Công viên địa chất toàn cầu Đắk Nông – đánh thức vùng di sản nam Tây Nguyên

Mỹ An

Tháng 7.2020, tổ chức UNESCO đã thông qua quyết định công nhận Công viên địa chất Đắk Nông (Đắk Nông) là Công viên địa chất toàn cầu. Đây là cơ hội để Đắk Nông có thêm điều kiện tốt nhất để bảo tồn các di sản văn hóa, kết hợp phát triển kinh tế bền vững…

Thác Liêng Nung. Ảnh: Hà Thế Bảo

Công viên địa chất toàn cầu là danh hiệu dành cho một khu vực tự nhiên có ranh giới địa lý – hành chính rõ ràng, chứa đựng một tập hợp các di sản địa chất tầm cỡ quốc tế có giá trị khoa học, giáo dục và thẩm mỹ, cùng các giá trị khác về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa, xã hội… Tất cả cùng được bảo tồn và phát huy giá trị một cách tổng thể.

Đây là Công viên địa chất toàn cầu thứ ba ở Việt Nam, sau Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) và Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng (Cao Bằng).

 

Hồ Tà Đùng. Ảnh: DaknongGeopark

Công viên địa chất là mô hình kết nối và tìm hiểu về sự hình thành của trái đất, thông qua hình thức du lịch địa chất. Là nơi du khách có cơ hội được tìm hiểu về nguồn gốc và đặc điểm cấu tạo của các dạng địa hình. Mô hình này đề cao công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân và du khách để sống chan hòa với thiên nhiên, biết trân trọng những giá trị và tài nguyên của tạo hóa. 

Công viên địa chất Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn với ranh giới trải dài trên 5 huyện và 1 thị xã gồm huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk G’Long và thị xã Gia Nghĩa.

Là một phần của cao nguyên M’Nông nên thơ, hùng vĩ, Công viên địa chất Đắk Nông là nơi hội tụ các giá trị tiêu biểu về địa chất địa mạo, khảo cổ, văn hóa và đa dạng sinh học đặc trưng của khu vực.

Thác nước D’ray Sáp. DaknongGeopark

Được hình thành từ triệu triệu năm trước do quá trình vận động của vỏ trái đất, song hệ thống hang động trong đá bazan khu vực Đray Sáp-Chư R’Luh chỉ mới được phát hiện từ năm 2007.

Hệ thống hang động núi lửa này đã được Hiệp Hội Hang động Núi lửa Nhật Bản xác lập kỷ lục Đông Nam Á về cả quy mô, độ dài và tính độc đáo. Trong các hang động còn ẩn chứa nhiều điều bí mật về cơ chế thành tạo, các tổ hợp khoáng vật, đa dạng sinh học và di chỉ khảo cổ…

Vũ điệu cồng chiêng. Ảnh: Daknonggeopark

Trong khu vực Công viên địa chất còn có các di sản địa kiểu cổ sinh như các hóa thạch Cúc đá, các khuôn cây trong đá bazan; có các dãy núi cao phân bậc địa hình, các hồ nước tự nhiên đầy thơ mộng như hồ Ea Snô, hồ Trúc, hồ Tây… các miệng núi lửa độc đáo và đặc trưng như Chư R’luh, Nâm Kar, Băng Mo…. và hệ thống các thác nước đẹp, hùng vĩ như thác Gia Long, thác Băng Rúp, Dray Sáp…

Công viên địa chất Đắk Nông còn là khu vực có bề dày văn hóa, lịch sử, với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể như: Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; di tích cấp quốc gia đặc biệt Đường mòn Hồ Chí Minh và 5 di tích cấp quốc gia khác như: Ngục Đắk Mil, Căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV, Di tích lịch sử lưu niệm N’Trang Gưh, Địa điểm Chiến thắng Đồi 722 – Đắk Sắk, Địa điểm bắt liên lạc khai thông đường Hồ Chí Minh đoạn Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ.

Thác Liêng Nung. Ảnh: Hà Thế Bảo

Với nhiều trầm tích văn hóa, sự hoang sơ độc đáo của Công viên địa chất toàn cầu chắc chắn sẽ hấp dẫn du khách, là cơ hội để phát triển kinh tế – du lịch. Tuy nhiên cũng đặt ra cho địa phương này trách nhiệm nặng nề trong quá trình bảo tồn và khai thác để đảm bảo không tác động tiêu cực vào thiên nhiên, nhưng đồng thời tạo được sức hút lớn để phát triển kinh tế.

https://dulich.laodong.vn/diem-den/cong-vien-dia-chat-toan-cau-dak-nong-danh-thuc-vung-di-san-nam-tay-nguyen-831347.html

Thế giới trong mắt nhiếp ảnh gia biết bay

Nhìn thế giới từ trên cao, George Steinmetz từ một nhiếp ảnh gia, vô tình trở thành nhà hoạt động vì môi trường.

Năm 1997, George Steinmetz, nhiếp ảnh gia đến từ New Jersey, quyết định học bay khi đảm nhận một dự án chụp ảnh tại vùng trung tâm Sahara và phi công riêng của ông đã xin rút. Nhưng thứ George chọn không phải là máy bay, mà là một chiếc dù lượn gắn động cơ.

“Ban đầu tôi tìm hiểu về dù lượn vì muốn bay ở Sahara, và đó là nơi gần như tôi có thể cất cánh hay hạ cánh ở bất kỳ đâu, vì nó là một địa hình khá an toàn để dùng một phương tiện gắn mô-tơ không đáng tin cậy”, George nói.

George Steinmetz bay dù lượn tại Giza, Ai Cập. Ảnh: Gaetan Hutter.

Ông ví dù lượn như “chiếc ghế vải bay”, để ông có thể bay thấp và chậm trên mặt đất mà không làm phiền người khác hay động vật bên dưới. Nó có thể được tháo dỡ dễ dàng và chia thành ba kiện, mỗi cái nặng chưa đến 20 kg. Do đó, George có thể mang theo “phi cơ của riêng mình” trên bất kỳ chuyến bay thương mại nào.

Từ đó, George, còn có biệt danh là “nhiếp ảnh gia bay”, ghi lại những khung cảnh đẹp nhất vòng quanh thế giới và tập hợp lại trong cuốn sách The Human Planet: Earth at the Dawn of the Anthropocene (tạm dịch là Hành tinh của con người: Trái Đất vào buổi bình minh của kỷ Nhân Sinh).

Với dù lượn, trực thăng và những chiếc drone chuyên nghiệp, George không chỉ hé lộ những kỳ quan thiên nhiên độc đáo, mà còn ghi lại dấu vết khổng lồ của cuộc sống thường ngày. Nhiếp ảnh gia bay chụp ảnh từ những bể muối sặc sỡ tại Teguidda-n-Tessoumt, Nigeria, cho đến cảnh người nông dân trồng lại cây cọ ở Sapi, Malaysia; hay buổi chôn cất hàng loạt nạn nhân của đại dịch Covid-19 trên đảo Hart, New York, Mỹ – độc giả sẽ không thể thấy những hình ảnh này vì cảnh sát đã tịch thu drone của ông.

Từ dù lượn của mình, George chụp được một bức tranh màu sắc tạo nên từ những hố cạn do người dân tự đào để lấy chất khoáng rắn cho gia súc. Màu sắc của từng hố phụ thuộc vào hỗn hợp bùn, tảo và muối ở Teguidda-n-Tessoumt, Nigeria. Ảnh: George Steinmetz.

Dù drone hỗ trợ ông quay chụp phần lớn thời gian do tính năng vượt trội và đảm bảo an toàn, George thực sự quý trọng những tấm ảnh tự mình thực hiện khi bay dù lượn. “Bạn có thể mang theo camera lên cao, song thật khác biệt khi dùng drone. Nhưng drone như một chiếc kính tiềm vọng bay trên trời, và bạn chỉ có thể nhìn thấy những thứ hiển thị trên màn hình chứ không bao quát mọi thứ bên ngoài”, nhiếp ảnh gia Mỹ nhận định.

Ông cũng cho rằng: “Dù lượn thực sự tuyệt vời vì tầm nhìn của bạn không bị giới hạn dù theo bề ngang hay phương thẳng đứng. Như một chiếc môtô bay vậy, mọi thứ ở xung quanh, và bạn cũng có mặt giữa không gian đó”.

Nông dân trồng cây sử dụng giếng tưới nhân tạo ngoài rìa sa mạc Rub’ al Khali, Saudi Arabia. Ảnh: George Steinmetz.
Đồng bằng nơi sông Colorado đổ ra vịnh California, đây là khu vực từng có hệ sinh thái phong phú. Tuy nhiên khi các con đập, dự án thuỷ lợi được xây dựng để đưa nước về các thành phố vào thế kỷ 20, lưu vực sông đã thay đổi. Ảnh: George Steinmetz.
Đồn điền cọ tại Sapi, Sabah, Malaysia. Việc phá rừng mưa để trồng đồn điền cọ lấy dầu đã tàn phá hệ sinh thái tự nhiên. Ảnh: George Steinmetz.
Những nhà kính lợp mái nhựa ở miền nam Tây Ban Nha. Nơi này chủ yếu trồng cà chua, ớt ngọt, dưa chuột, cà tím… canh tác tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, mô hình nông nghiệp này bị chỉ trích vì khai thác cạn kiệt nước ngầm, gây ô nhiễm nitrat và bóc lột lao động nhập cư. Ảnh: George Steinmetz.
Trang trại bò sữa ở Wisconsin, Mỹ với hơn 3.300 chuồng nuôi nhốt. Ảnh: George Steinmetz.

George đánh giá cao những trải nghiệm trực tiếp giúp mở mang tầm mắt. Ông viết trong cuốn sách của mình: “Tôi cho rằng sự thật là điều tối quan trọng, và tôi cần tự mình trải nghiệm nhiều thứ”. Và những điều đã trải qua tạo ra một thay đổi, để ông vô tình trở thành một nhà bảo vệ môi trường.

“Tôi nhận ra dân số toàn cầu đang gia tăng, và nơi ở của động vật hoang dã dần biến mất, và con người đang tiêu tốn tài nguyên của trái đất ở tốc độ chóng mặt… Nó dần trở nên rõ ràng rằng con người đang bước vào một thời kỳ của những giới hạn – bởi chúng ta không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên ở tốc độ như hiện nay nếu có mong muốn thế hệ sau còn một hành tinh để sống”, ông nhìn nhận.

Bảo Ngọc (Theo Alas Obscura)

https://vnexpress.net/the-gioi-trong-mat-nhiep-anh-gia-biet-bay-4119885.html

Ảnh vệ tinh cho thấy Covid-19 có thể xuất hiện ở Vũ Hán từ tháng 8/2019

Nghiên cứu của Trường Y, Đại học Harvard, sử dụng ảnh vệ tinh và xu hướng tìm kiếm trên mạng cho thấy Covid-19 có thể đã lây lan ở Trung Quốc từ tháng 8/2019.

