không chỉ bởi những ống khói phá hỏng bầu trời, mà còn bởi một hậu quả khác của điện lực Vĩnh Tân: phát tán bụi và các chất độc hại từ bãi tro xỉ đang gây ô nhiễm nước ngầm, bức hại biển và nguồn lợi thủy sản – sinh kế của họ. Chỉ chưa đầy năm năm từ ngày tổ máy nhiệt điện than đầu tiên vận hành tại đây, số liệu của Bộ Công thương cho thấy bãi tro xỉ Vĩnh Tân đã chứa khoảng 4,5 triệu m3.

Lượng tro xỉ thải ra từ nhiệt điện Vĩnh Tân nếu chứa trong các container 40 feet với tải trọng 30 tấn, đặt trên các toa tàu thì phải cần đến gần 127.000 toa tàu. Đoàn tàu tro xỉ đó có chiều dài là 1.900 km, với đầu máy tại ga Sài Gòn và toa cuối ở ga Đồng Đăng. Đều đặn mỗi năm, điện lực Vĩnh Tân tạo ra một đoàn tàu tro xỉ dài như thế.

Nhưng Việt Nam không chỉ có mỗi điện lực Vĩnh Tân, mà còn điện lực Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), Mông Dương (Quảng Ninh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Quỳnh Lập (Nghệ An), Quảng Trạch (Quảng Bình), Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, Long An… và rất nhiều nữa. Chúng cũng đang và sẽ tạo ra những “đoàn tàu” tro xỉ khác.

Có một sự liên hệ đáng suy ngẫm về vụ “tụ tập đông người” ở Vĩnh Tân. Năm 2015 cũng là năm mà Việt Nam chính thức chuyển từ quốc gia xuất khẩu năng lượng sang nhập khẩu năng lượng, trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là than đá để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng cao của các nhà máy nhiệt điện.

Lịch sử hơn 120 năm xuất khẩu than đá của Việt Nam nay đã kết thúc để chuyển sang một trang mới. Trang mới này ngày càng “đen” hơn. Chỉ riêng năm 2018, số liệu thống kê cho thấy Việt Nam đã chi một số tiền kỷ lục là hơn 2 tỷ USD để nhập khẩu than đá. Thực tế thì tiêu thụ than đá của Việt Nam đã tăng phi mã đến 350% chỉ trong vòng 10 năm qua, so với tỷ lệ trung bình cùng giai đoạn toàn thế giới là 26%. Nhưng “cơn nghiện” than đá của Việt Nam vẫn chưa thấy điểm dừng, nếu không muốn nói là càng ngày nghiện càng nặng.

Các chất ô nhiễm phát thải từ nhiệt điện than trên thế giới từ lâu đã được xác định là thủ phạm gây ra ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất trồng, phá hủy các hệ sinh thái, và gây ra bệnh tật cho các cộng đồng dân cư. Không chỉ thế, nhiệt điện than còn bị chỉ đích danh là thủ phạm chính phát thải khí nhà kính, gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Năm 2016, nguyên Chủ tịch Ngân hàng thế giới Jim Yong Kim đã có một phát biểu chấn động: “Nếu Việt Nam tiến hành lắp đặt 40 GW nhiệt điện than và toàn bộ khu vực thực thi các kế hoạch nhiệt điện than, tôi nghĩ cuộc sống sẽ kết thúc. Đây sẽ là một thảm họa cho hành tinh của chúng ta”.

Chính sách lấy nhiệt điện than làm trụ cột phát triển nguồn điện của Việt Nam là rào cản thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch trong suốt thời gian qua. Chỉ riêng trong địa bàn huyện Tuy Phong đã thấy hai bức tranh đối lập. Phía Nam huyện là những cánh đồng điện gió đang chật vật vươn lên để tạo ra những dòng điện xanh trong sự đón chào của người dân. Phía Bắc của huyện là trung tâm điện lực Vĩnh Tân thuộc “diện bảo vệ an ninh đặc biệt”.

