Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ

Sự xuất hiện của sóng thần Indonesia cùng với sức mạnh hủy diệt mà nó mang theo hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của những nhà nghiên cứu.

Bản đồ của Cục khảo sát địa chất Mỹ

Các nhà khoa học bày tỏ sự bất ngờ trước độ mạnh của sóng thần tàn phá thành phố Palu, Indonesia, vào cuối tuần trước, theo New York Times. Họ cho rằng trận động đất xuất hiện trước đó khó có thể kéo theo những cơn sóng mang sức mạnh hủy diệt như vậy.

“Chúng tôi dự đoán động đất có thể gây sóng thần, nhưng không lớn tới mức đó”, Jason Patton, nhà địa vật lý làm việc cho công ty tư vấn Temblor kiêm giảng viên ở Đại học Humboldt, California, cho biết. “Khi những sự kiện kiểu này xảy ra, chúng tôi thường khám phá ra nhiều điều chưa từng quan sát được trước đây”.

Trận động đất 7,5 độ xuất hiện vào chiều tối hôm 28/9 gây chấn động dọc theo vùng ven biển đảo Sulawesi, cách Palu khoảng 80 km về phía bắc. Theo một số nhân chứng, trong vòng 30 phút sau, những cơn sóng cao tới 6 mét đập vào bờ, phá hủy nhiều tòa nhà, đập nát xe cộ và giết chết hàng trăm người dân trong thành phố.

Số người chết cao có thể phản ánh hiện trạng thiếu hệ thống phát hiện và cảnh báo sóng thần tân tiến của Indonesia, theo giới chuyên gia. Những cộng đồng dân cư khác trên đảo Sulawesi, bao gồm thành phố Donggala, cũng bị sóng thần tàn phá, nhưng có rất ít thông tin về mức độ thiệt hại hoặc số người chết bên ngoài Palu.

Thảm họa sóng thần thường là kết quả của siêu động đất khi những mảng lớn vỏ Trái Đất biến dạng, dịch chuyển theo chiều dọc dọc theo đứt gãy. Quá trình này chuyển chỗ đột ngột một lượng nước khổng lồ, tạo ra cơn sóng di chuyển ở tốc độ cao dọc bồn trũng đại dương và gây thiệt hại ở cách nơi hình thành động đất hàng nghìn kilomet.

Một cây cầu bị phá hủy do động đất và sóng thần ở Palu, Indonesia. Ảnh: Reuters.

Trận sóng thần năm 2004 ở Ấn Độ Dương tạo sóng cao hơn 30 mét và giết chết gần 250.000 người từ Indonesia tới Nam Phi, là kết quả từ siêu động đất mạnh 9,1 độ ở Sumatra. Ngược lại, đứt gãy hôm 28/9 thuộc loại đứt gãy trượt ngang, trong đó vỏ Trái Đất chủ yếu dịch chuyển theo phương ngang. Loại dịch chuyển này thường không gây sóng thần.

Nhưng trong một số tình huống nhất định, sóng thần vẫn có thể xảy ra. Đứt gãy trượt ngang có thể kèm theo chuyển động theo chiều dọc làm nước biển bị xáo động, hoặc vùng đứt gãy ước tính dài khoảng 113 km có thể chạy qua một khu vực, nơi đáy biển nâng lên hoặc hạ xuống, do đó khi đứt gãy bị rung lắc trong suốt trận động đất, nó đẩy nước biển về phía trước.

Cư dân ở Palu quay trở về ngôi nhà đã bị phá hủy hôm 29/9, cố gắng thu gom những gì còn sử dụng được. Ảnh: AFP.

Một khả năng khác là sóng thần được sản sinh gián tiếp. Rung lắc dữ dội trong trận động đất có thể gây sạt lở dưới biển, làm nước biển dịch chuyển và tạo ra cơn sóng. Những sự kiện như vậy không hiếm gặp, chẳng hạn như sóng thần trong trận động đất 9,2 độ ở Alaska năm 1964. Tiến sĩ Patton cho biết sự kết hợp giữa nhiều yếu tố có thể dẫn tới sóng thần. “Chúng ta sẽ không biết điều gì gây ra thảm họa cho tới khi nghiên cứu kỹ đáy biển”, tiến sĩ Patton nói.

Sóng thần có thể bị ảnh hưởng bởi vị trí nằm ở cuối vịnh biển hẹp của Palu. Đường ven biển và hình dáng đáy vịnh góp phần tập trung năng lượng sóng và hướng nó tràn vào vịnh, làm tăng độ cao của cơn sóng khi nó tới gần bờ. Ví dụ, thành phố Crescent, California, Mỹ từng hứng chịu hơn 30 trận sóng thần, bao gồm trận sóng thần đến sau động đất ở Alaska năm 1964, do hình dáng đáy biển trong khu vực cũng như vị trí và địa thế của thành phố. Bất kể nguyên nhân thực sự là gì, động đất 7,5 độ được dự đoán sẽ không gây ra sóng trần trên quy mô rộng mà tập trung ở một khu vực.

Những nạn nhân động đất tụ tập một chỗ sau khi rời khỏi Palu. Ảnh: AFP.

Do sóng thần phát sinh ở quá gần Palu, người dân ít có thời gian chạy trốn. Cảnh báo sóng thần của chính phủ được dỡ bỏ sau trận động đất nửa tiếng. Hiện nay, Indonesia chỉ sử dụng địa chấn kế, hệ thống định vị toàn cầu và máy triều ký thủy chí để phát hiện sóng thần vốn hạn chế về độ chính xác, theo Louise Comfort, giáo sư ở Đại học Pittsburgh. Comfort đang tham gia một dự án mang cảm biến sóng thần mới đến Indonesia.

Tại Mỹ, Cục quản lý đại dương và khí quyển quốc gia (NOAA) có mạng lưới phức tạp gồm 39 cảm biến ở đáy biển, có thể phát hiện những thay đổi áp suất cực nhỏ chỉ ra đường đi của sóng thần. Dữ liệu sau đó được truyền qua vệ tinh để phân tích và phát cảnh báo nếu cần. Tiến sĩ Comfort cho biết Indonesia cũng có mạng lưới tương tự gồm 22 cảm biến nhưng không còn được sử dụng do khó bảo trì hoặc bị phá hoại. Dự án của tiến sĩ Comfort giúp mang hệ thống mới tới Indonesia, sử dụng liên lạc dưới biển và tránh dùng các phao nổi có thể bị tàu đâm trúng.

“Thật đau lòng khi bạn biết công nghệ có sẵn. Indonesia nằm ở Vành đai Lửa. Sóng thần sẽ còn xuất hiện”, tiến sĩ Comfort nhấn mạnh.

Phương Hoa

Nguồn: https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/suc-manh-cua-song-than-indonesia-khien-gioi-nghien-cuu-bat-ngo-3817519.html

Advertisements

HỘI NGHỊ THÔNG TIN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN

Ngày 5-10, Ban Quản lý Công viên địa chất Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Hội nghị thông tin Công viên địa chất Lý Sơn với sự phối hợp của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ TN-MT) và các chuyên gia trong nước cũng như quốc tế có kinh nghiệm về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.

Hội nghị thông tin công viện Địa chất Lý Sơn

Nội dung chính tại hội nghị gồm: các báo cáo khoa học; việc đổi tên “Công viên Địa chất Lý Sơn” thành Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh” và những tồn tại cần tập trung giải quyết.

Các báo cáo khoa học

  1. Tổng quan về CVĐC Lý Sơn và chia sẻ về kết quả Hội nghị quốc tế lần 8 CVĐC toàn cầu UNESCO (ông Nguyễn Minh Trí, Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi)
  2. Một số khái niệm và yêu cầu của CVĐC toàn cầu UNESCO (TS. Guy Martini, Tổng thư ký Global Geoparks Network)
  3. Đặc điểm magma – biến chất trong tiến hóa địa chất khu vực CVĐC Lý Sơn (TS. Trịnh Xuân Hòa – Viện KH ĐCKS)
  4. Sự phát triển của basalt Lý Sơn – Ba Làng An (PGS.TS. Ngô Xuân Thành – ĐH Mỏ Địa chất)
  5. Giới thiệu một số di sản địa mạo điển hình ở khu vực dự kiến xây dựng CVĐC Lý Sơn (TS. Nguyễn Xuân Nam, Viện KH ĐCKS)
  6. Giá trị di sản văn hóa – lịch sử và địa văn hóa khu vực dự kiến xây dựng CVĐC Quảng Ngãi (ThS. Đỗ Thị Yến Ngọc, Viện KH ĐCKS)

Trình bày tại hội nghị, TS. Guy Martini cho biết, việc xây dựng công viên địa chất cần lưu ý đến kiểm tra các giá trị địa chất của khu vực có thể được xem là di sản địa chất có giá trị quốc tế; kiểm tra xem công viên địa chất có những giá trị di sản văn hóa nào, người dân và chính quyền địa phương có quan tâm cũng như sẵn sàng tham gia vào đề án công viên địa chất hay không?

