Trả lại tên cho một ngọn núi

Bạch Mộc Lương Tử  – một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp ở Lào Cai, nay được trả lại tên gốc Kỳ Quan San.

Với giới đi phượt, chinh phục ngọn núi cao 3.046m với tên thường gọi là Bạch Mộc Lương Tử ở Bát Xát (Lào Cai) là một thử thách hấp dẫn. Sự hấp dẫn không chỉ nằm ở trải nghiệm vượt khó khăn, mà còn bởi quang cảnh trên đỉnh núi này cực đẹp. Nhưng Bạch Mộc Lương Tử lại chỉ là một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp này, vốn nguyên gốc mang tên Kỳ Quan San. Hôm 7-4-2018, huyện Bát Xát đã trả lại tên cho ngọn núi.

Tháo dỡ cột trụ ghi tên “Bạch Mộc Lương Tử”

“Thực tế ở đây không có ngọn núi nào tên là Bạch Mộc Lương Tử cả mà theo tôi biết, phía bên Trung Quốc có ngọn núi tên Bạch Mộc Lương mà thôi. Vì vậy, vừa rồi địa phương đã quyết định đặt cột mốc ghi tên ngọn núi này lại cho chính xác là Kỳ Quan San, thay cho cột mốc do một nhóm phượt tự làm trước đây với tên gọi là Bạch Mộc Lương Tử (con của Bạch Mộc Lương!)” – anh Hoàng Công Kiều, trưởng Phòng văn hóa huyện Bát Xát, nói.

Kỳ Quan San

Chuyến đi trả lại tên cho núi là một hành trình vất vả kéo dài gần 70km đường rừng, núi cao và vách đá. Đã vậy, những ngày đầu tháng 4 lại lạnh giá, băng tuyết xuất hiện trên đỉnh Kỳ Quan San. Tuy nhiên, tất cả mệt mỏi đã tan biến với chúng tôi, những người được trực tiếp tham gia sự kiện này.

Hoàng hôn ở Kỳ Quan San
Hoa đỗ quyên rạng rỡ ở Kỳ Quan San
Bình minh núi Muối tại điểm dừng chân 2.100m
Bữa trưa vội vàng của cán bộ mặt trận xã trong lán Dê để lấy sức mang cơm cho đoàn thay cột trụ ghi tên, chỉ có cơm trắng với nước sôi và muối
Lán chăn dê của cặp vợ chồng người dân tộc Mông tại độ cao 2.800m. Đây là một điểm dừng chân rất đẹp với rừng cây khô phủ đầy băng tuyết
Đoàn cán bộ phụ trách công tác thay cột trụ ghi tên xuất phát từ điểm nghỉ 2.100 m
Đoàn cán bộ huyện Bát Xát làm công tác thay cột trụ ghi tên ngọn núi
Niềm vui bên cạnh cột trụ mới ghi tên Kỳ Quan San
Những bông hoa rừng trên hành trình tới Kỳ Quan San

VI NGỌC HÀ

Nguồn: https://tuoitre.vn/tra-lai-ten-cho-mot-ngon-nui-1437824.htm

Advertisements

Việt Nam có công viên địa chất toàn cầu thứ hai ở Cao Bằng

UNESCO vừa thông qua nghị quyết công nhận công viên địa chất Non nước Cao Bằng là công viên địa chất toàn cầu.

Nghị quyết được thông qua lúc 18h (giờ địa phương) ngày 12/4 tại kỳ họp lần thứ 204 được tổ chức tại Paris. Theo đó, công viên địa chất Non nước Cao Bằng được công nhận theo các tiêu chí: quy mô và khung cảnh, sự quản lý và tham gia của địa phương, phát triển kinh tế, giáo dục, bảo vệ và bảo tồn. Ba mục tiêu chính của công viên địa chất toàn cầu là bảo tồn, giáo dục và thúc đẩy kinh tế địa phương thông qua du lịch địa chất.

Cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 300 km, Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng nằm ở vùng đông bắc Việt Nam, với diện tích hơn 3.000 km vuông. Nằm trong công viên là 6 huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa và một phần diện tích các huyện Hòa An, Nguyên Bình và Thạch An.

Thác Bản Giốc ở Cao Bằng được mệnh danh là thác nước đẹp nhất Việt Nam, lớn nhất Đông Nam Á. Ảnh: Bùi Tuấn Hùng HPP.

Hiện đây là nơi sinh sống của của hơn 250.000 người thuộc 9 dân tộc ít người. Theo thống kê, toàn bộ địa bàn có khoảng 215 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt.

Đặt chân đến Cao Bằng, du khách không thể bỏ qua các điểm dừng chân nổi tiếng như thác Bản Giốc, hồ Thang Hen, động Ngườm Ngao, hang Pác Bó… Ngoài các di tích lịch sử, văn hoá, ẩm thực đặc trưng của tỉnh miền núi cũng là trải nghiệm khó quên trong hành trình của bạn.

Trước đó, cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu vào tháng 10/2010. Sự kiện này nâng số lượng công viên địa chất toàn cầu ở Đông Nam Á lên 5: Langkawi – Malaysia (2007), Đồng Văn – Việt Nam (2010), Batur – Indonesia (2012), Gunung Sewa – Indonesia (2015) và mới nhất là Cao Bằng – Việt Nam.

Trước kỳ họp xét công nhận này, trên thế giới có tổng cộng 127 công viên địa chất toàn cầu nằm ở 35 quốc gia được UNESCO công nhận. Đây là danh hiệu dành cho một khu vực tự nhiên có ranh giới địa lý – hành chính rõ ràng, chứa một tập hợp di sản địa chất mang tầm cỡ quốc tế được chứng minh có giá trị khoa học, giáo dục và thẩm mỹ. Bên cạnh đó là các giá trị khác về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa xã hội…

Nguồn: https://dulich.vnexpress.net/tin-tuc/viet-nam/cao-bang/viet-nam-co-cong-vien-dia-chat-toan-cau-thu-hai-o-cao-bang-3736016.html?ctr=related_news_click

Đập thủy điện Trung Quốc tiếp tục uy hiếp sông Mekong

TTO – Nếu Trung Quốc xây thêm đập thủy điện Sambor ở Campuchia, tác động môi trường và xã hội của nó sẽ vô cùng lớn đối với người dân Campuchia và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Ngư dân đánh cá trên sông Mekong thuộc địa phận tỉnh Kandal – Ảnh: AFP

Giống với nhiều người sống gần sông Mekong và các phụ lưu của nó ở Campuchia, người nông dân 63 tuổi Srey Ly Bik xem dòng nước này là miếng cơm manh áo. Bị tách khỏi gia đình trong thời kỳ thống trị đẫm máu của Khmer Đỏ những năm cuối thập niên 1970, Srey Ly Bik phiêu bạt từ nơi này đến nơi khác với một nhóm thầy thuốc.

Năm 1979, ông tìm lại được người cha thất lạc trước đó ở làng Kbal Romeas bên sông Srepok – một nhánh của sông Mekong. Srey Ly Bik cưới một cô gái trong làng và có với nhau 6 mặt con. Nhờ vào dòng phù màu mỡ bồi đắp cho vùng đất này, cuộc sống của họ trôi qua bình yên với cây lúa, hoa màu…

Nhưng đến tháng 8-2015, gia đình Srey Ly Bik buộc phải dời đi sau khi chính quyền thông báo ngôi làng của họ nằm trong phạm vi 75 km2 ảnh hưởng xả lũ của con đập thủy điện lớn nhất Campuchia – đập Hạ Sesan 2.