Hai bức tranh đối lập đó đủ để nói lên một nhu cầu cấp thiết hiện nay ở tầm vĩ mô: Chính phủ cần ban hành một bản quy hoạch điện lực mới, lấy năng lượng sạch làm trụ cột, đưa ra lộ trình từ bỏ hoặc hạn chế nhiệt điện than ở mức tối thiểu. Câu hỏi quan trọng nhất là: Làm sao để nền năng lượng quốc gia được đảm bảo an ninh an toàn, tạo ra sự thịnh vượng mà ở đó chất lượng sống của mọi người đều tốt hơn?

Bộ Công thương cho tới lúc này vẫn đang kêu gọi công luận “không nên cực đoan với nhiệt điện than” với lý do an ninh năng lượng quốc gia. Nhưng sự cảm thông không thể kéo dài vĩnh viễn, và người dân cần được nhìn thấy bản chiến lược năng lượng mới của quốc gia trước khi quá muộn.

ECIU, một tổ chức phi chính phủ, trong báo cáo năm 2016 đã “vinh danh” bốn “con hổ nhiệt điện than” châu Á gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam – nhóm quốc gia đóng góp đến 74% công suất nhiệt điện than toàn cầu. Sẽ chẳng ai tự hào khi được “vinh danh” như vậy.

“Việt Nam không thể hóa rồng trong khi xung quanh đầy bụi của nhiệt điện than” – Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, ông Ousmane Dione, đã nói như vậy.

Nguyễn Đăng Anh Thi

Nguồn: https://vnexpress.net/goc-nhin/doan-tau-tro-xi-3884638.html

Lập đoàn chuyên gia đánh giá hiện trạng bãi đá 7 màu

(Tin Môi Trường) – UBND tỉnh Bình Thuận yêu cầu đề xuất giải pháp để khôi phục bãi đá bảy màu, bãi rêu và khu vực liền kề đã bị san ủi trái phép, huyện Tuy Phong phải báo cáo trách nhiệm quản lý trước ngày 28-2.

Ngày 20-2, ông Nguyễn Đức Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã ký công văn gởi Sở TN&MT; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL), UBND huyện Tuy Phong liên quan đến việc bãi đá bảy màu ở xã Bình Thạnh (Tuy Phong) bị xâm hại nghiêm trọng.

Núi cát cao hơn 10m với độ dốc cao có thể sập xuống bãi đá bất cứ lúc nào

Công văn này yêu cầu Sở TN&MT chủ trì, phối hợp với Sở NN&PTNT; Sở VHTT&DL; UBND huyện Tuy Phong khẩn trương tổ chức đoàn công tác gồm các chuyên gia về tài nguyên môi trường, thủy lợi, bảo tồn bảo tàng kiểm tra, đánh giá cụ thể. Từ đó xác định chính xác hiện trạng, có báo cáo, đề xuất giải pháp khả thi để khôi phục, trả lại hiện trạng ban đầu cho bãi đá bảy màu, bãi rêu và khu vực liền kề đã bị san ủi trái phép.

UBND tỉnh giao Sở VH,TT&DL chỉ đạo Bảo tàng tỉnh đưa vào kế hoạch khảo sát, nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học và khoanh vùng bảo vệ thắng cảnh bãi đá bảy màu, bãi rêu. Hồ sơ này trình UBND tỉnh để xem xét, xếp hạng thắng cảnh cấp tỉnh vào năm 2020 sau khi đã thực hiện khôi phục cơ bản hiện trạng bãi đá bảy màu và bãi rêu.

Tỉnh cũng yêu cầu UBND huyện Tuy Phong có báo cáo cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước; hành vi vi phạm trên lĩnh vực đất đai tại khu vực bãi đá 7 màu, bãi rêu, kết quả chỉ đạo xử lý vụ việc nói trên. Thời gian báo cáo, đề xuất cho UBND tỉnh chậm nhất trước ngày 28-2.

Như tin đã đưa, từ đầu tháng 1-2019, ông Cao Văn Cư, một hộ dân ở đây đã lấn chiếm hơn 4.000 m2 đất công, tự ý thuê xe xúc, xe ủi san lấp mặt bằng. Núi cát do hoạt động san lấp đã lấp một phần bãi đá bảy màu, làm biến mất bãi đá con, đe dọa bãi rêu và phần còn lại bãi đá. Đáng ngạc nhiên là ông Cư đưa cơ giới vào san lấp rầm rộ, ngày đêm, tác động đến một địa chỉ du lịch nổi tiếng và độc đáo nhưng không hề bị chính quyền ngăn chặn mà chỉ lập biên bản rồi để đó.