Đổi tên thành “Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh”

Công viên địa chất Lý Sơn ban đầu dự kiến có tổng diện tích trên 100km2, dân số 70.000 người, bao gồm đảo Lý Sơn và dải ven biển thuộc các xã Bình Châu, Bình Hải (huyện Bình Sơn). Sau đó được mở rộng ra các khu vực thung lũng miền núi (Trà Bồng), đồng bằng duyên hải (Sa Huỳnh). Theo đó, Ban Quản lý Công viên Địa chất Lý Sơn đã quyết định đổi tên “Công viên Địa chất Lý Sơn” thành Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh” (tên tiếng Anh là Ly Sơn Sa Huỳnh Geopark).

Những vấn đề tồn tại

Tổng kết hội nghị, chủ tọa nêu vắn tắt những điểm nổi bật cũng như những vấn đề còn tồn tại của CVĐC: 1/ Không gian và tên gọi của CVĐC nên gắn với ý nghĩa Hòa Bình (nhận xét từ chuyên gia cùa GGN); 2/ Cần các nghiên cứu thêm về Đa dạng sinh học và bảo tồn Đa dạng sinh học trong phạm vi CVĐC; 3/ Vấn đề môi trường, nhất là rác thải đang rất cấp bách.

Ba vấn đề trên là công việc mà BQL CVĐC Lý Sơn – Sa Huỳnh cần cân nhắc và thực hiện trong lộ trình xây dựng hồ sơ tiến tới CVĐC toàn cầu UNESCO vào tháng 11/2019.

Phương Chi (Tổng hợp)

Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia

Indonesia suốt nhiều năm không hoàn thiện được hệ thống cảnh báo sóng thần hiện đại, khiến nhiều người bất ngờ khi thảm họa xảy ra.

Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa lý Indonesia (BMKG) hôm qua thừa nhận việc phải dựa vào dữ liệu không chính xác được thu thập từ cảm biến ở quá xa ngoài khơi đã khiến họ dỡ bỏ cảnh báo sóng thần 34 phút sau khi ban bố, dù bức tường sóng khổng lồ cao tới 6 m ngay sau đó ập vào thành phố Palu trên đảo Sulawesi, cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.200 người.

Giới chuyên gia cho rằng thực tế này phản ánh những hạn chế và cả thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia, quốc gia nằm trên “Vành đai Lửa” của Thái Bình Dương và thường xuyên hứng chịu nguy cơ động đất, sóng thần rất cao, theo AP.

Sau khi thảm họa kép động đất, sóng thần tấn công khu vực vào năm 2004 khiến gần 250.000 người thiệt mạng, cộng đồng quốc tế đã hỗ trợ Indonesia xây dựng một mạng lưới cảm biến công nghệ cao nhằm thay thế cho hệ thống cảnh báo lạc hậu dọc bờ biển nước này, với mục tiêu giảm bớt thương vong khi thảm họa xảy ra.

Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ và Đức khi đó đã giúp Indonesia triển khai mô hình thí điểm cảnh báo trị giá 3 triệu USD, gồm mạng lưới 22 phao nổi kết nối với các cảm biến được đặt dưới đáy biển nhằm kịp thời phát hiện dấu hiệu động đất, sóng thần và đưa ra tín hiệu cảnh báo kịp thời.

Hệ thống này được triển khai ngoài khơi Padang, thành phố nằm ngay cạnh một vết đứt gãy địa chất lớn và rất dễ hứng chịu sóng thần. Các cảm biến áp suất, địa chấn chôn dưới đáy biển có thể phát tín hiệu dưới dạng sóng âm trong lòng biển và chuyển tới các cảm biến khác cách đó 20-30 km rồi tiếp tục truyền vào đất liền.

Mạng lưới này có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sóng thần trong vòng 1-3 phút, thay vì 5-45 phút như phao nổi hay những thông tin rất hạn chế từ thiết bị đo thủy triều. Tuy nhiên, dự án cần được lắp thêm vài km cáp quang để nối cảm biến cuối cùng với một trạm quan trắc trên đất liền, nơi dữ liệu có thể truyền qua vệ tinh tới cơ quan địa chất để phát cảnh báo sóng thần cũng như tới các cơ quan chức năng.

Nhưng từ khi được triển khai thí điểm cho tới tháng 1/2017, dự án vẫn chờ chính phủ Indonesia cấp ngân sách 1 tỷ rupiah (69.000 USD) để lắp đặt đoạn cáp trên và hoàn thiện hệ thống. Sau đó, tình trạng cắt giảm ngân sách khiến dự án liên tục bị đùn đẩy giữa các cơ quan chính phủ và hệ thống vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm.

Việc thiếu ngân sách để bảo trì, bảo dưỡng, cộng thêm tình trạng người dân phá hoại, trộm cắp thiết bị khiến hệ thống này gần như bị vô hiệu hóa. Khi trận động đất lớn xảy ngoài khơi đảo Sumatra năm 2016, toàn bộ các hệ thống phao nổi và cảm biến trị giá hàng trăm nghìn USD mỗi chiếc đều không hoạt động.

Nguyên lý hoạt động của hệ thống cảm biến, phao nổi khi phát hiện sóng thần. Đồ họa: ResearchGate.

Đến tháng 12/2017, một trận động đất xảy ra ngoài khơi đảo Java, gần thủ đô Jakarta khiến giới chức Indonesia quan tâm trở lại tới dự án. Đến tháng 7 năm nay, Bộ Tài chính Indonesia chấp thuận chi ngân sách để mua và lắp đặt đoạn cáp quang.

Nhưng trong cuộc họp liên bộ vào đầu tháng 9, ba cơ quan lớn có liên quan đến dự án lại không thống nhất được trách nhiệm thực hiện và dự án “đơn giản là bị gác lại”, Comfort cho biết. Các quan chức Indonesia chưa đưa ra bình luận về thông tin này.

Nhiều quan chức phòng chống thảm họa Indonesia thậm chí còn cho rằng hệ thống cảnh báo sớm là không cần thiết, vì động đất mặc nhiên được coi là tín hiệu cảnh báo sóng thần và người dân buộc phải sơ tán ngay lập tức. “Cách hiểu khác nhau của các quan chức khiến người dân bối rối trước các thông tin cảnh báo”, Gavin Sullivan, chuyên gia tại Đại học Coventry, dẫn lời các đồng nghiệp làm việc tại tổ chức Sáng kiến Ứng phó Thiên tai Indonesia.

Hậu quả thảm khốc

Với thực tế đó, mạng lưới cảnh báo sóng thần của Indonesia hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào 134 cảm biến thủy triều ngoài biển kết hợp với các trạm đo địa chấn trên đất liền cùng 55 còi báo động và hệ thống cảnh báo người dân qua tin nhắn.

Hệ thống này đã thất bại trong việc giúp người dân thành phố Palu sẵn sàng ứng phó với thiên tai trong thảm họa động đất, sóng thần hôm 28/9. Khi trận động đất mạnh 7,5 độ xảy ra, BMKG kích hoạt hệ thống cảnh báo sóng thần bằng còi hú và tin nhắn, nhưng nhiều khu vực ở Palu bị mất điện do động đất, khiến còi báo động không hoạt động, tin nhắn cũng không đến được với người dân.

34 phút sau khi phát cảnh báo, BMKG thu thập dữ liệu từ cảm biến thủy triều ngoài khơi, cách Palu 200 km, và ghi nhận mức nước biển chỉ tăng thêm 6 cm, nên quyết định dỡ bỏ cảnh báo “theo đúng quy trình”. Trong khi đó, con sóng cao gấp 100 lần con số mà cảm biến thu thập được đang ồ ạt tràn vào bãi biển Palu, nơi hàng trăm người vẫn đang tụ tập tham gia một lễ hội. Sóng thần tiếp tục cuốn qua vịnh Palu dài và hẹp, tàn phá mọi thứ trên đường đi của nó.