Nghiên cứu mới chỉ ra số lượng ôtô trong bãi đậu xe 5 bệnh viện ở Vũ Hán từ đầu tháng 8/2019 cao đáng kể so với mùa hè và mùa thu năm trước. “Lượng xe tăng mạnh từ tháng 8/2019 và đạt đỉnh vào tháng 12/2019”, nhóm nghiên cứu do giám đốc sáng tạo Bệnh viện Nhi Boston John Brownstein dẫn đầu, viết trong một bản tin được đăng trên cổng thông tin DASH của Đại học Harvard, Mỹ, hôm 8/6.

Trong ảnh vệ tinh tháng 10/2018, các nhà nghiên cứu đếm được 171 ôtô trong các bãi đậu ở Thiên Hựu, bệnh viện lớn nhất Vũ Hán. Ảnh vệ tinh một năm sau cho thấy 285 ôtô trong cùng các bãi đậu, tăng khoảng 67%, cũng như lưu lượng giao thông tăng 90% cùng thời điểm tại các bệnh viện khác ở Vũ Hán.

“Các bệnh viện riêng lẻ ghi nhận số ngày có lượng xe tương đối cao trong cả mùa thu và mùa đông 2019. Tuy nhiên, từ tháng 9 đến tháng 10/2019, 5 trong số 6 bệnh viện cho thấy lượng xe đậu trong bãi hàng ngày cao nhất trong loạt phân tích, trùng thời điểm mức độ tìm kiếm trên Baidu tăng cao đối với các từ khóa ‘tiêu chảy’ và ‘ho'”, nhóm nghiên cứu viết.

Số lượng xe trong các bãi đậu tại bệnh viện Thiên Hựu tại hai thời điểm tháng 10/2018 và tháng 10/2019. Ảnh: ABC News.

“Đây là tất cả những gì nỗ lực ghép mảnh một câu đố phức tạp về những gì đang diễn ra vào thời điểm đó”, Brownstein nói. “Dữ liệu đặc biệt hấp dẫn bởi chúng tôi thấy sự gia tăng tìm kiếm bệnh về đường tiêu hóa, tiêu chảy, ở mức độ chúng tôi chưa từng thấy trong lịch sử. Bây giờ chúng tôi biết chắc rằng các triệu chứng về tiêu hóa là triệu chứng ban đầu quan trọng của Covid-19. Một tỷ lệ lớn người dương tính nCoV ở Vũ Hán thực sự có triệu chứng tiêu chảy”.

Brownstein và nhóm của ông đã dành hơn một tháng để cố gắng xác định các dấu hiệu khi dân số tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc bắt đầu bị ảnh hưởng. Logic dự án nghiên cứu của Brownstein rất đơn giản: các bệnh về đường hô hấp dẫn đến các loại hành vi rất đặc trưng trong các cộng đồng chúng lây lan. Vì vậy, những bức ảnh thể hiện những kiểu hành vi đó có thể giúp giải thích những gì đang xảy ra ngay cả khi người bị bệnh không nhận ra vấn đề rộng lớn hơn.

“Những gì chúng tôi đang cố gắng làm là xem xét các hoạt động, một bệnh viện bận rộn như thế nào”, Brownstein nói. “Và cách chúng tôi làm là đếm xe ở bệnh viện đó. Bãi đậu xe sẽ đầy ắp khi bệnh viện bận rộn. Vì vậy, nhiều xe hơi trong bệnh viện, bệnh viện bận rộn hơn, có khả năng do điều gì đó đang xảy ra trong cộng đồng, sự lây nhiễm gia tăng và mọi người phải đi khám bác sĩ”.

Sử dụng “luồng dữ liệu hợp lệ” để giám sát bệnh hô hấp không mới và nó cũng là một kỹ thuật được các cơ quan tình báo sử dụng.

“Cả hai ý tưởng bãi đậu xe bệnh viện hoặc doanh nghiệp có thể được sử dụng có thể là dấu hiệu tương đối cho điều gì đó xảy ra trong dân số”, Brownstein cho hay. “Chúng tôi đã công bố những năm trước việc phát hiện các bệnh viện ở Mỹ Latinh đông đúc trong mùa cúm. Bạn có thể dự đoán cúm mùa chỉ cần nhìn vào các bãi đậu xe. Và đó là ý tưởng trong nghiên cứu này”.

Theo Brownstein, nhóm hiện chưa thể chứng minh rõ ràng điều gì đã dẫn đến những tín hiệu này nhưng nó làm tăng thêm bằng chứng cho thấy điều gì đó đang xảy ra trước khi nó chính thức được thừa nhận.

Sự thay đổi số lượng xe trong các bãi đậu tại bệnh viện Trung Nam ở Vũ Hán vào tháng 10/2018 và tháng 10/2019. Ảnh: ABC News.

“Dù chúng tôi không thể xác nhận liệu sự tăng số lượng có liên quan trực tiếp đến Covid-19, bằng chứng của chúng tôi hỗ trợ công việc gần đây khác rằng virus đã xuất hiện trước khi được xác định tại chợ hải sản Hoa Nam”, theo Brownstein và nhóm của ông. “Những phát hiện này cũng chứng thực giả thuyết virus xuất hiện tự nhiên ở miền nam Trung Quốc và có khả năng đã lây lan cùng thời điểm cụm dịch Vũ Hán”.

Brownstein cho rằng những dấu hiệu ban đầu của đại dịch đã bị bỏ qua dễ dàng. “Nếu điều tương tự xảy ra ở Mỹ, rất có thể chúng ta cũng bỏ lỡ những tín hiệu này. Vì vậy, tôi nghĩ rằng chúng ta cần tăng cường các nỗ lực y tế công cộng và giám sát sức khỏe cộng đồng”, nhà nghiên cứu cho hay.

Covid-19 đã xuất hiện tại hơn 210 quốc gia, vùng lãnh thổ, khiến gần 7,2 triệu người nhiễm và gần 409.000 người tử vong. Mỹ, vùng dịch lớn nhất thế giới, phát hiện ca nhiễm đầu tiên hồi tháng 1 tại thành phố Seattle, bang Washington.

Huyền Lê (Theo CNN, ABC News)

https://vnexpress.net/covid-19-co-the-xuat-hien-o-vu-han-tu-thang-8-2019-4112689.html

MỨC ĐỘ QUÁ TẢI DÂN SỐ VIỆT NAM NĂM 2018 DỰA VÀO DẤU CHÂN SINH THÁI VÀ SỨC TẢI SINH HỌC

Nguyễn Trường Ngân

1.Mở đầu

Theo Mạng lưới Dấu chân Toàn cầu (GFN), quá tải dân số (overpopulation) xảy ra khi nhu cầu của con người vượt quá khả năng cung cấp hoặc tái tạo tài nguyên của sinh quyển [4]. Quá tải dân số không chỉ phụ thuộc ở kích cỡ hay mật độ dân số, mà còn vào tỷ lệ giữa dân số so với khả năng cung cấp hay tái tạo tài nguyên trái đất khu vực đó. Một khi quá tải dân số xảy ra, sự tàn phá môi trường sẽ diễn ra nhanh hơn khả năng phục hồi của tự nhiên.

Phương pháp tính toán sự quá tải dân số phổ biến trên thế giới hiện nay là đo lường thông quá việc so sánh giữa Dấu chân sinh thái (Ecological Footprint) và Sức tải sinh học (Biocapacity) của một khu vực tại một thời điểm.

Dấu chân sinh thái (EF): Đo lường diện tích bề mặt đất và nước cần để sản xuất tất cả các tài nguyên cần thiết và hấp thụ toàn bộ chất thải của một cá nhân/địa phương/quốc gia tại thời điểm tính toán [5].

Sức tải sinh học (BC) Đo lường khả năng sản xuất các tài nguyên của đáp ứng nhu cầu của con người và hấp thụ chất thải do con người tạo ra của hệ sinh thái tại khu vực nghiên cứu vào thời điểm tính toán [5].

Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh học đều được đo lường bằng đơn vị hecta toàn cầu (global hectare – gha) và đều căn cứ vào công nghệ khai thác và năng lực quản lý tài nguyên vào thời điểm tính toán tại khu vực nghiên cứu. Hecta toàn cầu (gha) là khả năng cung cấp sinh học của một loại đất quy ra năng suất sinh học trung bình trên thế giới tại một thời điểm. Ví dụ, đất trồng trọt có năng suất sinh học cao hơn đất đồng cỏ, do vậy, 1ha đất trồng trọt sẽ có diện tích lớn hơn 1ha đất đồng cỏ khi quy đổi sang gha. Tương tự vậy, đất trồng trọt ở Việt Nam có năng suất sinh học cao hơn đất trồng trọt ở Indonesia, do vậy khi quy đổi cùng một diện tích vật lý, đất trồng trọt tại Việt Nam sẽ có giá trị gha lớn hơn tại Indonesia.

Năm 2016, GFN đã đề xuất 5 thành phần để tính toán EF và BC cho quy mô quốc gia và khu vực, bao gồm: (i) trồng trọt và chăn nuôi, (ii) lâm nghiệp, (iii) thủy sản, (iv) xây dựng, và (v) phát thải carbon (hình 1)

Hình 1. Năm thành phần của Dấu chân sinh thái. Nguồn: GFN, 2016 [2]

Năm 2019, GFN công bố bản đồ thiếu hụt/dư thừa sinh học quy mô quốc gia cho 234 quốc gia và vùng lãnh thổ (hình 2). Từ kết quả tính toán, GFN đã kết luận: “Con người hiện đang sử dụng một lượng bằng 1,75 lần trái đất để cung cấp tài nguyên và chứa đựng chất thải. Điều này nghĩa là trái đất phải mất một năm và chín tháng để tái tạo lại những gì chúng ta sử dụng trong một năm”. Theo kết quả này, Việt Nam với tỷ lệ thiếu hụt – 110%, thuộc nhóm phân loại thiếu hụt cao (quá tải dân số cao).

Hình 2. Bản đồ thiếu hụt/ dư thừa sinh học năm 2019 quy mô quốc gia. Nguồn: GFN, 2019 [3]
2.Mục tiêu

Nghiên cứu này sử dụng số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 2018 để tính toán Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh học, từ đó phân tích mức độ quá tải dân số và thành lập bản đồ mức độ quá tải dân số. Việc tính toán chi tiết tới đơn vị hành chính cấp tỉnh (tỉnh, thành phố thuộc trung ương).

3.Phương pháp

Lưu đồ thu thập và xử lý số liệu được thực hiện qua các bước như hình 3.

Hình 3. Lưu đồ quy trình nghiên cứu

Bước 1. Thu thập dữ liệu. Các dữ liệu thu thập ở 5 lĩnh vực sử dụng tài nguyên và 3 quy mô.

– Quy mô toàn cầu: hệ số quy đổi từ ha về gha (EQF) của các lĩnh vực sử dụng tài nguyên (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng) [4] và phát thải carbon [1].

