Ý kiến trái chiều về dự án lấn sông xây biệt thự ở Đà Nẵng

“Điều này trái ngược với xu thế hiện nay trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đó là chuyển từ khống chế dòng chảy theo ý muốn của con người sang dành không gian cho sông (rooms for rivers), dành không gian cho giao tiếp giữa con Người với Thiên nhiên”. (1)

Chuyên gia lo ngại việc Đà Nẵng cho triển khai các dự án bất động sản bằng việc đổ đất đá xuống sông Hàn sẽ gây ách tắc dòng chảy.

Những ngày này người dân Đà Nẵng đi qua cầu Thuận Phước nhìn sang sẽ thấy ở cửa sông khu đất nhô hẳn ra mặt nước, đã được làm bờ kè bê tông kiên cố dài 731 m. Đây là diện tích thuộc dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng. Cạnh đó là một dự án khác cũng nằm ở bờ Đông sông Hàn (quận Sơn Trà).

Hai dự án này đều đã được thành phố cấp phép cho xây dựng khu biệt thự nghỉ dưỡng, căn hộ cao cấp, toà nhà cao tầng (phía đường Trần Hưng Đạo và Lê Văn Duyệt).

Năm năm trước

Khu vực dự án bất động sản và bến du thuyền sau 5 năm. Ảnh: Nguyễn Đông

Dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng được phê duyệt từ năm 2009 và 10 năm qua đã nhiều lần điều chỉnh quy hoạch. Cụ thể, năm 2017, thành phố điều chỉnh quy hoạch theo hướng giảm diện tích từ hơn 17 ha xuống còn gần 12 ha, trong đó giữ nguyên diện tích đất và giảm diện tích mặt nước từ trên 6 ha xuống một ha.

Ngoài ra, khu vực bờ sông điều chỉnh từ 13 khối tháp cao tầng còn hai khối tháp (từ 16 – 33 tầng) và 57 căn biệt thự; duy trì lối đi công cộng ven sông rộng 8 m.

Từ năm 2016, người dân Đà Nẵng đã gửi phản ánh trên hệ thống chính quyền điện tử thành phố, với lo lắng dự án đổ đất lấn sông ở vị trí cửa sông Hàn sẽ gây ảnh hưởng đến dòng chảy, đặc biệt là mùa mưa lũ. Sở Xây dựng sau đó có văn bản trả lời, khẳng định không ảnh hưởng.

Theo Sở này, trước khi đồng ý cho nhà đầu tư xây dựng bờ kè và làm dự án, thành phố đã khảo sát điều kiện địa chất, nghiên cứu dòng chảy và lấy ý kiến các đơn vị liên quan. Việc làm tuyến đê, kè này nhằm mục đích “đảm bảo an toàn cho khoảng 500.000 người dân tại các khu đô thị Mân Quang, khu dân cư làng cá Nại Hiên Đông, chống sạt lở bờ sông, bảo vệ các công trình kiến trúc…”.

Ông Thái Ngọc Trung – Phó Giám đốc Sở Xây dựng cũng nhấn mạnh hai khu đất trên “không phải là dự án lấn sông”.

“Bờ kè quy hoạch từ năm 2008, còn các dự án được cấp phép sau. Chủ đầu tư đổ đất trên diện tích quy hoạch bờ kè nên không phải là lấn sông”, ông Trung cho biết.

Chuyên gia thuỷ lợi Huỳnh Vạn Thắng – nguyên Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đà Nẵng cho biết, ông là người trực tiếp thẩm định dự án bất động sản và bến du thuyền và đưa ra ý kiến tham mưu cho thành phố triển khai.

Lý giải việc dự án không ảnh hưởng đến dòng chảy sông Hàn, ông Thắng nói từ thời Pháp thuộc đã cho xây dựng một bờ kè dẫn dòng từ sông Hàn ra đến cảng Tiên Sa (dưới bán đảo Sơn Trà), nhờ đó dòng sông không bị bồi lấp hay thay đổi dòng chảy trong hơn 100 năm qua.

“Dự án đang triển khai nằm trong tuyến đê kè phía trong giúp chống sạt lở bờ sông, không lấn ra lòng sông vì không vượt qua bờ kè dẫn dòng thời Pháp, nghĩa là không cản trở dòng chảy. Ở đây có chăng vấn đề là mất mỹ quan nơi cửa sông”, ông Thắng nói.

KTS Hồ Duy Diệm nêu quan điểm “Đà Nẵng nên dừng dự án ở cửa sông”. Ảnh: Nguyễn Đông.

Nhiều chuyên gia đã phản bác lại lập luận của ông Thắng và Sở Xây dựng. “Dự án rõ ràng đã thu hẹp dòng chảy tự nhiên của sông Hàn, gây ra xung đột khi nước từ thượng nguồn thoát ra biển”, KTS Hồ Duy Diệm – Chủ tịch Hội bảo vệ lưu vực và dải biển Việt Nam nói.

Theo chuyên gia này, lòng sông Hàn bị nhồi đất và các trụ kè bê tông cứng thì sau này sẽ xảy ra hệ lụy; khi hai bên bờ bê tông hóa dĩ nhiên lòng sông sẽ bị bào sâu lớp cát để nước kịp chảy; nếu nước không thoát kịp thì gây ngập úng. Hơn nữa, theo thời gian, đoạn cửa sông bị thắt lại, nước sẽ khoét sâu đáy hai bên bờ khiến bờ có thể đổ sập.

“Sở và các đơn vị đã tham mưu cho thành phố cấp phép, dĩ nhiên họ khẳng định là đúng. Nhưng ngay khi dự án chưa triển khai, dư luận phản ứng thì thành phố nên cho tạm dừng để tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia. Tôi đề nghị dừng dự án và hoàn trả lại nguyên trạng cho dòng sông”, ông Diệm nói thêm.

PGS, TS Vũ Trọng Hồng – nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam cho rằng, chính quyền Đà Nẵng không nên để doanh nghiệp đổ đất xuống sông Hàn làm dự án bất động sản, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu rõ rệt như hiện nay.

“Trên thế giới không ai đi lấn sông cả, trong khi đó sông Hàn lại rất nhỏ”, ông Hồng nói và cho rằng dòng sông hình thành từ tự nhiên, trải qua những trận mưa, lũ từ thượng nguồn đổ về xói dần và tạo thành dòng ổn định. Do đó phải giữ đủ diện tích để tiêu nước mưa và thoát lũ. Nếu lấn sông sẽ gây ra ngập úng, chưa kể còn ảnh hưởng đến tiêu nước ngầm.

Hai dự án ven sông đang đồng loạt triển khai hạ tầng trước khi xây dựng nhà cửa. Ảnh: Nguyễn Đông.

TS Hồng đề xuất Đà Nẵng giao cơ quan chuyên môn tính toán, với lượng nước mưa dự báo trong bao nhiêu năm thì dòng sông có thể dâng nước lên bờ và gây ngập. Nhiều nước ở châu Phi và Nhật Bản đã gặp tình cảnh khi lũ tràn lên thì dân chạy không kịp. Trong khi đó mật độ dân cư ven sông Hàn đang ngày càng đông lên.

Vẫn theo ông Vũ Trọng Hồng, ngành nông nghiệp Đà Nẵng dựa vào những số liệu trước đây để tham mưu cho thành phố cấp phép dự án cũng cần phải xem lại. Vì đang trong thời kỳ biến đổi khí hậu nên tất cả những số liệu cũ không còn phù hợp nữa.

“Các nước đang chung tay chống biến đổi khí hậu. Đà Nẵng lại cho đổ đất đá xuống sông, rồi xây dựng bê tông hóa là không nên. Sông Hàn cần được mở rộng ra nữa mới giúp tiêu nước cho khu đô thị trong tương lai, chứ không nên lấn và không được lấn”, ông Hồng nhấn mạnh.

Nguyễn Đông

Nguồn: https://vnexpress.net/thoi-su/y-kien-trai-chieu-ve-du-an-lan-song-xay-biet-thu-o-da-nang-3910750.html

(1) Trích từ “Dự án Cái Lớn-Cái Bé: Lý do không thế phê duyệt của GS. TSKH, Nguyễn Ngọc Trân; Nguồn: https://www.thiennhien.net/2018/09/14/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet/

 

Advertisements

Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu

Giữa tháng 3, cô Phương Chi mời đi đảo Phú Quí để tìm hiểu những giá trị địa chất – địa mạo phục vụ cho luận án sắp tới. Phương Chi thông báo có Quế Nam (mới bảo vệ luận văn thạc sỹ) và bạn Ngọc Nhiên làm khóa luận về địa du lịch cùng đi; vậy thì đi thôi.

Từ năm 1995 khi tham gia lập bản đồ địa chất Bình Thuận đã rất muốn ra đảo Phú Quí, những năm gần đây khi nghiên cứu về di sản địa chất, địa mạo phục vụ bảo tồn giá trị tự nhiên và phát triển du lịch lại thôi thúc người viết bài này ra đảo.

1.Hành trình tới đảo

14:00 ngày 03/04 bốn thày trò trên xe du lịch The Sing Tourist tại 273 Đề Thám bắt đầu hành trình. 18:30 đến Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Đường Hiền Vương. Homestay nhỏ, bài trí đơn giản nhưng mọi người đều cảm nhận được sự thân thiện: một sơ đồ kiểu mindmap giới thiệu các điểm du lịch, một không gian nhỏ gắn ảnh các du khách để lại, một kệ sách nhỏ, một bàn ăn nhỏ, mấy ghế đu và võng, mấy chậu hoa. Đêm đó, những trận mưa đầu mùa làm cho Phan Thiết có vẻ dịu hơn.

Homestay Cô Tư tại 160 Hiền Vương, Phan Thiết
Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Hiền Vương
Một góc Homestay Cô Tư Phan Thiết

Sáng 04/04 cô My (chủ quán) gọi xe đưa bốn thày trò ra bến tàu. Tàu Superdong mới hoạt động, thời gian đi Phú Quí là 2,5 giờ, giá vé 350.000 đ/người, vé cho người cao tuối (trên 60) là 295.999 đ, lần đầu tiên trong đời được giảm vé. Tàu khởi hành lúc 9:30, đến bến tàu đảo Phú Quí lúc 12:00. Giỏi ‘Phú Quí’ và Sang đã chờ nhóm ở bến tàu. Đưa 2 xe máy cho thày trò, Sang dẫn mọi người về Homestay Chú Tư nghỉ vì Homestay Cô Sang (mẹ Giỏi) nơi mà nhóm đặt trước chưa bố trí được chỗ do du khách muốn ở lại thêm trên đảo.

2. Khảo sát

15:00 chiều 04/04 điểm khảo sát đầu tiên là Núi Cấm, chùa Linh Bửu, đuốc Bác Hồ và Hải đăng cao 18 m. từ Hải Đăng có thể quan sát, chụp ảnh núi Cao Cát phía đông, địa hình phía nam đảo, các thôn thuộc xã Ngũ Phụng phía tây nam, bờ biển tây và bờ biển bắc. Điểm khảo sát thứ hai là bờ biển mũi Bà Giàng, bờ biển Mũi Mom và ngắm hoàng hôn từ Mũi Mom.

Đảo xanh Phú Quí nhìn từ Đèn biển trên Núi Cấm. Tại đây có thể thấy đảo Hòn Tranh ở phía nam

7:00 ngày 05/05 khảo sát núi Cao Cát, chùa Linh Sơn. Tại đây hướng dẫn các bạn quan sát địa hình, địa mạo, đo thế nằm các lớp trầm tích núi lửa. Tại đỉnh núi Cao Cát (cao 89 m) có thể quan sát bờ biển phía đông với mũi Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ có dạng vòng cung, địa hình phía nam đảo, núi Cấm phía Tây.

Lên chùa Linh Sơn trên núi Cao Cát

Buổi trưa ra nhà bè ở Lạch Dù thưởng thưc mấy món hải sản tươi sống. 14:30 sang đảo nhỏ Hòn Tranh. Các điểm khảo sát gồm Vũng Phật, bãi Nam, hang Đú. 17:00 về lại đảo lớn và chạy đến bờ kè Ngũ Phụng đón hoàng hôn.

Ngày 06/04 khảo sát các đồi cát đỏ đường Lý Thường kiệt, đồi bazan đường Ngô Quyền, Đường hầm xẻ đôi, gành Hang, cột cờ Phú Quí, dốc Phượt, đồi Ông Đụn. Nhiều cấu trúc địa chất đẹp, quan hệ địa tầng xuất lộ như đơn nghiêng của trầm tích núi lửa, bazan lỗ rỗng xen bazan đặc xít, mặt cắt vỏ phong hóa trên bazan… địa mạo cũng khá đa dạng: vách biển, thềm biển, mũi nhô, bãi cát…

Buổi chiều thăm quan Vạn An Thạnh, chùa Linh Quang, đền thờ công chúa Bàn Tranh và ra đón hoàng hôn tại bờ biển Long Hải.

Chuẩn bị đón hoàng hôn
Hoàng hôn trên biển Long Hải

3. Vài nét về tài nguyên địa chất – địa mạo

Núi Cấm cao 108 m là núi lửa kiểu vòm, lộ bazan màu xám đen đặc xít, vỏ phong hóa trên bazan kết tảng, rắn chắc, những khối lăn kích thước tới 1 m3. Hai khối laterit đặt tại cổng chùa Linh Bửu là laterit trên đá bazan Núi Cấm.

Cảnh quan Núi Cấm nhìn từ núi Cao Cát

Núi Cao Cát cao 89 m, quan sát hình thái tại thực địa, thế nằm các lớp cát kết tuf, bột kết tuf, dăm sạn chứa nhiều mảnh và khối đá bazan cho thấy đây là cấu trúc phun nổ. Giới hạn núi lửa là chân phía tây nam núi Cao Cát và một đường gờ dạng vòng cung từ Doi Thày qua Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ đến mũi Long Hải ở phía đông.

Phía sau Phương Chi là di tích vòng cung núi lửa Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ
Đo thế nằm các trầm tích núi lửa trên đỉnh núi Cao Cát

Gò Gành Hang cao 45 m, hình thái và thế nằm các lớp đá cho phép dự đoán đây là núi lửa kiểu trung tâm. Khoảng hơn nửa khối lượng phía đông núi lửa bị biển xâm thực tạo nên các dạng địa hình bờ biển ấn tượng như các gành đá, thềm biển, vách biển, bãi cát…

Các lớp cát kết tuf và bazan lỗ rỗng tại Gành Hang

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Bề mặt cát đỏ cao 30 – 40 m phân bố khá rộng ở trung tâm đảo, thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt mịn, gắn kết yếu. Nhìn chung màu sắc, thành phần và cấp hạt khá giống với cát đỏ Phan Thiết.

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí
Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Các bãi biển cát trắng mịn

Bãi cát vịnh Triều Dương, bãi Nhỏ và bãi Nam (đảo Hòn Tranh) đều là những bãi tắm đẹp, hoang sơ, cát trắng mịn ven chân vách đá núi lửa và chìm dần xuống nước biển trong xanh.

Đi bè xốp từ tàu vào bãi Nam đảo Hòn Tranh

Đa dạng địa hình bờ biển xâm thực

Sự phá hủy của sóng biển vào nền đá bazan dòng chảy, đá vụn núi lửa hay đá cát kết đã tạo nên sự đa dạng địa hình bờ biển xâm thực. Vô số dạng địa hình được đặt tên dựa vào hình dạng như: mũi Gò Cao, bàu Mực Khô (tảng đá giống con mực khô), mũi Xương Cá, gò Móng Tay; dựa vào màu sắc như: mũi Đá Đen, bãi đá bàn Than, bàu đá Đỏ; đặt theo tên người như mũi Doi Thày, mũi Bà Giàng, bàu Ông Giao, hay đặt tên theo truyền thuyết như Vũng Phật.

Vũng Phật phía nam đảo Hòn Tranh

4. Người dân đảo

Những người dân mà chúng tôi gặp đều rất thân thiện, luôn sẵn sàng và nhiệt tình trao đổi những thông tin mà nhóm quan tâm.

Giỏi ‘Phú Quí’ và các bạn trẻ làm du lịch

Giỏi ‘Phú Quí’ tận tình chỉ dẫn những điểm du lịch hấp dẫn trên đảo mà nhóm cần khảo sát, cung cấp số điện thoại những nhân vật am hiểu về danh thắng và lịch sử để nhóm tìm gặp. Sang (chủ homestay Chú Tư) chỉ dẫn cho nhóm đường đi, những nơi thưởng thức món ăn như nhà Bè ở Rạch Dù, quán Ông Già, các quán ăn sáng ở đường Võ Văn Kiệt. Huấn và My dẫn nhóm qua Hòn Tranh thăm quan Vũng Phật, Hang Đú và bãi Nam. Giỏi, Sang, Huấn, My thuộc nhóm tám bạn trẻ làm du lịch đảo Phú Quí.

Giỏi ‘Phú Quí’ đang trao đổi với nhóm về các vị trí khảo sát

Bác Trần Trọng

Qua số điện thoại ghi ở công chùa, chúng tôi liên hệ để gặp bác Trần Trọng quản lý Vạn An Thạnh. Chỉ sau 10 phút bác đã đến mở cửa bảo tàng, giới thiệu cặn kẽ về bộ xương cá nhà táng (thuộc họ cá voi) có chiều dài trên 17 m. Bác Trọng cũng cho biết, đầu năm 2016, Ban quản lý khu di tích lịch sử Vạn An Thạnh đã tiếp nhận một ông Lụy (cá voi chết – cách gọi trang trọng trong tín ngưỡng ngư dân) lớn hơn cá voi ở bảo tàng do ngư dân Bình Định lai dắt từ vùng biển phía nam đảo Phú Quí. Nghi thức an táng ông Lụy đã được tiến hành tại vịnh Triều Dương.