“Các video trên mạng xã hội cho thấy khi sóng thần đang tràn đến, người dân Palu vẫn đi bộ, lái ôtô, đi xe máy trên đường, không biết rằng họ sắp bị bức tường nước khổng lồ này cuốn trôi”, Margie Mason, phóng viên của AP, nói.

Cảnh tượng tan hoang tại thành phố Palu sau khi sóng thần tràn qua. Ảnh: AP.

“Với tôi, đây là một thảm họa với giới khoa học và cả người dân Indonesia”, Louise Comfort, chuyên gia về ứng phó thiên tại tại Đại học Pittsburgh, người từng tham gia dự án xây dựng mạng lưới thí điểm cảnh báo sóng thần cho Indonesia, nói. “Thật đau lòng khi phải chứng kiến thảm kịch này, dù ở đó đã có sẵn một mạng lưới cảm biến hiện đại lẽ ra đã có thể cung cấp những thông tin quan trọng”.

Theo Comfort, các cảm biến thủy triều của BMKG tuy có thể phát hiện sóng thần nhưng lại không cung cấp được những dữ liệu quan trọng như 22 phao nổi trong dự án thí điểm, vốn đã bị hư hỏng sau nhiều năm không được đầu tư đúng mức. “Trong thảm họa ở Sulawesi, BMKG đã dỡ bỏ cảnh báo quá sớm vì họ không có được dữ liệu từ Palu. Đây là những dữ liệu mà hệ thống phát hiện sóng thần có thể cung cấp”, bà cho biết.

Tuy nhiên, Adam Switzer, chuyên gia sóng thần tại Đài quan sát Trái Đất của Singapore, cho rằng việc đổ lỗi hoàn toàn cho BMKG là “phần nào không công bằng”.

“Nó cho thấy các mô hình cảnh báo sóng thần của chúng ta hiện nay vẫn quá đơn giản”, ông nói. “Chúng không tính tới khả năng nhiều trận động đất diễn ra liên tiếp trong thời gian ngắn, cũng không lường trước nguy cơ từ những trận sụt lở đất dưới đáy biển”.

Các chuyên gia cũng cho rằng ngoài những yếu tố liên quan đến hệ thống cảnh báo, sự chủ quan của người dân Indonesia khi động đất xảy ra cũng góp phần khiến thương vong tăng cao do sóng thần.

“Điện bị cắt khiến hệ thống loa báo động không hoạt động, nhưng phần lớn người dân bị sốc sau trận động đất cũng không để ý đến nguy cơ sóng thần”, Harkunti P. Rahayu, chuyên gia tại Viện Công nghệ Bandung, nói.

Lực lượng cứu hộ đưa một nạn nhân ở Palu ra khỏi đống đổ nát do động đất, sóng thần. Ảnh: Reuters.

Các quan chức Cơ quan Ứng phó Thiên tai Quốc gia Indonesia cho biết những người tham dự lễ hội trên bờ biển Palu vẫn nán lại bãi biển sau khi có cảnh báo, nên khi sóng thần ập vào, họ không kịp chạy và trở thành nạn nhân. “Lẽ ra ở khu vực ven biển như Palu, khi cảnh báo được đưa ra, ưu tiên hàng đầu là chạy tới vùng đất cao và ở tại đó trong vài giờ”, Switzer cho biết.

Rahayu cho rằng việc người dân ở Palu vẫn có mặt trên bãi biển khi sóng thần tràn đến cho thấy họ dường như chưa rút được kinh nghiệm từ các thảm họa trước đây. “Điều đó chứng tỏ chính phủ đã thất bại trong việc huấn luyện cách ứng phó và tạo sự tin tưởng với người dân vào hệ thống cảnh báo”, ông nói.

Thành Nguyễn

Nguồn: https://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/phan-tich/that-bai-trong-he-thong-canh-bao-song-than-cua-indonesia-3817223.html

Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học

Đa dạng địa học (Geodiversity)

Vị trí của đa dạng địa học trong đa dạng thiên nhiên là gì?

Đa dạng địa học (ĐDĐH) là sự đa dạng của các yếu tố tự nhiên, như các khoáng vật, các loại đá, hóa thạch, dạng địa hình và cảnh quan của chúng, các kiểu đất, và các quá trình địa chất/địa mạo hoạt động.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Cùng với đa dạng sinh học, ĐDĐH tạo nên sự đa dạng tự nhiên của Trái Đất. ĐDĐH làm nền móng cho đa dạng sinh học và cung cấp cho xã hội những lợi ích bao gồm các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ, cung cấp và văn hóa.

Di sản địa học (Geoheritage)

Di sản địa học là gì ?

Di sản địa học là một phần di sản tự nhiên của một diện tích (hoặc một điểm) nào đó được cấu thành bởi các yếu tố ĐDĐH với giá trị địa chất đặc biệt và do đó xứng đáng được bảo vệ vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai. Di sản địa học có thể bao gồm cả các yếu tố tại chỗ (geosites) hoặc các yếu tố đã di chuyển (các tập hợp các mẫu vật địa chất) có sự quan trọng về  cổ sinh, địa mạo, khoáng vật, thạch học và địa tầng…

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Bảo tồn địa học (Geoconservation)

Bảo tồn địa học là gì ?

Tập hợp các hành động hướng đến thông tin quản lý các điểm địa chất bao gồm kiểm kê và đánh giá, bảo tồn, bảo vệ theo luật định, diễn giải và giám sát các điểm địa di sản.

Việc quản lý các địa di sản di chuyển (ex situ) cũng là một hoạt động bảo tồn địa học. Bảo tồn địa học được coi là một ngành mới nổi trong khoa học địa chất.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Vì sao địa di sản dễ bị rủi ro?

Di sán địa học là tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, chịu tác động bởi con người và các quá trình tự nhiên (ví dụ: phong hóa, xói mòn, biến đổi khí hậu). Điều này có thể dẫn đến sự mất mát một phần hoặc toàn bộ các điểm địa chất do phát triển đô thị, phá hoại, buôn lậu, không có sự bảo vệ hợp pháp và thỏa thuận quốc tế, thiếu chuyên môn và thiếu nhận thức của các cơ quan quốc tế, quốc gia và địa phương.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Tại sao xã hội cần bảo tồn địa học?

Việc thực hiện các chiến lược bảo tồn địa học hiệu quả sẽ mang lại lợi ích to lớn cho xã hội. Thứ nhất, nó nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải hiểu các hệ thống tự nhiên và hợp phần địa chất của các dịch vụ hệ sinh thái. Hơn nữa, các điểm địa chất được quản lý tốt có thể hỗ trợ các loại hình sử dụng bền vững khác nhau với lợi ích rõ ràng cho xã hội, như sử dụng trong khoa học, giáo dục và kinh tế. Điều này đã xuất hiện ở nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới như các Công viên địa chất Toàn cầu gần đây đã được UNESCO công nhận.

Các hoạt động địa du lịch và giải trí dựa trên các yếu tố ĐDĐH được tích hợp hoàn toàn vào mục tiêu của Năm Du lịch Bền vững Quốc tế, được Liên Hiệp Quốc công bố cho năm 2017.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Bảo tồn địa học và Chương trình nghị sự 2030 cho phát triển bền vững

Chương trình Phát triển Bền vững 2030 của Liên Hiệp Quốc định rõ 17 Mục đích Phát triển Bền vững được áp dụng rộng rãi ở tất cả các quốc gia. Nhiều mục đích trong đó sẽ yêu cầu quản lý thiên nhiên thích hợp bao gồm cả ĐDĐH và đa dạng sinh học.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Đa dạng địa học, di sản địa học và bảo tồn địa học

Những thách thức là gì?

Nhìn chung, xã hội vẫn chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của di sản địa học và nhu cầu bảo vệ nó, đặc biệt khi so sánh với sự tồn tại của nhiều chính sách và chiến lược quốc tế và quốc gia cho việc bảo vệ đa dạng sinh học. Quản lý khu vực được bảo vệ cần phải hiểu rằng không chỉ là có thể, mà còn mong muốn rằng di sản thiên nhiên cần được quản lý, có tính đến cả ĐDĐH và đa dạng sinh học. Các tổ chức quốc tế cần phải hành động hơn nữa trong việc định rõ chiến lược và các mục tiêu bảo tồn địa học, từ đó ảnh hưởng đến chính sách bảo tồn thiên nhiên của từng quốc gia.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

IUCN thúc đẩy bảo tồn ĐH như thế nào?