Không còn lựa chọn, Srey Ly Bik phải bán hết tài sản gồm 30 con trâu và một chiếc máy cày, vì ông đã quá lớn tuổi để có thể cày cuốc trên vùng đất tái định cư khô cằn và đầy đá sỏi.

“Tôi trở về chỗ cũ cách đây vài ngày để kiểm tra mực nước, ngôi nhà của tôi đã bị ngập hoàn toàn đến mức không còn nhận ra nó nằm chỗ nào” – người đàn ông có số phận long đong tâm sự.

Hoàng hôn trên sông Mekong ở Campuchia. Các học sinh bắt đò để về nhà – Ảnh: SCMP

Dấu ấn Trung Quốc

Đập thủy điện Hạ Sesan 2 ở Campuchia là dự án trị giá 816 triệu USD, có công suất 400 megawatt khi hoàn thành. Đây là một trong những biểu tượng cho sức ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Dưới sáng kiến “Vành đai, Con đường” của Chủ tịch Tập Cận Bình, Bắc Kinh đang ráo riết “lột xác” hệ thống vận tải và giao thương xuyên suốt Âu – Á và Đông Nam Á thông qua các dự án đầu tư hạ tầng khổng lồ.

“Trung Quốc tin rằng đường sá cần phải được xây trước khi đẻ ra tiền. Đây là cách phát triển họ muốn giới thiệu với cả thế giới thông qua Vành đai, Con đường. Một khi đã thành công ở Đông Nam Á, mô hình này sẽ được nhân rộng ở các nơi khác, ví dụ châu Phi và Nam Mỹ” – giáo sư Hu Zhiyong thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Thượng Hải giải thích.

Ngày 31-3, tại Hà Nội, 6 quốc gia thuộc khu vực Mekong đã thông qua một kế hoạch đầu tư tham vọng gồm 227 dự án trị giá 66 tỉ USD trong 5 năm tới.

Bà Stephanie Jensen-Cormier, giám đốc Chương trình Trung Quốc thuộc Tổ chức Sông ngòi quốc tế (California, Mỹ), thống kê các công ty thủy điện Trung Quốc đang xây dựng 41 đập ở Đông Nam Á. “Con số đó là rất nhiều, do đó tác động môi trường và xã hội vô cùng lớn” – bà nhận định.

Đối với các nước ASEAN nghèo như Campuchia, những dự án của Trung Quốc vô cùng hấp dẫn. Các quan chức Phnom Penh tự hào rằng tiềm năng thủy điện của sông Mekong có thể là thỏi nam châm hút đầu tư và giúp người dân Campuchia thoát nghèo.

“Khó khăn của một đất nước đang phát triển hậu khủng hoảng là chúng tôi phải chật vật cạnh tranh nếu không có được hạ tầng thiết yếu. Hạ tầng rất quan trọng, đặc biệt khi giá điện của anh cao hơn láng giềng, còn thị trường lại nhỏ hơn hơn Việt Nam, Thái Lan, Myanmar… Chúng tôi cần giảm chi phí vận hành doanh nghiệp và điện có lẽ là yếu tố quyết định” – luật sư Sok Siphana, cố vấn cho chính phủ Campuchia, giải thích.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen (phải, hàng đầu) và đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Xiong Bo (trái) tham dự lễ động thổ cây cầu hữu nghị Campuchia – Trung Quốc thứ 8 trên sông Mekong – Ảnh: AFP

Trôi theo dòng nước

Nhưng không phải người dân Campuchia nào cũng chia sẻ sự lạc quan đó. Đối với dân làng Srekor thuộc tỉnh miền bắc Stung Treng, đập Hạ Sesan 2 đã nhấn chìm đất đai, cuối trôi tài sản, truyền thống và văn hóa của họ theo dòng nước.

Anh Futh Kheun, 39 tuổi, cùng 66 hộ gia đình khác trong làng đã từ chối tái định cư khi người ta khởi công xây đập. Họ dời lên một khu đất cao hơn, và từ vị trí đó có thể nhìn thấy dòng nước dâng lên, nhấn chìm cả ngôi làng.

Anh Kheun nói anh xem dự án đập là một thỏa thuận riêng giữa chính quyền hai nước Campuchia và Trung Quốc, trong đó sự cân nhắc dành cho người dân địa phương không đáng là bao.

“Ở các quốc gia khác vốn không có sông ngòi và nguồn nước, họ vẫn có điện. Còn chúng tôi có tất cả, chúng tôi có than, có sông, có nước… Tại sao người ta lại ưu tiên xây đập thủy điện? Công trình này đã và đang khiến dân địa phương khốn khổ” – anh Kheun than thở.

Theo báo SCMP của Hong Kong, Trung Quốc là nhà tài trợ – đầu tư nước ngoài lớn nhất của Campuchia, tuy nhiên tình cảm người Campuchia dành cho Trung Quốc có thể không mấy tích cực.

Dân thành thị kêu ca việc khách du lịch Trung Quốc tràn ngập danh lam thắng cảnh, chất lượng hàng Tàu tồi; dân nông thôn thì lo các nhà đầu tư Trung Quốc lấy đi hết mọi tài nguyên tự nhiên – sinh kế của họ…

Ông Leang Bunleap, giám đốc Tổ chức Mạng lưới Bảo vệ sông ngòi 3S, cho biết tại tỉnh Stung Treng, nơi có con đập Hạ Sesan 2, các nhà đầu tư Trung Quốc hay phớt lờ các mối quan tâm của người dân, nhưng lại luôn o bế để có mối quan hệ tốt với chính quyền.

“Nhà đầu tư Trung Quốc khuyến khích chính quyền tiếp tục cấp phép dự án cho họ với lý do tăng thu nhập, công ăn việc làm cho dân, phát triển kinh tế… nhưng lợi ích đó không dành cho tất cả, nhiều người giờ đây phải rời nhà cửa, còn môi trường thì bị hủy hoại” – ông Leang Bunleap kể.

Đã có nhiều bài học đau thương liên quan đến “đầu tư Trung Quốc” ở Đông Nam Á. Cách đây 7 năm, Chính phủ Myanmar phải cho dừng dự án đập Myitsone trị giá 3,6 tỉ USD trên thượng nguồn sông Irrawaddy dưới áp lực phản đối dữ dội từ công chúng.

Cũng tại Campuchia, năm 2015, Thủ tướng Hun Sen phải ra lệnh hoãn dự án thủy điện Chhay Areng ở tỉnh tây nam Koh Kong do Trung Quốc chống lưng đến năm 2018 để xoa dịu sự tức giận trong dân…

Làng Srekor chìm trong biển nước vì đập Hạ Sesan 2 – ảnh: International Rivers

Hiểm nguy mới

Chuyên gia về Trung Quốc Ren Peng thuộc Tổ chức Viện Môi trường toàn cầu nhận xét trong quá trình mở rộng đầu tư của Bắc trên khắp thế giới, làn sóng phản đối của dân địa phương, đặc biệt ở Đông Nam Á, châu Phi và Nam Mỹ, ngày càng trở nên phổ biến.

Khác với Nhật Bản và phương Tây, các nước luôn quan tâm đến sinh kế của dân địa phương, nhà đầu tư Trung Quốc thường chỉ ưu tiên quan hệ với chính quyền sở tại. “Tại Đông Nam Á, nhà đầu tư càng gần gũi với chính quyền bao nhiêu, người dân càng nghi ngờ bấy nhiêu” – ông Ren nhận xét.