Sau khi báo phản ảnh sự việc, Sở  VH,TT&DL Bình Thuận đã cử đoàn công tác đến kiểm tra. Qua kiểm tra, Đoàn công tác cho biết, việc san ủi trái phép đất, cát từ trên đồi xuống phía biển với chiều dài khoảng 100m dọc bãi biển đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thắng cảnh bãi đá bảy màu và bãi rêu. Cụ thể, tại trước bãi đá Bà Khòm (bãi rêu) đã bị cát phủ ra tới mép nước biển, hiện đã không còn nhìn thấy bãi đá con phía trước; tại bãi đá bảy màu cũng bị cát phủ lấp một phần. Việc san ủi trái phép nêu trên đã phá hủy toàn bộ thảm thực vật trên mặt đất và dải phân cách tự nhiên (cây bụi, xương rồng) kéo dài khoảng 100m ngăn cách giữa bãi biển với thửa đất liền kề bị san ủi trái phép. Nguy cơ cát tiếp tục phủ lấp lên trên bãi rêu và bãi đá bảy màu là rất cao.

Theo Đoàn công tác, hiện nay UBND huyện Tuy Phong đang bố trí phương tiện cơ giới để đưa phần cát tràn lấp ra bãi biển lên phía trên, dự kiến sẽ trồng phi lao để chắn gió và ngăn cát tràn xuống biển. Tuy nhiên, xét về trực quan thì giải pháp này không khả thi về trước mắt cũng như lâu dài.

Tiếp đó, ông Hồ Lâm, Giám đốc Sở TN&MT Bình Thuận đã có văn bản hỏa tốc gởi UBND huyện Tuy Phong. Theo Sở TN&MT, khu vực ven biển xã Bình Thạnh thuộc đoạn TP 5.2 là khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển quốc gia trong đó có bãi đá bảy màu.

Khu vực này được thiết lập với ba tiêu chí: Bảo vệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên vùng bờ; giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. Sở TN&MT Bình Thuận đề nghị chủ tịch UBND huyện Tuy Phong thực hiện nghiêm quy định tại theo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và đầy đủ các nội dung của chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã chỉ đạo về hành lang bảo vệ bờ biển.

Toàn cảnh bãi đá bảy màu và bãi rêu bị xâm hại nhìn từ trên cao

Núi cát do san ủi trái phép xâm hại nghiêm trọng bãi đá
Đá bà khòm (bãi rêu) trước nguy cơ bị núi cát đe dọa
Huyện Tuy Phong điều cơ giới ra khắc phục nhưng không khả thi

Nguồn: http://www.tinmoitruong.vn/bao-ve-moi-truong/lap-doan-chuyen-gia-danh-gia-hien-trang-bai-da-7-mau_80_55503_1.html

Đầu năm Kỷ Hợi, vượt núi Chứa Chan

Cùng với Thảo, Lâm, Thành khảo sát tuyến lộ trình vượt núi Chứa Chan để thu thập thông tin phục vụ đề tài khóa luận tốt nghiệp chủ đề về Địa du lịch. Chuyến đi vượt núi cao 837 m vào đầu năm Kỷ Hợi – một kỷ niệm không thể nào quên của bốn thày trò.

Ngày 06 (10/02/2019)

7:00 sáng ngày 6 tết Kỷ Hợi, làm thủ tục khai trương năm mới tại văn phòng Bộ môn cùng với thày Lê Tự Thành.

7:45 Thảo đón thày đi thực địa núi Chứa Chan thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

8:00 hai thày trò lên xem Kim Mạnh Hùng tại đầu đường Nguyễn Thị Minh Khai.

10:00 xe đến Ngã Ba Ông Đồn, Lâm và mẹ Thảo (mang xe máy cho Thảo) đã chờ sẵn. Ba thày trò lên xe, đi khảo sát ngay khu vực Núi Le, hồ Núi le, bãi đá cảnh và làng đồng bào Chơ Ro (ấp Trung Sơn, xã Xuân Trường).