IUCN – Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế – là cơ quan toàn cầu về tình trạng của thế giới tự nhiên và các biện pháp cần thiết để bảo vệ nó. Sự quan tâm của IUCN đối với bảo tồn ĐH đã tăng lên trong thập kỷ qua khi được thông qua bởi ba nghị quyết tập trung vào địa di sản trong năm 2008, 2012 và 2016, việc thành lập vào năm 2014 của Nhóm Chuyên gia Di sản địa học thuộc Ủy ban Thế giới IUCN về các Khu vực Được bảo vệ và sự tích hợp một chương bảo tồn địa học trong sổ tay “Quản trị và Quản lý Khu vực Được bảo vệ” công bố vào năm 2015.

IUCN cũng chịu trách nhiệm đánh giá “Giá trị Phổ quát Nổi bật” của địa di sản bao gồm trong các ứng dụng Di sản Thế giới mới của UNESCO, cùng với sự hợp tác mạnh mẽ liên quan đến các Công viên Địa chất toàn cầu của UNESCO.

ProGEO

ProGEO là gì?

ProGEO là tên của Hiệp hội Bảo tồn Di sản Địa chất châu Âu. Tổ chức phi chính phủ này bắt đầu vào năm 1993 sau khi thành lập Nhóm Công tác Châu Âu về Bảo tồn Khoa học Trái đất vào năm 1988 tại Hà Lan. Mặc dù chủ yếu tập trung vào các nước châu Âu, ProGEO ngày nay có các thành viên ở tất cả các châu lục và hoạt động trên toàn thế giới.

ProGEO là một thành viên IUCN và chi nhánh IUGS. ProGEO thúc đẩy việc bảo vệ các điểm địa chất và cảnh quan quan trọng, cũng như di sản đa dạng về các đặc điểm địa chất với sự liên quan về khoa học, giáo dục, du lịch và văn hóa. ProGEO có ý định bảo vệ di sản địa học bằng tiếng nói mạnh mẽ hơn và hoạt động như một diễn đàn thảo luận về các vấn đề bảo tồn thiên nhiên quan trọng, tư vấn và tác động đến các nhà hoạch định chính sách.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

 

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8

Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO diễn ra tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Adamello Brenta, tỉnh Trentino, Ý, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 năm 2018.

Hội nghị, với chủ đề chính: “Công viên địa chất và phát triển bền vững

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 9, đã có các cuộc họp của Hội đồng UUG, GGN ExB, và các cuộc họp Mạng lưới Khu vực: EGN AC và CC, APGN AC và CC, LACGN AC và CC.

Lễ khai mạc và các bài giảng quan trọng diễn ra vào ngày 11 tháng 9.

Ngày 11/9, 12 và 14/9 các báo cáo khoa học trình bày đồng thời tại 6 tiểu ban như sau:

  1. CVĐC, du lịch bền vững và phát triển bền vững địa phương (Geoparks, sustainable tourism and sustainable local development)
  2. Bảo tồn, Khoa học và nghiên cứu (Conservation, science and research)
  3. Giáo dục, nhận thức cộng đồng và truyền thông (Education, public awareness and communication)
  4. CVĐC, BĐKH và tai biến địa chất (Geoparks, climate change and geo-hazards)
  5. Hợp tác giữa UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO collaborations)
  6. Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Tóm tắt báo cáo khoa học có thể tham khảo tại: https://www.campigliodolomiti.it/TEMPLATE/DEFAULT_LANDING/en/pagine/dettaglio/ggn_content,188/the_abstracts_book,1336.html?GGN

Các workshop đặc biệt được tổ chức gồm:

  1. CVĐC trong khu vực núi lửa
  2. CVĐC trên đảo
  3. SDG 2030
  4. Tai biến địa chất
  5. Giáo dục kiến thức địa học (Geo-education)

Ngày 13 tháng 9, dành riêng cho các chuyến thực địa, có 6 tuyến để các đại biểu lựa chọn: nhiều nhất là tuyến leo núi Dolomiti, trái tim của Brenta Dolimites, nơi có đá vôi và đá dolomit – trầm tích từ 250 đến 40 triệu năm trước với cảnh quang thật hùng vĩ của địa mạo băng hà – karst.

Việt Nam tham dự hội nghị gồm các đoàn: Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc, Bảo tàng Địa chất, UB quốc gia UNESCO Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản; cùng các CVĐC toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, CVĐC toàn cầu Non nước Cao Bằng, CVĐC Đaknong, CVĐC Lý Sơn.

Việt Nam có tổng cộng có 13 báo cáo Oral và poster tham dự hội nghị. Bài báo cáo của tác giả “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam” trình bày tại tiểu ban Bảo tồn, Khoa học và Nghiên cứu.

Chiều ngày 14/9, Hội nghị bế mạc, trao các giải thưởng cho các CVĐC và thông báo nơi diễn ra Hội nghị lần 9, năm 2020 là CVĐC Jeju – Hàn Quốc.

Một số hình ảnh hội nghị:

Khai mạc hội nghị
Báo cáo “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam”
Cảnh quan núi Dolomiti

Phương Chi

 

Central Park giống hệt cái ‘mỏ hàn’ đe dọa sông Sài Gòn

Nhiều người đang phát cuồng về cao ốc 81 tầng Landmark và công viên Central Park (thuộc tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) đã “lung linh, chễm chệ” trên nền cảng cũ.

Dù tài sản làm cho Nhà nước, cũng không được phép

Tương tự như Đồng Nai, ông Tứ e ngại những gì đang diễn ra ở TP.HCM tiếp tục tạo tiền lệ cho việc gia tăng vi phạm và lấn chiếm hành lang thoát lũ, dòng chảy của các con sông trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo ông, không thể lập luận rằng việc xây Central Park làm công trình công cộng là đúng quy định được. “Dòng chảy sông cần được duy trì một cách tự nhiên như vốn có được quy định bởi tiến trình lịch sử mạng thoát nước tự nhiên, cũng như hệ sinh thái đặc thù riêng. Cầu cảng cũ vẫn khác với khối bê tông mặt đất như hiện nay, bởi cầu cảng vẫn thông nước. Do đó, công trình này sẽ tạo áp lực nước cho phía bờ đối diện”, ông Tứ nói.

Ông cho rằng ở Vinhomes Tân Cảng hiện tồn tại 2 vấn đề. Thứ nhất, lấn chiếm mặt nước để làm công trình, điều đó hoàn toàn sai luật, gồm các Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng chống thiên tai và Luật Giao thông đường thủy nội địa.

“Không ai có quyền lấy sông của mọi người làm tài sản, dù tài sản ấy có làm cho Nhà nước cũng không được phép. Chưa kể, trong điều kiện thiên nhiên đang thê thảm như hiện nay, phải giữ gìn dòng sông, đã không giữ được lại còn phá hoại, lại cứ nhăm nhe “chém nó”, ông Tứ bức xúc.

Một góc Central Park

Thứ hai, về mặt khoa học, khi lấp cầu cảng như vậy đã tạo nên một “mỏ hàn” rất lớn để đẩy nước sang phía bờ bên kia.

Tác động như thế nào, theo ông Tứ cần phải nghiên cứu. Nhưng nguyên tắc về chỉnh trị sông có hai hình thức. Một là kè, như ta thấy người ta thường dùng bê tông đắp lên. Dù không lấn ra sông, nhưng kè vẫn có tác động đến bờ đối diện, bởi tạo ra thế bên này cứng, bên kia vẫn là đất mềm.

Hình thức còn lại nguy hiểm hơn dùng trong trường hợp người ta muốn làm xói lở một bên sông và cho bên còn lại bồi, đó là “mỏ hàn”. Thuật ngữ chuyên môn “mỏ hàn” có thể hình dung là một khối bê tông cứng chòi ra lòng sông.

“Dù không to như Tân Cảng, nhưng “mỏ hàn” có thể lái dòng nước sang phía kia để tác động cho bờ đó lở đi, nói chi cả khu vực cầu cảng đã bị lấp. Nói cách khác, khu vực Tân Cảng như hiện nay là một “mỏ hàn” cực lớn”, ông Tứ phân tích.

Ông nói tiếp: “Họ sẽ cho rằng có ăn thua gì, sông to như thế, chúng tôi chỉ làm một tí “mỏ hàn”. Nhưng với tôi là không! Vì chắc chắn động lực của dòng chảy bị biến động khi các bờ sông bị thay đổi”.

“Dấu ấn” chiếm mặt sông

Luật sư Phùng Thanh Sơn (Đoàn Luật sư TP.HCM) đánh giá tình trạng lấn chiếm, san lấp kênh, rạch, sông để làm dự án ở TP.HCM khá phổ biến và ở nhiều mức độ khác nhau. Tình trạng này không phải mới diễn ra gần đây, nó đã xảy ra từ hàng chục năm trước.