Cách đập Hạ Sesan 2 khoảng 140km về phía nam, cuộc sống của người dân cù lao Kaoh Real trên dòng Mekong – đoạn qua địa phận tỉnh Kratie – đã bị xáo trộn từ khi người Trung Quốc xuất hiện năm 2007.

“Tôi nghe nói người ta muốn xây một đập thủy điện ở đây, nhưng chưa có gì cụ thể. Tôi không biết người khác ra sao nhưng tôi không muốn bồi thường gì cả, vì tôi có mọi thứ ở đây. Nếu phải di dời, tôi sẽ mất tất cả” – người nông dân Loeurn Sitha tỏ ra lo lắng.

Với rất ít thông tin chính thức, mọi bàn tán về dự án đập và sự liên quan của Trung Quốc khá nhạy cảm. Một quan chức giấu tên tiết lộ với báo SCMP rằng bất cứ quyết định nào bật đèn xanh cho dự án này đều có hệ quả nghiêm trọng, vì đây sẽ là một đập nước nằm trên dòng chính sông Mekong gần với bờ biển nhất, và lớn nhất Campuchia.

Vị trí dự án Hạ Sesan 2 và Sambor trên bản đồ – đồ họa: SCMP

Dân làng Sambor trên cù lao Kaoh Real cho biết họ đã được khảo sát ý kiến về dự án thủy điện này từ hồi đầu tháng 1-2018.

Năm 2006, Tập đoàn China Southern Power Grid ký bản ghi nhớ với Chính phủ Campuchia về việc tiến hành một khảo sát mới về đập Sambor. Dự án này được đề xuất lần đầu tiên hồi thập niên 1950 nhưng tập đoàn Trung Quốc rút lui năm 2011 sau khi tiến hành khảo sát địa chất với lý do “chúng tôi là một công ty có trách nhiệm”.

Không hiểu tại sao bây giờ đập Sambor bỗng nhiên được cân nhắc lại. Nếu trở thành hiện thực, đây sẽ là mối nguy hiểm tiềm tàng vô cùng lớn đối với hàng chục triệu người dân ở hạ lưu sông Mekong, trong đó có ĐBSCL.

PHÚC LONG

Nguồn: https://tuoitre.vn/dap-thuy-dien-trung-quoc-tiep-tuc-uy-hiep-song-mekong-2018040113203744.htm

Hàng trăm thuỷ điện thượng nguồn Mekong đe dọa Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

Thượng nguồn sông Mekong dự kiến có 467 thủy điện trong đó khoảng 1/4 đang trong quá trình xây dựng hoặc dự kiến xây dựng, gia tăng nguy cơ gây sạt lở và xói mòn ở hạ lưu.

Sông Cửu Long, bên lở bên bồi là quy luật bình thường của tự nhiên, tạo cân bằng tương đối cho hai bên bờ. Thế nhưng từ năm 2010 trở lại đây, sạt lở diễn ra nhanh hơn bồi tụ và vô cùng phức tạp, tác động không hề nhỏ đến phát triển kinh tế – xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vùng đất phía Nam Việt Nam.

Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng. Nằm ở khu vực hạ lưu sông Mekong, là nơi hứng chịu những hệ lụy gây ra bởi hoạt động của các đập thủy điện phía thượng nguồn.

Dự kiến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 468 đập thủy điện lớn nhỏ. Ảnh: Zing

Những năm gần đây, thủy điện trên dòng chính sông Mekong đua nhau mọc lên. Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch hơn 20 đập thủy điện, trong đó Trung Quốc đã xây được 8 đập ở thượng nguồn. Lào và Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn. Gần đây nhất, Lào tuyên bố xây dựng đập Pak Beng – đập thủy điện lớn thứ ba, sau hai đập Xayaburi và Don Sahong, bất chấp sự phản đối từ phía các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong.

Trong một báo cáo của Ủy ban Sông Mekong, nếu cả 3 công trình thủy điện của Lào: Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng đi vào hoạt động, thì tổng lượng dòng chảy sẽ giảm 6,2%/tháng, xâm nhập trên sông xâm nhập mặn trên sông Tiền, sông Hậu lấn sâu vào từ 2,8 – 3,8 km. Và với viễn cảnh không xa, khi cả chuỗi 11 đập thủy điện hoạt động thì tổng lượng dòng chảy sẽ giảm hơn 27%/tháng, xâm nhập mặn sẽ vào sâu trên sông Tiền, sông Hậu khoảng từ 10 – 18 km.

Ảnh: Zing

Theo ước tính của CGIRA, Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế, đến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 470 đập thủy điện lớn nhỏ. Số lượng hồ chứa được quy hoạch trên thượng lưu sông Mekong sẽ đạt tổng dung tích 101,9 tỷ m3.

Việc xây dựng và lên kế hoạch xây dựng hàng chục con đập trên dòng Mekong mang lại một số lợi ích cho quốc gia sở hữu nhưng lại gây ra vô vàn hệ lụy cho khoảng 60 triệu người sống phía dưới hạ lưu.

Điều khiến các chuyên gia lo ngại lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về đồng bằng sông Cửu Long nữa.

Sinh kế người dân ĐBSCL bị đe dọa

Sông Mekong bắt nguồn từ tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc, chảy qua Tây Tạng và Vân Nam trước khi đi vào Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và đổ ra biển tại Việt Nam. Theo tính toán, tổng lượng dòng chảy các sông suối vào lãnh thổ Việt Nam khoảng 830 – 850 tỉ m3/năm, trong đó sông Mekong đóng góp là 475 tỉ m3, tương đương với 53 – 57% tổng lượng dòng chảy toàn lãnh thổ.

Con sông này có vị trí quan trọng không chỉ đối với ĐBSCL mà đối với phát triển nhiều vùng khác như Tây Nguyên và những vùng lãnh thổ Việt Nam nằm trong lưu vực.

Tuy nhiên thời gian trở lại đây, nguồn nước suy giảm trên sông Mekong, tình trạng xâm nhập mặn tăng nhanh và nguy cơ nước biển dâng ảnh hưởng đến kế sinh nhai của bà con vùng ĐBSCL.

Sự mất mát lương thực do tác động của chuỗi các đập thủy điện sẽ rất cao và tăng dần theo thời gian. Khả năng “tan rã” quá trình kiến tạo đồng bằng khiến vùng châu thổ có thể không còn là vựa lúa của Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia.

Trong điều kiện chịu tác động của biến đổi khí hậu, thủy điện trên Mekong còn mở đường cho xâm nhập mặn lấn sâu vào ĐBSCL trong mùa khô, nông dân sẽ phải vất vả hơn.

Ngoài ra, phù sa bị giữ lại phía thượng nguồn sẽ dẫn đến suy giảm nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL.

Hạn mặn đe dọa vùng ĐBSCL. Ảnh: Ngọc Trinh

Tính toán sơ bộ của các cơ quan chức năng Việt Nam, tác động tích lũy của dự án thủy điện trên dòng chính cùng với các bậc thang thủy điện dòng chính sông Mekong có thể làm giảm từ 6 – 10% nguồn chất dinh dưỡng (đạm và lân) cho ĐBSCL. Theo đó, năng suất cây trồng được dự báo sẽ giảm từ 0,6 – 1 tấn/ha.

“Các dự án phát triển thủy điện làm ngưỡng đói nghèo gia tăng,” Tiến sĩ Naruepon Sukumasvin, Ban Thư ký Ủy hội sông Mê Kông Quốc tế cảnh báo. “Sản lượng đánh bắt cá ở hành lang sông Mê Kông sẽ giảm khoảng 1,57 tỉ USD”.