17:30 kết thúc ngày thực địa, về nghỉ tại khách sạn Hà Thi (Lâm đã đặt phòng nghỉ trước cho thày).

Ngày 07 (11/02/2019)

6:30 Thảo, Lâm và Thành (làm đề tài tốt nghiệp “Địa du lịch khu vực Núi Bà Đen” cùng tham gia vượt núi Chứa Chan).

7:30 bốn thày trò bắt đầu lộ trình vượt núi Chứa Chan theo tuyến đường cột điện. Đây là tuyến mà dân phượt thường đi.

Vượt dốc, quan sát, mô tả (địa chất, địa mạo, cảnh quan, hoạt động nhân sinh…). 11:30 tới đỉnh núi Chứa Chan (837 m).

12:30 bắt đầu xuống dốc, tiếp tục định điểm, mô tả theo lộ trình.

15:00 kết thúc lộ trình vượt núi Chứa Chan.

Dưới đây là vài nhận xét ghi nhận dọc theo lộ trình:

– Vượt sườn đông theo đường mòn dọc theo 148 cột điện. Đây là đường thoát nước vào mùa mưa, chủ yếu lộ đá gốc bóc mòn (granit) và các tảng lăn. Đường mòn theo sườn Đông có thể chia thành ba đoạn: đoạn 1 từ điểm xuất phát (quán chị Yến) đến cột điện 70, độ dốc thoải (30-40o), đường đi rộng. Đoạn 2 tiếp theo đoạn 1 tới cột điện 129, sườn dốc có chỗ tới 50 – 60o, đường đi hẹp lại. Đoạn 3 tiếp đến đỉnh, sườn có sự phân bậc, không gian mở rộng, có một số vị trí quan sát được bề mặt cao nguyên basan Xuân Lộc với vài đỉnh núi lửa.

– Núi Chứa Chan có hai đỉnh, đỉnh phía nam là vị trí trạm thông tin của quân đội; qua một yên ngựa hẹp là đỉnh phía bắc. Đỉnh phía bắc là khối đá granit trên đó có mốc tam giác sơn trắng ghi độ cao 837 m (so với mực biển). Đây là điểm nhìn (viewpoint) tuyệt vời. Tại đỉnh này quan sát được phần lớn cao nguyên Xuân Lộc (trừ phần phía nam do đỉnh Nam che khuất).

– Theo sườn phía bắc xuống núi. Sườn bắc chủ yếu lộ đất phong hóa từ granit màu vàng nhạt, lối mòn nhỏ, có đoạn qua rừng cỏ lau chỉ vừa một người đi. Đường mòn theo sườn Bắc có thể chia thành hai đoạn: đoạn 1 từ đỉnh đến ga cáp treo, sườn nhiều chỗ khá dốc, đi xuống bị chồn chân, trời mưa sẽ bị trơn trượt; gần đến ga cáp treo, đường mòn theo đồng mức đi khá thoải mái. Đoạn 2 là các bậc thềm từ chùa Bửu Quang xuống cổng chùa (gần cổng cáp treo). Các bậc thềm cao cắt ngang sườn dốc, di chuyển lên xuống bậc thềm cũng thật khó khăn nhất là những người già và lực lượng vác, gánh đồ thuê cho các chủ quán.

–  Tuyến đường mòn cắt qua núi, nhưng phần lớn là đi dưới nắng do cây cối thưa thớt, cây rừng lớn gần như không còn, thay vào đó là những loại cây trồng như điều, keo, mít. Đường mòn qua nhiều đoạn là lồ ô, lau sây và cỏ tranh, thỉnh thoảng mới có những lùm cây tạo bóng dâm để dân phượt và du khách dừng chân nghỉ.

– Rác do dân phượt để lại rải rác tại các điểm nghỉ dọc hành trình cũng là vấn đề, phần lớn là vỏ chai nước. Những diện tích tương đối bằng phẳng gần đỉnh núi là nơi dân phượt hay du khách cắm trại, nấu nướng. Đây cũng là nơi để rác như: đá kê làm bếp, than, củi cháy chưa hết, vỏ chai nước, vỏ đồ hộp. Ngay gần vườn hoa ga cáp treo cũng có một bãi tập kết rác, trông thật nhếch nhác.