Về nguyên tắc, theo ông Sơn, chủ đầu tư không được phép xây dựng trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch (trừ trường hợp các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các công trình quốc phòng, phòng cháy chữa cháy, công trình phục vụ công ích có thời hạn thì được phép xây dựng).

“Từ đó, có thể thấy nhiều lý do để chủ đầu tư muốn lấn sông. Do hành lang bảo vệ sông, kênh rạch có thể tính từ mép được xây dựng, cải tạo nên nếu việc xây dựng, cải tạo đó lấn sông, kênh rạch thì phần đất trong hành lang bảo vệ bờ thực tế sẽ ít đi. Hay nói cách khác, việc lấn sông, kênh rạch sẽ đem lại nhiều lợi ích cho chủ đầu tư như diện tích đất mà chủ đầu tư có thể xây dựng nhà ở, cao ốc… sẽ tăng lên mà không vượt quá mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất mà pháp luật quy định”, ông Sơn nói.

Việc biến đất vốn dĩ thuộc hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch thành đất thương mại bán cho khách hàng giúp chủ đầu tư có đủ không gian để có thể tạo ra một “dấu ấn” cho dự án của mình, để bán nhà với giá cao bằng việc xây công trình hạ tầng xã hội trong hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch đó, theo luật sư Sơn.

Tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng trước đây là khu vực cảng nên hiển nhiên phải có các công trình bến cảng, cầu cảng… để phục vụ cho việc neo đậu tàu, bốc dỡ hàng hóa.

“Đã là cầu cảng thì không thể xây dựng sát bờ mà phải cách xa bờ. Do đó cầu cảng không được xem là bờ của sông Sài Gòn nên không thể lấy cầu cảng làm cơ sở để xác định hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn và cho xây dựng công viên trên đó. Chưa kể, thiết kế cảng rất khác với việc lấp các vùng nước trong cảng để làm công viên. Bởi điều đó ảnh hưởng và thay đổi dòng chảy”, ông Sơn lập luận.

Theo ông, việc trên rất dễ kiểm chứng. Cứ lấy hồ sơ thiết kế cảng trước đây và so với thực trạng hiện nay sẽ biết ngay là Vingroup có lấn, lấp sông Sài Gòn hay không; vùng nước nào trong cảng bị lấp, vùng nước nào không. Dựa vào thiết kế cảng trước đây chúng ta cũng xác định được vị trí bờ sông Sài Gòn đang ở đâu để từ đó xác định chính xác hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn.

Theo Quyết định 150/2004/QĐ-UBND trước đây về quy định quản lý, sử dụng hành lang trên bờ sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố và nay là Quyết định 22/2017/QĐ-UBND của UBND TP.HCM, thì hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch cấp kỹ thuật I, II mỗi bên là 50m; cấp kỹ thuật III, IV mỗi bên là 30m; cấp kỹ thuật V, VI mỗi bên là 20m và đối với kênh rạch chưa được phân cấp kỹ thuật mỗi bên là 10m, được tính từ mép bờ cao của sông, kênh, rạch (theo dạng tự nhiên hoặc được xây dựng, cải tạo) vào bên trong phía đất liền. Chủ đầu tư không được xây dựng các công trình nhà ở, cơ sở kinh doanh trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch… Và các công trình xây dựng phải đảm bảo độ lùi so với hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/thoi-su/central-park-giong-het-cai-mo-han-de-doa-song-sai-gon-136152/

Nam Anh

Từ Bến Lội đến Ngã ba suối Sơn Thái, chân đèo Khánh Lê

Những năm trước, Bến Lội ở chân đèo Khánh Lê là điểm dừng chân học tập và giải trí của đoàn Thực tập môi trường đại cương, Khoa Môi trường. Tại đây – cảnh quan đẹp và hoang sơ, sinh viên được nghe giảng về tài nguyên nước đầu nguồn sông Cái Nha Trang, được lội nước, chơi trò cân bằng đá và tạo kiểu chụp hình cùng nhau, cùng với thày cô.

Năm nay, có một điểm học tập mới hấp dẫn hơn hẳn Bến Lội, đó là Ngã ba suối Sơn Thái. Ngã ba suối Sơn Thái trong một thung lũng rộng để lộ một cảnh quan y như các mô hình trong sách giáo khoa về địa mạo dòng chảy với sự đa dạng địa hình: bãi bồi lòng sông, các bậc thềm, các vết lộ đá gốc, các vách xói lở, các mặt trượt do xâm thực chân vách…

Ngã ba suối Sơn Thái – một điểm học tập hay, một điểm giải trí lý thú, một cảnh tự nhiên đẹp không thể không dừng lại mỗi khi đi qua.

Từ Bến Lội

Năm 2011, lấy lí do tuyến đường đèo Ngoạn Mục đang sửa chữa nên các bác tài đề nghị đi đèo Khánh Lê xuống Nha Trang. Thực ra các bác tài thích đi tuyến này hơn vì rút ngắn lộ trình tới 90 km.  Vậy là phải bổ sung mấy điểm mới cho tuyến hành trình thực tập, chưa có lộ trình tiền trạm nên phụ trách đoàn vừa đi vừa tìm điểm dừng để sinh viên học tập. Bến Lội là một điểm như vậy.

Xuống chân đèo Bidoup – Khánh Lê thường vào khoảng 11:00; đoàn dừng lại nghỉ ăn trưa, mấy quán lợp tole đơn giản là nơi thày cô và sinh viên lấy cơm hộp ra ăn, gọi nước uống. Cơm, nước xong; đi khảo sát loanh quanh, phát hiện một lòng suối có bãi cuội rộng khoảng 50 m, kéo dài tới 200 m, nước ngập chưa đến đầu gối, chảy nhẹ; thế là cả đoàn xuống vui chơi, giải trí cả một giờ đồng hồ.

Từ những năm sau đó, Bến Lội chính thức được đưa vào chương trình học tập. Bến Lội được xem là điểm chuyển tiếp lộ trình giữa núi – cao nguyên sang đồng bằng ven biển. Tại đây có quán Bến Lội, chủ quán làm bậc thềm xuống bãi nên rất tiện cho việc đi lại.

Bến Lội 27.07.2012
Bến Lội 25.07.2913
Bến Lội 24.07.2015
Bến Lội: 22.07.2016

Thày Tự Thành (trưởng đoàn) có ý định không ăn cơm hộp buổi trưa tại Bến Lội nữa; được thày Cảnh giới thiệu quán Chân Đèo có ông chủ quán luôn vui vẻ và giá cả phục vụ phải chăng. Thế là năm 2016, qua điện thoại đoàn đặt cơm trưa tại quán Chân Đèo. Cơm nóng, đồ ăn ngon, giá tốt, chủ quán nhiệt tình (xem Nhật kí thực tập môi trường 2016). Cơm trưa xong, thày trò hành quân xuống Bến Lội khoảng 1 km.

Năm ngoái cũng vậy, cơm trưa xong, thày trò lại hành quân xuống Bến Lội nhưng chuẩn bị theo bậc thềm xuống bãi thì bị chủ quán làm khó – nguyên nhân có lẽ là đoàn đặt ăn ở quán Chân Đèo. Trưởng đoàn nói gì đó, rồi chủ quán cũng cho qua. (Thực ra thì đoàn đã liên hệ đặt ăn tại quán Bến Lội rồi, nhưng mắc nên  thôi).

Đến Ngã ba suối Sơn Thái

Năm nay chủ quán Chân Đèo (ông Nguyễn Luật) liên hệ với địa phương (lãnh đạo xã Sơn Thái) và trực tiếp dẫn đoàn đến bãi Ngã ba suối (tạm gọi Ngã ba suối Sơn Thái). Ngã ba suối đẹp đến không ngờ cả về cảnh quan địa mạo và những vết lộ địa chất, địa chất môi trường.

Ngã ba suối Sơn Thái cách Bến Lội hơn 1 km về phía thượng nguồn. Có thể sơ bộ về địa tầng, địa mạo và các vấn đề môi trường tại đây như sau:

Về địa chất: Ven suối lộ đá phiến màu đen thuộc hệ tầng La Ngà, phía trên là vỏ phong hóa có màu nâu đỏ dày tới 10 m. Giữa lòng suối, rải rác nhô lên các khối đá granit thuộc phức hệ Đèo Cả. Bãi đá cuội, tảng mài tròn kích thước từ vài cm đến 30 – 50 cm, một số tảng tới 1,0 m chủ yếu có màu xám sáng với ba loại đá cơ bản gồm ryolit, ryodacit; granit và đá phiến. Nhìn chung kích thước cuội tảng lớn hơn bãi đá Bến Lội.