– Quy mô cả nước: các số liệu về năng suất trung bình các lĩnh vực sử dụng tài nguyên [6] và hệ số phát thải carbon trung bình [1].

– Quy mô cấp tỉnh: số liệu về diện tích, tổng sản lượng, năng suất [6], [7].

– Bản đồ hành chính 63 tỉnh thành, tỷ lệ 1: 1.000.000.

Bước 2. Tính toán Dấu chân sinh thái (EF) theo công thức sau:

Bước 3. Tính toán Sức tải sinh học (BC) theo công thức

Các lĩnh vực để tính EF và BC sử dụng các số liệu thống kê như bảng sau:

Bảng 1. Chỉ dẫn nguồn số liệu tính toán EF và BC

Một số lưu ý trong tính toán EF và BC:

– Đối với lĩnh vực xây dựng: theo lý giải của GFN, do phần lớn đất xây dựng có nguồn gốc từ đất trồng trọt, do đó: YF xây dựng = YF trồng trọt và EQF xây dựng = EQF canh tác [4].

– Phát thải CO2: chỉ tính EF, giá trị BCCO2 = 0 [4].

Bước 4. Tính tỷ lệ thiếu hụt và phân cấp mức độ quá tải dân số (OD) theo công thức:

OD (%) sau đó được phân cấp thành 5 cấp độ như bảng sau:

4.Kết quả và thảo luận

Kết quả tính toán và biên tập được trình bày thành sản phẩm cuối như hình sau:

Hình 4. Bản đồ mức độ quá tải dân số của 63 tỉnh thành Việt Nam năm 2018

4.1. Dấu chân sinh thái EF

Dấu chân sinh thái của cả nước năm 2018 tính được là 95,35 triệu gha (tương đương 1,0 gha/người). Tỉnh có dấu chân lớn nhất là Hà Nội (4,5 triệu gha) và TP.HCM (4,3 triệu gha). Tỉnh có dấu chân nhỏ nhất là Bắc Kạn (0,35 triệu gha). Tuy nhiên, nếu tính dấu chân bình quân đầu người thì tỉnh có dấu chân lớn nhất là Tây Ninh (2,19 gha/người) và tỉnh có dấu chân nhỏ nhất là TP.HCM (0,5 gha/người).

4.2. Sức tải sinh học BC

Sức tải sinh học cả nước năm 2018 tính được là 54,74 triệu gha (tương đương 0,58 gha/người). Tỉnh có sức tải lớn nhất là Đăk Lăk (3,05 triệu gha). Tỉnh có sức tải nhỏ nhất là TP.HCM (0,2 triệu gha). Nếu tính sức tải bình quân đầu người thì tỉnh có sức tải lớn nhất vẫn là Đăk Lăk (1,59 gha/người) và tỉnh có sức tải nhỏ nhất vẫn là TP.HCM (0,02 gha/người).

4.3. Mức độ quá tải dân số

Xét tổng thể cả nước, tỷ lệ quá tải OD = -74,17%, mức độ quá tải trung bình. Kết quả tính toán này thấp hơn một cấp so với kết quả tính toán của GFN.

Chưa quá tải dân số (cấp I): có 8 tỉnh (Hà Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đăk Lăk và Đắc Nông), chiếm 8,2% về dân số và 18,9% về diện tích của cả nước. Tỉnh có mức độ quá tải thấp nhất là Quảng Bình với giá trị OD là 31,25%.

Quá tải dân số rất cao (cấp V): có 11 tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Bắc Ninh, TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bến Tre), chiếm 7,48% về diện tích nhưng lại chiếm đến 34,64% về dân số của cả nước. Tỉnh có mức độ quá tải cao nhất là TP.HCM với OD = – 2.400%.

5.Kết luận

Cũng như nhận định của GFN đối với thế giới, tại Việt Nam, Người dân hiện đang sử dụng một lượng bằng 1,75 lần diện tích lãnh thổ để cung cấp tài nguyên và chứa đựng chất thải. Điều này nghĩa là tự nhiên phải mất một năm và chín tháng để tái tạo lại những gì chúng ta sử dụng trong một năm.

Ở quy mô địa phương, TP.HCM đã sử dụng đến 25 lần khả năng của tự nhiên, nghĩa là tại đây, tự nhiên phải mất 25 năm để tái tạo lại những gì chúng ta đã sử dụng trong 1 năm. Con số này tương ứng ở Hà Nội là 5 năm.

Tài liệu tham khảo

[1] GCP, 2019, Fossil Fuels Emissions 2018, http://globalcarbonatlas.org/en/CO2-emissions

[2] GFN, 2016, How the Footprint Works, https://www.footprintnetwork.org/our-work/ecological-footprint/.

[3] GFN, 2019, Global Ecological Deficit/Reserve Map, http://data.footprintnetwork.org/#/?

[4] Lin, D., 2019. Working Guidebook to the National Footprint and Biocapacity Accounts, working paper, Version 1.3, Global Footprint Network.

[5] Schaefer, F., 2006. Ecological Footprint and Biocapacity: The world’s ability to regenerate resources and absorb waste in a limited time period, European Communities.

[6] Tổng cục thống kê, 2019, Niên giám thống kê Việt Nam, NXB. Thống kê.

[7] Tổng cục thống kê, 2020, Tư liệu kinh tế – xã hội 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, NXB Thống kê.

Sông Mekong: Cần sự minh bạch, hợp tác về nguồn nước

HỒNG VÂN thực hiện

TTCT – Trong một cuộc trao đổi trực tuyến ngày 7-5, các chuyên gia – tác giả chính của một nghiên cứu mới (công bố ngày 10-4) về Giám sát lượng nước tự nhiên chảy từ thượng nguồn lưu vực sông Mekong trong điều kiện tự nhiên đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự minh bạch và hợp tác về nguồn nước trong khu vực.

Nghiên cứu trên đã đưa ra nhiều bằng chứng và dữ liệu hệ thống về việc các đập thủy điện Trung Quốc tích nước, góp phần làm tình trạng hạn hán ở các nước Thái Lan, Campuchia, VN thêm trầm trọng.

Cụ thể, từ tháng 4 – 9, cập nhật đến tháng 11-2019, phần thượng nguồn Mekong ở phía Trung Quốc có lượng mưa cao hơn bình thường nhưng các đập thủy điện ở nước này đã giữ lại số lượng nước đáng kể trong bối cảnh hạn hán khốc liệt ở hạ nguồn. Kết quả đo tại trạm Chiang Saen (Thái Lan) cho thấy mực nước sông không đủ để dâng cao trong mùa mưa.

Lẽ ra, lượng mưa và tuyết tan từ Trung Quốc đủ để mực nước ở đa số các nơi hạ lưu sông Mekong cao hơn trung bình từ tháng 4-2019 đến tháng 3-2020, nếu các đập thủy điện ở Trung Quốc không tích nước.

TTCT trò chuyện cùng tác giả chính của nghiên cứu, ông Alan Basist – chủ tịch Công ty Eyes on Earth Inc (chuyên nghiên cứu và tư vấn về nước) và ông Brian Eyler – giám đốc Chương trình Đông Nam Á, Trung tâm nghiên cứu Stimson (Mỹ), về ý nghĩa của nghiên cứu này.

Thưa ông Alan Basist, ông có thể nói về quá trình thực hiện nghiên cứu này?

– Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này đầu năm 2019 với ý tưởng giám sát lượng nước chảy từ thượng nguồn sông Mekong (sông Lan Thương, theo tên gọi ở Trung Quốc) tại một vị trí cửa ngõ là trạm đo Chiang Sean. Dữ liệu mực nước sông trung bình đo hằng ngày ở trạm này được thu thập từ tháng 1-1992 đến tháng 9-2019, do Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) cung cấp.

Phần phía trên trạm Chiang Sean gồm toàn bộ chiều dài con sông Lan Thương và một phần sông Mekong chảy qua Myanmar và Lào nhưng ở đây, không có phụ lưu nào chảy vào dòng chính.

Chúng tôi cố gắng tìm hiểu điều này với mục tiêu thúc đẩy sự minh bạch. Khi có thể xác định được lượng nước tự nhiên của dòng sông, những thảo luận về cách phân phối nguồn nước giữa các quốc gia chia sẻ dòng Mekong sẽ trung thực hơn. Do đây là một nghiên cứu nhỏ, hạn chế về phạm vi, chúng tôi chỉ tập trung vào khu vực thượng nguồn.

Nghiên cứu dựa vào dữ liệu vệ tinh cần tham chiếu với số liệu mặt đất. Ông có được tiếp cận với các dữ liệu cần thiết về việc vận hành chuỗi đập của Trung Quốc để tham chiếu cho nghiên cứu của mình không?

– Trung Quốc không cung cấp dữ liệu này. Đây chính là vấn đề. Chúng tôi đã xác thực dữ liệu từ cảm biến vệ tinh với dữ liệu của trạm đo tại Chiang Sean và số liệu này là quan trọng nhất, phản ánh lượng nước thực sự ở biên giới Thái Lan.

Mối quan hệ giữa dữ liệu vệ tinh và dòng chảy tự nhiên trong mô hình của chúng tôi phù hợp tuyệt vời với nhau, ổn định, có chu kỳ cao thấp hằng năm phù hợp với dòng chảy tự nhiên. Sau đó, chúng tôi đối chiếu với độ cao mực nước sông ở trạm Chiang Sean. Đây là nguồn số liệu mặt đất chính xác và là giá trị của mô hình của chúng tôi.

Ông Alan Basist. Ảnh: NVCC

MRC đã phản hồi nghiên cứu của ông vào ngày 21-4. Ông có ý kiến gì về những phản hồi đó?

– Nghiên cứu của chúng tôi phối hợp với MRC từ đầu. MRC khuyến khích chúng tôi thực hiện nghiên cứu này và cung cấp dữ liệu cho chúng tôi. Tôi trình bày về nghiên cứu của mình ở Hà Nội vào tháng 12-2019 với dữ liệu tính đến tháng 3 cùng năm để chứng minh chỉ số độ ẩm là đáng tin cậy để giám sát dòng chảy tự nhiên và hiểu sự khác biệt giữa dòng chảy tự nhiên và lượng nước đo được ở trạm Chiang Sean. Một đại diện của MRC tại buổi trình bày đề nghị tôi mở rộng nghiên cứu, xem xét toàn bộ mùa khô năm 2019 để biết lượng nước chảy từ Trung Quốc xuống là nhiều hay ít.

Thưa ông Brian Eyler, nghiên cứu tập trung vào 6 tháng trong một năm đặc biệt (năm hạn hán, ít mưa). Còn tác động của đập thủy điện ở Trung Quốc trong năm bình thường đối với ĐBSCL sẽ như thế nào?

– Dù là năm nào, các đập thượng nguồn của Trung Quốc đều có tác động đến ĐBSCL. Các đập thủy điện của Trung Quốc tác động đến sông Mekong ở ĐBSCL bằng cách tích nước hoặc xả nước. Trong 30 năm qua, Trung Quốc tích nước nhiều hơn là xả nước. Trong những năm hạn nghiêm trọng và trong mùa khô, lượng nước từ Trung Quốc chảy về hạ lưu từ 40% hoặc hơn so với phần còn lại của lưu vực.