– Đoạn đường từ chùa xuống cũng khá dài, dọc theo các bậc thang là hàng, quán sát nhau (bán đồ lưu niệm, đồ ăn, thức uống…) với mái tôn che kín lối đi. Có cảm tưởng như chùa chen vào hàng quán. Cây Da ba gốc cũng bị bọc bởi quán ăn, lửa, nhang khói… Có thể nói đoạn đường lên và xuống chùa là một không gian ngột ngạt.

Một vài hình ảnh chuyến vượt núi:

Điểm giữ xe máy 24/24 cho người vượt núi
Vượt sườn đông theo đường mòn qua 148 cột điện
Một gốc cây rừng đường kính gần 1,0 m giữa “vườn” điều
Vượt sườn dốc 50 – 60o
Thảo quan sát bề mặt cao nguyên bazan Xuân Lộc, hồ Núi Le, hồ Gia Ui từ cột điện 133
Những diện tích bằng phẳng, có bóng mát là nơi dân phượt cắm trại. Người đi rác ở lại
Tại đỉnh núi Chứa Chan lúc 11:30
Thảo, Lâm và Thành “tự sướng” tại đỉnh cao 837 m
Qua rừng cỏ lau
Cây Da ba gốc bị bọc bởi quán ăn, lửa, nhang khói nghi ngút

Phân tích chi tiết những giá trị địa du lịch, những đề xuất sản phẩm địa du lịch, đề xuất hoạt động du lịch dọc tuyến hành trình sẽ được trình bày trong khóa luận tốt nghiệp của sinh viên tới đây.

H &H

 

Mỏ dầu cạn kiệt: Tình huống báo động của Việt Nam

Các mỏ dầu khí chủ lực đã chuyển sang giai đoạn suy giảm sản lượng hay có độ ngập nước cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, như mỏ Bạch Hổ, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông…

Báo động về sản lượng 

Theo báo cáo của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), sản lượng khai thác dầu trong nước năm 2018 đạt 12 triệu tấn, vượt 675 nghìn tấn, tương đương 6% so với kế hoạch Chính phủ giao đầu năm. Nhờ đó số nộp ngân sách nhà nước vượt 47,5 nghìn tỷ đồng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP cả nước 7,08%…

Doanh thu toàn tập đoàn vượt 18% kế hoạch, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2017. Nộp ngân sách vượt tới 64% kế hoạch, tăng 24% so với năm 2017. Nguyên nhân chủ yếu là giá dầu tăng mạnh so với 2017.

Các mỏ dầu khí đã vào giai đoạn suy kiệt. Ảnh: PVN

Thế nhưng, sau những thành tích ấy, người làm dầu khí còn không ít nỗi lo, trong đó nổi lên là việc tìm kiếm các mỏ dầu mới.

Năm 2018 gia tăng trữ lượng dầu khí năm 2018 vẫn đạt được 12 triệu tấn quy dầu (kế hoạch là 10-15 triệu tấn).

Gia tăng trữ lượng dầu khí tuy đạt kế hoạch đề ra năm 2018 song đây vẫn là năm thứ ba liên tiếp công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí gặp nhiều khó khăn. Nếu so với mục tiêu chiến lược phát triển mà ngành dầu khí đề ra ở trong nước là 20-30 triệu tấn/năm và ở nước ngoài là 8-12 triệu tấn/năm (tổng cộng là 28-42 triệu tấn/năm) thì không hoàn thành và đạt thấp hơn nhiều so với mục tiêu chiến lược đề ra.

Thực tế, điều kiện khai thác ở các mỏ dầu khí chủ lực đã chuyển sang giai đoạn suy giảm sản lượng hay có độ ngập nước cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, như mỏ Bạch Hổ, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông…

Theo PVN, việc gia tăng trữ lượng dầu khí, bù đắp vào sản lượng khai thác hàng năm, đảm bảo sự phát triển bền vững của tập đoàn “vẫn là thách thức vô cùng lớn”. Tiềm năng dầu khí chưa phát hiện còn lại được đánh giá tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu, xa bờ, nhạy cảm về chính trị, nhưng khu vực này cần công nghệ khoan nước sâu, đầu từ lớn, rủi ro cao, thường xuyên bị nước ngoài gây sức ép, cản trở.