Về địa mạo: các tích tụ lòng suối và bãi bồi cuội tảng, cát phân bố bên bờ lồi khúc uốn;  vách xói lở, vách trượt đất phân bố nơi lạch sâu áp sát bờ. Một hệ thống bậc thềm quan sát khá rõ: Thềm 1 nguồn gốc tích tụ, cao 3,0 – 4,0 m gồm các lớp sạn, sỏi xen các lớp cuội. Thềm 2 nguồn gốc xâm thực, cao 7,0 -8,0 m. Thềm 3 cũng là thềm xâm thực, cao 10 – 12 m. Thềm 2 và thềm 3 đều lộ vỏ phong hóa từ trầm tích La Ngà.

Về môi trường: các vách xâm thực và mặt trượt mới xảy ra lộ rất rõ, việc canh tác (chặt bỏ lớp phủ thực vật) gây xói mòn đồi thềm cao dẫn đến tích tụ trên mặt thềm thấp.

Chủ quán Chân Đèo vừa đọc thơ, vừa mời rượu các thày, cô trong bữa cơm trưa
Trước khi dẫn đoàn xuống suối, chủ quán dừng lại đọc thơ
Chân vách trượt lộ đá phiến sét màu xám đen (đá gốc) phân lớp mỏng cắm dốc 70o về lòng suối
Xâm thực để lộ các khối đá granit giữa lòng suối
Trong một khung hình có nhiều dạng địa hình: thềm 1, thềm 2, thềm 3; trầm tích cuội lòng suối, xâm thực lộ đá granit, đá phiến sét và vết trượt thềm 2 và 3
Thềm 1 xâm thực mạnh vào kỳ mưa lũ
Vách xâm thực để lộ cấu tạo thềm bậc 1
Đá phiến sét phân lớp mỏng, mặt lớp láng bóng trở thành mặt trượt. Quá trình xâm thực chân vách dẫn đến hình thành khối trượt kiểu tịnh tiến
Cuội, sỏi lòng sông là nguồn vật liệu xây dựng của người dân
Ngã ba suối là nơi “bẫy” nhưng khối gỗ lớn mà ai đó đã (khai thác) trên vùng núi cao

H & H

Vài nét về địa mạo bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận

Hà Quang Hải

Bờ biển từ mũi Cá Tiên đến cửa Đầm Nại dài khoảng 50 km, là đường biên phía đông của Vườn quốc gia Núi Chúa. Dọc theo bờ biển này, nguồn tài nguyên biển có sự đa dạng và phong phú, đặc biệt là san hô. Dọc theo bờ biển này có những điểm du lịch đẹp như Bãi biển Bình Tiên, Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, Công viên Đá, Hòn Đỏ…được nhiều du khách biết đến.

Có thể nói, nguồn tài nguyên biển phong phú, cảnh quan biển đẹp của dải bờ này được hình thành và phát triển trền nền tảng yếu tố địa chất, địa mạo với sự tương tác lâu dài của quá trình nội sinh và ngoại sinh: nội sinh với sự bóc lộ thể batholith Núi Chúa cùng với những hệ thống khe nứt dầy đặc; ngoại sinh là quá trình phong hóa và phá hủy của sóng biển vào bờ đá, vào các hệ thống khe nứt để hình thành các vách biển dốc đứng, các vịnh biển, các bậc thềm biển, hang đá, cột đá và các khối đá chồng…

Dưới đây trình bày vài nét về địa mạo bờ biển thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa ghi nhận được trong quá trình hướng dẫn sinh viên Khoa Môi trường thực tập thực tế. Hy vọng những nghiên cứu chi tiết sẽ được tỉnh Ninh Thuận, Vườn quốc gia Núi Chúa cũng như các nhà khoa học Trái đất thực hiện trong tương lai.

Các hệ thống khe nứt kiểm soát phương và hình thái địa hình bờ biển

Các đá magma xâm nhập cấu tạo Núi Chúa được các tác giả thuộc công trình lập bản đồ địa chất 1:200.000 xếp vào phức hệ Đèo cả tuổi Kreta [1]. Dọc bờ biển từ mũi Cá Tiên đến mũi Thị phần lớn lộ đá thuộc phức hệ này. Theo tầu du lịch từ cửa Vĩnh Hy về phía nam qua mũi Thủ có thể quan sát các vách đá dốc đứng cao tới 30 m để lộ những hệ khe nứt đứng dầy đặc (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống khe nứt lộ trên vách biển tại mũi Thủ

Tại mũi đá phía nam Bãi Cóc, hai hệ thống khe nứt dốc đứng rõ nét có phương 195o (á kinh tuyến) và 150o (tây bắc-đông nam). Các khe nứt dày, cách nhau từ vài cm đến 20 cm (Hình 2). Kém rõ hơn là hệ khe nứt phương đông bắc và á vĩ tuyến. Tại đây cũng quan sát một hệ khe nứt dạng lớp (Sheet fracture) cắt ngang hệ khe nứt đứng (Hình 3). Hệ khe nứt dạng lớp là cơ sở tạo nên dạng địa hình phân bậc tại các mũi đá (Hình 4) và rải rác chân các vách đá dọc bờ biển. Dọc theo vách biển quan sát khá rõ hệ thống khe nứt này (hình 5).

Hình 2. Các hệ thống khe nứt tại mũi đá Nam Bãi Cóc
Hình 3. Hệ khe nứt dạng lớp cắt ngang hệ khe nứt đứng
Hình 4. Hệ thống khe nứt dạng lớp tạo địa hình phân bậc tại các mũi đá
Hình 5. Hệ thống khe nứt dạng lớp cắt ngang các hệ thống khe nứt đứng là cơ sở hình thành các bậc địa hình chân vách biển

Dễ dàng nhận thấy các hệ thống khe nứt có vai trò kiểm soát phương và hình thái đường bờ biển đá granit. Các đoạn bờ có vách dốc đứng phương á kinh tuyến chiếm ưu thế, điển hình là mũi Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và bờ biển cửa rạch Thái An đến mũi Thị (dài 6,3 km). Bờ biển phương tây bắc – đông nam rõ nhất bao gồm các đoạn bờ khu vực Bãi Rạng (dài 2,8 km); hướng kéo dài vịnh Vĩnh Hy, suối Sâu,  rạch Thái An cũng theo phương hệ khe nứt này. Đoạn bờ từ cửa rạch Vĩnh Hy đến cửa rạch Thái An là sự xen kẽ cả bốn hệ thống khe nứt, trong đó chiếm ưu thế là phương á kinh tuyến và tây bắc – đông nam.

Hệ thống khe nứt dạng lớp là cơ sở hình thành địa hình dạng bậc trên các sườn núi, vách biển và mũi nhô. Hệ thống khe nứt này cũng là cơ sở cho sự hình thành dạng địa hình đá chồng quan sát được nhiều vị trí dọc bờ biển.

Địa hình đá rơi, đá đổ chân vách biển

Hang Rái được hình thành do các khối đá rơi từ vách biển dốc. Vách dốc này bị chia cắt bởi các hệ thống khe nứt đứng và dạng lớp; quá trình phong hóa phát triển theo các hệ khe nứt dần làm các khối đá rơi xếp chồng chất lên nhau tại chân vách (Hình 6), tác động lâu dài của sóng biển làm các khối đá được mài trơn. Những khoảng trống giữa các khối đá được gọi là “hang”, trường hợp Hang Rái được hình thành theo hình thức này (Hình 7).

Hình 6. Các hệ khe nứt đứng và ngang chia vách đá thành các khối tảng đủ loại kích thước và hình dạng. Quá trình phong hóa theo hệ thống khe nứt dần làm các khối đá rơi xuống chân vách. Hình ảnh này cũng cho gợi ý về sự hình thành các khối đá, cột đá chồng
Hình 7. Hang Rái là các khoảng trống được hình thành từ các khối đá rơi từ vách đá

Công viên Đá Láng Chổi

Công viên Đá phân bố khu vực núi Láng Chổi thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Từ đèo Dinh Bà đi theo đường mòn qua khu rừng khô hạn về phía nam khoảng 1 km sẽ đến Công viên Đá. Chúng tôi đề nghị đặt tên Công viên Đá này là Công viên Đá Láng Chổi.