Vì vậy, trong mùa khô, tác động từ thượng nguồn do việc hạn chế dòng chảy có khả năng ảnh hưởng lớn hơn so với các tác động này trong mùa mưa. Tác động của việc tích nước trong mùa khô làm tăng nhiễm mặn ở ĐBSCL, buộc người dân phải khai thác một lượng lớn nước ngầm do thiếu nước ngọt.

Trung Quốc có thể giữ nước phía sau các con đập của họ. Điều gì xảy ra với khối lượng nước này, cuối cùng thì nước chảy đi đâu?Ngoài ra, tác động tổng hợp lớn nhất của các đập thủy điện ở Trung Quốc là loại bỏ phù sa khỏi hệ thống sông Mekong vì 60% lượng trầm tích của dòng chính sông Mekong đến từ Trung Quốc. Phù sa rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL, là yếu tố rất quan trọng làm cho ĐBSCL vững chắc hơn trước những đe dọa của biến đổi khí hậu. Khi phù sa bị mất đi, ĐBSCL không còn được bồi đắp, nơi này sẽ bị suy yếu về mặt địa chất, dễ bị xói mòn và lún thấp hơn mực nước biển.

– 5 con đập đã được xây dựng trong 5 năm qua ở thượng nguồn sông Mekong đều có hồ chứa lớn. Nước có khả năng nằm trong các hồ chứa này ở thượng nguồn. Các đập trên sông Lan Thương thường không sử dụng để sản xuất thủy điện nên nước không thường xuyên chạy qua các tuôcbin, trừ khi ở thượng nguồn hoặc hạ nguồn cần xả nước. Các con đập ở thượng nguồn có vai trò như nguồn dự trữ nước cho tương lai của Trung Quốc với cái giá mà các nước hạ nguồn gánh chịu.

Đập Cảnh Hồng của Trung Quốc quả thực có xả nhiều nước hơn trung bình trong mùa khô (cuối tháng 1-2020), giúp mực nước trung bình trên sông Mekong tăng lên nhưng chỉ số ở các trạm đo tại Tân Châu, Châu Đốc ở ĐBSCL cho thấy lượng nước này không đến VN.

Tôi không thấy có bằng chứng nào về việc Trung Quốc tháo nước từ sông Lan Thương sang các lưu vực sông khác ở đại lục. Cho đến nay, điều này là không thể về mặt kỹ thuật, nhưng không có nghĩa là nó không được khắc phục trong tương lai khi tài nguyên nước ở Trung Quốc cạn kiệt dần theo thời gian.

Ông Brian Eyler. Ảnh: NVCC

Có khả năng nước được dùng như một loại vũ khí như tích trữ trong mùa khô hạn hoặc xả thêm trong mùa lũ không, thưa ông?

– Trước khi có báo cáo này, tôi sẽ trả lời “KHÔNG” với câu hỏi trên. Nhưng bằng chứng khoa học đã thay đổi suy nghĩ của tôi. Năm ngoái, Trung Quốc đã giữ rất nhiều nước trong mùa mưa, vốn là một năm ít mưa ở hạ lưu sông Mekong, phá vỡ chu kỳ nước sông dâng lên.

Liệu Trung Quốc có làm điều này và sử dụng nước như một loại vũ khí hay không còn phải lý giải. Tôi cho rằng sự kiện đã xảy ra có thể do thiếu sót về thông tin hoặc thiếu phối hợp giữa các đơn vị vận hành đập và chính quyền trung ương ở Bắc Kinh.

Nhưng qua đó ta thấy những thiếu sót ở Trung Quốc có khả năng can thiệp sâu vào sự sống còn của sông Mekong, dòng chính. Ngoài ra, có báo cáo về việc xả nước đột ngột liên quan đến các con đập mới. Một lần nữa, Trung Quốc dường như đã không được lường trước hậu quả của việc xả nước bất ngờ với hạ nguồn.

Hậu quả của nó chắc chắn là giống với tác động của một loại vũ khí đối với các cộng đồng ở bắc Thái Lan và Lào, nơi sinh kế của người dân bị thiệt hại. Ruộng vườn của họ bị ngập, nông cụ và gia súc bị cuốn trôi.

Việc các con đập tích nước, xả nước có thể là thách thức cho các nỗ lực đối thoại giữa Trung Quốc và các nước Mekong. Làm sao các bên liên quan có thể thảo luận, kêu gọi sự minh bạch và hợp tác tích cực hơn từ Trung Quốc?

– Phương pháp của Công ty Eyes on Earth có thể được nhân rộng với chi phí thấp. Nếu các bên liên quan, cho dù là cấp chính phủ hay phi chính phủ áp dụng các phương pháp nghiên cứu này hoặc có nhu cầu tiếp cận với số liệu gần như theo thời gian thực từ Công ty Eyes on Earth hoặc các tổ chức nghiên cứu khác, những thông tin này có thể trở thành kiến thức phổ biến và được sử dụng rộng rãi để cải thiện các cuộc đối thoại liên quan đến Mekong.

MRC cần áp dụng phương pháp và phát hiện này, đồng thời công nhận giá trị của nó trong việc giám sát sông Mekong và sử dụng nó trong các thảo luận trong khuôn khổ Hợp tác Lan Thương – Mekong của cơ quan này với Trung Quốc.

Xin cảm ơn hai ông.

https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20200522/song-mekong-can-su-minh-bach-hop-tac-ve-nguon-nuoc/1557780.html

Ngày Trái đất, ngắm những ‘điểm đen’ ô nhiễm trở nên trong lành giữa đại dịch

TTO – Ngày Trái đất (22-4) năm nay được Liên Hiệp Quốc lựa chọn với chủ đề ‘Hành động vì khí hậu’ nhằm nâng cao nhận thức và đưa ra những biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu.

Venice (Ý) trời xanh, nước xanh, giữa đại dịch COVID-19 – Ảnh: REUTERS

2020 cũng là kỷ niệm 50 ngày Trái đất. Theo The Guardian, sự kiện được tổ chức lần đầu vào năm 1970, thu hút khoảng 20 triệu người Mỹ hưởng ứng, xuống đường tuần hành vì môi trường và yêu cầu chính quyền mạnh tay đưa ra các biện pháp bảo vệ hành tinh.

Đến năm 2009, Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận 22-4 là ngày Trái đất, cũng là dịp cả thế giới nhìn nhận về giá trị của môi trường, kêu gọi các hành động thiết thực bảo vệ môi trường.

Năm nay, ngày Trái đất đến giữa lúc thế giới đang chống lại đại dịch COVID-19.

Nhờ những biện pháp phong tỏa để ngăn đại dịch, môi trường những ngày qua ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực.

Khí quyển Trái đất sạch hơn khi người dân ít ra ngoài, phương tiện giao thông hạn chế, hoạt động sản xuất thải khí nhà kính giảm đi… Nhiều “điểm đen” ô nhiễm như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan… có bầu không khí trong lành kinh ngạc.

Theo Reuters, dữ liệu vệ tinh của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) cho thấy từ ngày 14 đến 25-3, ô nhiễm không khí do chất NO2 ở những thành phố lớn tại các nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý giảm khoảng 40%.

Trái đất cũng ít ồn ào hơn. Tạp chí Newsweek ghi nhận, những ngày qua bề mặt Trái đất yên tĩnh hơn, giảm đáng kể những rung động trên đất liền, chủ yếu do lượng xe cộ giảm, tạm dừng thi công nhiều công trình xây dựng giữa đại dịch…

Theo TS Stephen Hicks – ĐH Hoàng gia London (Anh) – đây là thời điểm hiếm có giữa nhịp sống hiện đại để nghiên cứu về địa chất Trái đất.

Giữa mùa dịch, động vật hoang dã ‘lộ diện thường xuyên hơn sau nhiều năm; hoa tulip, hoa anh đào nở đúng hẹn; những kỳ quan thiên nhiên đông đúc khách nay nhàn nhã, yên bình…

Ngày Trái đất năm nay dường như đúng nghĩa cho Trái đất.

Đường xá thênh thang, không khí trong lành, người dân ở miền bắc Ấn Độ thậm chí đã thấy được dãy Himalaya cách đó 200km lần đầu tiên sau 30 năm – Ảnh: INDIA TIMES
Hoa tulip nở đúng mùa (tháng 4 – tháng 5) ở Hà Lan. Tuy nhiên, ước tính mỗi ngày nước này phải bỏ đi 1 triệu cành hoa do nhu cầu sụt giảm trong đại dịch. Theo hợp tác xã Royal FloraHolland – cơ sở chuyên cung cấp hoa lớn nhất Hà Lan – ước tính năm nay khoảng 70% tổng sản lượng hoa tulip ở nước này sẽ không tiêu thụ được – Ảnh: REUTERS
Khung cảnh yên tĩnh ở La Paz, Bolivia – Ảnh: REUTERS
Mùa dịch động vật “tràn” ra ngoài nhiều hơn. Trong ảnh: Bầy khỉ tại đền Prang Sam Yod, Lopburi, Thái Lan – Ảnh: REUTERS
Ở châu Á, hoa anh đào vẫn nở đón xuân (tháng 3 – tháng 5). Chính quyền Tokyo (Nhật Bản) từng kêu gọi người dân nên hủy các kế hoạch ngắm hoa năm nay nhằm tránh lây nhiễm virus – Ảnh: REUTERS
Hoa anh đào nở, mùa xuân vẫn đến ở Riga, Latvia – Ảnh: REUTERS
Dòng sông trong vắt ở Venice (Ý) khi vắng khách du lịch. Người dân nơi đây cho biết đã rất lâu mới được ngắm nhìn màu nước xanh và đẹp đến thế khi không có khách du lịch, không động cơ mô tô nước, không rác thải… – Ảnh: REUTERS
Loài rùa biển đặc hữu ở bang Odisha của Ấn Độ “chiếm cứ” bờ biển Rushikulya đẻ trứng. Rùa ở đây từng trốn tránh do ô nhiễm và khách du lịch quấy phá, nhưng nay có thể vô tư nghỉ dưỡng mà không bị làm phiền – Ảnh: INDIA TIMES
Cánh rừng còn sót lại sau đợt cháy rừng lịch sử tại Úc. Đầu tháng 3, chính quyền bang New South Wales (Úc) thông báo đám cháy đã hoàn toàn được dập tắt, nhưng hỏa hoạn đã gây thiệt hại nặng nề cho thiên nhiên nước này – Ảnh: NEW YORK TIMES
Chú ong hút mật trên hoa hạnh nhân một ngày yên bình ở Tel Arad, Israel – Ảnh: REUTERS
Sư tử nằm nghênh ngang giữa đường tại Vườn Quốc gia Kruger (Nam Phi). Theo người phát ngôn Vườn quốc gia Isaac Phaala, sư tử thường ngủ trong các bụi rậm nhưng do lệnh đóng cửa vườn từ 25-3, đàn sư tử tranh thủ “tận hưởng” khoảnh khắc yên tĩnh hiếm thấy – Ảnh: REUTERS

HOÀNG THI

https://tuoitre.vn/ngay-trai-dat-ngam-nhung-diem-den-o-nhiem-tro-nen-trong-lanh-giua-dai-dich-20200422123131468.htm

Đập thủy điện Trung Quốc giữ nước sông Mê Kông suốt mùa mưa, gây hạn cho hạ nguồn

Phúc Duy

Các đập Trung Quốc đã giữ lại một lượng nước lớn ở thượng nguồn sông Mê Kông ngay cả trong mùa mưa, gây thiệt hại cho khu vực hạ lưu dù Trung Quốc có mực nước cao hơn mức trung bình, theo nghiên cứu mới.