Bác Trọng giới thiệu về Vạn An Thạnh

Bác Đỗ Kim Long

Qua Giỏi ‘Phú Quí’ chúng tôi có số điện thoại của bác Đỗ Kim Long quản lý chùa Linh Quang, bác chính là tác giả bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí viết trên phiến đá bazan đặt tại cổng Chùa. Tấm bản đồ mà nhóm mang theo được trải trên nền sân chùa, từng vị trí trên đảo Phú Quí, nhất là đảo nhỏ Hòn Tranh được bác chỉ dẫn chi tiết. Bác Long cũng lược kể về lịch sử Chùa Linh Quang, về một vụ cháy lớn làm hư hại các pho tượng lúc chùa còn là nhà tranh, về câu chuyện Vũng Phật. Có nhiều công việc phải giải quyết nhưng bác Long vẫn dành gần 2 giờ để chỉ cho chúng tôi về Phú Quí.

Bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí. Từ bài thơ này nhóm tìm gặp bác Đỗ Kim Long (tác giả bải thơ) để xác định các địa danh trên bản đồ
Bác Đỗ Kim Long trao đổi với nhóm về các địa danh trên đảo Phú Quí

Vũng Phật, một vũng nhỏ khoét vào vách đá vụn núi lửa ở tây nam Hòn Tranh. Người dân Phú Quý nói rằng, khi chùa Linh Quang bị cháy, tượng phật bị thiêu rụi; tại vũng này có một linh thạch dáng phật nổi lên vào những ngày trời xanh, biển lặng. Ngư dân đã thỉnh tượng phật về đặt tại chùa Linh Quang để thờ cúng. Kể từ đó đảo Phú Quí thanh bình, dân đảo an lành. Vũng Phật đến giờ vẫn là chỗ dựa tinh thần của ngư dân khi ra khơi đánh bắt cá, tôm.

Bác Năm Quang

Khảo sát khu vực Gành Hang xong, chúng tôi ghé quán nước bác Năm Quang ở lối vào cột cờ Phú Quí. Các hũ rượu ngâm dứa tươi màu nâu thẫm rất bắt mắt, thế là câu chuyện về các cây thuốc trên đảo được bác Năm Quang say sưa kể: rượu dứa trị sỏi thận, hạn chế bệnh tiểu đường; cây ngũ trảo (từ bi) trị bệnh phong, đau nhức; cây chân âm có tác dụng điều hòa máu cho sản phụ; cây rau lẻ (hải sâm) trị bệnh phát ban, nấu canh. Bác năm Quang kể thời trẻ thường đi lấy cây thuốc cho mọi người, đó là việc làm từ thiện mà bác yêu thích.

Hỏi bác Năm Quang về những cây làm thuốc trên đảo Phú Quí

5. Trở về

Ba ngày trên đảo trôi qua thật nhanh, lộ trình và khối lượng đặt ra cho chuyến đi về cơ bản hoàn thành, nhưng để hiểu biết về tự nhiên, văn hóa/lịch sử của hòn đảo này cần thời gian hàng tháng, hàng năm.

Tiếc nhất trong chuyến đi tới đảo lần này là không đón được bình minh ở Gành Hang do không đặt được chỗ khách sạn tại Vịnh Triều Dương.

6:30 ngày 07, trả hai xe máy, Giỏi ‘Phú Quí’ nói mọi người cứ để xe (cả chìa khóa xe) tại bến tàu.

7:00 về Phan Thiết trên tàu Hưng Phát, tàu cũ hơn, chạy chậm hơn, trên 60 tuổi lại không được giảm vé (hình như trên 70 mới được xem là người cao tuổi). Nhưng đi tàu Hưng Phát được ngồi trên mui để ngắm biển, trời bao là và đảo Phú Quí từ khơi xa.

11:00 tàu tới cảng Phan Thiết, ăn trưa tại cảng. 12:00 lên tàu hỏa để trở về Sài Gòn – kết thúc một chuyến đi đẹp đến Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu.

H & H

 

 

 

Đặc thù địa học trong các công viên địa chất quốc gia dự kiến thuộc dải ven biển Nam Trung Bộ

Nguyễn Thị Quế Nam, Hà Quang Hải

Ba CVĐC cấp quốc gia dự kiến thuộc dải ven biển Nam Trung Bộ đều là những khu vực có đặc thù về địa học: 1) CVĐC Đảo núi lửa Lý Sơn được cấu thành từ những vật liệu núi lửa chủ yếu phun nổ vào Holocen muộn. 2) CVĐC Bờ biển Phú Yên có sự đa dạng về địa chất và địa mạo với sự hiện diện của đá cổ nhất từ Tiền Cambri (Precambri) cách ngày nay khoảng trên 570 triệu năm. 3) CVĐC Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận có sự đa dạng về địa hình tạo bởi cát nổi bật bởi cao nguyên cát đỏ hùng vĩ được giới hạn phía đông là bờ biển đá và những cung bờ tuyệt đẹp được định hình bởi các mũi nhô đá granit.

1. Công viên Địa chất Đảo núi lửa Lý Sơn

Lý Sơn gồm gồm 2 đảo là Cù Lao Ré (xã An Hải, xã An Vĩnh) và Cù Lao Bờ Bãi (xã An Bình). Địa mạo đặc trưng của đảo núi lửa Lý Sơn thể hiện rõ nét như sau:

– Đảo có các nón núi lửa phun nổ (trong đó núi lửa Hang Câu – chùa Hang và Thới Lới có cùng họng phun). Các nón núi lửa có hình dạng khá nguyên vẹn, nhô cao trên đảo phổ biến có miệng dạng trũng.

– Bazan dòng chảy hình thành lớp phủ thấp dưới chân các nón núi lửa.

– Trầm tích biển chủ yếu là cát kết san hô, đá rạn san hô phân bố xung quanh đảo bị ngập triều thường xuyên.

– Sự phá hủy của sóng biển vào sườn núi lửa và lớp phủ bazan đã hình thành các dạng địa hình lý thú ven đảo như: vách biển, hang biển, bờ biển đá, tháp đá…, trong đó hấp dẫn nhất là vách biển Hang Câu – Chùa Hang, nơi để lộ mặt cắt cấu trúc núi lửa và quan hệ địa tầng giữa đá vụn núi lửa phủ trên các lớp cát kết san hô.

1.1.1 Các nón núi lửa giữa biển khơi

Trên Cù lao Ré có 6 nón núi lửa nội đảo và 5 biểu hiện dưới biển, trong đó núi Thới Lới chồng trên Hang Câu – Chùa Hang là núi lửa hai tầng. Đây là núi lửa lớn nhất đảo với độ cao 175 m. Hình thái và cấu trúc phân lớp núi lửa này có thể nhận dạng dễ dàng bằng việc giải đoán ảnh vệ tinh. Các lớp cấu tạo núi lửa Hang Câu-Chùa Hang cắm thoải, trong khi đó các lớp cấu tạo núi Thới Lới dốc hơn cắm trên vành miệng núi Hang Câu – Chùa Hang.

Núi lửa Thới Lới chồng lên núi Hang Câu – Chùa Hang. Nguồn: Fly Cam của Minh Hoàng, Bùi Trung

1.1.2 Vách biển Hang Câu – Chùa Hang

Vách biển hiện đại Hang Câu – Chùa Hang cao 20 – 40 m dài 1250 m để lộ cấu trúc núi lửa cực kỳ ấn tượng. Đi dọc theo vách biển này quan sát rất rõ các trầm tích gồm sạn kết tuf, cát kết tuf, bột kết tuf phân lớp, phân dải, lượn sóng chứa các mảnh đá, khối đá bazan kích thước từ 1 – 2 cm đến 1,0 m.

Cấu trúc trầm tích núi lửa phun nổ tại Hang Câu

1.1.3 Cát trắng san hô

Các bãi cát nhỏ nhỏ, hẹp phân bố rải rác bờ bắc cù lao Ré, bờ tây và nam cù lao Bờ Bãi hoặc tích tụ trong các hố, trũng trên bãi biển mài mòn đều là cát san hô, ít hơn là các mảnh vụn sinh vật biển khác (sò, ốc). Các bãi cát trắng thường có sự thay đổi hình dạng theo mùa phụ thuộc vào chế độ sóng biển. Cát trắng – cát san hô là nguồn vật liệu quan trọng trong canh tác tỏi, hành ở Lý Sơn.

1.1.4 Đa dạng địa hình bờ biển

Các quá trình phong hóa, bóc mòn và tác động của sóng biển vào cấu trúc núi lửa đã tạo nên sự nhiều dạng địa hình có hình thù độc đáo như: nấm đá, tháp đá, hang biển; cầu đá, bãi biển dạng túi. Một số dạng địa hình tạo nên cảnh biểm hấp dẫn lượng lớn du khách đến Lý Sơn thăm quan hàng năm như Cổng Tò Vò ở cù lao Ré.

2. Công viên địa chất Bờ biển Phú Yên

Dải bờ biển Phú Yên dài 180 km bắt đầu từ Vũng Rô – Đèo Cả (huyện Đông Hòa) đến đầm Cù Mông (thị xã Sông Cầu), đi qua 4 huyện và thành phố đó là huyện Đông Hòa, thành phố Tuy Hòa, huyện Tuy An và thị xã Sông Cầu.

Sự đa dạng về cấu trúc địa chất, thạch học, địa hình, địa mạo đã tạo cho vùng ven biển Phú Yên nhiều cảnh quan hấp dẫn. Đây là nơi hội tụ của các đới kiến tạo, có lịch sử  phát triển từ tiền Cambri đến nay. Cùng với sự tham gia của hầu hết các quá trình địa chất như magma (xâm nhập, phun trào), biến chất; trầm tích (sông, hồ, biển, gió); các hoạt động kiến tạo như nén ép, tách giãn với các hệ thống đứt gãy, khe nứt theo nhiều phương khác nhau kết hợp với sự chạm khắc của quá trình ngoại sinh (phong hóa, bóc mòn, mài mòn, vận chuyển vật liêu sông suối, biển gió, …) để lộ ra sự đa dạng của các hệ tầng tạo nên tính đặc thù của cảnh quan và địa hình khu vực. Một số thắng cảnh nổi tiếng được công nhận như đầm Ô Loan, gành Đá Dĩa, vịnh Xuân Đài.

2.1 Đa dạng địa chất

Nổi bật là sự đa dạng các loại đá – sản phẩm của các quá trình địa chất với sự hiện diện 6 phân vị hệ tầng trầm tích – phun trào, 7 phức hệ đá magma xâm nhập. Các đá biến chất cổ hiện diện như hệ tầng Tắc Pỏ (Tiền Cambri), hệ tầng Phong Hanh (Ordovic). Trẻ nhất là các trầm tích Holocen có nhiều nguồn gốc khác nhau như sông, biển, đầm lầy, vũng vịnh và gió.

Địa tầng và các kiểu đá chính dọc bờ biển Phú Yên
Bazan cột Gành đá Dĩa. Ảnh: Huỳnh Lê Viễn Duy

Sự xuất lộ các cấu trúc địa chất có giá trị khoa học cũng đã được ghi nhận dọc ven biển Phú Yên, như:

– Các cột đá bazan trụ uốn cong xuống mặt biển.

– Quan hệ địa tầng: basalt Xuân Hòa phủ trên các trầm tích phân lớp mỏng, nằm ngang thuộc hệ tầng Kon Tum.

– Ranh giới giữa đá xâm nhập granit biotit thuộc phức hệ Đèo Cả 3 và basalt Xuân Hòa.

Cột đá bazan uốn cong tại Gành đá Dĩa

2.2 Đa dạng địa hình, địa mạo

Sự đa dạng địa hình, địa mạo dải bờ biển Phú Yên do tác động của sông, biển, phong hóa và quá trình sườn cắt xẻ vào các đá móng có thành phần khác nhau. Trên quy mô lớn, dải bờ biển Phú Yên bao gồm các cảnh quan địa mạo: 1) Cảnh quan Đèo Cả nơi có núi Đá Bia – một địa danh nổi tiếng; 2) Đồng bằng Tuy Hòa nơi có cửa sông Đà Diễn; 3) Bờ biển Phú Yên với những cảnh đẹp như Vịnh Xuân Đài, Gành Dĩa, Đầm Ô Loan… Các dạng địa hình mài mòn, xâm thực phổ biến là các vách biển (cliff), khối đá sót mũi nhô (stack), nền mài mòn (platform), hang biển. Các dạng địa hình tích tụ cũng khá đa dạng bao gồm các đê cát chắn cửa sông, cửa đầm, vũng, vịnh, các đê cát nối đảo (tombolos), các mũi cát, bãi biển cuội, bãi biển cát.

3. Công viên địa chất Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận

Dải bờ biển Ninh Thuận dài 105 km, với rất nhiều kiểu địa mạo đa dạng: vũng, vịnh, bờ đá, mũi nhô, bờ san hô cổ, đụn cát di động, đầm phá, đảo đá ven bờ. Trong đó, có thể kể đến một số geosite đặc trưng như: vịnh Vĩnh Hy, Hòn Đỏ, đồi cát Nam Cương, mũi Dinh.

Bình Thuận có đường bờ biển dài hơn 150 km có nhiều geosite mang giá trị khoa học và giá trị bổ sung cao. Đó là các mũi nhô đá xâm nhập, phun trào; các vịnh biển, bãi biển, thềm biển, vách biển do hoạt động mài mòn và tích tụ và cao nguyên cát đỏ rộng lớn, các đụn cát hiện đại do gió. Các geosite đặc trưng có thể kể đến là Suối Tiên, mũi Kê Gà và bãi đá Cổ Thạch, Gành Son.

3.1 Cao nguyên cát Đỏ Phan Thiết

Địa hình nổi bật dải ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận là Cao nguyên Cát đỏ, phân bố chủ yếu từ Phan Rang đến Hàm Thuận Nam. Một khối lượng cát màu đỏ ước tính 20 tỉ m3, phân bố trên diện tích khoảng 830 km2, nơi cao nhất ở bắc thành phố Phan Thiết tới 160 m so với mực nước biển. Cao nguyên Cát đỏ – một thực thể địa chất – địa mạo đới bờ kỳ vĩ, gây ấn tượng mạnh với mọi du khách mỗi khi đặt chân đến. Cao nguyên cát đỏ cũng là một phân vị địa tầng phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của các nhà địa chất trong và ngoài nước khoảng 100 năm qua.

Bề mặt cao nguyên Cát đỏ tại Hòa Thắng

Cao nguyên Cát đỏ phân bố thành ba khu vực chính: 1) Nam Phan Rang, 2) Bắc Phan Thiết và 3) Nam Phan Thiết. Lớn nhất là khu vực Bắc Phan Thiết có diện tích gần 600 km2, có vách phía đông xâm thực cao 20 – 40 m lộ cát đỏ đậm.

Chạm khắc trên cao nguyên cát đỏ là các cồn cát đỏ tái tạo, cồn cát trắng liên tục được gió tạo dáng. Diện mạo những đồi cát bay lớn như ở Nam Cương, Ninh Thuận, Đồi Hồng, Bàu Trắng (Bình Thuận) thường xuyên thay đổi.

Một không gian cát mênh mông ở Hòa Thắng với những đồi cát vàng, cát trắng được gió biển vun cao dưới nắng cháy chẳng khác gì một sa mạc. Vậy mà trecking qua sa mạc nóng bỏng đã trở thành mơ ước của nhiều người.

Chinh phục sa mạc Hòa Thắng. Ảnh: Trần Đặng Đăng Khoa

Dưới cát đỏ là cát xám trắng, sự xói mòn của biển và xâm thực của sông suối để lộ ra sự tương phản về màu sắc, thành phần vật chất và tuổi thành tạo được xem là những di sản địa chất, địa mạo có giá trị trong việc tìm hiểu điều kiện cổ địa lý của cao nguyên cát đỏ. Thung lũng Suối Tiên là một trong những di sản như vậy. Tại đây lộ một quan hệ địa chất đẹp-cát đỏ phủ bất chỉnh hợp trên cát trắng xám. Kết quả phân tích nhiệt phát quang cho thấy cát đỏ có tuổi 85000 ± 9000 năm hình thành vào giai đoạn biển tiến pleistocen muộn (MIS -5) trong khi cát trắng xám có tuổi > 204000 năm được hình thành trong giai đoạn biển tiến Pleistocen giữa (MIS – 7). Cát trắng xám giàu CaCO3 tạo địa hình giả kast dọc theo vách suối – một dạng địa hình hấp du khách.

3.2 Mũi đá, bờ biển đá và các cung bờ biển cát, bờ biển cuội

Dọc bờ biển Ninh Thuận – Bình Thuận, những dạng dạng địa hình đặc trưng khác đó là mũi đá, bờ biển đá và cung bờ biển.

Các mũi đá granit nhô ra biển như những mỏ hàn tự nhiên bảo vệ bờ biển. Tác động xâm thực của sóng biển vào hệ thống khe nứt dầy đặc chia cắt nền đá granit hình thành một phức hợp cột đủ hình dạng, kích thước, thế nằm (ngang, xiên, thẳng đứng). Một số mũi đá đã là những điểm đến nổi tiếng như Kê Gà, La Gàn, Cổ Thạch.

Bờ biển đá: tác động của sóng biển vào đá granit ở khu vực Vịnh Vĩnh Hy (Ninh Thuận) cũng tạo nên những dạng địa hình bờ biển đá mà ít thấy ở nhưng nơi khác như: các vách dốc đứng theo đường đứt gẫy như  Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và Thái An –  mũi Thị (dài 6,3 km) theo phương kinh tuyến.

Một số dạng địa hình dọc theo bờ biển đá từ Vĩnh Hy đến Láng Chổi là những hình mẫu trực quan giải thích những hiện tượng địa chất đặc biệt lý thú như sự hình thành: đá chồng, hang đá, phong hóa bóc vỏ, tafoni do phong hóa muối.