Trong khi đó, PVN cho rằng sự can thiệp của nước ngoài ở cụm phát hiện Cá Rồng Đỏ lô 07/03 đã “ảnh hưởng nặng nề” đến hoạt động phát triển mỏ của tập đoàn.

PVN nhận định tình hình biển Đông diễn biến phức tạp đã có tác động nặng nề đến công tác tìm kiếm thăm dò và phát triển chung của tập đoàn.

Báo cáo của PVN cho thấy: Hệ số gia tăng trữ lượng bù trừ vào sản lượng khai thác vẫn đang ở mức báo động (0,54 lần). Trong khi giai đoạn 2011-2015 hệ số này đạt 1,5 lần – mức an toàn phát triển bền vững thì tình hình dầu xấu đi. Năm 2016 đạt 0,65 lần. Riêng năm 2017 đạt 0,17 lần – là mức báo động nghiêm trọng.

Ngành dầu khí đối mặt nhiều khó khăn trong việc gia tăng trữ lượng.

Hết thời hoành tráng

Trước đây hàng năm, PVN khoan 30-40 giếng thăm dò, chi phí tốn từ 2-2,5 tỷ USD, gia tăng được 35-40 triệu tấn quy dầu. Thế nhưng, từ 2015 trở lại đây, đầu tư của ta và nước ngoài chỉ khoảng 400-500 triệu USD cho tìm kiếm thăm dò, giảm 5 lần so với trước.

Các phát hiện dầu khí giai đoạn gần đây phần lớn có trữ lượng nhỏ, do giá dầu thấp nên hiệu quả kinh tế không cao, dẫn đến số lượng công trình khai thác mới đưa vào để bổ sung sản lượng khai thác rất ít. Trong hai năm 2017 và 2018, chỉ có 3 mỏ/công trình mới vào khai thác (năm 2017 đưa giàn Thỏ Trắng – 3 mỏ Thỏ Trắng của VSP vào khai thác; năm 2018 đưa 2 mỏ vào khai thác là Bunga Pakma và Phong Lan Dại).

Một khó khăn khác ảnh hưởng đến công tác thăm dò, theo PVN, đó là nguồn vốn để thực hiện công tác tìm kiếm thăm dò gặp khó khăn do cơ chế trích lập, quản lý, và sử dụng Quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí. PVN đã kiến nghị đề xuất trong Quy chế quản lý tài chính Công ty mẹ – Tập đoàn, đến nay vẫn chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Cụ thể hơn, những người làm công tác tìm kiếm thăm dò còn nỗi lo xử lý chi phí các mỏ thăm dò không thành công.

Năm ngoái, một lãnh đạo của PVN đã than thở: “Những năm qua ta tiêu tương đối nhiều tiền, có nơi thành công nơi chưa thành công. Đó là quy luật của tìm kiếm thăm dò. Cái này phải được đánh giá và hạch toán theo đúng thông lệ quốc tế. Số tiền này ngày càng tích lại, nếu không xử lý được thì giống như đang để một cái gông trên cổ”.

Việc tìm kiếm thăm dò khó khăn, còn ảnh hưởng đến loạt công ty khác của PVN. Đơn cử như Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí. Do có ít chương trình khoan nên giàn khoan PV Drilling V đã được đưa vào tình trạng cold stack (dừng hoàn toàn) tại cầu cảng PV Shipyard Vũng Tàu từ tháng 11/2016. Dự kiến, giàn PV Drilling V sẽ không có việc làm trong thời gian dài. Dự kiến số lượng giếng khoan tại Việt Nam năm 2019 ít nên các giàn khoan và dịch vụ của PVDrilling tiếp tục có ít việc làm. Sang năm 2019, các khó khăn và thách thức của PV Drilling sẽ ở mức độ cao hơn và phức tạp hơn so với năm 2018.