Hạn hán, thiếu nước tại xã An Phú Trung, H.Ba Tri, Bến Tre (tháng 3.2020). Ngọc Dương

Trong đợt hạn hán năm ngoái, mực nước ở hạ lưu sông Mê Kông giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 5 thập niên qua, đe dọa đời sống của khoảng 60 triệu người. “Nếu người Trung Quốc tuyên bố họ không có động thái cố tình gì trong đợt hạn hán thì dữ liệu của chúng tôi chống lại họ”, ông Alan Basist, nhà khí tượng học-chủ tịch công ty Eyes on Earth Inc. (Mỹ), nói với Reuters.

Eyes on Earth Inc., công ty nghiên cứu và tư vấn về nước, vừa công bố nghiên cứu về sông Mê Kông. Nghiên cứu được tiến hành với sự tài trợ của Bộ Ngoại giao Mỹ trong khuôn khổ Sáng kiến Hạ lưu sông Mê Kông.

Theo nghiên cứu, dữ liệu vệ tinh về độ ẩm bề mặt trên đất liền cho thấy mực nước tại khu vực thượng nguồn sông Mê Kông ở tỉnh Vân Nam thực sự trên mức trung bình một chút trong mùa mưa từ tháng 5-10.2019.

Trong khi đó, mực nước ở hạ lưu sông Mê Kông được đo đạt vào cùng thời điểm này có lúc thấp hơn 3 m so với mức cần thiết, nhóm nghiên cứu cho biết. “Điều này cho thấy các đập của Trung Quốc đã giữ nước trong mùa mưa, làm cho tình trạng hạn hán ở hạ lưu nghiêm trọng hơn”, theo ông Basist.

Trung Quốc che đậy thông tin về 11 đập

Tác động của 11 đập Trung Quốc ở thượng nguồn sông Mê Kông luôn là vấn đề tranh luận lâu nay, nhưng thiếu dữ liệu vì Trung Quốc không công bố thông tin chi tiết về lượng nước mà các đập đang sử dụng để đổ vào hồ chứa, theo Reuters. Dùng công nghệ cảm biến đặc biệt SSMI/S để thu thập dữ liệu vệ tinh từ năm 1992-2019, Eyes on Earth Inc. ước tính các hồ chứa nước của Trung Quốc có tổng công suất hơn 47 tỉ m3.

Thực tế là kể từ khi thông tin về các đập thủy điện Trung Quốc xuất hiện trên mạng hồi 2012, các chỉ số mực nước sông bắt đầu biến động, điều này thể hiện rõ nét nhất vào năm 2019, ông Basist lưu ý.

Bên cạnh đó, Trung Quốc không có hiệp ước chính thức với các nước hạ lưu sông Mê Kông, nhưng hứa hẹn sẽ hợp tác quản lý dòng sông dài 4.350 km và phối hợp điều tra nguyên nhân của đợt hạn hán kỷ lục năm ngoái.

Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Mỹ cáo buộc chính quyền Trung đang kiểm soát sông Mê Kông. Phát biểu tại thủ đô Bangkok của Thái Lan năm ngoái, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cho rằng đợt hạn hán nghiêm trọng xuất phát từ “quyết định của Trung Quốc về việc chặn dòng nước ở thượng nguồn sông Mê Kông”.

Một ngư dân cho thấy tảo phát triển mạnh ở sông Mê Kông, đoạn chảy qua thị trấn Loei, Thái Lan ngày 10.1.2019. Reuters

Trong một thông báo ngày 13.4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc bác bỏ nghiên cứu của Eyes on Earth Inc., đồng thời cho rằng việc xem các đập của nước này gây ra hạn hán ở hạ lưu sông Mê Kông là “vô lý”.

Theo thông báo, tỉnh Vân Nam cũng hứng chịu hạn hán nghiêm trọng vào năm ngoái và lượng nước trong hồ chứa tại các đập thủy điện đã giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử.

Dù vậy, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cam kết nước này sẽ làm hết sức mình để đảm bảo “lượng nước xả hợp lý” cho các quốc gia ở hạ lưu sông Mê Kông, bao gồm Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

Tuyên bố của Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với dữ liệu của nghiên cứu mới, ông Brian Eyler, giám đốc chương trình nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Stimson (Mỹ) cho biết. “Chính quyền Trung Quốc đang nói dối hoặc những người vận hành đập ở thượng nguồn sông Mê Kông che đậy sự thật”, ông Eyler nói.

https://thanhnien.vn/the-gioi/dap-thuy-dien-trung-quoc-giu-nuoc-song-me-kong-suot-mua-mua-gay-han-cho-ha-nguon-1210682.html

Mười vùng biển đẹp nhất Việt Nam

Việt Nam sở hữu 3.260 km đường bờ biển cùng nhiều quần đảo đẹp. Các bãi biển đa dạng có thể chiều lòng mọi du khách, từ người yêu thích sự sôi động với các môn thể thao biển hay những người tìm kiếm nơi nghỉ dưỡng, yêu thích sự hoang sơ. Dưới đây là 10 vùng biển đẹp nhất cả nước, do Forbes giới thiệu.

Quần đảo gồm 16 hòn đảo nhỏ, ở vùng biển phía nam đất nước, Côn Đảo được biết tới với những bãi biển cát mịn, rạn san hô và sinh vật biển đa dạng.

Bình minh trên bãi biển. Ảnh: Khoroshunova/Shutterstock.

Trên đảo chính Côn Sơn, du khách có nhiều lựa chọn từ nhà nghỉ, homestay bình dân đến các khu nghỉ dưỡng cao cấp. Nổi bật nhất là Six Senses Côn Đảo, nơi có bãi biển Đất Dốc. Phía bắc thị trấn có bãi tắm Lò Vôi hoang sơ, trong lành, thích hợp cho các gia đình tổ chức cắm trại, dã ngoại ngoài trời.

Đảo Bảy Cạnh thu hút nhiều du khách, yêu thích khám phá thá thiên nhiên và du lịch sinh thái. Nằm phía đông đảo chính, Bảy Cạnh có diện tích hơn 680 ha là khu vực được phủ xanh bởi rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn. Hệ sinh thái ở đảo vô cùng phong phú với san hô, rong, cỏ biển, các loài cá và rùa.

Ngoài ra, khi đến Côn Đảo, du khách có thể thăm các bãi biển đẹp như An Hải, Ông Đụng, Đầm Trầu hay tham quan các di tích lịch sử như miếu Bà, miếu Cậu, nhà tù Côn Đảo, nghĩa trang Hàng Dương.

Vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên thế giới UNESCO nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 180 km. Nơi đây được biết tới với kỳ quan núi đá vôi và làng chài Cửa Vạn.

Với những du khách yêu thích tắm biển, Bãi Cháy là điểm đến không thể bỏ lỡ. Một gợi ý khác cho du khách là đi thuyền tới đảo Ti Tốp, nằm ở trung tâm vịnh, nơi có làn nước xanh như ngọc và êm đềm. Từ đây, du khách có thể thuận tiện tới thăm Vịnh Lan Hạ, Vịnh Bái Tử Long, đảo Ngọc Vừng, đảo Cát Bà, đảo Tuần Châu. Khu vực cũng nổi tiếng với những hang động như hang Sửng Sốt, hàng Đầu Gỗ, hang Trống…

Nép mình trong vịnh Thái Lan, Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất trên cả nước. Hơn một nửa hòn đảo hình giọt nước này là rừng rậm nhiệt đới nhưng điểm thu hút khách du lịch lại là những bãi biển. Trong đó phải kể đến bãi Sao, phía nam đảo, nơi có làn cát trắng mịn và nước trong xanh. Bãi Trường là điểm đến đẹp nhất để ngắm hoàng hôn, với những công trình nghệ thuật thuộc Sunset Sanato Beach Club. Du khách có thể đi dạo trong ánh chiều tà, bên dưới hàng dừa lao xao và tận hưởng những làn gió mát lành từ biển cả.

Nếu yêu thích một chuyến du lịch đảo, đừng bỏ lỡ tour hòn Móng Tay, Gầm Ghì, Mây Rút và Dăm Ngang. Du khách sẽ được trải nghiệm câu cá, lặn biển khám phá đại dương hay chơi các môn thể thao trên mặt nước. Hòn Thơm với cáp treo xuyên biển dài nhất thế giới cũng là một gợi ý. Ngoài bãi biển đẹp, ở đây còn có công viên nước 8 ha Aquatopia Water Park.

Du khách tắm biển ở đảo Gầm Ghì. Ảnh: Nguyen Quang Ngoc Tonkin/Shutterstock.

Thành phố lớn thứ 3 trên Việt Nam sở hữu một số bãi biển đẹp. Ở đây, có những điểm đến phù hợp với mọi du khách, cách trung tâm thành phố không xa. Những du khách yêu thích thể thao dưới nước có thể ghé thăm bãi biển Mỹ Khê, nơi nổi tiếng với hoạt động lướt sóng, lặn ống thở, phản lực nước Flyboard…

Nếu muốn tìm kiếm sự riêng tư, bạn có thể thuê một chiếc xe máy, chạy tới bãi biển Tiên Sa hoang sơ, phía bắc bán đảo Sơn Trà. Các địa điểm tham quan khác gần đó là cảng Tiên Sa, bãi Bụt, bãi Nam và chùa Linh Ứng.

Đà Nẵng chỉ cách phố cổ Hội An, di sản văn hóa thế giới UNESCO hay khu du lịch Bà Nà Hills khoảng 30 km.

Hội An là một trong những thành phố du lịch nổi tiếng nhất Việt Nam. Thương cảng cũ chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, hiện rõ trên những dãy nhà sơn vàng và đèn lồng nhiều màu sắc.

Sau khi tham quan phố Hội, di sản thế giới UNESCO, du khách hãy dành thời gian đến bãi biển Cửa Đại, nơi 3 con sông lớn hội tụ trước khi ra biển. Ở đây thu hút du khách với bãi cát trắng trải dài bất tận, hàng dừa xanh rì và nước biển phẳng lặng.