“Lượng cá trên dòng Mê Kông giảm, trọng lượng cá cũng giảm và ít cá to. Khoảng 60% thành phần loài di cư bị giảm sút. Theo đó xuất khẩu cá da trơn có giá trị hàng tỉ đô la của Việt Nam bị đe dọa, do cá da trơn phụ thuộc nguồn thức ăn là cá trắng di cư”, Tiến sĩ Naruepon Sukumasvin thông tin thêm.

Cuộc sống của gần 20 triệu cư dân ĐBSCL sống nương nhờ nông nghiệp, nương nhờ đánh bắt cá đang bị đe dọa bởi những đập thủy điện được xây dựng ngày một nhiều phía thượng nguồn.

Author: Hà Phương/Theo Zing

Nguồn: http://news.vinacircle.com/hang-tram-thuy-dien-thuong-nguon-mekong-de-doa-dong-bang-song-cuu-long-cua-viet-nam-post16015.html

 

Ưu thế dầu đá phiến của Mỹ

Nguyễn Anh Tuấn

Kỹ thuật khai thác hiệu quả dầu khí từ đá phiến cho phép Mỹ tính đến việc bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu loại tài nguyên thiết yếu này.

Phương pháp fracking và khoan xiên ngang

Giá dầu thô trên thế giới đã giảm mạnh trong thời gian vừa qua. Nếu trong năm 2008 giá dầu đạt đến mức 160 USD/thùng và duy trì ở mức dao động trong khoảng từ 100 – 120 USD/thùng cho đến những năm 2013 – 2014, thì giá dầu đã sụt giảm một cách không ngờ và chỉ còn dưới 60 USD/thùng vào cuối năm 2014. Chiều hướng này có thể được duy trì trong thời gian sắp tới hay không vẫn là một câu hỏi, nhưng bỏ ngoài các yếu tố thương mại và chính trị trên thế giới thì kỹ thuật khai thác hiệu quả dầu khí từ đá phiến của Mỹ là một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc hạ giá thành của loại nhiên liệu cốt yếu này.

Nguồn gốc dầu khí đá phiến

Trong các kiểu khai thác truyền thống, dầu khí được hình thành trong đá phiến (shale), đây là nhóm đá tạo thành trong ao hồ, đầm lầy, nền biển cạn… chứa nhiều vật liệu hữu cơ như rong tảo, mảnh vụn thực vật. Trong những điều kiện bị vùi lấp nhanh chóng và môi trường yếm khí sâu bên dưới, chúng sẽ chuyển hóa dần thành dầu và khí. Sau khi hình thành trong nhóm đá phiến, hay còn gọi là đá nguồn, với một tỷ trọng thấp hơn tỷ trọng các nhóm đá chung quanh, các phân tử dầu khí có khuynh hướng thoát ra khỏi đá nguồn và di chuyển lên trên về phía mặt ngoài vỏ đất qua các khe hở li ti của các nhóm đá có đặc tính thẩm thấu phía bên trên (đá cát, đá vôi…) hay còn gọi là đá chứa. Sự di chuyển lên trên của dầu khí sẽ bị chặn lại khi chúng gặp một nhóm đá không thẩm thấu (đá phiến, đá muối…) và dần dà tập trung nhiều hơn tại nơi đây, tạo thành các túi dầu khí với những cấu trúc khác nhau. Đây chính là nơi các mũi khoan nhắm đến để thu hoạch nguồn “vàng đen” từ thiên nhiên.

Khác với các kiểu truyền thống, khai thác dầu khí trong đá phiến là phương cách khai thác trực tiếp từ đá nguồn chứ không phải từ trong các vỉa đá chứa túi dầu. Thực ra kỹ nghệ khai thác dầu từ đá phiến từng được thực hiện từ thập niên 1970, lúc đó đá phiến chứa dầu khí nằm cạn hoặc lộ trên mặt đất, được cào bới và di chuyển vào các bồn chứa. Tại đây chúng được nung nóng và trộn lẫn với các luồng hơi nước nóng và nén ép để trích xuất dầu khí. Kỹ thuật này không mang lại hiệu quả kinh tế cao và vấn đề trọng yếu là thiếu kho bãi chứa đá phiến trong cả hai phần thu thập và thải bỏ, cùng các vấn đề an toàn môi sinh.

Ứng dụng công nghệ

Mọi việc chỉ trở nên tốt đẹp hơn vào giữa thập niên 2000 khi các ứng dụng kỹ thuật mới được phát triển. Sự khai thác hiệu quả dầu khí từ đá phiến được hỗ trợ bằng các phương pháp kỹ thuật khác nhau, nổi bật là kỹ thuật khoan xiên ngang (horizontal directional drilling) và làm rạn nứt đá bằng thủy lực (hydraulic fracking, còn gọi là fracking). Một thí dụ dễ hiểu về khoan xiên ngang là khi khai thác dầu khí, nhất là ở ngoài biển, người ta không cần phải di chuyển giàn khoan đến các vị trí khác nhau của mỏ dầu khí để khoan thẳng đứng từ trên xuống dưới mà chỉ cần cố định giàn khoan và từ đó khoan xiên ngang đến các vị trí cần thiết bên dưới.

Kỹ thuật fracking được thực hiện bằng cách dùng nước nóng dưới áp suất cực lớn bắn vào vách đá chung quanh để làm phần vách rạn nứt và các hạt dầu khí trong đó sẽ di chuyển ra ngoài một cách dễ dàng hơn để vào các ống dẫn. Vào những năm cuối thập niên 2000, những kỹ thuật ấy được áp dụng trực tiếp trên phần đá nguồn (đá phiến) sau khi một giếng khoan xiên ngang được tạo ra ngay bên trong các lớp đá này.

Cho đến nay đá phiến chứa dầu khí đã được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng nhiều nhất vẫn là ở Mỹ. Vùng đá phiến chứa dầu khí Green River Formation nằm giữa các tiểu bang Colorado, Wyoming và Utah có trữ lượng khoảng 1.200 – 1.800 tỉ thùng. Không hẳn chúng sẽ được khai thác hết nhưng với ước tính trữ lượng có thể khai thác được là 800 tỉ thùng, thì con số này cũng đã gấp 3 lần trữ lượng dầu khí của Ả Rập Xê Út.

Với con số tiêu thụ khoảng 20 triệu thùng mỗi ngày, nếu nguồn dầu từ đá phiến có thể đóng góp 1/4 nhu cầu cần thiết bên cạnh các nguồn dầu khác trên nước Mỹ, dầu từ đá phiến Green River Formation sẽ được cung cấp liên tục khoảng 400 năm nữa. Mỹ đã đưa ra lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt từ 1975 để bảo vệ nguồn tài nguyên và bảo đảm an toàn cho nhu cầu trong nước nhưng trong những ngày vừa qua họ đang xem xét lại việc đồng ý cho các công ty dầu của Mỹ xuất khẩu dầu sang các nước khác.

(Tài liệu tham khảo: Oil shale extraction methods, AMSO American Shale Oil Comapy, 2010; Oil shale and Tar sand programmatic IES, 2012; North America tight light oil, Canada gas resource, 2011)

Nguồn: https://thanhnien.vn/the-gioi/uu-the-dau-da-phien-cua-my-523828.html

Núi Taranaki ở New Zealand sắp được trao quyền hợp pháp của một con người

Núi Taranaki ở New Zealand sắp được trao quyền hợp pháp của một con người, trở thành thực thể địa lý thứ ba tại nước này được công nhận “tư cách pháp nhân”.