Các cung bờ biển cát, bờ biển cuội

Các mũi đá nhô ra biển có vai trong chính trong việc hình thành các đường bờ biển dạng vòng cung với các bãi biển cát hay bãi biển đá tuyệt đẹp như Ninh Chữ, Mũi Dinh, Cổ Thạch, Gành Son, Mũi Né, Phan Thiết. Cảnh quan, hình dáng, độ lớn, thành phần và màu sắc trầm tích trong các cung bờ biển cũng là đối tượng thu hút du khách cũng như các khoa học gia trong lĩnh vực địa chất, địa mạo.

Cung bờ biển cát Ninh Chữ, Ninh Thuận . Nguồn: phanrangninhthuan.com

Tóm lại: Núi lửa hai tầng Thới Lới với sự xuất lộ cấu trúc phun nổ tại vách biển Hang Câu – Chùa Hang; bờ biển xâm thực lộ đá bazan cột Gềnh đá Dĩa và cao nguyên Cát Đỏ Phan Thiết là những geosite địa chất, địa mạo có giá trị khoa học và thẩm mỹ thuộc loại quí, hiếm Việt Nam. Các geosite này đáp ứng các tiêu chí xây dựng Công viên Địa chất Quốc gia.

 

Lớp cao học Quản lý TNTN và MT – K28 khảo sát hoạt động khai thác và cải tạo mỏ

Sau khi kết thúc phần lý thuyết môn Khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường, chủ nhật 24/03 dẫn 16 bạn học viên cao học khảo sát thực tế hoạt động khai thác khoáng sản (chủ yếu là vật liệu xây dựng) tại ba khu vực: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Châu Thới và Bửu Long. Nội dung khảo sát gồm:

– Các moong khai thác đá, khai thác đất bỏ hoang (trong khuôn viên Đại học Quốc gia)

– Các mỏ đang diễn ra hoạt động khai thác (khu vực Châu Thới)

– Các moong khai thác đá được cải tạo thành Khu du lịch Bửu Long (Phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa).

Một vài hình ảnh dưới đây phần nào nói lên việc sử dụng đất tại các khu vực này.

Hồ Đá (Đại học Quốc gia TP.HCM, trước nhà khách)

Quanh hồ Đá có một số vết lộ mà sinh viên có thể tìm hiểu về thạch học, cấu trúc và khoáng sản
Chọn một vị trí đẹp chụp ảnh kỷ niệm chuyến đi
Hàng rào mới kiên cố hơn thay thế hàng rào cũ. Tuy vậy một vài nơi song sắt đã bị phá

Hồ đất (cạnh Viện Tài nguyên và Môi trường)

Khu vực cấm vào vườn bạch đàn ven hồ đất
Năm nay ai đó có (sáng kiến) dùng xích khóa lu nhựa đựng rác vào gốc cây bạch đàn
Nhưng rác vẫn khủng khiếp
Vẫn tụ tập giải trí, buôn bán và tự xử lý rác (đốt)
Một diện tích rất rộng mặt hồ đất ken kín lục bình
Vừa câu cá vừa thư giãn bên hồ. Hàng rào quanh hồ nay chỉ còn những cột bê tông

Khu vực Châu Thới

Cúng bái tại chùa Núi Châu Thới
Mỏ Núi Nhỏ cách chùa Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam
Bãi tập kết sản phẩm tại chân núi Châu Thới
Mỏ Tân Đông Hiệp cách chùa Châu Thới khoảng 800 m về phía tây bắc. Hiện mỏ đã được khai thác tới độ sâu 100 m

Khu du lịch Bửu Long (thành phố Biên Hòa)

Trước hồ Long Ẩn (được cải tạo từ moong khai thác đá)
Yếu tố văn hóa Tây Nguyên năm nay xuất hiện trong Khu du lịch
Một điểm nhấn mới tại khu du lịch

H &H

 

 

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ DO KHÔNG THỂ PHÊ DUYỆT DỰ ÁN HỆ THỐNG THỦY LỢI CÁI LỚN – CÁI BÉ [1]

GS. Nguyễn Ngọc Trân [2]

1.Trích QĐ 498/ TTg, 14.07.2017 về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé

Mục tiêu đầu tư

– Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn  – Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang;

–  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định;

– Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn;

– Kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án.

Quy mô đầu tư:

Xây dựng cụm công trình giai đoạn 1, gồm các hạng mục:
– Cống Cái Lớn, cống Cái Bé;
– Đê nối hai cống Cái Lớn, Cái Bé với Quốc lộ 61;
– Kênh nối sông Cái Lớn – Cái Bé;
– Sửa chữa cống âu Tắc Thủ.

Tổng mức đầu tư dự kiến: 3.309,5 tỷ đồng

7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau: (1) Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động của dự án; (2) Nghiên cứu tác động của công trình đến vùng hưởng lợi; (3) Về công tác quản lý vận hành, (4) Bổ sung đánh giá, phân tích so chọn giải pháp bao lớn và bao vừa; (5) Xác định vị trí âu thuyền Ninh Quới, (6) Đề xuất giải pháp lấy nước mặn cho vùng sản xuất lúa tôm; (7) Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Chúng tôi đã viết 4 bài báo liên quan đến dự án:

Những âu lo về dự án 3000 tỷ cống Cái Lớn-Cái Bé
http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/nhung-au-lo-ve-du-an-3000-ty-cong-cai-lon-cai-be-3335949/

Hai dự án đầu tư công ngàn tỷ cần soi kỹ

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/hai-du-an-dau-tu-cong-ngan-ty-can-soi-ky-3344861/

Làm rõ vì ngân sách và vì quản lý nhà nước

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/lam-ro-vi-ngan-sach-va-vi-quan-ly-nha-nuoc-3345231/

Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé và NQ 120

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-va-nghi-quyet-120-3363756/

vì theo chúng tôi:

(1) 7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau quyết định thành bại của Dự án. Khi chưa làm rõ triển khai giai đoạn 1, bắt tay xây dựng các cống có nguy cơ đâm lao sẽ phải tiếp tục phóng theo lao. Phải tiết kiệm từng đồng ngân sách nhà nước, nợ công đã rất cao.

(2) Cần thực hiện đúng Nghị quyết 120 của CP về phát triển bền vững ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu;

(3) Không thể họp hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM khi dự án chưa được “phản biện khoa học và khách quan”. Sau phản biện, Hội đồng sẽ có thêm cơ sở để thẩm định.

2.Môi trường vật lý của địa bàn dự án

Vùng dự án trải ra từ phía Nam của đồng lũ mở Tứ Giác Long Xuyên, đồng lũ nửa kín Tây Nam sông Hậu, trũng treo U Minh và trũng trung tâm Bán đảo Cà Mau[3]. Hình 1.

Gọi là đồng lũ mở là vì lượng nước vào, sau một thời gian ngắn thoát ra khỏi đồng lũ. Về phía Nam, việc thoát nước khó dần chuyển tiếp sang đồng lũ nửa kín, úng ngập dài ngày. Sông Cái Lớn, sông Cái Bé là cửa thoát nước duy nhất của đồng lũ ra Biển Tây.

Hình 1. Môi trường vật lý ĐBSCL và vùng dự án HTTL CL-CB

Treo là vì địa hình cao hơn xung quanh. Trũng vì là một bồn chứa than bùn dày đến hơn 5-6 mét. Trũng than bùn “ngậm” nước mùa mưa và “nhả” nước ngọt trở ra màu nước trà vào mùa khô, đặc biệt qua sông Trẹm và sông Cái Tàu.

Trũng trung tâm, địa hình rất thấp, là nơi giao thoa giữa triều Biển Đông, Biển Tây và sông Hậu. Rất khó thoát nước, vào mùa khô nước mặn trên mặt và mao dẫn từ dưới đất sắc lại, độ mặn rất cao.

Địa hình vùng dự án

Nước chảy về chỗ trũng là một quy luật. Vì vậy trong một dự án liên quan đến thủy lợi, yếu tố địa hình là quan trọng hàng đầu.

Trong các đơn vị môi trường vật lý đã hàm chứa địa hình: trũng, treo, đồng lũ, … Địa hình cụ thể của vùng của dự án được sưu tầm từ Chương trình 60-02, 60-B và gián tiếp qua bản đồ các tỉnh có nguy cơ bị ngập do BĐKH, nước biển dâng (Bộ TNvMT công bố năm 2009, và 2012).

Hình 2a là bản đồ địa hình liên quan đến một của vùng dự án mà CT 60-B đã xây dựng từ các mảnh bản đồ mộc tỷ lệ 1/50000 có cấy điểm độ cao. Sơ đồ cho thấy phía Tây Nam của đồng lũ nửa kín Tây sông Hậu là vùng trũng nhất và đường tháo của nước là cửa hai sông Cái Bé và Cái Lớn.

Địa hình còn gián tiếp được thể hiện qua bản đồ những địa bàn có nguy cơ bị ngập tĩnh khi mực nước biển dâng dâng lên 65 cm do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố [4]. Hình 2b.

Hình 2a
Hình 2b

Hoạt động kiến tạo đã qua tại châu thổ sông Mekong giúp hiểu địa hình trong vùng dự án. Đó là đứt gãy kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ dãy Cardamones (Campuchia) sang trong địa bàn Cái Lớn – Cái Bé; đứt gãy sông Hậu cũng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; đới nâng Hòn Khoai theo hướng Nam – Bắc dọc theo bờ biển Tây; và đới nâng Sóc Trăng theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Hình 3.

Hình 3: Hoạt động kiến tạo đã qua liên quan đến địa bàn dự án

Mưa và bốc hơi

Mưa được đề cập khá nhiều trong báo cáo tóm tắt: phân bố lượng mưa theo không gian, trong vùng hưởng lợi của dự án, trong mô hình mặn ngọt luân canh, chống ngập úng mùa mưa… Rất tiếc báo cáo chỉ đưa ra những con số bình quân chung chung (như “rất cao từ 2200 – 2400 mm/năm”, trang1). Báo cáo dường như không quan tâm đến diễn biến của lượng mưa trên địa bàn ra sao trong các thập niên qua, mặc dù sự diễn biến này ảnh hưởng đến việc chống ngập úng, đến mô hình luân canh mặn ngọt.

Tìm hiểu từ kho số liệu khí tượng thủy văn hết sức quý báu, chúng tôi thu nhận được một số thông tin đáng quan tâm, xin giới thiệu để hội thảo tham khảo và cùng suy nghĩ về ý nghĩa đằng sau các con số.

Hình 4. Diễn biến của lượng mưa năm tại các trạm thủy văn Xẻo Rô, Vĩnh Thuận, Cà Mau, Gành Hào.

Nếu lượng mưa ở trạm Xẻo Rô tăng (∆ = 12,8 mm/năm, trong các năm 1987-2017), ở Gành Hào tăng (∆ = 29,7 mm/năm trong các năm 1988-2008) thì ngược lại tại Cà Mau giảm (∆ = – 32,0 mm/năm) trong thời đoạn (1996-2017); ở Vĩnh Thuận giảm (∆ = -37,8 mm/năm) trong thời đoạn 1990-2013.

Việc sụt giảm lượng mưa tại Cà Mau và tại Vĩnh Thuận có liên quan đến việc chặt phá rừng tràm tại U Minh Hạ và U Minh thượng hay không? Nếu có, việc phá rừng tràm để trồng lúa tại U Minh, chẳng những làm giảm lượng nước ngọt trữ trong trũng treo U Minh, làm thiếu hụt nước ngọt vào mùa khô, mà còn làm giảm nguồn cung nước ngọt từ mưa trên địa bàn.

Việc chặt phá rừng tràm chắc chắn còn làm gia tăng độ bốc hơi. Rất tiếc chúng tôi chưa tìm được số liệu tại địa bàn cần tìm.

3.Địa bàn dự án đã được khai thác ra sao trong các thập niên đã qua

Sợi chỉ đó xuyên suốt trong khai thác vùng ĐBSCL là đưa nước ngọt về, và ngọt hóa nơi nào có thể, để sản xuất lúa gạo, mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ, tăng năng suất.

3.1. Khai thác nước ngọt của Trũng treo U Minh

Ảnh vệ tinh cho thấy sau năm 1975, diện tích rừng tràm giảm nhanh chóng, nhường chỗ cho diện tích canh tác lúa ngày càng mở rộng trong Trũng treo U Minh. Nhiều kinh đã được đào trong hai rừng tràm U Minh Thượng và U Minh Hạ. Cháy rừng tràm đã xảy ra thường xuyên. Bề dày của các tầng than bùn mỏng dần, thậm chí có nơi hầu như “chạm đáy”. Khả năng ngậm nước ngọt giảm dần cùng với nguy cơ cháy rừng tăng [5]. Hình 5.

Hình 5. Ảnh vệ tinh Landsat vùng trũng treo U Minhvào các năm 1973, 1979, 1993 và 2017

Trũng treo U Minh với hệ sinh thái rừng tràm ngập nước, một nơi cung cấp nước ngọt, với dịch vụ hệ sinh thái đa dạng, phong phú, ngày càng kiệt quệ trong nhiệm vụ cung cấp nước ngọt, ngay cả để chống cháy cho chính mình. Kênh Cán Gáo nối với sông Trẹm cung cấp nước ngọt cho mạng lưới kênh xương cá ngày càng dày về phía các huyện An Minh, An Biên và sông Cái Lớn. Điều này thể hiện rõ qua các ảnh vệ tinh dưới đây vào các thời điểm 1973, 1979, 1993 và 2017.

Việc khai thác nước ngọt quá mức trong trũng treo U Minh phục vụ canh tác lúa có ít nhất ba hậu quả nghiêm trọng.

Trước tiên đó là sự cạn kiệt dần và nhanh chóng nguồn nước ngọt trong trũng treo, kéo theo hậu quả thứ hai là sự kiệt quệ hệ sinh thái ngập nước ngọt ở đây như đã đề cập. Hậu quả thứ ba là mặn xâm nhập vào từ hai phía, theo kênh Cán Gáo và từ bờ Biển Tây, nhất là vào mùa khô.

Cần đánh giá khách quan và toàn diện các mặt việc khai thác trũng treo U Minh thay vì đỗ lỗi một cách dễ dãi cho sự thiếu đầu tư đồng bộ và từ đó dấn thêm vào việc hủy hoại hệ sinh thái tự nhiên vốn có của nơi này.

3.2. Các tác động lên các đồng lũ ở hữu ngạn sông Cái Lớn

Từ cuối thập niên 1980, sau thành công của việc chuyển nước sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây, bằng kênh Hồng Ngự – Long An (còn được gọi là “Kênh Trung ương”) đưa nước từ sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây để khai thác một vùng rộng lớn của Đồng Tháp Mười còn hoang hóa, Bộ Thủy lợi đã tìm cách làm điều tương tự, dẫn nước ngọt từ sông Hậu về để tăng diện tích canh tác lúa.

Hàng chục kênh các cấp đã được đào trong vùng Tây sông Hậu là minh chứng cho nỗ lực này. Tuy nhiên kết quả không như mong đợi, thậm chí còn tạo ra rất nhiều hậu quả bất cập, mặc cho hàng trăm cống các cỡ, hàng trăm trạm bơm đã được xây dựng. Hình 6.

Có ít nhất ba hậu quả.

Hậu quả trước tiên là tăng cường úng ngập trong lưu vực sông Cái Bé, Cái Lớn với lượng nước từ sông Hậu cuối cùng đổ về đây mà bây giờ mục tiêu thứ ba của dự án HTTL Cái Lớn Cái Bé là phải tiêu úng giảm ngập.

Hình 6. Mang lưới kênh các cấp và các cống trong đồng lũ Tây sông Hậu. Có thể nhận thấy trong mạng lưới kênh trong hình trên đây, hầu hết các kênh trước 1975 được đào theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, song song với sông Hậu.

Hậu quả thứ hai là các kênh đào sau này tạo ra rất nhiều điểm giáp nước (nước đứng) mà các cống, rất nhiều, không tháo ra được. Môi trường nước bị ô nhiểm, trầm tích lắng đọng, lục bình sinh sôi nãy nở, giao thông thủy gặp thêm khó khăn ngoài các cống đóng mở.

Hậu quả thứ ba là lượng nước trước đây theo các kênh hướng Tây Bắc – Đông Nam chảy về lung Ngọc Hoàng, về lâm trường Phương Nam, và xa hơn nữa về trũng trung tâm rất cần nước ngọt, nay bị các điểm nước đứng ngăn chận lại.

Một lần nữa, chúng tôi nghĩ cần phải đánh giá khách quan và khoa học những bất cập này là từ đâu ra để có hướng giải quyết đúng.

3.3. Ngọt hóa BĐCM: hàng loạt cống, âu thuyền tác động lên Trũng trung tâm được xây dựng nhưng hầu hết chưa bao giờ hoạt động đúng như thiết kế

Dự án Ngọt hóa BĐCM được triển khai, một mặt bằng đào Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp và bơm nước ngọt từ sông Hậu vào kênh này. Mặt khác bằng xây dựng 11 cống dọc theo QL 1A, và cống Bạch Ngưu, cống Cà Mau và âu thuyền Tắc Thủ để ngăn không cho mặn vào vùng ngọt hóa.

Các cống xây dựng và vận hành không đồng bộ là một lẽ, nhưng chủ yếu vì nước ngọt về không đủ vào mùa khô, nên ngoại trừ phần phía Đông Bắc (về phía Sóc Trăng) nằm ngoài Trũng trung tâm, dự án ngọt hóa không thành công. Mùa mưa phải mở cống để Trũng trung tâm không bị ngập úng. Mùa khô phải mở cống để lấy nước mặn nuôi tôm và để tránh nẻ đất, xì phèn. Chức năng “theo thiết kế” của các công trình thủy lợi của Dự án Ngọt hóa BDCM về cơ bản có thể xem là chỉ thành công về phía Sóc Trăng, thất bại ở phía Cà Mau. Ngoài ra còn có những vùng nước đứng, như ở huyện Phước Long, gây ô nhiểm nặng môi trường nước.