Công viên Đá Láng Chổi là bề mặt thềm biển cao 70 – 80 m hơi nghiêng thoải từ tây sang đông (về phía biển). Các diện tích bằng phẳng có lớp cỏ mỏng và những loài cây phát triển trong điều kiện khô hạn (thấp, lá nhỏ, nhiều gai). Nhô trên mặt bằng là các dải đá, các gò đá, cột đá cao từ 1,0 – 2,0 m đến 5,0 – 7,0 m (Hình 8). Các khối đá đổ trên mặt bằng nằm chen với thực vật, vách thềm xuống mặt biển rất dốc, lộ toàn đá khối (Hình 9).

Trên mặt một số khối đá quan sát được hiện tượng phong hóa bóc vỏ (Hình 10) và các dạng địa hình tafoni (Hình 11).

Hình 8. Các dải đá, cột đá, đá chồng nhô trên mặt bằng (bãi biển cổ). Ảnh: Nguyễn Trường Ngân
Hình 9. Vách thềm biển dốc lộ toàn các khối tảng đá granit
Hình 10. Phong hóa bóc vỏ (bóc vỏ củ hành) trên đá granit
Hình 11. Tafoni do phong hóa muối trên đá granit tại Công viên đá Láng Chổi

Các khối đá chồng phân bố rải rác trong Công viên Đá và trên bề mặt thềm biển cao 80 m, điển hình là khối đá dạng cầu, đường kính khoảng 5 m (Hình 12).

Các hệ thống khe nứt và quá trình phong hóa bóc mòn là yếu tố chính trong việc hình thành khối đá chồng. Hệ khe nứt trực giao cắt nền đá granit thành các khối tảng to nhỏ, quá trình phong hóa và vận động nâng từ từ của mặt đất đã phá hủy các khối đá, mang đi các vật chất vụn bở, chỉ còn các khối lõi đá ở trạng thái cân bằng nhất tồn tại. Hình 13 là phác thảo của Geikie về các giai đoạn hình thành khối đá chồng.

Hình 12. Khối đá chồng dạng cầu có đường kính khoảng 5,0 m trên đường vào Công viên Đá. Có thể thấy các mặt khe nứt trực giao vẫn còn khá rõ trên khối đá này. Ảnh: Nguyễn Hoài Phương Duy.

Hình 13. Phác thảo thể hiện các giai đoạn hình thành đá chồng của Geikie; hình (a): (i) đá granit gốc, (ii) lõi đá trong vụn sét phong hóa, (iii) thổ nhưỡng; hình b: (i) nước thấm xuống theo hệ khe nứt, (ii) đá granit phong hóa với các lõi đá còn lại, (iii) xói mòn mang đi các vụn, sét, để lại các lõi đá. Nguồn [25]
Các mảnh thềm đá vôi san hô ven bờ biển

Từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, các mảnh thềm cấu tạo bởi cát kết vôi san hô và rạn san hô (gọi chung là đá vôi san hô) phân bố rải rác nhô trên mặt biển khi thủy triều xuống thấp. Tại một số nơi, người dân đã khai thác đá vôi san hô làm vật liệu xây dựng.

Tại Hang Rái, mảnh thềm đá vôi san hô phân bố ven theo bờ đá granite phương đông bắc –tây nam khoảng 100 m, nơi rộng nhất khoảng 40 m (Hình 14). Bề mặt thềm cao khoảng 5,0 m so với mặt biển (triều xuống thấp). Mặt thềm khá bằng phẳng, quá trình xâm thực rửa trôi đã hình thành bề mặt đá tai mèo lởm chởm, trên mặt thềm còn có những hố tròn (hố nồi), hố hình trái tim gây sự tò mò và là những câu hỏi đối với du khách (Hình 15). Chân vách thềm có hõm gặm mòn dạng hàm ếch. Hõm gặm mòn làm cho mặt thềm yếu dần và dẫn đến sự sập đổ.

Hình 14: Mảnh thềm đá rạn san hô tại Hang Rái là một trong những điểm thăm quan, thưởng ngoạn của du khách
Hình 15. Đá tai mèo và các hố nồi (vi địa hình) trên mặt thềm san hô. Các dạng vi địa hình này đang bị các bàn chân của du khách hủy hoại

Dọc bờ biển Mỹ Hòa – Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô dài tới 10 km từ  mũi Thị đến hòn Chồng. Thềm bị sóng phá hủy mạnh tạo thành bãi ngầm (chỉ lộ ra khi thủy triều xuống thấp) (Hình 16).

Hình 16. Bãi san hô ngầm tại Mỹ Hòa

Tại Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô khá giống ở Hang Rái. Các mảnh thềm sót có diện tích nhỏ, cao hơn mặt biển khoảng 4,0 m (Hình 17); phía trong bờ bề mặt bị phủ bởi lớp cát màu xám vàng. Chân khối có hõm gặm mòn và mặt thềm cũng đang bị sóng phá hủy.

Hình 17. Mảnh thềm đá vôi san hô tại Mỹ Tân

Hòn Đỏ là một mũi nhỏ nhô ra biển, được cấu tạo bởi cát kết vôi, cao khoảng 3-4 m. Chân khối cũng có hàm ếch gặm mòn sâu 1,0 m. Phủ trên cát kết vôi là cát màu đỏ nhạt (Hình 18), đó cũng là lí do mà địa danh này mang tên hòn Đỏ. Khu vực hòn Đỏ hiện là nơi bảo tồn rạn san hô của tỉnh Ninh Thuận.

Hình 18. Cát đỏ nhạt phủ trên cát kết vôi bị đang bị sóng phá hủy

Tại Khánh Nhơn, các khối đá vôi san hô lộ thành những diện tích nhỏ nhô cao trên mặt nước biển khoảng 1,5 – 2,0.

Hình 19. Mảnh thềm cát kết san hô tại Khánh Nhơn

Cho đến nay, chỉ thấy thông báo của Henri Fon Taine về thể địa chất này [2]. Theo thông báo này, đây là đá cát kết vôi (chứa vụn san hô, sò ốc, foraminifera) phân bố rải rác từ Tuy Phong đến Phan Rang tạo thành thềm cao 15 – 19 m. Dựa vào quan hệ địa chất, ông xếp đá cát kết vôi hình thành trong giai đoạn gian băng Mindel –Riss (Cách ngày nay 430.000 – 240.000 năm); cát đỏ trẻ hơn, hình thành trong giai đoạn gian băng Riss – Wurn (Cách ngày nay 180.000 – 120.000 năm).

Dựa vào không gian phân bố, độ cao các mảnh thềm đá vôi san hô từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, chúng tôi giả thiết rằng đã từng tồn tại rạn san hô riềm (fringing reef) bám theo bờ đá granit ? trong giai đoạn biển tiến Flandrian?.

Thay lời kết

Hầu hết các điểm đến của du khách dọc ven bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa đều gắn với các thuật từ của khoa học địa mạo về các dạng địa hình như Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, thềm san hô hay một quá trình địa chất như phong hóa bóc vỏ hành, đá tai mèo, tổ ong…Diễn giải sự hình thành các dạng địa hình sẽ hấp dẫn du khách hơn nữa (như giải thích sự hình thành các khối đá chồng chẳng hạn) khi họ đến thăm quan các điểm đến này.

Khi hiểu rõ đặc điểm của từng dạng địa hình, việc khai thác các giá trị (khoa học, sinh thái, thẩm mỹ, lịch sử/văn hóa…) cũng như bảo tồn chúng sẽ thực sự hiệu quả. Có thể lấy ví dụ cho trường hợp Hang Rái:

– Đó là sự hình thành vách biển, mô hình đá chồng, đá rơi chân vách (tạo Hang Rái); hay thềm đá vôi san hô có bề mặt hình thành dạng địa hình tai mèo (thường xuất hiện trên đá vôi), các hố hình tròn hoặc trái tim xen giữa tai mèo, hay hõm gặm mòn chân vách thềm do hoạt động của sinh vật và sóng biển.

– Hiểu được quá trình hình thành vách biển sẽ bố trí những tuyến thăm quan, những điểm nhìn an toàn cho du khách (tránh được những rủi ro vì đá có thể rơi bất cứ lúc nào), nghiêm cấm du khách leo trèo trên các khối đá, vách đá chênh vênh.