 

Núi lửa Taranaki

Núi Taranaki (hay Egmont), là kiểu núi lửa phân tầng (stratovolcano) phân bố tại khu vực Taranaki thuộc bờ biển phía tây Đảo Bắc New Zealand. Núi cao 2.518 mét, là một trong số những nón núi lửa đối xứng nhất thế giới. Núi còn có một nón thứ cấp là đỉnh Fanthams (Māori: Panitahi) cao 1.966 mét, ở phía nam. Núi Taranaki khá giống Núi Phú Sĩ (Mount Fuji) nên đã được dùng làm bối cảnh cho bộ phim The Last Samurai.

Taranaki có tuổi địa chất trẻ, bắt đầu hoạt động khoảng 135.000 năm trước. Vụ phún xuất lớn cuối cùng xảy ra vào khoảng năm 1655. Các nghiên cứu gần đây cho thấy trong 9000 năm qua, các đợt phún xuất nhỏ xảy ra trung bình khoảng 90 năm một lần, các đợt phún xuất lớn cách nhau khoảng 500 năm.

Năm 1881, một khu vực hình tròn với bán kính 9,6 km bao quanh đỉnh núi được bảo vệ như một Khu bảo tồn Rừng. Sau đó, các khu vực bao gồm các tàn tích núi lửa cổ của Pouakai và Kaitake đã được bổ sung vào khu Bảo tồn này. Năm 1900 Công viên Quốc gia Egmont đã được thành lập, đây là công viên quốc gia thứ hai ở New Zealand.

Ảnh: stokedforsaturday.com.

Hoạt động giải trí

Các hoạt động trượt tuyết, leo núi đã được tổ chức trên núi Taranaki như Khu trượt tuyết Manganui ở sườn phía đông. Các cuộc leo núi công cộng tới đỉnh Taranaki tổ chức vào những tháng mùa hè trên sườn núi phía bắc.

Taranaki sẽ được coi là một ngọn núi vừa phải để trèo. Người có thể lực tốt phải mất một ngày để lên và xuống núi. Thời tiết trên núi có thể thay đổi nhanh, gây rủi ro cho những người trèo núi. Tính đến ngày 27 tháng 6 năm 2017, có 84 người đã chết trên núi kể từ năm 1891 do sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Taranaki là ngọn núi nguy hiểm thứ hai ở New Zealand sau núi  Aoraki/Cook.

Trao quyền hợp pháp

Theo Guardian, 8 bộ tộc Maori địa phương và chính phủ sẽ chia quyền giám sát ngọn núi thiêng ở bờ tây Đảo Bắc của New Zealand. Từ lâu, người bản địa ở đây đã coi ngọn núi như tổ tiên và gia đình của họ. Quyền mới cấp của ngọn núi có nghĩa là nếu có ai làm hại đến nó, hành động này sẽ tương đương với làm hại các bộ tộc bản địa về mặt pháp lý.

Trong bản ghi nhớ ký kết mới đây giữa chính phủ và 8 bộ tộc, núi Taranaki sẽ trở thành “pháp nhân với quyền lợi riêng”. Bộ trưởng về đàm phán thỏa thuận Andrew Little cho hay ngọn núi giờ có quyền tương tự con sông Whanganui, được công nhận hồi tháng 1 năm nay là một cá nhân hợp pháp.

“Là người dân sống ở New Plymouth, tôi lớn lên dưới bóng ngọn núi ấy, vì thế mà tôi rất vui mừng với sự công nhận này”, ông Little bày tỏ.

Ông cho hay thỏa thuận sẽ giúp cho ngọn núi có được sự bảo vệ tốt nhất có thể, đặc biệt là khi nơi đây đang ngày càng thu hút nhiều khách du lịch từ sau khi Lonely Planet xếp hạng vùng Taranaki là địa điểm đáng đến thứ hai trên thế giới vào năm ngoái. Taranaki cũng được cho là ngọn núi được leo nhiều nhất ở New Zealand.

Nguồn: 1. Mountain Taranaki. Wikipedia

2. Núi thiêng 120 nghìn tuổi ở New Zealand được trao quyền con người. https://news.zing.vn/nui-thieng-120-nghin-tuoi-o-new-zealand-duoc-trao-quyen-con-nguoi-post806231.html

NASA giúp Việt Nam làm nông nghiệp công nghệ cao

ICTNEWS – Các vệ tinh của NASA từ vũ trụ sẽ theo dõi hình ảnh từ các vựa lúa tại tỉnh An Giang ở Đồng bằng Sông Cửu Long để đưa ra những phân tích về tình hình sản xuất, góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến an ninh lương thực toàn cầu.

Theo thông cáo của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ – NASA, khi giá lương thực toàn cầu tăng vọt đáng kể vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008, chi phí trong các khẩu phần ăn cơ bản tăng gấp đôi hoặc gấp ba tại nhiều nơi trên thế giới, gây ra những cuộc biểu tình và bạo loạn.

Nhằm ngăn chặn những cuộc khủng hoảng diễn ra, các nhà lãnh đạo toàn cầu đã đưa ra sáng kiến về một nhóm nông nghiệp giám sát, quy tụ đại diện đến từ các quốc gia và nhóm hỗ trợ.

Sáng kiến này được đặt tên là GEOGLAM, theo đó, các vệ tinh sẽ thu dữ liệu hình ảnh từ trái đất và đưa ra dự đoán tốt hơn về thời tiết, cũng như năng suất mùa màng trong tương lai.

Một trong những cây trồng được ưu tiên giám sát là cây lúa, đây là nguồn cung cấp lương thực chính cho hàng tỷ người trên thế giới.

Tuy nhiên, lúa lại là loại cây khá phức tạp để đưa ra những dự đoán, chủ yếu là do thiếu các thông tin liên quan đến việc canh tác, sản xuất liên quan đến loại cây này. Chẳng hạn, một đợt lũ lụt hay hán hán ở khu vực Đông Nam Á có thể khiến hàng trăm nghìn người trên khắp thế giới chết đói, sáng kiến GEOGLAM được thành lập để giải quyết vấn đề này.

Ảnh chụp vùng nông nghiệp của An Giang từ vệ tinh từ NASA, trong đó những vùng tối màu đen sẫm là vùng đang ngập úng nước cần được xử lý – Ảnh: NASA

Một số vệ tinh phổ biến được sử dụng trong GEOGLAM là các vệ tinh Landsat đã được phóng lên trên quỹ đạo trái đất từ năm 1972, mới nhất là vệ tinh Landsat 8, ngoài ra còn có các vệ tinh Terra và Aqua cũng được sử dụng để phục vụ cho dự án.

Những bức ảnh chi tiết, được chụp bằng nhiều thiết bị kỹ thuật cao sẽ thể hiện cả những dải nhiệt hồng ngoại, giúp quan sát độ ẩm, nhiệt độ trên bề mặt các vùng canh tác để xem xét, đưa ra những phản ứng phù hợp.

Nathan Torbick, Giám đốc của một trong những công ty tham gia vào GEOGLAM, Applied Geosolutions cho biết, nhiệm vụ này không hề đơn giản: “Bạn phải là một chuyên gia để biến dữ liệu thành những thông tin hữu ích”.