Đây là một bài học rất đắt giá về quy hoạch duy ý chí, không tôn trọng các quy luật, hoặc nghiên cứu khả thi làm không có chất lượng, thiếu trách nhiệm.

Hình 7. Hoạt động của các CTTL trong dự án Ngọt hóa BĐCM trên thực tế

4.Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng thực tế tại địa bàn dự án

Một trong những mục tiêu đầu tư của dự án là “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, …”

Căn cứ vào dự báo mực nước biển dâng mà Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố để chạy mô hình là chưa đủ, bởi lẽ trên thực địa, không phải MNBD mà Bộ TNvMT công bố, mà là MNBD thực tế [6].

MNBD thực tế = MNBD tương đối + Độ sụt lún tự nhiên + Độ sụt lún gia tốc

trong đó độ sụt lún tự nhiên là do quá trình nén dẽ nền đất và do canh tác; độ sụt lún gia tốc là do khai thác nước ngầm, khoáng sản trong lòng đất, do xây dựng nhà máy, sân bay, phát triển đô thị , … Độ sụt lún gia tốc càng quan trọng khi nền đất càng yếu.

Hiện nay, theo hiểu biết của chúng tôi, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang có một dự án đo đạc độ sut lún để xây dựng bản đồ sụt lún ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trong khi chờ đợi, chúng tôi trích dẫn một nghiên cứu (mà chúng tôi cho là nghiêm túc hiện có), đánh giá tốc độ tụt của mặt nước trong các giếng khoan và tốc độ sụt lún mặt đất tại đồng bằng sông Cửu Long [7]. Hình 8.

Theo nghiên cứu này, địa bàn của dự án sụt lún với tốc độ bình quân từ 2 đến 2.75 cm/năm. Địa bàn đã thấp, lại còn bị lún khá nhanh. Điều này ảnh hưởng ra sao đến tính khả thi mục tiêu của dự án cần được đánh giá.

Hình 8. Tốc độ tụt của mực nước trong các giếng khoan (trái), Tốc độ sụt lúb mặt đất tại đồng bằng sông cửu Long (phải).

5.Diễn biến của các mực nước đặc trưng tại các trạm thủy văn ven Biển Tây và tại Gành Hào (Biển Đông)

Mực nước biển dâng thực tế tai bờ biển đồng bằng sông Cửu Long được phản ánh trong mực nước đo đạc liên tục bằng máy tự ghi tại các trạm thủy văn ven biển. Từ mực nước này, sẽ tính được mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm và biên độ triều cao nhất năm [8].

Liên quan đến địa bàn của dự án, xin trình bày kết quả đo đạc và tính toán tại các trạm thủy văn ven Biển Tây là Xẻo Rô, Rạch Giá, và ven Biển Đông là Gành Hào trong 29 năm từ 1988 đến 2016, và tại Sông Đốc từ 1993 đến 2016.

Hình 9. Diễn biến của đỉnh triều cao nhất và chân triều thấp nhất tại Gành Hào và Xẻo Rô
∆ là tốc độ gia tăng bình quân năm (xu thế tuyến tính)

Tại Xẻo Rô, mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm, và biên độ triều lớn nhất năm đều tăng. Để theo dõi biến động theo thời gian, nhất là trong những năm gần đây, thời gian 29 năm được phân thành hai giai đoạn 1988 – 2016 và 2003 – 2016. Hình 9.

Tốc độ gia tăng bình quân năm tại Gành Hào khá cao, cao hơn trong giai đoạn 2003-2016. Tại Xẻo Rô và Rạch Giá tăng nhưng giá trị tuyệt đối ∆ không lớn bằng phía Biển Đông. Tuy nhiên so với biên độ triều Biển Tây (75–110 cm) ∆ có ý nghĩa không kém ở Biển Đông. Tại Sông Đốc, do chịu ảnh hưởng từ Biển Đông nên ∆ thấp hơn tại Gành Hào, nhưng cao hơn tại Xẻo Rô và Rạch Giá.

Đỉnh triều cao nhất năm tăng có nghĩa là lượng nước biển vào nội đồng qua trạm tăng. Chân triều thấp nhất năm tăng có nghĩa là lượng nước trong châu thổ tháo ra biển theo triều rút trở nên khó khăn hơn. Hệ lụy đến các mục tiêu của dự án không khó để suy ra.

6.Bốn lý do để không phê duyệt BC NCKT của dự án HTTL Cái Lớn, Cái Bé

(1) Lý do 1. Về mặt phương pháp luận, cho dù là một dự án thủy lợi, báo cáo NCKT phải xem xét dự án trong một khung khổ toàn diện các yếu tố của môi trường, với quan điểm hệ thống (tác động giữa các yếu tố) và động (nhịp điệu và biến động theo thời gian). Có như vậy giải pháp và việc khai thác tài nguyên để phát triển mới có thể bền vững.

Vì địa bàn bằng phẳng và cao trình mặt đất thấp, địa hình là hết sức quan trọng, nước chảy về chỗ trũng là quy luật. Không tìm thấy một bản đồ địa hình chi tiết nào của vùng dự án.

Báo cáo tóm tắt dự án nói nhiều đến mưa nhưng không tìm được một phân tích nào về mưa, diễn biến của lượng mưa trong vùng dự án.

Triều là nhịp thở của châu thổ. Địa bàn của dự án là nơi giao thoa giữa triều Biển Đông, triều Biển Tây và sông Hậu nên có nhiều nhịp đập. Cũng có nghĩa là địa bàn rất phong phú, đa dạng về hệ sinh thái và các dịch vụ hệ sinh thái. Với hệ thống cống các cỡ đã có và sẽ xây dựng, dự án sẽ góp thêm phần “nghèo hóa” chúng theo một hình mẫu sản xuất mà mình quen thuộc.

Báo cáo tóm tắt dự án và báo cáo đánh giá ĐTM có giới thiệu Bản đồ quy hoạch sử dụng đất (Hình 8, trang 14, báo cáo tóm tắt). Làm sao tin được ở chất lượng bản đồ khi mà thông tin về Thổ nhưỡng của dự án mà chúng tôi có được chỉ là một bản đồ “minh họa” của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam.

Đối chiếu với những gì chúng tôi đã sưu tầm làm cơ sở để phản biện, rõ ràng Báo cáo NCKT của dự án là phiến diện, tĩnh tại và quá sơ lược, hầu như chỉ tập trung vào vấn đề nước, và căn cứ vào kết quả chạy mô hình để kết luận.

Đây là kết quả tất yếu của việc Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé được xây dựng khép kín trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và hầu như là một sản phẩm chỉ của ngành thủy lợi [9]. Các kết quả và kết luận của Báo cáo NCKT do vậy chất lượng và độ tin cậy không cao.

Xin nói thêm vê mô hình. Sử dụng mô hình toán là cần và bổ ích để mô phỏng và tiên liệu những gì sẽ xảy ra. Tuy nhiên vì mô hình có những hạn chế bẩm sinh (từ mô hình hóa bài toán vật lý với những giả thiết đơn giản hóa), kết quả tính toán phụ thuộc vào số liệu đầu vào (ở đồng bằng thiếu rất nhiều và không được cập nhật, địa hình rất bằng phẳng) nên kết quả tính toán chỉ có giá trị tham khảo và chưa thể xem là kết luận khi chưa được đối chiếu với thực tế. Về vấn đề này, chúng tôi đã phân tích khi phản biện dự án MDS do Bộ TNvMT quản lý, ký hợp đồng với Viện Thủy Lợi Đan Mạch DHI để thực hiện [10].

(2) Lý do 2. Báo cáo tóm tắt Dự án, trong 48 trang đã 11 lần đổ lỗi cho đầu tư chưa/không đồng bộ, 7 lần viện dẫn cần đầu tư hoàn chỉnh. Như vậy là không nghiêm túc.

Cần phân tích khách quan và khoa học Nêu lên hiện trạng mà không chỉ đúng nguyên nhân, rồi từ đó kết luận là cần thiết đầu tư hai cống sẽ dẫn đến nguy cơ tiếp tục vòng xoáy tiếp tục khai thác sai, bao ví đồng bằng với quá nhiều cống đập các kích cở, đối lập con người với thiên nhiên, châu thổ với biển.

Ở đồng lũ nửa kín Tây Nam sông Hậu, đặc biệt giữa Kênh Ô Môn và Kênh Xà No có dày đặc các cống các cỡ (Hình 6) là hậu quả của các dự án ODA không được nghiên cứu tới nơi tới chốn, rồi cống sau chồng lên cống trước để tìm sự “đồng bộ” hay “hoàn chỉnh”.

Điều này trái ngược với xu thế hiện nay trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đó là chuyển từ khống chế dòng chảy theo ý muốn của con người sang dành không gian cho sông (rooms for rivers) [11; 12], dành không gian cho giao tiếp giữa con Người với Thiên nhiên.

(3) Lý do 3. “7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau” nêu lên trong QĐ 489, quyết định thành bại của Dự án. Khi chưa làm rõ, triển khai giai đoạn 1, bắt tay xây dựng các cống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường về môi trường, về sản xuất và đời sống của người dân và về ngân sách nhà nước trong khi nợ công đã rất cao.

Sau 16 tháng (kể từ ngày có QĐ 489/TTg), giai đoạn 1 và “giai đoạn sau” vẫn còn là một cái bóng mờ mờ ảo ảo.

Khi nào xong giai đoạn 1? Kết quả của giai đoan 1 cụ thể là gì? Báo cáo tóm tắt viết: “Khi công trình hoàn thành” (trang 47, dòng 12 từ dưới đếm lên). Khi đó là khi nào? Còn phải đầu tư những công trình nào nữa, ở đâu, lúc nào, bao nhiêu thì mới gọi là đầu tư hoàn chỉnh, đồng bộ, công trình hoàn thành?

Không thể phê duyệt khống về nội dung như vậy. Phải làm rõ để nếu sau này hiệu quả của dự án không như báo cáo thì biết tại sao và từ đâu, trách nhiệm thuộc về khâu nào, và về ai.

(4) Lý do 4. Báo cáo đánh giá ĐTM là một tài liệu “kỳ lạ” về cấu trúc, nội dung và nhất là về vị trí.

Báo cáo có 467 trang A4. Hai chương đầu dài gần 100 trang mà nội dung có thể trình bày tối đa không đến 15 trang. Chương Hai, Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực thực hiện dự án, dài 150 trang, trong này đặc điểm thổ nhưỡng được 22 từ và một hình minh họa phân bố các loại đất của ĐBSCL do Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam thực hiện; đoạn về đặc điểm về mưa sử dụng một số bảng biểu mà nguồn là từ Báo cáo NCKT 2018. …

Chúng tôi tự hỏi sự hiện diện khá “đồ sộ” về số trang của Chương 2 có chủ đích gì sau khi đọc các chương sau. Đọc phần “Kết luận, Kiến nghị và Cam kết” ở cuối báo cáo, chúng tôi không hiểu vị trí của BC ĐG ĐTM trong “hồ sơ” dự án là gì.

Sau khi đọc phiên bản đã trình Hội đồng thẩm định và phiên bản “chưa hoàn thiện” (thật ra khó tìm được những khác biệt, cả hai đều dày 467 trang A4), chúng tôi mới ngộ ra rằng BC ĐG TĐMT được xây dựng hoàn toàn khác với chờ đợi của chúng tôi.

Nội dung của BC chủ yếu là đánh giá tác động lên môi trường của việc chuẩn bị và triển khai thực hiện dự án. Còn những chương khác hầu hết là từ “cắt và dán” (copy & paste) từ báo cáo NCKT.

Trong khi đó, chúng tôi chờ đợi báo cáo đánh giá tác động lên MT nếu dự án hoàn thành và đi vào vận hành. Bởi có như vậy việc thẩm định dự án (BC NCKT) mới mang đầy đủ ý nghĩa trước khi dự án được phê duyệt để thực hiện.

Phê duyệt BC ĐGĐTM, như nó được thực hiện, theo chúng tôi là một sai lầm.

Vì bốn lý do trên đây, chúng tôi cho rằng không thể phê duyệt báo cáo NCKT của dự án HTTL Cái Lớn, Cái Bé.

Chúng tôi rất hiểu và thông cảm với những bức xúc của các tỉnh và của người dân trong vùng dự án đang chờ đợi dự án được duyệt theo giới thiệu của chủ đầu tư.

Chúng tôi viết phản biện này xuất phát từ nhận thức rằng không thể giải quyết các bức xúc này bằng hệ thống thủy lợi Cái Lớn, Cái Bé, vì không đủ cơ sở khoa học, thậm chí có nguy cơ môi trường sẽ càng nghèo kiệt hơn, xấu hơn, sản xuất, đời sống và sinh kế của người dân không ổn định, không bền vững.

Chúng tôi cũng hiểu là nhận thức điều này không dễ vì liên quan đến tập quán, đến sự lựa chọn giữa cái trước mắt và di sản về môi trường mà chúng ta sẽ để lại cho các thế hệ mai sau.

7.Không xây hai cống Cái Lớn, Cái Bé, sắp tới làm gì?

Theo chúng tôi có mấy việc sau đây cần làm.

(1) Phải quán triệt và thực hiện nghiêm NQ 120, đặc biệt 3 ý chỉ đạo:

(1) “Mọi dự án công trình phải được tính toán thật kỹ, được phản biện khách quan, khoa học, bảo đảm không hối tiếc đầu tư”;

(2) “Trước khi chọn một giải pháp công trình, phải tính toán cán cân Được – Mất trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường”.

(3) Quy hoạch phải theo quy luật. Chú ý các giải pháp phi công trình.

Có ý kiến cho rằng để “chủ động chung sống với lũ”, “kiểm soát mặn”, phải có cống.

Hiểu như vậy là hiểu chưa đúng Nghị quyết 120. Phải dự báo tốt. Phải bố trí sản xuất và đời sống của dân cư theo đúng quy luật tự nhiên, kinh tế xã hội.

Chúng tôi không nói tất cả các cống, các kênh đào là không cần hay sai. Chúng chỉ cần và đúng khi phù hợp với quy luật.

(2) Bài toán sản xuất có hiệu quả, sinh kế và đời sống người dân ổn định, môi trường được bảo vệ trong đồng lũ nửa kín Tây nam sông Hậu, trũng treo U Minh và Trũng trung tâm Bán đảo Cà Mau phải nằm trong dự án tái cơ cấu nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ, và chủ trương liên kết vùng ở đồng bằng sông Cửu Long.

Không thể để dự án HTTL CLCB, nếu được phê duyệt “khống” và đi vào thực hiện, buộc Tái cơ cấu nông nghiệp phải “đồng bộ hóa” với nó!

(3) Hội thảo hôm nay, trừ một số ít tham luận, hầu như chỉ tập trung vào các công trình.

Xin kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng) và lãnh đạo các tỉnh, trước tiên là Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau, sớm tổ chức một hội thảo về các biện pháp phi công trình, đặc biệt các giống cây trồng, vật nuôi thích hợp cho từng đon vị tài nguyên nông nghiệp trong địa bàn dự án. Hội thảo này sẽ bố sung hội thảo hôm nay, hướng tới một tổ hợp các giải pháp công trình không hối tiếc và phi công trình.

(4) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần rà soát lại hệ thống các kênh KH, các cống hiện có, đánh giá khách quan các mặt được và bất cập, sự phối hợp, đồng bộ hóa chế độ vận hành các cống trong các tiều vùng I, II và III (hình 3) [13]. Đặc biêt tổng kết dự án “Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau”. Trên cơ sở rà soát và điều chỉnh vận hành các công trình hiện có, sửa sai bằng các giải pháp công trình và phi công trình, xây dựng các công trình bổ sung sau khi được chứng minh là cần thiết và không hối tiếc./.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12.09.2018.

Kính tặng đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu Long bài viết này.

Lưu ý:  Khi trích dẫn toàn phần hay một phần bài phản biện này, cần tôn trọng ý kiến của tác giả. Các bảng, hình, biểu đồ, xin trích dẫn đầy đủ nguồn. Cám ơn.

CHÚ THÍCH:

[1] Nội dung đã được tác giả trình bày tại Hội thảo khao học tại Rạch Giá, ngày 07.09.2018.

Được thực hiện trong điều kiện khá không gấp rút (đọc hơn 500 trang A4 tài liệu nhận được từ Ban 10 không đầy 72 giờ trước hội thảo, cộng với 467 trang chiều ngày hôm trước hội thảo, bài góp ý này chưa được như tác giả mong muốn. Nó phản ánh công tác góp ý phản biện rất không bình thường. Mong rằng đây chỉ là một trường hợp cá biệt!

[2] Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Chủ nhiệm Chương trình 60-02, 60-B, “Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL” (1983-1990), Trưởng Ban Chỉ đạo Nghiên cứu Khai thác Bán đảo Cà Mau (1989-1992).

[3] Trần Kim Thạch, Bản đồ Môi trường vật lý đồng bằng sông Cửu Long, trong Báo cáo tổng hợp “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển” của Chương trình 60-B. Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội, tháng 3.1991.

[4] Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012, Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội.

[5] Xem báo cáo của tỉnh Kiên Giang về vụ đám cháy rừng tràm năm 2002. Ở tỉnh Minh Hải vào những năm 1990 cũng đã có báo cáo về hậu quả của nhiều đám cháy rừng tràm nghiêm trọng trong rừng tràm U Minh Hạ.

[6] J.P. ERICSON et all, 2006, Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82.