Ngoài ra, cụm đảo Cù Lao Chàm cũng là điểm đến không thể bỏ lỡ ở Hội An. Đảo được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, là minh chứng điển hình cho sự kết nối hài hòa giữa thiên nhiên và con người. Trong đó, lặn biển ngắm san hô nhiều màu sắc ở Hòn Dài, Bãi Xếp là một trong những trải nghiệm hấp dẫn nhất. Ở đây có hơn 300 loài san hô khác nhau, đa dạng về hình dạng, kích thước và màu sắc.

Thành phố miền trung tự hào khi sở hữu những bãi biển nổi tiếng nhất thế giới, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Bãi Nha Trang với chiều dài 7 km, nằm trong thành phố là điểm đến phổ biến nhất. Ở đây, du khách có thể bơi lội, chơi trò kéo dù, lướt sóng, mô tô nước. Vào mùa cao điểm tháng 4 – 8 hàng năm, bãi biển luôn trong trạng thái đông nghịt khách du lịch.

Nếu tìm kiếm những bãi biển vắng người hơn, du khách có thể đặt các tour đảo hòn Mun, đảo san hô, đảo Hòn Một… Ở đây có hàng loạt những trải nghiệm không thể bỏ lỡ như lặn biển, đi bộ dưới biển, cưỡi phao chuối và lướt sóng.

Biển Dốc Lết, thuộc phường Ninh Hải, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cách thành phố Nha Trang khoảng 50 km về phía nam. Ở phía bắc khu du lịch tập trung nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng. Trung tâm là nơi tập trung các bãi biển hoang sơ. Còn ở phía nam có khu du lịch Jungle Beach, hay còn được gọi là ngôi làng biển. Ở đây có những homestay mộc mạc với mái tranh, cột tre nằm trên bãi cát trắng, mịn.

Dốc Lết không phát triển cơ sở vật chất như Nha Trang, tuy nhiên có ưu điểm là phong cảnh đẹp, thưa khách và yên tĩnh hơn. Ở đây cũng có các hoạt động vui chơi như dù biển, mô tô nước. Nếu đi theo nhóm, du khách có thể tổ chức chơi bóng rổ, kéo co trên bãi biển.

Hồ Cốc là bãi biển thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, cách TP HCM khoảng 150 km. Bãi biển nằm trong một vịnh cong, bao quanh bởi cánh rừng xanh và vịnh cát trắng thoai thoải.

Ở đây cách xa khu dân cư và không tập trung nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng, vì vậy thích hợp với những du khách muốn trốn khỏi phố thị ồn ã và tận hưởng cảnh biển yên bình.

Cách biển Hồ Cốc không xa là trang trại cừu Suối Nghệ, điểm đến chụp ảnh mới nổi của du khách. Đàn cừu có hơn 200 con và thường được thả vào mỗi 6h sáng. Tuy nhiên, đàn cừu chủ yếu nuôi để lấy thịt nên lông không trắng, mượt như trong tưởng tượng của nhiều du khách.

Mũi Né, Phan Thiết nổi tiếng với đường bờ biển trải dài, khu du tích lịch sử Chăm Pa. Đặc biệt, nơi đây còn đặc trưng bởi cồn cát trắng (Bàu Trắng) và cồn cát hồng, thu hút khách du lịch với bộ môn ván trượt.

Du khách có thể ghé thăm Hòn Rơm, nằm tại ấp Long Sơn, nơi có vùng biển sóng êm, nước trong xanh và những rặng đá ngầm. Hòn Ghềnh hay Hòn Lao cũng là một điểm gợi ý để tắm biển. Ở đây khung cảnh rất hoang sơ, êm đềm. Du khách có thể câu cá, lặn biển và cả ngắm san hô.

Mũi Né cũng là điểm đến để du khách khám phá cuộc sống của ngư dân. Làng chài trải dài 100 m với những chiếc thuyền lớn nhỏ, nhiều màu sắc là nơi bạn có thể mua những loại hải sản tươi ngon nhất.

Với vị trí xa xôi ngoài khơi biển miền Trung, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi được biết đến với những dấu tích miệng núi lửa khổng lồ và trang trại tỏi rộng. Ở đảo Lớn, đảo Bé, hòn Mù Cu không có nhiều hàng cọ, khu nghỉ mát bãi biển, thay vào đó là vùng địa chất và 50 ngôi đền địa phương.

Đảo Bé hay còn gọi là đảo An Bình là nơi sở hữu những bãi biển hoang sơ, cảnh thiên nhiên thanh bình. Ở đây, du khách có thể bơi lội trong làn nước trong vắt, ngắm những rạn san hô nhiều màu sắc.

Lan Hương (Theo Forbes)

https://vnexpress.net/longform/10-vung-bien-dep-nhat-viet-nam-4075529.html

Phú Yên sẽ hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO xem xét công nhận công viên địa chất toàn cầu

(Tạp chí Du lịch) – Bên cạnh Gành Đá Đĩa (xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) đã được công nhận di tích thắng cảnh cấp quốc gia, gần đây các cơ quan chức năng Phú Yên liên tục phát hiện nhiều vỉa đá trên cạn có cấu tạo địa chất đặc biệt với diện tích rất rộng.Theo đánh giá sơ bộ của đơn vị nghiên cứu địa chất, đây là loại đá bazan được hình thành trong quá trình hoạt động của núi lửa. Do vậy, nhiều khả năng có những vỉa đá khổng lồ đang ẩn sâu trong lòng đất, cần được khảo sát, đánh giá kỹ để bảo tồn, khai thác hiệu quả những giá trị, tiềm năng của vùng đất Phú Yên.

Sáng 8/3, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Phú Yên Phạm Văn Bảy trực tiếp dẫn nhóm phóng viên tới địa điểm mới phát hiện vỉa đá. Khu vực này cách trung tâm thành phố Tuy Hòa khoảng 10 km, thuộc địa bàn xã An Phú, thành phố Tuy Hòa. Đường vào khu vực mỏ đá cực kỳ ngoắt ngoéo khó định hình do đơn vị khai thác đá trước đó tự mở, tạo ra nhiều nhánh thông nhau giữa các núi và các hố sâu. Xe chở đá tải trọng lớn khiến cho mặt đường có cấu tạo từ đá trở nên nham nhở, gập ghềnh. Chỉ xe gầm cao mới vào được khu vực này.

“Khi nhận được thông tin công nhân mỏ đá phát hiện những vỉa đá lạ ở nhiều điểm khác nhau trong quá trình khai thác, ngành VHTTDL đã đến thị sát hiện trường và có công văn báo cáo UBND tỉnh. Tỉnh Phú Yên lập tức có công văn khẩn chỉ đạo dừng khai thác, mời các chuyên gia địa chất khoáng sản khảo sát, từ đó có phương án bảo tồn phù hợp nhằm phát huy giá trị tài nguyên”, ông Bảy cho hay.

Theo quan sát, các vỉa đá này có cấu tạo hết sức đặc biệt, nhiều cấu trúc, hình khối đa dạng. Có cấu trúc hình tròn như những chiếc đĩa khổng lồ nằm xếp chồng lên nhau, đan xen là các khối cột đứng hình lục giác. Nhìn từ trên cao, vỉa đá giống như những tổ ong khổng lồ nằm san sát…

“Vùng đất Phú Yên gắn liền với đá và văn hóa đá, không những về giá trị địa chất mà còn là hệ di sản phong phú, độc đáo. Chúng tôi đã kết nối với một số chuyên gia địa chất cũng như đơn vị tư vấn khảo sát, thời gian qua đã khảo sát một số số điểm có dạng đá bazan. Công tác khảo sát sẽ tiếp tục được tiến hành để nghiên cứu kỹ hơn về mặt địa chất cũng như về các giá trị di sản của vùng, từ đó mới đánh giá được có bao nhiêu tiêu chí đáp ứng các yêu cầu của UNESCO về công viên địa chất toàn cầu. Nếu đáp ứng đủ tiêu chí, Phú Yên sẽ trình hồ sơ để UNESCO xem xét, công nhận công viên địa chất toàn cầu”, ông Phạm Văn Bảy chia sẻ.

Đối với những khu vực có giá trị về di sản, ngành VHTTDL sẽ đề nghị UBND tỉnh đưa vào danh mục kiểm kê di sản để bảo vệ theo luật di sản, từ đó giao cho các địa phương để quản lý, bảo tồn. Đối với những khu vực có khả năng khai thác phát triển du lịch sẽ kêu gọi nhà đầu tư, chọn nhà đầu tư xứng tầm, có ý tưởng quy hoạch tốt để khai thác hiệu quả những giá trị, tiềm năng của vùng đất Phú Yên, ông Bảy cho biết thêm.

“Trường hợp nếu đạt được các danh hiệu ví dụ như danh thắng cấp tỉnh, cấp quốc gia hoặc cao hơn là quốc tế thì công tác bảo tồn, khai thác tốt hơn đồng thời gắn với phát triển du lịch, xây dựng thương hiệu điểm đến, thu hút du khách trong nước và quốc tế”, ông Bảy nói.

Theo nghiên cứu địa chất, gành Đá Đĩa là loại đá bazan, được hình thành trong quá trình hoạt động của núi lửa vùng cao nguyên Vân Hòa (Sơn Hòa), cách Tuy Hòa khoảng 30 km.

Hàng triệu năm trước, nham thạch phun từ miệng núi lửa gặp nước biển lạnh đông cứng lại và xảy ra hiện tượng ứng lưu, tạo sự rạn nứt toàn bộ khối thạch khổng lồ. Đá bị nứt theo mạch dọc tạo thành những cột thẳng đứng hoặc xiên ngang, đồng thời lại có những đường nứt ngang cắt các cột đá thành nhiều khúc.

Việt Hùng

Phân tích lịch sử diễn biến đường bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn từ năm 1903-1904 đến năm 2017

Roman Sorgenfrei & Stefan Groenewold

Dựa trên các bản đồ lịch sử từ Lưu trữ Quốc gia Pháp ở nước ngoài (1903-1953), Cục Bản đồ Quân đội Hoa Kỳ (đợt bản đồ L7014, 1965-1993), ảnh vệ tinh (Landsat, 1988-2017) và vết GPS, một bộ sưu tập gồm tổng cộng 131 đường bờ biển trong lịch sử có thể được tái hiện lại sau khi số hóa và hiệu chỉnh dữ liệu cẩn thận. Như vậy, diễn biến của đường bờ biển từ năm 1903 cho đến năm 2017 có thể được quan sát và tốc độ thay đổi tính theo mét mỗi năm có thể tính toán được tương đối chính xác. Bộ sưu tập tạo thành một tập dữ liệu duy nhất với thời gian thu thập quay lại xa hơn so với dữ liệu được sử dụng chủ yếu chỉ từ ảnh vệ tinh. Tỷ lệ thay đổi này trong những thập kỷ qua (10 và 30 năm) và những xu hướng chỉ ra trong thế kỷ qua là tiêu chuẩn chính để phân loại 71 Phân đoạn (CPSs) của Công cụ bảo vệ vùng ven biển (CPMD). Chỉ có khoảng 10% bờ biển vẫn còn đang bồi tụ hơn 20 m mỗi năm, đặc biệt là ở các mũi đất Tây Nam Cà Mau. Trong khi đó, hơn 50% bờ biển dài 720 km hiện đang bị xói lở, trong đó hơn 70 km đang bị xói lở với tốc độ từ 20 đến 50 mét mỗi năm.