Applied Geosolutions cùng với sự hỗ trợ của những giải pháp đến từ trung tâm vũ trụ Stennis Space Center đã thiết kế ra một chương trình gọi là RDSS, kết hợp dữ liệu từ vệ tinh của NASA và nhiều phương pháp phân tích khác nhau, đưa ra những thông tin: “cung cấp một bức tranh đầy đủ về những gì đang xảy ra trên mặt đất, tạo ra các thông tin trong thời gian thực, giai đoạn sinh trưởng, sản lượng dự kiến của cây lúa…”.

Tại các quốc gia ngoài Mỹ, trước mắt hệ thống này sẽ hỗ trợ thử nghiệm tại Indonesia và Việt Nam, trong các chương trình hỗ trợ về an ninh lương thực.

Bradley Doorn, quản lý của chương trình Water Resources Applied Sciences cho biết: “Khi chúng tôi mù thông tin về các hoạt động sản xuất, thị trường sẽ trở nên khó suy đoán và rất dễ biến động, điều này không tốt cho các chính phủ, doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng”.

Thành Lương

Các vấn đề môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long

Nguyễn Trần Nhẫn Tánh

Khoa Kỹ Thuật – Công nghệ – Môi trường, Trường Đại học An Giang

Tóm tắt

Bài viết này xem xét các vấn đề môi trường chính ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Điều kiện môi trường ở ĐBSCL đã thay đổi mạnh mẽ theo thời gian. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ĐBSCL đang đối mặt các vấn đề về cấp nước, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng. Người dân đã áp dụng các giải pháp để đối phó với sự thay đổi. Tuy nhiên, các giải pháp vẫn còn nhiều hạn chế.

I.Giới thiệu

Các con sông hình thành nên các đồng bằng trên thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành từ sông Mekong có nguồn gốc từ Tây Tạng. Đây là con sông lớn nhất Châu Á. Ở ĐBSCL, người dân địa phương khai thác các nguồn tài  nguyên thiên nhiên chủ  yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động này làm thay đổi mạnh mẽ đồng bằng. Nhìn chung, ĐBSCL có các vấn đề môi trường về cấp nước, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng như các đồng bằng khác như Vịnh Chesapeake, sông Columbia, Everglades-South Florida, sông San Joaquin, sông Colorado, sông Mississippi, the Puget South, the Netherlands và sông Po.

II.Các vấn đề môi trường ở ĐBSCL

Các vấn đề môi trường ở ĐBSCL liên quan nhiều đến sông Mekong. Sông Mekong có chiều dài khoảng 4200 km (trong đó, phần ở Việt Nam khoảng 230km). Lưu vực sông khoảng 795000km2 (trong đó 39000 km2 ở Việt Nam). Diện tích ngập ở Việt Nam vào khoảng 19000 km2. Ở ĐBSCL, lũ là hiện tượng tự nhiên. Nhìn về lịch sử cho thấy con  người  đã  phát  triển  các  hệ  thống kênh và đê bao để quản lý nước. Năm 1820, Thoại Ngọc Hầu đã khởi đầu đào một kênh chính. Sau đó, vua Minh Mạng đã xây dựng một con kênh nối với vịnh Siam để tăng khả năng kiểm soát khu vực.  Từ  thời  Pháp,  từ  năm  1880  đến 1960, ĐBSCL là nơi để canh tác nông nghiệp với việc phát triển của nhiều con kênh và đê (Biggs, 2001).

Hoạt động chủ yếu ở ĐBSCL là sản xuất nông nghiệp. Đồng bằng có hai mùa rõ rệt. Trong đó, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Hai mùa này cung cấp các điều kiện môi trường thích hợp cho việc canh tác. Thông thường, rau được canh tác trong mùa khô và lúa vào mùa mưa (Nakai  and  Cuc,  2005).  Bên  cạnh  đó, nghề nuôi cá Basa cũng là một hoạt động tiêu biểu mang nhiều lợi ích cho người dân địa phương.

Ở ĐBSCL, người dân nhận nhiều lợi ích từ nguồn nước. Phù sa trong nước tạo một môi trường trong đó có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết người dân ở vùng  ĐBSCL  sử  dụng  nước  dọc  theo sông cho các hoạt động và hoàn trả lại các thành phần độc hại. Hiện tại, nguồn nước đang bị ô nhiễm ngày càng tăng do thuốc trừ sâu, trừ cỏ và phân bón… Mỗi năm, nông dân bơm nước trực tiếp vào đất canh tác và giữ đó trong 1 vài tháng và sau đó tháo nước vào các con kênh và sông trực tiếp. Họ lặp lại  chu kỳ này nhiều lần cho đến khi thu hoạch lúa. Do nhiều người nhất là người dân ở nông thôn lấy nước trực tiếp từ các con kênh và sông nên họ nhận các chất ô nhiễm nước trong cả năm. Mặc dầu mỗi tỉnh ở ĐBSCL có hệ thống nước cấp riêng nhưng các hệ thống chỉ phục vụ cho người dân sống ở các vùng đô thị hoặc thị xã, thị trấn và một số khu vực nông thôn.  Điều  này  cho  thấy,  vấn  đề  cấp nước vẫn đang là một nhu cầu lớn cho người dân ở ĐBSCL.

Song song với vấn đề nước cấp, lũ là một trong những vấn đề đáng ngại ở vùng đồng bằng. Mỗi năm, khu vực có một  mùa  lũ  thường  kéo  dài  trong  3 tháng. Vào mùa lũ, người dân có thể tận dụng lợi ích từ phù sa trong việc cung cấp  dinh  dưỡng  cho  đất  đai  và  nuôi dưỡng cá (Nga, 1999). Ở ĐBSCL, lũ thường bao phủ từ 1,4 đến 1,9 triệu ha (chiếm khoảng 50% diện tích của đồng bằng). Lũ lớn thường xuất hiện 2 năm một lần. Trong nhiều trường hợp, vùng đồng bằng có lũ trong 3-4 năm liên tiếp chẳng hạn như 1937-1940, 1946-1949 và 1994-1996. Năm 2000 và năm 2001 là thời điểm mà ĐBSCL có các cơn lũ lớn gây  ra  nhiều  khó  khăn  cho  đời  sống người dân. Người dân địa phương đối phó với lũ bằng cách xây dựng nhiều con đê để bảo vệ lúa và đẩy mạnh làm lúa 3 vụ trong năm (Tanh, 2004). Tuy nhiên, việc xây dựng đê để kiểm soát lũ gây ra các tác động tiêu cực đến canh tác lúa. Trong nghiên cứu về so sánh lợi ích và chi phí của làm lúa 2 vụ (không có đê khép kín) và làm lúa 3 vụ (có đê khép kín), Tanh (2004) chỉ ra rằng chênh lệch về lợi ích chi phí giữa 2 khu vực là khoảng 11 triệu đồng/ha/năm, trong đó khu vực không có đê khép kín có lợi ích cao hơn. Điều này đã đã đặt ra bài toán về các giải pháp nào tốt nhất đối với việc kiểm soát lũ ở khu vực.