Tổng công ty Tư vấn Thiết kế dầu khí (PVE) cũng thiếu công việc trầm trọng bởi vì hầu hết các dự án dầu khí lớn tiếp tục giãn/dừng triển khai dẫn đến nhu cầu cung cấp dịch vụ và giá dịch vụ giảm mạnh. Lĩnh vực cốt lõi của đơn vị này là tư vấn thiết kế tuy nhiên khối lượng công việc chỉ khoảng 20%, ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu kế hoạch của PVE trong các năm gần đây và những năm tiếp theo. Cụ thể, doanh thu năm 2018 của lĩnh vực này chỉ bằng khoảng 20% doanh thu năm 2015.

Lương Bằng

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/dau-mo-can-kiet-tinh-huong-bao-dong-502707.html

Indonesia kết luận mảng núi lửa đổ sụp kích hoạt sóng thần

Một mảng lớn của sườn núi lửa Anak Krakatau trượt xuống đại dương, gây ra đợt sóng thần tấn công bờ biển Indonesia.

Khói bụi bốc lên sau khi núi lửa Anak Krakatau phun trào hôm 23/12. Ảnh: Reuters.

Dwikorita Karnawati, người đứng đầu cơ quan khí tượng Indonesia, nói rằng núi lửa Anak Krakatau đã phun tro và dung nham suốt nhiều tháng trước khi một mảng rộng 0,64 km2 ở sườn phía tây nam đổ sụp xuống biển, Reuters đưa tin. “Điều này gây ra lở đất dưới biển và cuối cùng kích hoạt sóng thần”, Dwikorita nói, nhấn mạnh thêm rằng sóng thần ập vào bờ chỉ 24 phút sau đó.

Những hình ảnh do vệ sinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu chụp lại cũng cho thấy một mảng lớn trên sườn phía nam của núi lửa trượt xuống biển. “Khi rơi xuống đại dương, khối núi đó làm dịch chuyển bề mặt đại dương, gây ra dịch chuyển theo chiều dọc và kích hoạt sóng thần”, Sam Taylor-Offord, một nhà địa chấn học tại Viện Khoa học GNS ở Wellington, New Zealand, nhận định.

Taylor-Offord cho biết vụ phun trào của núi lửa và “môi trường tiếng ồn cao” có thể là lý do vụ lở đất không được ghi nhận. Thực tế, sóng thần bị kích hoạt bởi núi lửa, không phải do động đất, có thể giải thích tại sao không có cảnh báo sóng thần nào được ban bố.

Những người dân sống ven biển khẳng định họ không nhìn thấy hoặc cảm thấy bất kỳ dấu hiệu nào cảnh báo thảm họa đang đến như động đất hay nước rút dọc bờ biển trước khi những đợt sóng cao tới 3 m ập vào bờ. Jose Borrero, chuyên gia về nguy cơ sóng thần tại Trung tâm Tư vấn Hàng hải eCoast, cho biết sóng thần do núi lửa tạo ra bí ẩn hơn sóng thần do động đất và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.

Trận sóng thần tràn vào các bãi biển ở Pandeglang, Serang và Nam Lampung thuộc eo biển Sunda khiến ít nhất 281 người thiệt mạng, 1.016 người bị thương và 57 người đang mất tích. Các chuyên gia cảnh báo nguy cơ xảy ra thêm sóng thần ở eo biển Sunda vẫn rất cao khi núi lửa Anak Krakatau đang trở nên bất ổn sau đợt phun trào mạnh và có thể tạo ra thêm nhiều trận lở đất dưới lòng biển.

Anak Krakatau (Con của Krakatao) là một trong 127 núi lửa hoạt động ở Indonesia, xuất hiện từ tàn tích của núi lửa Krakatoa và nổi lên khỏi mặt biển từ năm 1928. Núi cao khoảng 305 m, nằm ở ngoài khơi cách bờ biển phía tây đảo Java 80 km và bắt đầu hoạt động hồi tháng 6.

Núi lửa Anak Krakatau phun trào trước và sau trận sóng thần hôm 22/12.

Huyền Lê

Nguồn: https://vnexpress.net/the-gioi/indonesia-ket-luan-mang-nui-lua-do-sup-kich-hoat-song-than-3858948.html