[7] Laura E Erban, Steven M Gorelick and Howard A Zebker, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta, Vietnam. Environ. Res. Lett. 9 (2014) 084010 (6pp).

[8] Nguyễn Ngọc Trân, Evolution of water levels at coastal hydrological stations of the mekong delta, ICEC 2018, 21-23 August 2018, University of Caen.

[9] Chủ đầu tư Dự án là Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10. Cơ quan lập các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi là một liên danh gồm Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, và Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng thủy lợi 2. Cơ quan lập Báo cáo ĐTM là Viện Kỹ thuật Biển, thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam. Và có lẽ vì vậy mà các Báo cáo NCKT, Báo cáo đánh giá ĐTM và báo cáo tóm tắt dự án “cắt” (cut) “dán” (paste) nhau khá thoải mái.

[10] Nguyễn Ngọc Trân, Nhận xét báo cáo của Dự án “Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông (MDS)”, tài liệu gửi Bộ trưởng Bộ TNvMT ngày 30.3.2016 và một số Bộ trưởng các Bộ có liên quan. Nội dung đã được trình bày tại hội thảo khoa học ngày 04.12.2015 tại Tp. Hồ Chí Minh.

[11] Nguyễn Ngọc Trân, Ghi nhận từ Hà Lan, trong Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh, 11.2011.

[12] Lương Phương Hậu, Xu thế chỉnh trị sông, Tạp chí KH&CN Thủy lợi, 2012, Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam, Hà Nội.

[13] Theo một chuyên gia đã nhiều năm công tác quy hoạch thủy lợi ở ĐBSCL: “Chỉ cần tổng kết tác dụng đích thực của một số cống điều tiết mặn và ngọt trong khu vực Tây sông Hậu nhất là vùng ven biển Tây dọc tuyến Rạch Giá-Hà Tiên và trong bán đảo Cà Mâu, sẽ thấy rất rõ là vận hành chúng rất khó khăn để cho hiệu quả cao, phần lớn là 1/3 hiệu quả, 1/3 không hiệu quả và 1/3 là phản tác dụng, cội nguồn cơ bản là do đây là khu vực nhạy cảm nhất về thủy triều hỗn tạp không những của Việt Nam mà còn là điển hình của cả thế giới, đó là “đa hướng, đa chế độ, đa độ lớn, đa pha” đeo bám nhau, đan xen nhau chằng chịt, rượt đuổi nhau theo các chiều và pha hỗn loạn theo nhịp điệu không ngưng nghỉ nằm trong một trận đồ “bát quái” không có hiệu lệnh.”. Chúng tôi xin trích nguyên văn đoạn chia sẻ trên đây của chuyên gia này.

Nguồn:

Báo Đất Việt

https://www.thiennhien.net/2018/09/14/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet/

 

Nhìn lại các công trình ngăn mặn hiện có ở ĐBSCL

Hòa Tân lược ghi

(TBKTSG Online) – LTS: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã nhận được bản thảo về “Đánh giá các hệ thống ngăn mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và dự án thủy lợi sông Cái Lớn – Cái Bé” của nhóm nghiên cứu gồm Lê Anh Tuấn – Nguyễn Hữu Thiện – Dương Văn Ni – Nguyễn Hồng Tín – Đặng Kiều Nhân.

Đây là một công trình khoa học dài hơn 15.000 chữ với 37 trang, xét thấy phần đánh giá tác động các công trình ngăn mặn phù hợp với tờ báo, nên tòa soạn xin được lược đăng. Tựa đề chính và các tựa phụ do tòa soạn đặt.

Ngọt hóa bán đảo Cà Mau

Âu thuyền Tắc Thủ: một điển hình tồi về đầu tư thủy lợi vùng Bán đảo Cà Mau

Dự án Quản Lộ – Phụng Hiệp, ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được khởi công từ những năm đầu của thập niên 1990 với vốn vay của Ngân hàng Thế giới, có trị giá đầu tư xấp xỉ 1.400 tỉ đồng (theo thời giá lúc đó). Trong suốt giai đoạn 1990 – 2000 và tiếp đến nay, hàng trăm công trình cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, giữ ngọt đã được đầu tư.

Bản đồ qui hoạch thủy lợi vùng Nam Bán Đảo cá Mau. Ghi chú: Qui hoạch được duyệt theo quyết định số 1336/QĐ-KH ngày 8/5/2009. Bản đồ không thể hiện các cống nhỏ nội đồng và các cống mới xây sau đợt hạn-mặn 2016

Theo dự tính của ngành thủy lợi, hệ thống đưa nước ngọt từ sông Hậu về bán đảo Cà Mau sẽ cung cấp nước tưới, phục vụ chủ yếu trồng lúa, cho 70.000 ha đất nông nghiệp của tỉnh Bạc Liêu, 50.000 ha đất của Cà Mau và 66.000 ha đất của Kiên Giang. Do nhiều cống ngăn mặn đã cản trở giao thông thủy nên phát sinh ra những công trình khác như hệ thống Âu thuyền Tắc Thủ, được xây dựng tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, thuộc xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình) và xã Khánh An (huyện U Minh, Cà Mau).

Âu thuyền Tắc Thủ được khởi công xây dựng từ năm 2001-2002, với tổng vốn gần 80 tỉ đồng vào thời điểm đó. Công trình này do Công ty Tư vấn xây dựng Thủy lợi II chịu trách nhiệm thiết kế và giám sát thi công xây dựng.

Tuy nhiên, công trình sau hơn 5 năm khởi công đã bắt đầu bộc lộ những bất cập trong mục tiêu và thực tế.

Từ năm 1997-1998, đã có hàng trăm nông dân đòi phá các hệ thống cống – đập này để lấy nước nuôi tôm, điển hình là sự kiện tháng 7/1998 nông dân Bạc Liêu kéo nhau phá đập Láng Trâm (xã Tân Thạnh, huyện Giá Rai).

Người dân Bạc Liêu và Cà Mau phá đập ngăn mặn (Nguồn: VTV, Giữa đôi dòng mặn ngọt). https://vtv.vn/video/phim-tài-liệu-giua-doi-dong-man-ngọt-83951.htm

Và làn sóng phá cống ngăn mặn lan sang tỉnh Cà Mau (như ở các địa điểm Vườn Cò, Rạch Mới, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân). Chính mâu thuẫn mặn – ngọt này, đến năm 2000 Chính phủ quyết định cho các tỉnh vùng ĐBSCL chuyển đổi 450.000 ha đất trồng lúa sang đất nuôi tôm, khiến mục tiêu chính dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau gần như bị thất bại.

Âu thuyền Tắc Thủ trong hệ thống ngọt hóa này là một điển hình “phá hoại” lớn của dự án: sau khi hoàn thành năm 2006, công trình trở thành một khối bê tông vô dụng, làm cản trở giao thông, gây thất thoát ngân sách và tạo nhiều bức xúc cho người dân sở tại và dư luận đánh giá xấu cho ngành giao thông – thủy lợi. Gần như đến nay, không ai chịu trách nhiệm về những đầu tư kém hiệu quả và lãng phí này.

Nguồn nước ô nhiễm

Hình ảnh phổ biến ở các vị trí công ngăn mặn: rác tích tụ và nước có màu tối đen do các chất ô nhiễm phân hủy. Cống Bãi Giá, Sóc Trăng chụp ngày 11/12/2017, Lê Anh Tuấn

Do dòng chảy sông rạch thường xuyên bị chặn lại bởi các cống, phía trong cống không còn hiện tượng nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước ròng cho mỗi chu kỳ rằm nửa tháng. Trước khi có cống – đập, biên độ thủy trình trong sông kênh có thể dao động đến gần 2 mét. Do cống đóng gần như suốt mùa khô, dòng sông lúc nào cũng đầy nước nhưng là loại nước tù, không chảy hoặc chảy lờ đờ rất chậm. Điều này khiến tình trạng ô nhiễm tích lũy trong nước rất cao. Rác rến từ nguồn thải dân cư và các chất độc như thuốc trừ sâu, thuộc diệt cỏ và phân bón tràn xuống nước tích tụ dày đặc do thiếu nguồn nước biển để rửa trôi.

Hệ quả là hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước đều rất thấp khiến khả năng tự làm sạch của nguồn nước bằng cơ chế oxy hóa, pha loãng và rửa trôi bằng thủy triều. Nước trong sông rạch mang màu đen đặc trưng và có mùi thối đặc trưng do các hợp chất hữu cơ phân hủy trong nước.

Tại những vùng nước lợ bị đóng kín tù đọng, lục bình phát triển dày đặc, nước bị ô nhiễm bời nhiều chất thải, hoàn toàn không sử dụng được cho sinh hoạt (Ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Hiện nay sông ngòi ở các vùng thủy lợi này gần như không còn sử dụng được cho mục đích ăn uống, thậm chí tắm giặt. Người dân chuyển sang sử dụng nước ngầm, nhiều giếng nước ngầm đã khoan đến độ sâu 80 – 120 m để lấy nước ngọt. Sự khai thác nước ngầm để lấy nước ngọt quá lớn vùng “ngọt hóa” đang làm gia tăng tốc độ sụt lún đất ĐBSCL nhanh gấp nhiều lần nước biển dâng. Hệ quả này sẽ dần dần làm hư hỏng công trình, gây nguy cơ cao cho vấn đề nhiễm mặn và nhiễm bẩn nước ngầm.

Các giếng khoan nước ngầm xuất hiện ngày càng nhiều, ngay trong vùng ngọt hóa, do nước mặt bị ô nhiễm, đe dọa tình trạng lún sụt mặt đất (Hình chụp ở Hậu Giang)

Nguồn lợi thủy sản mất dần

Rất khó để tìm ra các loài cá trắng trên các dòng sông bị chặn bởi các cống đập, thay thế trong thủy vực bằng các loài cá đen nước tĩnh như cá lóc, cá trê và các loài cá ngoại lai như cá rô phi, cá lau kiếng. Lý do là hệ sinh thái sông ngòi (riverine environment) đã bị chuyển sang hệ sinh thái hồ (lacustrine environment).

Trao đổi với người dân trong khu vực, tất cả đều khẳng định nguồn lợi thủy sản gần như bị suy giảm nghiêm trọng, môi trường sống của các loài thủy sinh bị kiệt quệ thấy rõ. Nghiên cứu khảo sát nguồn lợi thủy sản của trường Đại học Cần Thơ ở các khu vực có dự án thủy lợi Ô Môn – Xà No, Quản Lộ – Phụng Hiệp qua thu thập mẫu (3 lần mỗi năm) và thêm phỏng vấn người dân địa phương cho thấy, cả nguồn cá nước ngọt và nước lợ trong vùng có dự án thủy lợi giảm sút gấp 3 lần so với nguồn cá đối chứng ở bên ngoài hệ thống.

Về mặt sinh thái nông nghiệp, nếu độ chua của nước pH > 4 và độ mặn S < 0,4% (4 ppt) thì có thể trồng lúa, nhưng với đặc điểm một vùng sông nước và nuôi trồng thủy sản đa dạng từ vùng nước mặn, nước lợ, nước ngọt thì ngoài 2 thông số nói trên, còn có các thông số hàm lượng oxy hòa tan, độ đục,… và cả yếu tố vi sinh, dịch bệnh… việc quản lý các hệ thống thủy lợi không sao thỏa mãn được hết.

Chất lượng đất thay đổi

Một ghi nhận rõ hơn nữa là chất lượng đất, hay nói cách khác là sức khỏe của đất (soil healthy) bị suy kiệt nhanh chóng ở những vùng đất canh tác có cống ngăn mặn phía bên ngoài. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ, khi lớp đất mặt ngập nhiều ngày, hàm lượng oxy khuếch tán vào nước giảm vài ngàn đến hơn 10 ngàn lần so với điều kiện tiếp xúc với không khí, lúc đó hiện tượng yếm khí toàn phần xảy ra. Đất bị ngập nước hoàn toàn sau một ngày thì hàm lượng oxy giảm nhanh tới mức không phát hiện được sự hiện diện oxy trong đất nữa. Khi đó, các tác nhân như nitrogen dioxide, các hợp chất mangan, sắt, carbon dioxit, ammoniac, hiđro sunfua, metan, acetylene, ethanol, các sản phẩm biến dưỡng của vi sinh vật,… gia tăng, gây tổn thương vùng rễ, làm nhiễm độc cho cây trồng.

Các vườn cây cam đang tươi tốt như thế này sẽ phải lần lượt bị đốn bỏ để trồng tràm vì nông dân không chịu nổi chi phí bơm nước ra liên tục và phải sử dụng nhiều phân thuốc cho đất (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nước cầm tù dâng cao, thấm bão hòa vào các lớp đất mặt khiến các loại cây trồng khó phát triển, các loại cây ăn trái có bộ rễ sâu hơn 20-30 cm dần dần bị vàng lá, thối gốc, thối rễ mà chết. Muốn giảm thiệt hại, người nông dân phải chấp nhận bơm thoát nước liên tục, khiến chi phí đầu tư ban đầu cao vì phải dùng nhiều năng lượng như điện, xăng dầu để chạy máy bơm, chưa kể công sức và thời gian phải lo trực chạy máy, sửa chữa máy, theo dõi mực nước.

Hầu hết khu vực ven biển là đất có tầng phèn hoạt động và nước thủy cấp nhiễm mặn. Xì phèn hoặc mặn xảy ra làm giảm năng suất cây trồng/vật nuôi khi mực thủy cấp thấp và không cấp đủ nước ngọt do vận hành công trình không phù hợp.

Thay đổi về sinh cảnh thực vật

Các dòng sông bị đóng kín sau mùa mưa để giữ lại nước ngọt khiến thủy triều từ biển không vào nội đồng được. Đất đai trong vùng canh tác trở nên thiếu dinh dưỡng và cây trồng phải phụ thuộc vào phân bón. Chính điều này, về lâu dài, đã làm nhiều nông đã bị buộc phải chặt bỏ hàng ngàn ha vườn cây ăn trái, chuyển sang trồng mía, rồi mía cũng thất bại, chuyển sang trồng tràm, nhưng tràm trong điều kiện ngập nước kéo dài cũng rất chậm lớn.

Cây dừa nước bị chết là do sâu bệnh phát triển trong môi trường nước chuyển từ mặn lợ sang ngọt (Ảnh chụp ở Gò Quao, Kiên Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nhiều mảng cây rừng ven biển bị suy kiệt mà chết dần, sạt lở ven biển gia tăng. Còn phía trong đồng thì dòng sông biến thành các hồ chứa, nước bị cầm tù khiến nhanh chóng bị ô nhiễm, hôi thối. Lục bình và nhiều loại tảo lục phát triển, ghe tàu đi lại rất khó khăn, chậm chạp và tốn kém.

Nông dân đang chuyển tràm trồng thay thế các vườn cây ăn trái do đất bị cống chặn giữ nước liên tục (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Các loại cây quen sống ở vùng nước lợ, điển hình như cây dừa nước (Nypa fruticans), sẽ nhanh chóng bị vàng lá, hư hại và chết do hệ sinh thái nước lợ biến thành nước ngọt nên loài sâu ăn lá dừa nước phát triển. Nói chung, tính đa dạng sinh học khu vực bị suy giảm đáng kể.

Sự thay đổi điều kiện giao thông thủy

Ở các vùng có cống ngăn mặn thuộc dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, lục bình phát triển dày đặc, ngăn cản giao thông thủy, hạn chế ánh sáng và không khí cho các nguồn thủy sinh và gây ô nhiễm do tù đọng (ảnh chụp ở cống Mỹ Phước, Sóc Trăng ngày 17/5/2018, Lê Anh Tuấn)

Dễ dàng thấy được các cống đập đặt ngay vị trí dòng chảy thì ảnh hưởng đến giao thông thủy. Nước không lưu thông thì lục bình thuận lợi phát triển bao trùm mặt thoáng. Việc đi lại rất trở ngại. Nhiều nơi người dân đã phải dung thuốc diệt cỏ để xịt lên lục bình nhằm tạo lối đi khiến nước sông càng ô nhiễm hóa chất nặng nề, tôm cá bị tiêu diệt và sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng.

Đoạn kênh ở Long Mỹ, Hậu Giang: do dòng chảy bị chận nên lục bình phát triển ưu thế, giao thông thủy tắc nghẽn, chi phí ghe xuồng đi lại gia tăng, có lúc người dân buộc phải dùng thuốc diệt cỏ để xịt lục bình lấy đường cho ghe xuồng chạy, hệ quả ô nhiễm hóa chất gia tăng (ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Chi phí vận chuyển lúa ra ngoài đê tăng xấp xỉ 10%, máy gặt đập bên ngoài đưa bằng xà lan vào trong đê rất khó, hoặc không vào được (như vùng Xà Phiên, Long Mỹ).  Tại khu vực Ngã Bảy, Phụng Hiệp, Hậu Giang lượng tàu ghe đến giao dịch giảm đi hẳn.

Hệ thống tời kéo-đường ray để kéo vỏ lãi qua cống

Một số cống gây hạn chế giao thông thủy khi đóng cống hoặc do thiết diện chiều rộng cống hạn chế. Trong khi ở khu vực nông thôn nơi chưa có hạ tầng phát tiển, giao thông thủy đóng vai trò rất quan trọng. Khi thu hoạch lúa, hoặc vận chuyển hàng hóa nặng, giao thông thủy là lựa chọn ưu tiên của người dân.

Hệ thống tời kéo võ lãi qua cống Nàng Rền, nhưng rất ít hoạt động (ảnh chụp ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Tại một cống, có sáng kiến làm bộ tời kéo vỏ lãi vượt qua cống trên 2 thanh ray, muốn qua người dân phải trả phí. Tại một số cống ngăn mặn, người dân muốn lưu thông qua cống phải chi tiền đút lót cho người quản lý cống mở cống.