Hình 1: Đường bờ biển bị suy thoái từ năm 1904 đến năm 2014 ở phía Đông tỉnh Cà Mau, dựa trên những bản đồ lịch sử đã được tham chiếu địa lý và các ảnh vệ tinh gần đây. Giữa năm 1904 và 2014, khoảng 5,8 km đất ven biển bị mất (trung bình 52 m mỗi năm).
  1. Giới thiệu

Phân tích các thay đổi trong lịch sử của đường bờ biển là một trong những công cụ chính để lập kế hoạch bảo vệ vùng ven biển. Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống địa chất tương đối trẻ và phát triển khoảng 7.500 năm trước với tốc độ tiến ra biển tăng mạnh mẽ trong 3.000 năm qua cùng với mực nước biển hạ thấp. Trong hai thập kỷ qua, đã có một số nghiên cứu được tiến hành về những thay đổi về cân bằng trầm tích và các quá trình ven biển.

      2. Hiện trạng hiểu biết về sự thay đổi đường bờ biển ở Đồng bằng sông Cửu Long

  • Khoảng 80% lưu lượng trầm tích của sông Cửu Long vào biển Đông được giữ lại ở vùng đồng bằng châu thổ nằm dưới mực thủy triều thấp (đồng bằng ngập nước) trong khoảng 20-30 km ra phía ngoài khơi.
  • Lưu lượng trầm tích cao nhất diễn ra trong khoảng từ tháng 8 đến tháng 11 trong khi trong suốt thời kỳ có bão từ tháng 1 đến tháng 4 trầm tích tích được tái lơ lửng và phân bố chủ yếu qua hệ thống sông ngầm dưới nước gần bờ (trong khoảng 20 km) (Nittrouer và cộng sự, 2017).
  • Khoảng một phần ba khối lượng trầm tích này được lắng đọng gần phía Bắc và phía Nam đồng bằng là các vùng lân cận, phía đông của các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và phía bắc tỉnh Bạc Liêu. Khoảng 40-66% trầm tích được vận chuyển xa hơn theo hướng Đông Nam và lắng đọng phía Đông Nam gần mũi Cà Mau và một số khu vực nhỏ hơn gần vịnh Kiên Giang ở độ sâu mực nước từ 5-20 m (Unverricht, 2014; Liu và cộng sự, 2017a, b).
  • Đối với việc cung cấp trầm tích về phía bờ dọc theo bờ biển Tây, các quá trình tái lơ lửng và vận chuyển theo dòng chảy ngang bờ cũng đóng một vai trò, mặc dù chưa thể định lượng được đầy đủ (LMDCZ, 2017).
  • Việc giảm nguồn cung trầm tích cho các vị trí lắng đọng trầm tích đề cập trên đây sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu trầm tích của bờ biển (Nittrouer và công sự, 2017).
  • Lưu lượng trầm tích của hệ thống sông Cửu Long đổ vào biển Đông ước tính khoảng 150-160.000 tấn/năm trước thời kỳ xây dựng đập và hồ chứa, và hiện đang giảm dần. Tuy nhiên, có sự bất đồng về lưu lượng vì thời gian trễ của các tác động và dữ liệu không nhất quán cản trở việc phân tích. Hiện nay, lượng trầm tích được ước tính đã giảm xuống còn 110.000 tấn / năm (Milliman & Fainsworth, 2011) và dự kiến sẽ giảm mạnh hơn sau khi công trình xây dựng đập ở thượng nguồn sông Cửu Long được hoàn thành.
  • Việc bẫy trầm tích không chỉ là một quá trình vật lý mà còn được xác định vững chắc bởi các quá trình tích tụ sinh học và hóa học. Một quá trình tích tụ quan trọng diễn ra trong chu trình cửa sông, là nơi con sông Cửu Long xả nước ngọt ra biển tạo nên dòng chảy ngược vận chuyển nước biển và trầm tích về phía bờ. Do mực nước biển ngày càng tăng, hiệu ứng kết hợp này bị giảm đi và hiệu suất bẫy trầm tích ngày càng giảm. Mực nước biển tăng và sụt lún đất cũng dẫn đến các đáy kênh sâu hơn dẫn đến hiệu suất bẫy trầm tích thậm chí thấp hơn (Allison và cộng sự, 2017).
  • Nhiều nguồn nghiên cứu thực tiễn khác nhau đều đồng thuận là xu hướng xói lở dọc theo bờ biển ĐBSCL càng ngày càng tăng (Anthony và cộng sự, 2015). Trong khi trong giai đoạn 1973-95 vẫn có bồi tụ với tốc độ trung bình 7,2 m mỗi năm, tốc độ bồi tụ giảm xuống còn khoảng 2,8 m mỗi năm trong giai đoạn 1995-2005 và thậm chí trở thành số âm (có nghĩa là xói lở) từ năm 2005-2015, ước tính khoảng -1,4 m mỗi năm (Liu và cộng sự, 2017a, b). Xói lở xảy ra trên khoảng một nửa tổng chiều dài đường bờ biển. Điều này phù hợp với các phân tích sau đây sử dụng dữ liệu về các đường bờ biển trong lịch sử từ năm 1904. Tốc độ xói lở là một trong những tiêu chuẩn chính cho việc phân loại bờ biển trong Kế hoạch bảo vệ vùng ven biển.
  • Các tài liệu nghiên cứu cũng thống nhất khi trích dẫn về nguyên nhân chính của hiện tượng gia tăng xói lở theo thời gian, bao gồm: giảm lưu lượng trầm tích của sông Cửu Long, khai thác cát ở giữa và hạ lưu sông Cửu Long, sụt lún đất ở các khu vực ven biển do khai thác nước ngầm, nước biển dâng và sử dụng đất một cách tiêu cực trong đai rừng ngập mặn.
  1. Việc sử dụng các bản đồ lịch sử và ảnh vệ tinh để phát hiện các thay đổi đường bờ biển

Để hiểu được sự phát triển hình thái của các đường bờ biển, dữ liệu thủy văn gốc của các khu vực ven biển cũng như phân bố rừng ngập mặn trước đây, phân tích các bản đồ lịch sử, ảnh hàng không và ảnh vệ tinh có giá trị cao nhất (Albers và cộng sự, 2013). Kỹ thuật này được thử nghiệm ở Sóc Trăng và được nhân rộng ra toàn bộ bờ biển ĐBSCL. Các bản đồ và ảnh vệ tinh đã thu thập được sử dụng để số hoá các đường bờ biển từ năm 1903 cho đến năm 2017. Sau đó, chúng được sử dụng để phân tích thay đổi đường bờ biển để tính toán tốc độ lùi vào và tiến ra cũng như biến động diện tích xói và bồi. Tốc độ được tính toán bằng cách sử dụng ArcGIS 10 mở rộng DSAS – Hệ thống phân tích đường bờ kỹ thuật số (Khảo sát địa chất Hoa Kỳ, 2018a).

Để loại bỏ tình trạng không rõ ràng liên quan đến các thuật ngữ đường bờ biển và đường bờ, sau đây là định nghĩa ngắn gọn của cả hai thuật ngữ. Mặc dù có ý nghĩa khác nhau, hai thuật ngữ này thường bị sử dụng nhầm lẫn trong các tài liệu khoa học:

  • Đường bờ được quốc tế định nghĩa chủ yếu là mực nước cao trung bình, mặc dù thông thường đường bờ di chuyển lên và xuống cùng với thủy triều.
  • Tùy thuộc vào ngữ cảnh, đường bờ biển thường được xác định là ranh giới phân bố của thực vật trên cạn và biển, hoặc đường thủy triều cao thông thường trên bãi biển hoặc chân vách đá ở bờ biển đá. Các định nghĩa này chưa được sử dụng một cách nhất quán giữa các nhà hoạch định chính sách và trong khung pháp lý ở Việt Nam.

Các thông tin kỹ thuật sau đây về cách tiến hành từ các bản đồ gốc sang phân tích theo chuỗi thời gian đường bờ biển chủ yếu hướng đến các chuyên gia GIS. Mô tả chi tiết hơn về quy trình thực hiện có thể được tìm thấy trong thư viện Kế hoạch Bảo vệ vùng ven biển (Sorgenfrei, 2016). Người đọc ít quan tâm đến các thủ thuật kỹ thuật về GIS có thể tiếp tục tham khảo ở phần 10, nơi có minh họa một số kết quả được chọn.

  1. Bộ sưu tập bản đồ lịch sử Các bản đồ được thu thập trong kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc có tỷ lệ ít nhất là 1/100 000.

Nếu tỷ lệ nhỏ hơn, các chi tiết bản đồ như đường bờ biển, kênh, cửa sông, vv. quá thiếu chính xác và thường phải tổng hợp quá nhiều tài liệu để có thể sử dụng cho phân tích về biến động đường bờ biển.

Các bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc bao trùm thời gian nửa đầu thế kỷ 20 và được xuất bản trong các hệ thống tham chiếu tọa độ khác nhau (CRS). Bảng 1 đưa ra tổng quan về các thuộc tính của các bản đồ này.

Bảng 1: Thuộc tính của các bản đồ lịch sử được chọn

Ngoài các bản đồ này, các bản đồ địa hình của Việt Nam do Cơ quan Bản đồ Quân sự Hoa Kỳ xuất bản đã được sử dụng (Thư viện Đại học Texas, 2018a), đặc biệt là đợt bản đồ “mới” L7014 được xuất bản cho toàn bộ Việt Nam. Đối với đợt bản đồ này, bản đồ địa hình cũ của Pháp đã được cập nhật bởi một số đoàn công tác chụp không ảnh và tăng tỷ lệ lên 1/50 000 bởi Cơ quan Bản đồ Quân sự Hoa Kỳ (Dang & Le, 2001). Các bản đồ này là bản đồ quét chính xác nhất và chi tiết nhất được sử dụng cho việc biên tập này. Phần lớn các bản đồ trong chuỗi này hiển thị khu vực ĐBSCL từ năm 1965, nhưng một số bản đồ từ những năm sau đó (xem Bảng 2). Rất ít bản đồ được cập nhật lần cuối trong năm 1989 hoặc thậm chí năm 1993, mà các bản đồ này không có phiên bản cũ hơn có sẵn trực tuyến nữa. Một bản đồ hiển thị một phần của đảo Phú Quốc là từ năm 1957, trong khi bản đồ hiển thị biên giới giữa Việt Nam và Campuchia là từ năm 1993. Bản đồ thứ hai là bản đồ duy nhất của Cơ quan Lập bản đồ và Ảnh Quốc gia Hoa Kỳ, Đợt L7015, Bản đồ địa hình Campuchia (Đại học Thư viện Texas, 2018b).