– Hiểu được giá trị các dạng địa hình sẽ giúp việc bảo tồn tốt hơn như: trên mặt thềm san hô cần tạo một lối đi cho du khách để duy trì lâu dài dạng vi địa hình đá tai mèo, hố nồi, hố trái tim…

Một dải bờ biển có sự đa dạng các yếu tố địa chất địa mạo, rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế, phổ biến khoa học gắn liền với công tác bảo tồn. Vì vậy, những nghiên cứu sâu, chi tiết nên được triển khai.

Lời cảm ơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Vườn Quốc Gia Núi Chúa đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thực tập của sinh viên ngành Khoa học môi trường vừa qua; cảm ơn anh Hoàng Công Thành, anh Cao Thành Ngon, chị Nguyễn Thị Nhụ (công tác tại TT. Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường, Vườn Quốc gia Núi Chúa) đã giúp đoàn thực tập về kế hoạch học tập, nơi ăn ở và trực tiếp giảng bài cho sinh viên tại thực địa.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Xuân Bao và nnk. Bản đồ địa chất khoáng sản tờ tỷ lệ 1:200000 tờ Đà Lạt-Cam Ranh (C-49-I & C-49-II) do Cục Địa Chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản năm 1999.

[2]. Henri Fon Taine. Nhận xét về các thành tạo duyên hải Đệ tứ ở Nam Trung Bộ. Arch Geol Vietnam. No 15, 1972 (bản dịch của Nguyễn Anh Tuấn).

[3]. C.R. Twidale and J. R. Vidal-Romani. Landforms and Geology of Grani te T errains. DOI: 10.13140/RG.2.1.1595.6722.

 

 

 

 

 

Một số hình ảnh đợt thực tập Môi trường Đại cương năm 2018

Năm nay ngành Khoa học môi trường khóa 16 (KMT_16) có 109 sinh viên nên việc học tập, đi lại và ăn ở tại các cơ sở lưu trú khá thuận lợi. Công việc tập huấn trước khi đi thực địa ngoài chuyên môn, tập trung nhiều về nội qui, trang bị cá nhân và thái độ học tập…Việc nhắc nhở và kiểm tra tài liệu, nhật ký sinh viên của các thày cô phụ trách nhóm thường xuyên nên hy vọng kết quả học tập năm nay sẽ tốt hơn vài năm trước.

Lộ trình và điểm học tập năm nay có vài thay đổi so với trước đây, xuống chân đèo Khánh Lê học tập và giải trí tại điểm Ngã ba suối Sơn Thái thay cho điểm Bến Lội, học tập và thăm quan tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa Ninh Thuận thay cho Khu bảo tồn Hòn Mun (trước đây) và Đầm Môn (năm ngoái).

Điểm Ngã ba suối Sơn Thái và các điểm thuộc Vườn Quốc Gia Núi Chúa như Vịnh Vĩnh Hy, Trung tâm Giáo dục MT, Hang Rái – Thềm san hô cổ, Công viên Đá thật bổ ích, lý thú và ấn tượng.

Dưới đây là hình ảnh học tập tại một số điểm khảo sát trong đợt thực tập từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 7 năm 2018.

Nghe giảng Môi trường và Tài nguyên nước tại Chân đồi tượng đài Bắc cầu La Ngà
Khảo sát phẫu diện đất và mặt cắt vỏ phong hóa trên đá bazan cổ tại mỏ bauxite Bảo Lộc
Tìm hiểu cảnh quan thung lũng sông Đa Nhim và tác động môi trường của đập thủy điện Đại Ninh
Bắt đầu leo núi Langbian (đỉnh Rada)
Nghe giảng trên đỉnh Rada
Chuẩn bị quan trắc nước Hồ Xuân Hương bằng bộ TEST KIT
Nghe giảng tại Công ty Cổ phần Cấp nước Sài Gòn Dankia
Nghe giảng về điệu kiện môi trường và kỹ thuật nuôi cá tầm, cá hồi tại TTNC cá nước lạnh Tây Nguyên
Tại bãi bồi Ngã ba suối Sơn Thái (chân đèo Khánh Lê)
Nghe giảng đặc điểm địa chất, địa mạo môi trường tại Ngã ba suối Sơn Thái
Trên tàu đáy kinh đi ngắm san hô tại vịnh Vĩnh Hy
Nghe giảng về đa dạng sinh học tại TT Giáo dục MT, Vườn QG Núi Chúa
Tìm hiểu công tác bảo tồn rùa tại khu vực Hang Rái, vườn QG Núi Chúa
Trên thềm san hô cổ khu vực Hang Rái, Vườn QG Núi Chúa
Thăm quan và thưởng thức tại vườn nho Ngọc Nga, Thái An.
Qua hệ sinh thái rừng khô hạn Vườn QG Núi Chúa ra Công viên Đá
Tại Công viên đá Vườn QG Núi Chúa

H & H

 

 

Nửa ngày khảo sát xói lở bờ biển Dương Tơ đảo Phú Quốc

Ngày 10 tháng 6, Lê Hoài Nam rủ đi xem xét hiện tượng xói lở bờ biển đảo Phú Quốc theo lời mời của Sở TN và MT tỉnh Kiên Giang. 7: 30 ngày 12, hai thày trò rời sân bay Tân Sơn Nhất trên chuyến bay VN1823; khoảng 8: 30 đã có mặt tại thị trấn Dương Đông. Ngồi quán cà phê 63 Trần Hưng Đạo để Nam liên hệ công việc với cán bộ Sở TN và MT. Chờ đến 10:30, sốt ruột quá, thuê xe đi khảo sát một đoạn bờ biển Dương Tơ, phía tây sân bay Phú Quốc.

Sóng biển xâm thực tạo vách tại điểm PQ_98. Hàng dừa cao mới trồng cùng với vài cây dương cách đường mép nước khoảng 20 m
Cây dương đơn độc lộ rễ cho biết bờ biển bị xói lở

Cơm trưa xong, 14:00 xe của Công ty Cổ phần 99 Núi chở đến bờ biển Dự án Sunset Sanato để khảo sát hiện tượng xói lở bờ biển mà công ty đã báo cho Sở Tài Nguyên và Môi Trường. Ông Đoàn Thành Luân trưởng dự án cho biết bờ biển đang bị xói. Xói lở được phát hiện sau khi công ty làm cầu tạm và nhận thấy sóng biển đã „ngoạn” đi một đoạn bờ biển rộng gần 4,0 m trong khoảng 2 tháng.

Một đoạn bờ biển dài tại Dự Án Sunset Sanato (PQ_99) đang bị sóng biển „tấn công”
Trong hai tháng, bờ bị xói gần 4,0 m (tính từ điểm người đứng mặc áo xanh). Cầu tạm chính là „mốc quan trắc” báo cho Công ty 99 biết bờ biển đang bị xói
Sóng mạnh được cảnh báo du khách không được tắm biển

Xe Công ty 99 đưa nhóm khảo sát thêm một điểm nữa tại bờ biển Dự Án Bim (PQ_100). Bãi biển ở đây đang được cải tạo, những cây dừa cao mới trồng cách đường mép nước khoảng 20 m. Cát mịn trắng từ giồng cát cổ được lấy đổ ra bãi biển để trang trí. Một „cầu tầu” dài khoảng 100 m vuông góc với bờ biển giống như mỏ hàn đã xuất hiện.

Tại (PQ_100), dừa cũng được trồng không xa đường mép nước, cây dương lẻ loi với phần gốc đã được “kè tạm” bởi các khối đá cát kết
Đã xuất hiện một „cầu tàu” giống như một mỏ hàn tại PQ_100. Tại đây cát trắng mịn (khai thác từ giồng cát cổ) được trải trên bãi biển cát nâu vàng

Bãi biển Dương Tơ, thuộc tế bào bờ biển Dương Tơ, là tế bào có tốc độ xói lở lớn nhất bờ Tây đảo Phú Quốc. Xói lở xảy ra mạnh vào mùa gió tây nam (từ tháng 5 đến tháng 10). Việc Công ty 99 Núi nhận ra hiện tượng xói lở bờ biển sau khi làm cầu tạm như là một lời nhắc nhở về một tai biến địa chất đang diễn ra.

Bãi biển Dương Tơ hoang sơ với con đường đất đỏ mộng mơ ngày nào chạy giữa biển xanh và giồng cát trắng nay không còn nữa; thay vào đó là những công trình bê tông lớn nhỏ, cao thấp đang dần lấp kín. Nhưng hãy lưu ý rằng, những con sóng biển đang ngày đêm cặm cụi cào đi từng hạt cát. Để các công trình này tồn tại lâu dài, những giải pháp chống xói lở cần sớm được thực hiện.

H & H