Sự thay đổi văn hóa – xã hội

Một điều mà nhiều người nhận xét, ở những nơi có cống – đập chặn dòng, tình trạng di dân ngày càng phổ biến. Việc canh tác khó khăn, chi phí đầu tư cao mà lợi nhuận giảm, cộng thêm tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm, nhiều người đã bỏ đồng ruộng đi mưu sinh ở các khu công nghiệp hoặc thành phố (ở địa phương quen gọi một tên chung là “đi Bình Dương”). Hiện tượng này không phải do vấn đề dân số, tốc độ tăng dân số của ĐBSCL hiện nay là âm, mà do kinh tế nông thôn đang đi xuống. Trong vấn đề di dân, phụ nữ và trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Do sông ngòi ô nhiễm, trẻ em nông thôn ngày nay không biết bơi, chỉ trừ những đứa trẻ ở các nhánh sông lớn như Sông Tiền, Sông Hậu. Đây là một nét văn hóa đã bị mất của ĐBSCL. Hoạt động giao thông thủy sút giảm cũng là mất một nét quan trọng của văn hóa sông nước ĐBSCL. Lượng cá trắng sút giảm nghiêm trọng nên một số món ăn mất hình ảnh con cá trên thực đơn.

Sự suy giảm chất lượng nguồn nước, đi lại khó khăn,… cũng là một vấn đề khó khăn liên quan đến tiện nghi, an toàn, chất lượng sống và sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em. Hầu hết các dự án không quan tâm đến yếu tố giới, qua trao đổi với các địa phương, tham vấn và quản lý nước đều không xem xét sự tham gia của phụ nữ.

Trong hầu hết các dự án thủy lợi, đối tượng cư dân được nói đến nhiều là nông dân, đặc biệt là nông dân trồng lúa.  Thực tế, trong vùng nông thôn ven biển châu thổ Cửu Long, có rất nhiều nhóm cư dân khác nhau của địa phương, có các sinh kế khác nhau như thương buôn, chế biến nông sản, bốc xếp hàng hóa, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… Ảnh hưởng công trình đến sinh kế của họ, gần như không được chú ý nên dễ gây những tác động dây chuyền.

Tính kém hiệu quả kinh tế công trình

Ngân sách sử dụng cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm tỷ lệ cao ở các công trình thủy lợi. Chi phí nhiều ngàn tỉ của các công trình thủy lợi là do ngân sách trung ương hoặc địa phương thực hiện, tập trung cho các công trình xây dựng và chi phí duy tu, bảo dưỡng và vận hành, nhưng chưa bao giờ được hạch toán vào bài toán kinh tế được – mất. Cái được là tăng sản lượng, vụ lúa, nhưng chi phí các công trình này là “miễn phí-trên trời rơi xuống” không hề được đưa vào giá thành sản xuất. Ngoài ra những tổn thất về tài nguyên và môi trường to lớn khủng khiếp cũng chưa được tính vào chi phí.

Nói cách khác, nếu nhìn tổng thể trên bình diện nền kinh tế quốc gia, nếu càng tiếp tục cách như hiện nay, càng làm quốc gia càng nghèo thêm.

Mặt được của các công trình thủy lợi ngăn mặn, ngăn lũ là góp phần tăng vụ, chủ yếu là lúa, làm tăng thu nhập của người dân từ 1 lên 2 vụ, hoặc từ 2 lên 3 vụ. Tuy nhiên,với một nơi vốn sẵn giàu tài nguyên thiên nhiên như ĐBSCL chỉ cách đây vài thập niên, sự hủy hoại nguồn thủy sản và nguồn nước sông ngòi để đánh đổi sản lượng lúa chất lượng thấp để xuất khẩu hơn 50% là điều đáng tiếc.

Hiệu suất và hiệu quả sử dụng của các công trình hạn chế, ít hơn dự kiến trong thiết kế bởi vì thời gian và tần suất vận hành ít. Nhiều công trình cống chưa một lần vận hành từ ngày xây dựng đến nay. Điều này gây thất thoát và lãng phí lớn vì các công trình này chi phí đầu tư rất cao so với các giải pháp phi công trình.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung, lúa là quan trọng nhưng ĐBSCL không nhất thiết phải làm lúa và không chỉ có cây lúa, khi có nước lợ vào sẽ có sự đa dạng sinh học khác nhau hoàn toàn, thuận theo tự nhiên hơn khi mình ngăn chặn, bài học cống đê bao ngăn lũ (có nhiều tác động đến sản xuất nông nghiệp), cần xem xét học tập bài học từ dự án chống lũ, hay là chuyển sang cách làm khác, không tác động đến tự nhiên, đảm bảo cho nông dân sản xuất thực tế khách quan, người dân an toàn sinh sống.

https://www.thesaigontimes.vn/279478/nhin-lai-cac-cong-trinh-ngan-man-hien-co-o-dbscl.html

Phê duyệt dự án công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé dù có nhiều tranh cãi, phản đối

Dù có nhiều tranh cãi, phản đối của một số nhà khoa học, chuyên gia am hiểu về ĐBSCL ở Trường ĐH Cần Thơ, nhưng Bộ NN&PTNT đã chính thức có quyết định “phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1”.

Trước đó, ngày 18.12.2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé tại văn bản số 3805/QĐ-BTNMT.

Vùng Tây Nam sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện có ba dự án “khủng”, được tính bằng đơn vị ngàn tỉ đồng, gồm Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn – Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Nhiều ý kiến cho rằng các dự án này không thành công. Vì vậy, trước khi quyết định phê duyệt một dự án khủng, Bộ NN&PTNT nên thực hiện một nghiên cứu toàn diện những dự án thủy lợi đã triển khai vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng Tây sông Hậu nói riêng về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé triển khai sẽ tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên và xã hội trên một diện tích đáng kể vùng đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được thông qua, dự án đã được phê duyệt, nhưng nhiều vấn đề mà các nhà khoa học đặt ra vẫn còn đó hoặc tiếp tục chờ đợi các cơ quan có trách nhiệm giải trình.

Dưới đây là một số ý kiến của các chuyên gia về dự án này được tổng hợp từ nhiều nguồn.

I.Tóm tắt dự án [1; 2]

Dự án thủy lợi CLCB được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư giai đoạn 1 ngày 17-4-2017, dựa theo tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) ngày 5-4-2017.

Công trình do Ban Quản lý đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10 – thuộc Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư. Đơn vị tư vấn lập báo cáo đầu tư dự án là Liên danh Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam – Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam – Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Thủy lợi 2.

Cơ quan lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường là Viện Kỹ thuật Biển, Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam. Dự án là sự kế thừa của các đề tài nghiên cứu từ năm 2000 và dự án được lập từ năm 2010 đến nay.

Dự án nằm chủ yếu ở vùng Bán đảo Cà Mau; phía bắc là kênh Cái Sắn, phía Nam và Đông Nam là kênh Quản lộ-Phụng Hiệp, phía Đông Bắc là sông Hậu và phía Tây là Vịnh Thái Lan. Tổng diện tích đất tự nhiên vùng dự án là 909.248 ha (chiếm hơn 20% diện tích toàn ĐBSCL), thuộc Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và TP Cần Thơ.

Vị trí vùng dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé
Vị trí cống Cái Lớn-Cái Bé

Mục tiêu đầu tư

Dự án có 4 mục tiêu:

– Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn – Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang.
–  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định.

– Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn;

– Kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án.

Qui mô đầu tư dự án giai đoạn 1

Xây dựng cụm công trình giai đoạn 1, gồm các hạng mục:

– Cống Cái Lớn, cống Cái Bé;

– Đê nối hai cống Cái Lớn, Cái Bé với Quốc lộ 61;

– Kênh nối sông Cái Lớn – Cái Bé;

– Sửa chữa cống âu Tắc Thủ.

Tổng mức đầu tư dự kiến: 3.309,5 tỷ đồng

Sơ họa tổng thể các hạng mục công trình dự án [3]
Phối cảnh cống Cái Lớn – Cái Bé

II.Ý kiến trước khi phê duyệt dự án

1) Nhóm chuyên gia ở Trường Đại học Cần Thơ (PGS. TS. Lê Anh Tuấn, TS. Dương Văn Ni, TS. Nguyễn Hồng Tín, TS. Đặng Kiều Nhân và chuyên gia độc lập về sinh thái, ThS. Nguyễn Hữu Thiện) [4]

Về mục tiêu kiểm soát nguồn nước mặnphải trả lời được 2 câu hỏi: Nguồn nước mặn nào? Tại sao phải kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển? Vì ở ĐBSCL không có nhánh sông tự nhiên nào từ sông Hậu chảy ra biển Tây. Đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp mà do phù sa từ phía biển bồi tụ; trong đất có muối. Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối trong đất bị mao dẫn lên mặt đất; vào mùa mưa, nước mưa hòa tan muối và đổ vào sông rạch. Như vậy là có hai nguồn nước mặn: nước mặn từ phía biển và nước mặn hình thành tại chỗ. Vậy mục tiêu của dự án chỉ kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển (xây cống) liệu có đúng?

Về mục tiêu giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng thuộc lưu vực sông CLCB. Theo đề cương dự án thì đó là mâu thuẫn mặn – ngọt. Nhưng thực tế ở đây, nơi nào đất gò hơn thì bà con xẻ mương phèn trồng lúa do dễ tiêu thoát nước còn nơi nào đất trũng thấp (đất láng) thì bao vuông nuôi tôm sú, nên đất nông nghiệp xen kẽ với đất nuôi trồng thủy sản. Cách sử dụng nước là nếu cần bơm nước ngọt cho lúa thì người dân chọn lúc nước ròng và nếu cần bơm nước mặn cho tôm thì người ta chọn lúc nước lớn. Có mâu thuẫn gì đâu? Bài học về việc người dân đòi phá bỏ cống Láng Trâm (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau) để có đủ nguồn nước mặn cho nuôi trồng thủy sản vẫn còn nguyên giá trị.

Về mục tiêu góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang. Thủy sản này là nuôi trồng hay đánh bắt tự nhiên? Năng suất thủy sản nuôi trồng của khu vực này là rất thấp so với thủy sản đánh bắt tự nhiên trên sông rạch và vùng biển tiếp giáp. Trong đó có rất nhiều loài thủy sản sử dụng sông rạch như là bãi đẻ và vùng biển tiếp giáp là bãi ăn, và nhiều loài thì sử dụng ngược lại. Vì vậy lúc nước lớn là lúc nhiều loài thủy sản từ biển vào sông rạch để sinh sôi và kiếm ăn. Vậy việc đóng cống lúc này sẽ làm ảnh hưởng ra sao?

Với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn ngọt cho vùng ven biển. Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn-phèn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loãng độ mặn-phèn này không? Rồi rửa lượng mặn – phèn này đi đâu? Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ, chưa chắc có đủ nước ngọt để bơm. Nếu có, chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau. Những tình huống này, trong đề cương của dự án chưa đưa ra được giải pháp.

Với mục tiêu tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn. Đây là mục tiêu mà từ các giải pháp đến tính khả thi đều kém thuyết phục. Vì sự di chuyển nước của vùng bán đảo Cà Mau là nhờ hai chế độ triều khác nhau giữa biển Đông (bán nhật triều) và biển Tây (nhật triều) và mực nước trên sông Hậu, mà chúng tạo ra lực hút – đẩy rất nhịp nhàng, làm cho nước di chuyển trong toàn vùng và di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây.

PGS. TS Lê Anh Tuấn [5]

Dự án chưa đưa ra được những dữ liệu đầy đủ để chứng minh việc bỏ ra một khoản tiền lớn như trên để xây đập, thì lợi ích thu được có đủ để bù cho khoản đầu tư đó hay không? “Tăng canh tác, tăng sản lượng (từ việc xây đập bảo vệ vùng ngọt hóa, nếu có), nó có bù được cho những tác động khác hay không.

Hệ sinh thái trong khu vực sẽ bị thay đổi vì ĐBSCL có 3 vùng sinh thái, gồm vùng nước ngọt ở phía trên, vùng nước lợ ở giữa và vùng nước mặn giáp biển. Nếu làm đập chặn ngang thì sẽ làm phá vỡ hệ sinh thái nước lợ, trong khi đó, chưa đánh giá được việc chặn như vậy sẽ có lợi nhiều hay bị hại nhiều.

Việc xây dựng đập có thể dẫn đến chất lượng nước sẽ thay đổi theo hướng xấu đi, bởi giữa sông và biển có mối quan hệ, biển giúp cải tạo ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông, khi công trình đó được xây thì ô nhiễm có khả năng xảy ra ở phần bên trong đập.

Việc ngăn mặn, giữ ngọt thông qua xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé để sản xuất lúa (hay một sản phẩm nông nghiệp nào đó liên quan sử dụng nước ngọt) có mang lại lợi ích lớn hơn nuôi tôm hay không? “Đến bây giờ chưa thể chứng minh được rất nhiều vấn đề ở đây (dự án) thì trước tiên cần rút ra những bài học từ cống đập Ba Lai (Bến Tre) – dự án ngăn mặn, giữ ngọt tỉnh Bến Tre”.

PGS. TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh rằng nếu chưa rút ra được bài học từ cống Ba Lai thì việc đầu tư làm dự án Cái Lớn – Cái Bé là điều chưa nên trong lúc này.

ThS. Nguyễn Hữu Thiện (chuyên gia độc lập về sinh thái đồng bằng SCL) [6]

Theo ThS. Nguyễn Hữu Thiện, việc đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi này là không cần thiết. Bốn luận điểm được đưa ra trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, để khẳng định sự cần thiết và cấp bách phải đầu tư dự án nêu trên, chưa có tính thuyết phục.

Luận điểm thứ nhất được nêu ra xuất phát tình trạng khô hạn của mùa khô năm 2016. Theo ông Thiện, đây là một sự kiện cực đoan 90 năm mới có một lần, không phải là xu hướng chung của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nên không thể căn cứ vào yếu tố cực đoan đó để khẳng định cần thiết phải đầu tư dự án nêu trên.

“Ngay từ tháng 4-2016 chúng tôi đã nói phải hết sức bình tĩnh vì cái này (khô hạn, xâm nhập mặn) không phải là tình hình chung của đồng bằng. Thực tế chứng minh năm 2017 bình thường, 2018 bình thường và thậm chí bây giờ ngồi đây tôi có thể dự đoán năm 2019 cũng bình thường”, ông cho biết.

Luận điểm thứ hai được viện dẫn là nguy cơ nước biển dâng. Ông Thiện cho rằng, đây là luận điểm thiếu căn cứ, không đúng với thực tế của ĐBSCL, tức khả năng nước biển dâng đến năm 2100 chỉ khoảng 53 cm, chứ không phải là 1 mét như những kịch bản được đưa ra trước đó.

“Vì vậy, đừng lấy chuyện nước biển dâng đề “hù dọa””, ông nói và cho biết sụt lún đất mới là vấn đề đáng lo hơn. Nguyên nhân sụt lún là do sử dụng nước ngầm vì sông ngòi bị hủy hoại, không chảy được, trong khi lượng phân bón, thuốc trừ sâu sử dụng quá nhiều cho nền nông nghiệp và do đắp đập.

Luận điểm thứ ba được đưa ra để xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé khi nói ĐBSCL gánh trọng trách đảm bảo an ninh lương thực, theo ông Thiện là không đúng vì nói năm khô hạn 2016 an ninh lương thực bị đe dọa, nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu hơn 4,8 triệu tấn gạo, tức có dư cả chục triệu tấn lúa, thì rõ ràng an ninh lương thực không hề bị đe dọa.

Luận điểm thứ tư được đưa ra khi nói nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt ở ĐBSCL do tác động của thượng nguồn. Ông Thiện không đồng tình và cho rằng đập thủy điện không làm hết nước, mà chỉ có tác động đến phù sa và thủy sản.

Theo ông, việc bỏ ra hơn 3.300 tỉ đồng (giai đoạn 1) để xây dựng dự án thì rất cần sự thận trọng. “Nó liên quan trách nhiệm của những người đưa ra quyết định, đánh giá tác động, phải có trách nhiệm với thế hệ sau, chứ không thể xài tiền một cách vô tội vạ như thế này”, ông cho biết.

Cũng theo ông Thiện, việc xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé có thể đẩy quy hoạch tích hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư rơi vào “thất thủ”; chiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng thuận thiên, theo nguyên tắc Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu cũng sẽ thất bại.

2) TS. Lê Xuân Thuyên, Giảng viên, Bộ môn Sinh thái và sinh học tiến hóa, Khoa Sinh học và Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh [7].

“Dự án HTTL CL-CB có một lỗ hổng lớn là không có phân tích và quản lý rủi ro, một đòi hỏi theo thông lệ đối với bất cứ dự án lớn nào. Do không làm việc này nghiêm túc từ đầu nên nhiều dự án của Việt Nam sau khi hoàn thành thường đổ bể, hoặc hoạt động không đúng mục tiêu và lại phải có hậu điều chỉnh…làm thêm, mới…

Mặt khác dự án “lồng ghép” hai nội dung có thuộc tính tương đối tách biệt nhau. Đó là ứng phó với thiên tai và phát triển kinh tế vùng.

Để ứng phó thì không thế thiếu xác định phạm vi hứng chịu tác động (exposure) và tần suất xuất hiện (frequency) của thiên tai, và đánh giá khả năng tự phục hồi (resilience) của hệ thống (ở đây là môi trường và các hệ sinh thái tự nhiên và nông nghiệp).

Đợt hạn cực trị năm 2016 được các nhà chuyên môn xác định có tần suất xảy ra là 70 năm/1 lần. Vì vậy lấy hạn 2016 làm mục tiêu ứng phó và đầu tư nhiều ngàn tỷ để ứng phó liệu có hợp lý không, có quá lãng phí không (giả thiết rằng đầu tư các công trình là đúng).