Bên cạnh vấn đề nước cấp và lũ, sự thay đổi về hệ sinh thái cũng là một vấn đề quan trọng mà nhiều người quan tâm. ĐBSCL có các hệ sinh thái đa dạng như hệ sinh thái nước ngọt, nước mặn, rừng ngập mặn,… ĐBSCL cùng với các đặc điểm của đồng bằng đã thay đổi theo thời gian. Hoạt động nông nghiệp và nhà ở được xem như là các nhân tố chính làm thay đổi hệ sinh thái của đồng bằng. Các hoạt động này góp  phần vào việc các cùng đất tự nhiên dành cho hệ sinh thái bị mất đi, nhất là đất ngập nước. Trong một bức tranh khác, sự thay đổi khí hậu liên quan đến chảy tràn có thể làm tăng việc chảy tràn ở vùng Đông Nam Châu Á (IPPC, 2001). Sự thay đổi này sẽ thay đổi các hệ sinh thái ở ĐBSCL. Sự thay đổi về sinh thái là một tình trạng chung không chỉ riêng ĐBSCL mà cũng là một vấn đề của tất cả các đồng bằng trên thế giới.

Trong bất kỳ sự thay đổi nảo của đồng bằng, cuối cùng thì sự thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của công cộng. Sự thay đổi về điều kiện môi trường của Đồng bằng sẽ làm cho người dân gặp khó khăn nhiều hơn về sức khỏe. Bên cạnh Tây dược, nhiều người ở vùng nông thôn sử dụng các loại lá và cây cỏ để trị bệnh như ở Vườn Quốc gia Tràm Chim, Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen (Maltby, Linstead, Ni, Beazley, Khiem và Tanh, 2006). Sự biến đổi về các hệ sinh thái có thể làm mất đi các loại thực vật  phục  vụ  nhu  cầu  của  người  dân. Thêm vào đó, chất lượng nước cũng bị ảnh hưởng từ sự thay đổi này. Do việc xâm nhập mặn đang ngày càng phát triển ở ĐBSCL, nhiều người đang thiếu các nguồn nước chất lượng tốt cho sức khỏe. Các loại thuốc trừ sâu trong nước phát sinh từ sản xuất nông nghiệp đang tổn hại đến những người không tham gia vào hệ  thống cấp  nước của  các  tỉnh  trong vùng Đồng bằng.

Quản lý ĐBSCL đang là vấn đề thách thức. Sự ưu tiên phát triển kinh tế làm tổn hại đến  môi trường của đồng bằng. Chính  quyền địa  phương đã  cải thiện về luật lệ về môi trường và đã bắt đầu gặt hái được một số thành tựu trong việc bảo vệ đồng bằng. Các tỉnh đang thảo luận để hợp tác trong việc bảo vệ đồng bằng mặc dầu các hành động vẫn còn hạn chế. Nhiều tỉnh đã thiết lập các kế hoạch cho việc thích nghi với biến đổi khí hậu. Nhiều cuộc họp về bảo vệ môi trường, nhất là quản lý đê bao đã được tổ chức ở cấp độ địa phương và vùng để đạt được các thỏa thuận chung giữa các tỉnh (Tanh, 2004). Hiện tại chính quyền địa phương và trung ương đang tăng cường sẽ hỗ trợ tài chính cho việc bảo vệ ĐBSCL. Tuy nhiên, việc quản lý ĐBSCL là một bài toán khó bởi vì Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển mà đang thiếu các nguồn lực về tài chính không chỉ cho phát triển kinh tế mà còn đáp ứng việc bảo vệ môi trường.

III. Kết luận

Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi mạnh mẽ. Sự thay đổi thể hiện ở các ảnh hưởng về nước cấp, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng. Người dân địa phương đã xây dựng vài giải pháp để ứng phó với các vấn đề của đồng bằng cũng như với các tác động của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên các giải pháp thì vẫn còn  nhiều    hạn  chế.  Trong  tương  lại, dưới các tác động của biến đổi khí hậu, các kịch bản về thay đổi của đồng bằng nên được xem xét cẩn thận để tìm ra các kế hoạch hành động và chính sách khả thi cho sự sống còn và phát triển của đồng bằng.

Tài liệu tham khảo

Biggs, David. 2001. Comparing stories of flood control in Misssissippi and the Mekong Deltas: What lessons can be learned?. Seminar in Department of Environment and Natural resources management, Can Tho University, pp. 1-12

Intergovernmental Panel on  Climate Change (IPPC). 2001.  Climate Change 2001: Impacts, Adaptation, and Vulnerability. Cambridge University Press.

Nakai M. and N. T. T. Cuc. 2005. Field application of an insect virus in the Mekong Delta: Effects of a Vietnamese nucleopolyhedrovirus on Spodoptera litura (Lepidoptera: Noctuidae) and its parasitic natural enemies. Biocontrol Science & Technology, vol.15, p.443-453.

Nga, T.T. 1999. Ảnh hưởng của phù sa trên năng suất lúa và một số động vật thủy sinh chính tại An Giang (phần I và II) (Effects of alluvial on rice production yield and some major aqua-fauna in An Giang Province (Part I and II). Department of Science, Technology and Environment, An Giang Province.

Maltby,  E.,  C  Linstead,  DV  Ni,  H  Beazley,  NT  Khiem  and  NTN  Tanh.  2006. Application  of  Ecosystem  Approach  to  strategic  wetland  management  in  Vietnam’s Mekong Delta. Darwin Initiative.

Tanh, N.T.T. 2004. Tác động của đê bao đến kinh tế, xã hội và môi trường huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (Socio-economic and environmental impacts of full flood protection levees  in  Phu  Tan  district,  An  Giang  Province).  Master’s  program  thesis.  Can  Tho University.

Nguồn: http://daihocxanh.hoasen.edu.vn/hoi-thao/cac-van-de-moi-truong-o-dong-bang-song-cuu-long-527.html

Chó có thể dự báo động đất và bão ?

Chó là loài vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây khoảng 15.000 năm, chúng được coi là người bạn gần gũi và thân thiết nhất của con người. Chúng biết được khi chủ nhà buồn hay căng thẳng.

Bằng cái mũi siêu nhậy, chó có thể biết khi cô chủ có thai, ai đó sắp lên cơn động kinh, phát hiện bệnh ung thư…và trong lĩnh vực địa chất môi trường, chó có khả năng phát hiện trận động đất hay cơn bão sắp ập đến.

Dự báo động đất

Các ghi chép từ Hy Lạp cổ đại cho biết về những con chó chạy trốn khỏi thành phố Helice trước một trận động đất bi thảm. Trung Quốc cũng có những câu chuyện về những con chó có biểu hiện khác thường trước khi trận động đất xảy ra. Chó rất nhạy cảm về môi trường xung quanh, một số nhà khoa học cho rằng tai chó rất thính, chúng có thể nghe thấy đá bị nứt vỡ dưới mặt đất. Một số nhà địa chấn học cho rằng chó cảm nhận hoạt động địa chấn thông qua các móng chân của chúng. Dù bằng cách nào, nếu chó ở khu vực dễ bị động đất có những hành vi kỳ quặc, sự thay đổi hành vi như thế không nên bỏ qua.

Chó dự báo đông đất cũng đã được bác sĩ Kiyoshi Shimamura ghi nhận. Qua nhiều năm hành nghề, ông nhận thấy có sự gia tăng đáng kể số nạn nhân bị chó cắn và các lời phàn nàn về loài vật nuôi này vào thời điểm các trận động đất xảy ra.

Sự chú ý đó đã khiến ông làm một cuộc điều tra hồ sơ bệnh nhân tại 12 trung tâm y tế ở miền tây Nhật Bản, nơi chịu thiệt hại nặng nề bởi trận động đất Kobe vào năm 1995, với hơn 6.000 người bị chết.

Kết quả cho thấy những hành vi bất thường của chó như sủa dữ dội hơn, cắn bừa bãi… tăng 18% vào 2 tháng trước và sau cơn động đất có cường độ 7,2 richter.