Đối với nội dung phát triển kinh tế, dự án cần có hiệu quả kinh tế là dĩ nhiên, nhưng cũng cần có các giải pháp thay thế (alternative solutions) vì mô hình sản xuất, hệ thống sản suất thay đổi theo nhu cầu thị trường, theo tinh thần NQ 120, chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp. Trong dự án, cây lúa dường như là đối tượng tham chiếu gần như duy nhất và chưa thấy dự án đưa ra những giải pháp thay thế.

Khi dự án có mục tiêu lồng ghép thì nó sẽ phải thỏa mãn các mục tiêu riêng một cách rõ ràng, đầy đủ và thực chất. Lồng ghép không có nghĩa là “pha trộn” một cách chủ quan các vấn đề nhằm “minh giải” về sự cần thiết của dự án với lý do là đã có đề cập tới cả hai mục tiêu ứng phó với thiên tai và phát triển kinh tế.”

III. Ý kiến khi phê duyệt dự án

1) Thông qua ĐTM với tỷ lệ 100%, dù còn nhiều tranh cãi! [8]

Theo báo nguoidothi.net.vn, tại buổi thẩm định ĐTM dự án Cái Lớn Cái Bé vào ngày 3.11.2018, ý kiến đánh giá, phản biện của các thành viên Hội đồng thẩm định là khoa học, khách quan, chỉ ra nhiều điểm chưa thuyết phục và vấn đề của dự án.

Theo đó, nội dung ĐTM dự án cho thấy các số liệu được đưa ra tính toán là chưa đáng tin cậy, chưa đầy đủ.

Cơ chế vận hành hai cống Cái Lớn, Cái Bé chưa được tính toán đầy đủ, quá sơ sài, đơn giản và không thực tế.

Báo cáo chỉ mới đánh giá tác động của giai đoạn 1 mà không đầy đủ hai giai đoạn để có những đánh giá toàn diện dự án.

Báo cáo ĐTM cũng cho thấy dự án chỉ đánh giá tác động theo đúng một chiều là ủng hộ, thiếu khách quan khi cho rằng chỉ duy nhất một phương án là cần thực hiện dự án;…

Một vấn đề khác được ghi nhận tại buổi thẩm định dự án, đã có nhiều ý kiến thành viên hội đồng cho rằng: nên chăng là hoãn dự án sông Cái Lớn Cái Bé, do việc tính toán tác động của dự án với quy mô công trình quá lớn này cho đến nay vẫn chưa có đủ cơ sở để thực hiện.

Tuy nhiên, kết thúc buổi thẩm định, kết quả: 21/21 thành viên hội đồng đã bỏ phiếu thông qua báo cáo ĐTM dự án, với điều kiện phải điều chỉnh, bổ sung bản báo cáo đánh giá theo ý kiến hội đồng.

2) GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân (1) [9]

“Việc phê duyệt sẽ không có gì phải bàn luận nếu các điều kiện được thực hiện nghiêm túc.” Nghiên cứu văn bản và ĐTM đã được phê duyệt, tôi cho rằng ĐTM đã không được chỉnh sửa, bổ sung đúng với yêu cầu và vì vậy việc phê duyệt là khó chấp nhận và cần làm rõ một số điểm.

Có hai ý quan trọng trong phát biểu kết luận của Chủ tịch Hội đồng thẩm định:

(1) Yêu cầu chủ đầu tư phải nghiên cứu kỹ, lập bảng giải trình đối với từng ý kiến mà cuộc họp đã góp để tiếp tục hoàn chỉnh dự án và báo cáo ĐTM, đặc biệt về cơ chế vận hành của các cống, và báo cáo ĐTM phải có đầy đủ ba giai đoạn: chuẩn bị thi công, thi công và sau khi công trình đi vào hoạt động.

(2) Câu hỏi gửi đến Thứ trưởng Hoàng văn Thắng về ý kiến của nhiều ủy viên đề nghị hoãn việc phê duyệt dự án đến khi công bố Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL theo tinh thần NQ 120 của Chính phủ. Trong thời gian đó chủ đầu tư hoàn chỉnh việc sửa đổi các báo cáo NCKT và ĐTM như đã góp ý.

Những ý kiến nổi trội đã được nhiều ủy viên HĐTĐ phát biểu là:

+ Báo cáo NCKT phải nêu rõ các yếu tố đặc thù của vùng dự án, phải bổ sung thông tin về trầm tích, về mưa, về nước biển dâng, về địa hình, về sụt lún đất, làm rõ hiện trạng về đa dạng sinh học, về sản xuất nông lâm thủy sản, về rừng U Minh Thượng ngày trước và Vườn quốc gia UMT hiện nay. Làm rõ để đánh giá các tác động và khả năng thoát lũ của dự án.

+ Vùng tác động cũng như vùng hưởng lợi từ dự án không có biên cố định như trong báo cáo NCKT, mà thay đổi theo nhiều yếu tố, đặc biệt nước biển dâng, sụt lún ở đồng bằng, và từ chính công trình.

+ Báo cáo NCKT và ĐTM của dự án đưa ra nhiều kết luận từ mô hình số. Số liệu phải có độ dài đủ để đáng tin. Các chuỗi số liệu được sử dụng là quá ngắn.

+ Chế độ vận hành các cống Cái Lớn, Cái Bé là không thực tế.

Báo cáo ĐTM đã được chỉnh sửa bổ sung thế nào

Báo cáo ĐTM được phê duyệt đã được gửi kèm văn bản số 1661/BQL10-TD ngày 21.11.2018 của chủ đầu tư đến Bộ TNMT. Như vậy việc chỉnh sửa bổ sung được thực hiện chỉ trong vòng hai tuần, một thời gian rất ngắn để làm hết những việc mà Hội đồng thẩm định yêu cầu một cách nghiêm túc.

Dưới đây là bảng so sánh Mục lục của ba ĐTM, phiên bản tháng 9 (trái), phiên bản trình Hội đồng thẩm định (giữa) và phiên bản được phê duyệt (phải).

Số trang, cách đánh số các đoạn, phân đoạn có thể thay đổi, nhưng đọc kỹ và so sánh các phiên bản tôi đã thấy nội dung cơ bản vẫn giữ nguyên, đặc biệt phần tác động môi trường khi các cống đi vào vận hành, và chế độ vận hành của các cống. Việc chỉnh sửa, bổ sung báo cáo ĐTM chỉ là kết quả sử dụng các thao tác “lược bỏ”, “chép” và “dán” trên máy tính. Nó đã không đi vào nội dung được yêu cầu mà chỉ làm mang tính hình thức, nghĩa là đã làm không nghiêm túc.

Quyết định phê duyệt 3805/QĐ-BTNMT, một số điều cần làm rõ

Quyết định của Bộ TNvMT phê duyệt báo cáo ĐTM của một dự án là một văn bản quan trọng để Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án. Vì vậy cần tiến hành hết sức khoa học, khách quan, tuyệt đối không bị chi phối bởi lợi ích ngành, lợi ích nhóm.

Quyết định 3805/QĐ-BTNMT có nhiều điều cần làm rõ. Chỉ xin nêu hai ví dụ.

Ví dụ 1. Tại Điều 1, khoản 2.8. “Xây dựng chế độ vận hành (đóng/mở) cống, điều chỉnh chế độ vận hành để giảm thiểu tác động đến tính tự nhiên của dòng chảy, xói lở đường bờ và môi trường, đa dạng sinh học; đảm bảo thuận tiện cho người dân và phương tiện giao thông thủy đi lại qua cống”.

Yêu cầu là vậy, trong khi sơ đồ vận hành cống trong ĐTM được phê duyệt là “Vào mùa khô (từ tháng 1÷6): chỉ đóng khoảng 20 – 26 ngày vào các tháng 2 đến tháng 5, trong 1 tháng chỉ đóng tối đa 6 ngày để kiểm soát mặn/ngọt; Vào mùa mưa (từ tháng 7÷12): bình thường hầu như cống mở cửa hoàn toàn trả lại gần như hiện trạng lòng sông tự nhiên, chỉ đóng vào thời điểm có xảy ra mưa lớn, lũ lớn và triều lớn” (trang 292).

Câu hỏi 1: Tại sao ĐTM vẫn được phê duyệt với một sơ đồ vận hành các cống quá sơ lược đưa ra nhằm mục đích giảm thiểu các tác động? để rồi yêu cầu xây dựng một chế độ vận hành khác?

Câu hỏi 2: Nếu không xây dựng được chế độ vận hành theo yêu cầu ở khoản 2.8. Điều 1 thì sao? Làm gì với công trình đã xây xong?

Ví dụ 2. Điều 1, khoản 3.1. “Chủ dự án chỉ được phép triển khai Dự án sau khi thỏa mãn các điều kiện sau đây:

(a) Được Thủ tướng Chính phủ, Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư Dự án; bảo đảm các yêu cầu của Nghị quyết số 120 (…); phù hợp vói Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012-2020 được phê duyệt tại Quyết định số 1387/QD-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2012, Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL (điều chỉnh) trong giai đoạn tiếp theo (…).

Câu hỏi 3: Đầu tư cho Dự án giai đoạn 1 là 3309,5 tỷ đồng thuộc loại phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư. Tại sao có thêm Bộ NNvPTNT cho phép? 

Câu hỏi 4: Tuân thủ NQ 120 là yêu cầu cao nhất, hay là phù hợp với Quy hoạch thủy lợi 2012 cũng đủ, cho dù quy hoạch này (ban hành từ năm 2012) có những chỗ không phù hợp với quan điểm chỉ đạo của NQ 120 ban hành tháng 11.2017?

Hai câu hỏi 3 và 4 cần được làm rõ vì mập mờ ở các điểm này có thể mở ngõ cho việc “lách” để Dự án được Bộ NNvPTNT cho phép đầu tư.

(b) Tiếp tục rà soát, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật của Dự án (…) trình Bộ NNvPTNT phê duyệt.

Câu hỏi 5: Báo cáo NCKT là một tài liệu cốt lõi của Dự án, cần phải được hoàn thiện như Hội đồng thẩm định yêu cầu, trên cơ sở đó mới đánh giá ĐTM. Quan điểm của Bộ TNMT là thế nào mà lại phê duyệt ĐTM rổi yêu cầu báo cáo NCKT “tiếp tục hoàn thiện”?

Câu hỏi 6: Có gì đảm bảo là báo cáo NCKT của Dự án sẽ được “tiếp tục hoàn thiện” một cách nghiêm túc, sẽ không làm theo kiểu chỉnh sửa bổ sung báo cáo ĐTM? Bộ NNvPTNT là cấp phê duyệt báo cáo NCKT? Sẽ là một khe hở khổng lồ nếu Bộ NNvPTNT là cấp phê duyệt (vừa đá bóng vừa thổi còi)!

Chỉ hai ví dụ trên đây cho thấy văn bản 3805/QĐ-BTNMT có rất nhiều điểm cần làm sáng tỏ. Dự án HTTL CL-CB rất hệ trọng về nhiều mặt. Không thể chấp nhận bất kỳ một sự mập mờ nào cho phép nó được duyệt trái luật, như ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong công văn 11482/VPCP-NN, ngày 24.11.2018, gửi Bộ NNvPTNT và các Bộ có liên quan về Dự án HTTL CL-CB.

 “Thông qua với điều kiện”, “phê duyệt với điều kiện” và trách nhiệm giải trình

Tham dự cuộc họp với hội đồng thẩm định, ngày 03.11.2018, tôi đã trải nghiệm một cuộc bỏ phiếu “thông qua với điều kiện …”. Sau khi biết kết quả tôi không chút hoài nghi rằng ĐTM rồi sẽ được phê duyệt, vì với các thủ thuật chỉnh sửa, cộng với những kỷ năng thuyết minh – thuyết phục, thì khả năng được phê duyệt không có gì là khó. Chấm đỗ một thí sinh không đạt yêu cầu, tầm tác hại không thể so sánh với “thông qua với điều kiện” một dự án tiêu phí nhiều ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước, chưa nói đến tác hại đến môi trường và sinh kế của người dân.

Phê duyệt ĐTM một dự án còn nhiều lỗ hổng “với điều kiện phải chỉnh sửa”, trách nhiệm còn nặng nề hơn. Nếu cánh cửa trước khi dự án được Thủ tướng cho phép đầu tư mà còn mập mờ và khe hở thì tác hại sẽ khôn lường.

Kiến nghị

  1. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết ý kiến về 6 câu hỏi nêu trên đây.
  2. Thủ tướng Chính phủ xem xét cẩn trọng việc duyệt đầu tư Dự án Hệ thống thủy Cái Lớn – Cái Bé; yêu cầu một lần nữa các Bộ ngành có liên quan đến Dự án thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng trong công văn 11482/VPCP-NN.
  3. Để bảo vệ môi trường, chống lãng phí và tham nhũng một cách thiết thực, để việc đầu tư công có hiệu quả, xin kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ phải luật hóa nghiêm minh trách nhiệm giải trình của những người ra hay tham gia quyết định bằng lá phiếu hay bằng văn bản.

Viết bổ sung

Khi bài viết này được gửi đến Thủ tướng Chính phủ, và bạn đọc, Ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chính thức ký quyết định 5078/QĐ-BNN-XD về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Hệ thống thủy lợi Cái Lớn- Cái Bé giai đoạn 1.

Tình hình đã diễn ra đúng như tác giả dự báo và tìm cách ngăn chặn. Thực tế càng cho thấy các câu hỏi cần được trả lời, các kiến nghị thêm nóng bỏng.

Chú thích: (1) Là đại biểu tham dự Hội đồng được Bộ TNMT mời, tôi đã tham dự, phát biểu nhưng không bỏ phiếu. Sau cuộc họp, tôi đã đề nghị với Tổng Cục Môi trường, cơ quan thẩm định ĐTM, gửi cho tôi biên bản cuộc họp, nhưng tôi không được hồi âm. Những ý kiến ghi lại trong bài này là do chính tôi ghi. GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI

IV. Để kết luận cho bài này, xin trích ý kiến của GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân tại hội nghị lấy ý kiến về dự án ngày 7.9 do Bộ NN-PTNT và UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức [10].

“Tôi dự hội nghị này với tư cách Trưởng ban Chỉ đạo nghiên cứu ngọt hóa bán đảo Cà Mau (trước đây). Chúng ta đã triển khai dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau, dự án cống đập Ba Lai (Bến Tre) đến nay tại sao không thành công? Trước khi triển khai các dự án mới phải trả lời câu hỏi vì sao các dự án cũ không thành công. Trở lại với công trình sông Cái Lớn – Cái Bé, thiếu nước ngọt chỉ là hiện tượng, phải tìm nguyên nhân đúng thì mới có giải pháp đúng”.

“Chúng ta đang sống trên một vùng mà hệ sinh thái rất đa dạng nhưng chúng ta đang đơn giản nó. Từ rất nhiều sản vật tự nhiên chúng ta gom lại chỉ còn cây lúa và con tôm. Ta đang nghèo hóa môi trường và hệ sinh thái của chúng ta. Dựa trên tinh thần Nghị quyết 120, tôi cho rằng cần cân nhắc thật kỹ, khách quan và khoa học. Nên có hội thảo về biện pháp phi công trình trước khi đưa ra quyết định cho một giải pháp công trình”.

H & H

Tham khảo

[1]  https://baocantho.com.vn/ban-ve-du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-a102369.html

[2]http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet-3365429/

[3] https://nguoidothi.net.vn/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-thong-qua-dtm-voi-ty-le-100-du-con-nhieu-tranh-cai-16266.html

[4] https://baocantho.com.vn/ban-ve-du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-a102369.html

[5]https://www.thesaigontimes.vn/279478/nhin-lai-cac-cong-trinh-ngan-man-hien-co-o-dbscl.html

[6]https://www.thesaigontimes.vn/273170/chuyen-gia-khong-can-thiet-phai-xay-dung-du-an-thuy-loi-cai-lon–cai-be-.html

[7]http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon–cai-be-nhung-phan-hoi-quy-bau-3365595/

[8]https://nguoidothi.net.vn/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-thong-qua-dtm-voi-ty-le-100-du-con-nhieu-tranh-cai-16266.html

[9] http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/phe-duyet-mot-dtm-va-trach-nhiem-giai-trinh-3372499/

[10]https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/nguy-co-ngheo-hoa-ban-dao-ca-mau-1000792.html

 

Đoàn tàu tro xỉ

Cuối năm 2013, trên đường lái xe về quê ăn Tết dọc duyên hải miền Trung, chúng tôi dừng uống nước tại một quầy bán dưa hấu ven lộ. Gần đó, những mảng tường thép cùng ống khói sơn trắng – đỏ chọc thẳng lên nền trời xanh đầy nắng gió. Đó là nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2, thuộc tổ hợp điện lực Vĩnh Tân, đang được xây dựng.

Trong câu chuyện, người bán hàng vui mừng vì huyện có nhà máy mới, sẽ có nhiều công nhân mua hàng của họ. Bà còn hy vọng tổ hợp điện lực sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân địa phương, “như lời các anh ở trển”.

Bẵng đi một thời gian, giữa tháng 4-2015, cuộc “tụ tập đông người” với quy mô chưa từng có đã diễn ra ở Bình Thuận. Nguyên nhân chính bởi những bức xúc chồng chất do ô nhiễm tạo ra bởi nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 khiến môi trường sống của dân cư bị bức tử.

Người dân Bình Thuận đã bức xúc không chỉ bởi những ống khói phá hỏng bầu trời, mà còn bởi một hậu quả khác của điện lực Vĩnh Tân: phát tán bụi và các chất độc hại từ bãi tro xỉ đang gây ô nhiễm nước ngầm, bức hại biển và nguồn lợi thủy sản – sinh kế của họ. Chỉ chưa đầy năm năm từ ngày tổ máy nhiệt điện than đầu tiên vận hành tại đây, số liệu của Bộ Công thương cho thấy bãi tro xỉ Vĩnh Tân đã chứa khoảng 4,5 triệu m3.