Hồ sơ tại 3 trung tâm ở đảo Awaji, ngay trên tâm chấn, thì cho thấy sự gia tăng là 60% vào một tháng trước khi có động đất.

“Phát hiện này có thể cho thấy sự liên quan giữa hành vi của chó với khả năng nhận biết trước động đất”, Shimamura nói.

Nguồn: Internet

Dự báo bão

Giống như trận động đất, chó có thể cảm nhận được điều gì đó ở đường chân trời. Các trận bão tạo ra một lực điện từ mà chó có thể cảm nhận trước khi cơn bão ập đến. Khứu giác của chó nhạy hơn khoảng 100 lần so với người và bởi vậy chó có thể ngửi được dòng điện trong không khí. Thính giác của chó cũng tuyệt vời, có thể nghe thấy tiếng sấm sét cách xa vài dặm.

Nguồn: Internet

Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng một số nhà khoa học hi vọng, việc nghiên cứu khả năng “dự báo động đất và thời tiết” ở loài vật nói chung và loài chó nói riêng sẽ giúp cảnh báo và hạn chế những thảm họa thiên tai như động đất, sóng thần và bão tố.

H & H

Biên tập từ các nguồn:

Tại sao loài chó có thể cảm nhận được cơn bão sắp đến? http://soha.vn/kham-pha/tai-sao-loai-cho-co-the-cam-nhan-duoc-con-bao-sap-den-20160315143212188.htm

5 Incredible Things Dogs Can Sense Before They Happen https://iheartdogs.com/are-dogs-psychic-5-things-dogs-sense-before-they-happen/

Can Dogs Predict Earthquakes? https://www.psychologytoday.com/blog/canine-corner/201205/can-dogs-predict-earthquakes

UNESCO đề nghị huỷ bỏ vĩnh viễn dự án cáp treo vào Sơn Đoòng

Tháng 7/2017, Trung tâm Di sản Thế giới và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã tái khẳng định mối quan tâm về đề xuất xây dựng cáp treo vào hang động Sơn Đoòng trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và những tác động tiềm tàng của dự án đến tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, kêu gọi hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch xây dựng cáp treo.

(ảnh: John Spies)

UNESCO khẳng định cáp treo sẽ gây tác động tiêu cực đến Sơn Đoòng

Trong Báo cáo thẩm định và bảo tồn 99 di sản thế giới tại các quốc gia thành viên vào tháng 7/2017, trong đó có hang Sơn Đoòng thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng tại Việt Nam, Ủy ban Di sản Thế giới cho biết có một số yếu tố tác động tiêu cực đến di sản như các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, các hành vi xâm phạm rừng và hoạt động khai thác gỗ trái phép, sự giảm sút và biến mất của một số động thực vật…

Bên cạnh đó, chính quyền địa phương và trung ương đều thiếu các kế hoạch quản lý khách du lịch. Kế hoạch Phát triển Du lịch Bền vững đưa ra không đầy đủ, thiếu những cảnh báo về tác động của khách du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí, trong đó có dự án làm cáp treo vào hang động Sơn Đoòng.

Báo cáo cũng lưu ý rằng, việc làm cáp treo đồng nghĩa với khả năng số lượng khách tham quan vào hang tăng mạnh. Điều đó đi kèm các tác động tiêu cực tiềm ẩn đối với môi trường nhạy cảm của hang động. Các hoạt động bất hợp pháp khác cũng có khả năng gia tăng.

Vì vậy, Trung tâm Di sản Thế giới và IUCN đề nghị Ủy ban Di Sản Thế giới khẳng định lại mối quan tâm của mình đối với dự án này và các tác động tiềm tàng lên tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, đồng thời yêu cầu Việt Nam hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch phát triển cáp treo.

Đồng thời, UNESCO còn yêu cầu Việt Nam nộp bản báo cáo cập nhật về tình trạng bảo tồn di sản cho Trung tâm Di sản Thế giới vào tháng 12/2018 để Uỷ ban Di sản Thế giới kiểm tra vào năm 2019.

Thực hư chuyện xây cáp treo vào Sơn Đoòng?

Những ngày gần đây, dư luận đang đặc biệt quan tâm về dự án xây cáp treo vào hang Sơn Đoòng do tập đoàn FLC khởi xướng. Đã có một số thông tin lan truyền trên mạng về việc FLC và chính quyền tỉnh Quảng Bình đang âm thầm triển khai dự án cáp treo tới gần hang Sơn Đoòng.

Tuy vậy, ngày 26/1/2018, ông Lê Thanh Tịnh, giám đốc ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết thực chất của thông tin này là việc tập đoàn FLC thực hiện việc khảo sát làm cáp treo vào hang Én, nhưng thời điểm diễn ra vào cuối năm 2016. Hơn nữa, chủ trương làm cáp treo vào hang Én cũng đã được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý vào tháng 8/2017.

Hang Én được coi là “cửa ngõ” đến hang Sơn Đoòng, từ Hang Én đến hang Sơn Đoòng cách khoảng hơn 3km và chỉ có thể tiếp cận bằng cách lội suối và đi bộ (trekking).

Hang Én (Ảnh: Flickr)

Trong báo cáo của Việt Nam gửi cho UNESCO đầu năm 2017 liên quan đến bảo tồn và phát triển quần thể di sản này, Việt Nam cũng đã khẳng định: “Chưa cấp phép cho dự án cáp treo vào hang động Sơn Đoòng, trong khi chờ đợi Đánh giá Tác động Môi trường”, và “dự án xây dựng cáp treo sẽ chỉ được tiến hành nếu có sự tán thành của Uỷ ban Di sản Thế giới.”

Như vậy, có thể thấy hiện nay chưa có chủ trương làm cáp treo vào hang Sơn Đoòng mà chỉ có tới hang Én, kèm điều kiện “không làm ảnh hưởng đến di sản và có tham khảo ý kiến của UNESCO.” Tuy nhiên, với khoảng cách rất gần giữa hai hang, đồng thời hang Én cũng nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, nếu việc triển khai xây cáp treo dài 5,1km vào hang Én được chính thức phê duyệt, thì ảnh hưởng của nó tới sinh thái của Vườn Quốc gia nói chung và hang Sơn Đoòng nói riêng sẽ không nhỏ chút nào.

Trước khuyến nghị của UNESCO, liệu các cơ quan chức năng của Việt nam và lãnh đạo tỉnh Quảng Bình có nghiêm túc thực hiện theo để bảo tồn một quần thể di sản thiên nhiên vào loại kỳ vĩ nhất của thế giới hay không sẽ được đông đảo dư luận quan tâm và chờ câu trả lời.

Hiện tại ở Việt Nam, đang có nhiều cá nhân và tổ chức lên tiếng bảo vệ hang Sơn Đoòng bằng nhiều cách thức với mong muốn lan toả ý thức bảo vệ và giữ gìn một di sản thiên nhiên đặc biệt của Việt Nam, trong đó nổi bật là dự án #SaveSonDoong (Cứu Sơn Đoòng) của nhiều bạn trẻ.

Thanh Thuỷ (t/h)

Nguồn: http://trithucvn.net/chinh-tri-xa-hoi/de-nghi-huy-bo-vinh-vien-du-cap-treo-vao-son-doong-cua-unesco-va-cac-buoc-tiep-theo-cua-vn.html

Xem clip Hãy bảo vệ Sơn Đoòng tại https://www.youtube.com/watch?time_continue=653&v=oyYkYGG7V1A