Lượng tro xỉ thải ra từ nhiệt điện Vĩnh Tân nếu chứa trong các container 40 feet với tải trọng 30 tấn, đặt trên các toa tàu thì phải cần đến gần 127.000 toa tàu. Đoàn tàu tro xỉ đó có chiều dài là 1.900 km, với đầu máy tại ga Sài Gòn và toa cuối ở ga Đồng Đăng. Đều đặn mỗi năm, điện lực Vĩnh Tân tạo ra một đoàn tàu tro xỉ dài như thế.

Nhưng Việt Nam không chỉ có mỗi điện lực Vĩnh Tân, mà còn điện lực Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), Mông Dương (Quảng Ninh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Quỳnh Lập (Nghệ An), Quảng Trạch (Quảng Bình), Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Trị, Long An… và rất nhiều nữa. Chúng cũng đang và sẽ tạo ra những “đoàn tàu” tro xỉ khác.

Có một sự liên hệ đáng suy ngẫm về vụ “tụ tập đông người” ở Vĩnh Tân. Năm 2015 cũng là năm mà Việt Nam chính thức chuyển từ quốc gia xuất khẩu năng lượng sang nhập khẩu năng lượng, trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là than đá để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng cao của các nhà máy nhiệt điện.

Lịch sử hơn 120 năm xuất khẩu than đá của Việt Nam nay đã kết thúc để chuyển sang một trang mới. Trang mới này ngày càng “đen” hơn. Chỉ riêng năm 2018, số liệu thống kê cho thấy Việt Nam đã chi một số tiền kỷ lục là hơn 2 tỷ USD để nhập khẩu than đá. Thực tế thì tiêu thụ than đá của Việt Nam đã tăng phi mã đến 350% chỉ trong vòng 10 năm qua, so với tỷ lệ trung bình cùng giai đoạn toàn thế giới là 26%. Nhưng “cơn nghiện” than đá của Việt Nam vẫn chưa thấy điểm dừng, nếu không muốn nói là càng ngày nghiện càng nặng.

Các chất ô nhiễm phát thải từ nhiệt điện than trên thế giới từ lâu đã được xác định là thủ phạm gây ra ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất trồng, phá hủy các hệ sinh thái, và gây ra bệnh tật cho các cộng đồng dân cư. Không chỉ thế, nhiệt điện than còn bị chỉ đích danh là thủ phạm chính phát thải khí nhà kính, gây ra hiện tượng ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Năm 2016, nguyên Chủ tịch Ngân hàng thế giới Jim Yong Kim đã có một phát biểu chấn động: “Nếu Việt Nam tiến hành lắp đặt 40 GW nhiệt điện than và toàn bộ khu vực thực thi các kế hoạch nhiệt điện than, tôi nghĩ cuộc sống sẽ kết thúc. Đây sẽ là một thảm họa cho hành tinh của chúng ta”.

Chính sách lấy nhiệt điện than làm trụ cột phát triển nguồn điện của Việt Nam là rào cản thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch trong suốt thời gian qua. Chỉ riêng trong địa bàn huyện Tuy Phong đã thấy hai bức tranh đối lập. Phía Nam huyện là những cánh đồng điện gió đang chật vật vươn lên để tạo ra những dòng điện xanh trong sự đón chào của người dân. Phía Bắc của huyện là trung tâm điện lực Vĩnh Tân thuộc “diện bảo vệ an ninh đặc biệt”.

Hai bức tranh đối lập đó đủ để nói lên một nhu cầu cấp thiết hiện nay ở tầm vĩ mô: Chính phủ cần ban hành một bản quy hoạch điện lực mới, lấy năng lượng sạch làm trụ cột, đưa ra lộ trình từ bỏ hoặc hạn chế nhiệt điện than ở mức tối thiểu. Câu hỏi quan trọng nhất là: Làm sao để nền năng lượng quốc gia được đảm bảo an ninh an toàn, tạo ra sự thịnh vượng mà ở đó chất lượng sống của mọi người đều tốt hơn?

Bộ Công thương cho tới lúc này vẫn đang kêu gọi công luận “không nên cực đoan với nhiệt điện than” với lý do an ninh năng lượng quốc gia. Nhưng sự cảm thông không thể kéo dài vĩnh viễn, và người dân cần được nhìn thấy bản chiến lược năng lượng mới của quốc gia trước khi quá muộn.

ECIU, một tổ chức phi chính phủ, trong báo cáo năm 2016 đã “vinh danh” bốn “con hổ nhiệt điện than” châu Á gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam – nhóm quốc gia đóng góp đến 74% công suất nhiệt điện than toàn cầu. Sẽ chẳng ai tự hào khi được “vinh danh” như vậy.

“Việt Nam không thể hóa rồng trong khi xung quanh đầy bụi của nhiệt điện than” – Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, ông Ousmane Dione, đã nói như vậy.

Nguyễn Đăng Anh Thi

Nguồn: https://vnexpress.net/goc-nhin/doan-tau-tro-xi-3884638.html

Lập đoàn chuyên gia đánh giá hiện trạng bãi đá 7 màu

(Tin Môi Trường) – UBND tỉnh Bình Thuận yêu cầu đề xuất giải pháp để khôi phục bãi đá bảy màu, bãi rêu và khu vực liền kề đã bị san ủi trái phép, huyện Tuy Phong phải báo cáo trách nhiệm quản lý trước ngày 28-2.

Ngày 20-2, ông Nguyễn Đức Hòa, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã ký công văn gởi Sở TN&MT; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL), UBND huyện Tuy Phong liên quan đến việc bãi đá bảy màu ở xã Bình Thạnh (Tuy Phong) bị xâm hại nghiêm trọng.

Núi cát cao hơn 10m với độ dốc cao có thể sập xuống bãi đá bất cứ lúc nào

Công văn này yêu cầu Sở TN&MT chủ trì, phối hợp với Sở NN&PTNT; Sở VHTT&DL; UBND huyện Tuy Phong khẩn trương tổ chức đoàn công tác gồm các chuyên gia về tài nguyên môi trường, thủy lợi, bảo tồn bảo tàng kiểm tra, đánh giá cụ thể. Từ đó xác định chính xác hiện trạng, có báo cáo, đề xuất giải pháp khả thi để khôi phục, trả lại hiện trạng ban đầu cho bãi đá bảy màu, bãi rêu và khu vực liền kề đã bị san ủi trái phép.

UBND tỉnh giao Sở VH,TT&DL chỉ đạo Bảo tàng tỉnh đưa vào kế hoạch khảo sát, nghiên cứu, xây dựng hồ sơ khoa học và khoanh vùng bảo vệ thắng cảnh bãi đá bảy màu, bãi rêu. Hồ sơ này trình UBND tỉnh để xem xét, xếp hạng thắng cảnh cấp tỉnh vào năm 2020 sau khi đã thực hiện khôi phục cơ bản hiện trạng bãi đá bảy màu và bãi rêu.

Tỉnh cũng yêu cầu UBND huyện Tuy Phong có báo cáo cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước; hành vi vi phạm trên lĩnh vực đất đai tại khu vực bãi đá 7 màu, bãi rêu, kết quả chỉ đạo xử lý vụ việc nói trên. Thời gian báo cáo, đề xuất cho UBND tỉnh chậm nhất trước ngày 28-2.

Như tin đã đưa, từ đầu tháng 1-2019, ông Cao Văn Cư, một hộ dân ở đây đã lấn chiếm hơn 4.000 m2 đất công, tự ý thuê xe xúc, xe ủi san lấp mặt bằng. Núi cát do hoạt động san lấp đã lấp một phần bãi đá bảy màu, làm biến mất bãi đá con, đe dọa bãi rêu và phần còn lại bãi đá. Đáng ngạc nhiên là ông Cư đưa cơ giới vào san lấp rầm rộ, ngày đêm, tác động đến một địa chỉ du lịch nổi tiếng và độc đáo nhưng không hề bị chính quyền ngăn chặn mà chỉ lập biên bản rồi để đó.

Sau khi báo phản ảnh sự việc, Sở  VH,TT&DL Bình Thuận đã cử đoàn công tác đến kiểm tra. Qua kiểm tra, Đoàn công tác cho biết, việc san ủi trái phép đất, cát từ trên đồi xuống phía biển với chiều dài khoảng 100m dọc bãi biển đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thắng cảnh bãi đá bảy màu và bãi rêu. Cụ thể, tại trước bãi đá Bà Khòm (bãi rêu) đã bị cát phủ ra tới mép nước biển, hiện đã không còn nhìn thấy bãi đá con phía trước; tại bãi đá bảy màu cũng bị cát phủ lấp một phần. Việc san ủi trái phép nêu trên đã phá hủy toàn bộ thảm thực vật trên mặt đất và dải phân cách tự nhiên (cây bụi, xương rồng) kéo dài khoảng 100m ngăn cách giữa bãi biển với thửa đất liền kề bị san ủi trái phép. Nguy cơ cát tiếp tục phủ lấp lên trên bãi rêu và bãi đá bảy màu là rất cao.

Theo Đoàn công tác, hiện nay UBND huyện Tuy Phong đang bố trí phương tiện cơ giới để đưa phần cát tràn lấp ra bãi biển lên phía trên, dự kiến sẽ trồng phi lao để chắn gió và ngăn cát tràn xuống biển. Tuy nhiên, xét về trực quan thì giải pháp này không khả thi về trước mắt cũng như lâu dài.

Tiếp đó, ông Hồ Lâm, Giám đốc Sở TN&MT Bình Thuận đã có văn bản hỏa tốc gởi UBND huyện Tuy Phong. Theo Sở TN&MT, khu vực ven biển xã Bình Thạnh thuộc đoạn TP 5.2 là khu vực thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển quốc gia trong đó có bãi đá bảy màu.

Khu vực này được thiết lập với ba tiêu chí: Bảo vệ sinh thái, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên vùng bờ; giảm thiểu sạt lở bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. Sở TN&MT Bình Thuận đề nghị chủ tịch UBND huyện Tuy Phong thực hiện nghiêm quy định tại theo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và đầy đủ các nội dung của chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận đã chỉ đạo về hành lang bảo vệ bờ biển.

Toàn cảnh bãi đá bảy màu và bãi rêu bị xâm hại nhìn từ trên cao

Núi cát do san ủi trái phép xâm hại nghiêm trọng bãi đá
Đá bà khòm (bãi rêu) trước nguy cơ bị núi cát đe dọa
Huyện Tuy Phong điều cơ giới ra khắc phục nhưng không khả thi

Nguồn: http://www.tinmoitruong.vn/bao-ve-moi-truong/lap-doan-chuyen-gia-danh-gia-hien-trang-bai-da-7-mau_80_55503_1.html

Đầu năm Kỷ Hợi, vượt núi Chứa Chan

Cùng với Thảo, Lâm, Thành khảo sát tuyến lộ trình vượt núi Chứa Chan để thu thập thông tin phục vụ đề tài khóa luận tốt nghiệp chủ đề về Địa du lịch. Chuyến đi vượt núi cao 837 m vào đầu năm Kỷ Hợi – một kỷ niệm không thể nào quên của bốn thày trò.

Ngày 06 (10/02/2019)

7:00 sáng ngày 6 tết Kỷ Hợi, làm thủ tục khai trương năm mới tại văn phòng Bộ môn cùng với thày Lê Tự Thành.

7:45 Thảo đón thày đi thực địa núi Chứa Chan thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

8:00 hai thày trò lên xem Kim Mạnh Hùng tại đầu đường Nguyễn Thị Minh Khai.

10:00 xe đến Ngã Ba Ông Đồn, Lâm và mẹ Thảo (mang xe máy cho Thảo) đã chờ sẵn. Ba thày trò lên xe, đi khảo sát ngay khu vực Núi Le, hồ Núi le, bãi đá cảnh và làng đồng bào Chơ Ro (ấp Trung Sơn, xã Xuân Trường).

17:30 kết thúc ngày thực địa, về nghỉ tại khách sạn Hà Thi (Lâm đã đặt phòng nghỉ trước cho thày).

Ngày 07 (11/02/2019)

6:30 Thảo, Lâm và Thành (làm đề tài tốt nghiệp “Địa du lịch khu vực Núi Bà Đen” cùng tham gia vượt núi Chứa Chan).

7:30 bốn thày trò bắt đầu lộ trình vượt núi Chứa Chan theo tuyến đường cột điện. Đây là tuyến mà dân phượt thường đi.

Vượt dốc, quan sát, mô tả (địa chất, địa mạo, cảnh quan, hoạt động nhân sinh…). 11:30 tới đỉnh núi Chứa Chan (837 m).

12:30 bắt đầu xuống dốc, tiếp tục định điểm, mô tả theo lộ trình.

15:00 kết thúc lộ trình vượt núi Chứa Chan.

Dưới đây là vài nhận xét ghi nhận dọc theo lộ trình:

– Vượt sườn đông theo đường mòn dọc theo 148 cột điện. Đây là đường thoát nước vào mùa mưa, chủ yếu lộ đá gốc bóc mòn (granit) và các tảng lăn. Đường mòn theo sườn Đông có thể chia thành ba đoạn: đoạn 1 từ điểm xuất phát (quán chị Yến) đến cột điện 70, độ dốc thoải (30-40o), đường đi rộng. Đoạn 2 tiếp theo đoạn 1 tới cột điện 129, sườn dốc có chỗ tới 50 – 60o, đường đi hẹp lại. Đoạn 3 tiếp đến đỉnh, sườn có sự phân bậc, không gian mở rộng, có một số vị trí quan sát được bề mặt cao nguyên basan Xuân Lộc với vài đỉnh núi lửa.

– Núi Chứa Chan có hai đỉnh, đỉnh phía nam là vị trí trạm thông tin của quân đội; qua một yên ngựa hẹp là đỉnh phía bắc. Đỉnh phía bắc là khối đá granit trên đó có mốc tam giác sơn trắng ghi độ cao 837 m (so với mực biển). Đây là điểm nhìn (viewpoint) tuyệt vời. Tại đỉnh này quan sát được phần lớn cao nguyên Xuân Lộc (trừ phần phía nam do đỉnh Nam che khuất).

– Theo sườn phía bắc xuống núi. Sườn bắc chủ yếu lộ đất phong hóa từ granit màu vàng nhạt, lối mòn nhỏ, có đoạn qua rừng cỏ lau chỉ vừa một người đi. Đường mòn theo sườn Bắc có thể chia thành hai đoạn: đoạn 1 từ đỉnh đến ga cáp treo, sườn nhiều chỗ khá dốc, đi xuống bị chồn chân, trời mưa sẽ bị trơn trượt; gần đến ga cáp treo, đường mòn theo đồng mức đi khá thoải mái. Đoạn 2 là các bậc thềm từ chùa Bửu Quang xuống cổng chùa (gần cổng cáp treo). Các bậc thềm cao cắt ngang sườn dốc, di chuyển lên xuống bậc thềm cũng thật khó khăn nhất là những người già và lực lượng vác, gánh đồ thuê cho các chủ quán.

–  Tuyến đường mòn cắt qua núi, nhưng phần lớn là đi dưới nắng do cây cối thưa thớt, cây rừng lớn gần như không còn, thay vào đó là những loại cây trồng như điều, keo, mít. Đường mòn qua nhiều đoạn là lồ ô, lau sây và cỏ tranh, thỉnh thoảng mới có những lùm cây tạo bóng dâm để dân phượt và du khách dừng chân nghỉ.

– Rác do dân phượt để lại rải rác tại các điểm nghỉ dọc hành trình cũng là vấn đề, phần lớn là vỏ chai nước. Những diện tích tương đối bằng phẳng gần đỉnh núi là nơi dân phượt hay du khách cắm trại, nấu nướng. Đây cũng là nơi để rác như: đá kê làm bếp, than, củi cháy chưa hết, vỏ chai nước, vỏ đồ hộp. Ngay gần vườn hoa ga cáp treo cũng có một bãi tập kết rác, trông thật nhếch nhác.

– Đoạn đường từ chùa xuống cũng khá dài, dọc theo các bậc thang là hàng, quán sát nhau (bán đồ lưu niệm, đồ ăn, thức uống…) với mái tôn che kín lối đi. Có cảm tưởng như chùa chen vào hàng quán. Cây Da ba gốc cũng bị bọc bởi quán ăn, lửa, nhang khói… Có thể nói đoạn đường lên và xuống chùa là một không gian ngột ngạt.

Một vài hình ảnh chuyến vượt núi:

Điểm giữ xe máy 24/24 cho người vượt núi
Vượt sườn đông theo đường mòn qua 148 cột điện
Một gốc cây rừng đường kính gần 1,0 m giữa “vườn” điều
Vượt sườn dốc 50 – 60o
Thảo quan sát bề mặt cao nguyên bazan Xuân Lộc, hồ Núi Le, hồ Gia Ui từ cột điện 133
Những diện tích bằng phẳng, có bóng mát là nơi dân phượt cắm trại. Người đi rác ở lại
Tại đỉnh núi Chứa Chan lúc 11:30
Thảo, Lâm và Thành “tự sướng” tại đỉnh cao 837 m
Qua rừng cỏ lau
Cây Da ba gốc bị bọc bởi quán ăn, lửa, nhang khói nghi ngút

Phân tích chi tiết những giá trị địa du lịch, những đề xuất sản phẩm địa du lịch, đề xuất hoạt động du lịch dọc tuyến hành trình sẽ được trình bày trong khóa luận tốt nghiệp của sinh viên tới đây.

H &H