Bảng 2: Các bản đồ địa hình của Việt Nam từ Cơ quan Bản đồ Quân sự Hoa Kỳ, Đợt L7014 (Đại học Thư viện Texas, 2018a).

Để đảm bảo rằng việc phân tích và so sánh dữ liệu địa lý từ các nguồn khác nhau, và trong trường hợp hiện tại đặc biệt là được đo từ thời gian khác nhau, cần thiết sử dụng một hệ tham chiếu tọa độ chung (CRS). Hệ CRS quốc tế thường được sử dụng để trao đổi dữ liệu địa lý là hệ tọa độ địa lý WGS 84 (EPSG: 4326). Hầu hết các CRS khác thường được áp dụng trong lập các bản đồ vùng, các thuật toán chuyển đổi thành WGS 84 tồn tại và thường được cung cấp với phần mềm GIS. Do đó WGS 84 là hệ tham chiếu tọa độ chung (CRS) để chọn làm cho dữ liệu địa lý có sẵn cho càng nhiều người sử dụng càng tốt.

  1. Xử lý các bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc và loạt bản đồ L7014

Thật không may, các bản đồ cũ thiếu thông tin về dữ liệu trắc địa cần thiết để gắn tham chiếu địa lý vào bản đồ được quét vào CRS ban đầu và sau đó chuyển vào WGS 84. Do đó, loạt bản đồ L7014 được cung cấp ở định dạng GeoPDF được xử lý trước và dựa vào kết quả này, các bản đồ cũ được gắn tham chiếu địa lý trực tiếp vào WGS 84. Quá trình gắn tham chiếu địa lý vào loạt bản đồ L7014 được thể hiện trong bảng 3. Các bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc đã gắn tham chiếu địa lý bằng QGIS. Khi tham chiếu các bản đồ từ loạt ảnh L7014 được sử dụng kết hợp với ảnh vệ tinh của Google Maps (plugin QuickMapServices cho QGIS). Từ 19 đến 61 GCP được sử dụng để gắn tham chiếu địa lý cho mỗi bản đồ lịch sử tập trung vào các điểm trong khu vực ven biển.

Tất cả các bản đồ lịch sử được tham chiếu địa lý hiện có sẵn trong WGS 84 tại một cơ sở dữ liệu địa lý lưu trữ cục bộ. Trước khi xuất bản, chúng nên được chiếu vào UTM 48N (WGS 84 / UTM 48N = EPSG: 32648).

Bảng 3: Tiến trình gắn tham chiếu địa lý cho loạt bản đồ L7014.
Bảng 4: Quy trình gắn tham chiếu địa lý cho bản đồ lịch sử từ kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc
  1. Những hạn chế do chất lượng bản đồ

Cần phải đề cập là loạt ảnh L7014 có độ chính xác cao nhất theo nhiều khía cạnh. Nếu so sánh với các bản đồ cũ hơn ví dụ như thông tin về thủy văn, kênh rạch thủy lợi, thì bản đồ này chính xác hơn. Do đó, các bản đồ từ năm 1953 cần được xử lý cẩn thận, vì chúng đòi hỏi độ chính xác cho các nội dung chi tiết, nhưng quá trình gắn tham chiếu địa lý lại có mức độ khái quát hóa cao các đặc điểm của bản đồ thủy văn. Các khu vực ven biển, đặc biệt là đường bờ biển, từ các ranh giới bản đồ gần với ranh giới của tỉnh Kiên Giang và Cà Mau, có thể xem là không chính xác cho tất cả các bản đồ của kho lưu trữ từ thời Pháp thuộc. Cũng giống như vậy đối với các bản đồ từ năm 1953, nằm giữa các ô bản đồ của phía Tây Cà Mau và phía Nam Cà Mau.

  1. Ảnh vệ tinh Google Earth

Các máy chủ của Google lưu trữ một bộ sưu tập lớn các hình ảnh vệ tinh sắp xếp cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một số khu vực trước năm 2000 và vẫn tiếp tục được cập nhật. Những hình ảnh này thì tốt, và cũng ở độ phân giải cao trong những năm gần đây, cung cấp nhiều thông tin về sự phát triển của các khu vực ven biển. Tuy nhiên, chúng phải được xử lý cẩn thận vì tham chiếu địa lý của chúng không phải lúc nào cũng chính xác (sai số khoảng 20 m). Vì thế kết quả các sai số nhỏ do quá trình tham chiếu địa lý thủ công được xuất ra từ các hình ảnh Google Earth (ảnh chụp màn hình) có thể bỏ qua.

Nói chung, bản đồ Google Earth có thể được chia thành các hình ảnh vệ tinh gần đây, thường được hiển thị khi sử dụng GUI của Google Earth và các hình ảnh vệ tinh lịch sử được cung cấp bổ sung. Do Google chọn thời gian hình ảnh hiển thị ở chế độ xem chuẩn dựa trên thời gian cũng như chất lượng của chúng (ví dụ: lượng mây che phủ), một số hình ảnh vệ tinh có sẵn thể hiện chế độ xem theo thời gian và cập nhật thời gian gần hơn so với các ảnh thông thường.

Các hình ảnh vệ tinh gần đây có thể được tải xuống trực tiếp từ các máy chủ của Google bằng phần mềm ‘Google Satellite Maps Downloader’. Nó tải tất cả các ô được lưu trữ cho hình chữ nhật được chọn được mở rộng từ các máy chủ Google và cung cấp tùy chọn để kết hợp các ô vào một tệp BMP đơn giản đã được tham chiếu sẵn (CRS = WGS 84, EPSG: 4326).

Hình ảnh lịch sử của Google Earth có thể được trích xuất tốt nhất dưới dạng ảnh chụp màn hình có độ phân giải cao, một chức năng có sẵn miễn phí trong ‘Google Earth Pro’ (Google Earth Pro, 2018). Để tham chiếu những hình ảnh này dễ dàng hơn và nhanh hơn, khi xem trong Google Earth Pro cần định hướng phía bắc, không nghiêng và địa hình cần phải được tắt để loại bỏ sự phóng đại theo chiều đứng làm thay đổi hình ảnh. Bằng cách thêm ‘Placemarks” như là các điểm kiểm soát mặt đất (GCPs) ở ba góc của khu vực được chọn trước khi xuất ảnh chụp màn hình, có thể tham chiếu dễ dàng bằng công cụ ‘Georeferencer’ của QGIS, một phần mềm GIS nguồn mở miễn phí (QGIS, 2018). Các tọa độ có thể được trích xuất từ các thuộc tính Đánh dấu vị trí của Google Earth, do đó hình ảnh vệ tinh hiện tại cũng như lịch sử từ Google Earth có thể được định vị tham chiếu một cách chính xác. Các hình ảnh từ Google Earth được sử dụng trong phân tích này là do hai nhà cung cấp bản quyền. Các hình ảnh cho đến năm 2013 do DigitalGlobe cung cấp, trong khi các hình ảnh từ năm 2014 là do CNES / Astrium cung cấp. Trước khi xuất bản bản đồ với hình ảnh vệ tinh trên nền do Google cung cấp, cần phải làm rõ các vấn đề về giấy phép. Để biết thêm thông tin, hãy xem mục Trợ giúp của Google Earth (2018) và mục Bản quyền của Google (2015). Việc sử dụng dữ liệu, như trong trường hợp chúng ta số hóa đường bờ biển với phạm vi xác định bởi ranh giới của rừng về phía biển, đã được cấp phép đầy đủ.

  1. Ảnh vệ tinh Landsat bổ sung dữ liệu

Để bổ sung khoảng trống giữa các dữ liệu từ bản đồ lịch sử và hình ảnh Google ở trên, 40 hình ảnh vệ tinh miễn phí từ Landsat (Landsat 5 TM, Landsat 5 TM C1 Cấp 1 và Landsat 8 OLI / TIRS) được bao gồm dưới dạng nguồn dữ liệu trong vòng hai năm qua. Chúng bao gồm toàn bộ vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long trong những năm 1988, 1995, 2000, 2005, 2010, 2015 và 2017. Trong tương lai, các hình ảnh từ Landsat 8 OLI / TIRS hoặc Sentinel, một nguồn ảnh vệ tinh miễn phí khác có thể được sử dụng để mở rộng tập dữ liệu. Những hình ảnh này có thể được tải xuống, trong số các dữ liệu vệ tinh khác, thông qua phần mềm EarthExplorer (Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, 2018c).

Đối với hình ảnh của Google Earth, đường bờ biển cho ảnh vệ tinh Landsat được xác định như là ranh giới của rừng về phía biển. Để làm cho việc nhận dạng trở nên dễ dàng hơn, thông tin hình ảnh đa hướng của các ảnh Landsat được sử dụng để tính toán các “cạnh đỏ”, tận dụng các bước sóng hồng ngoại gần được ghi lại bởi các vệ tinh. Do đó, thực vật dễ dàng được xác định trong các hình ảnh và được số hóa.

  1. Áp dụng chương trình “Hệ thống phân tích thay đổi đường bờ biển (DSAS)”

Việc áp dụng DSAS được mô tả chi tiết trong phần ‘Giới thiệu Cài đặt và Hướng dẫn Sử dụng’, có sẵn trên trang web của Sở Địa chất Hoa Kỳ (U.S. Geological Survey, 2018b). Ngoài ra, Madore (2014) cung cấp một hướng dẫn từng bước rất tốt cho quy trình làm việc DSAS hoàn chỉnh. Một tập dữ liệu chung với một tập hợp các đường bờ biển kéo dài trong suốt khoảng thời gian từ năm 1903/04 đến năm 2017 và bao gồm toàn bộ ĐBSCL được tạo ra cho các phân tích tổng quan. Do đó, các đường bờ biển của các bản đồ lịch sử được tham chiếu địa lý từ năm 1903/04và năm 1951/53, và chuỗi bản đồ L7014 đã được số hoá.

Bản đồ từ năm 1923/24 chỉ khác với bản đồ năm 1903/04 về thông tin không ảnh của hoạt động sử dụng đất và thủy văn nhưng có đường bờ biển giống với bản đồ cũ. Do đó, chúng không được số hóa và được loại khỏi các phân tích.

Bởi vì các đường bờ biển được số hóa từ 1903/04 và 1951/53 kém chính xác hơn so với những đường bờ biển gần đây hơn trong các bản đồ vệ tinh L7014 và Google Earth nên kết quả tính toán với chúng cần được xử lý cẩn thận. Chúng ít chính xác hơn so với kết quả của các đường bờ biển sau đó và do đó chỉ có thể được sử dụng làm các chỉ số cho sự tiến triển đường bờ biển trong thời gian dài.

Trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2017, các đường bờ biển, được xác định như là ranh giới của rừng về phía biển, được số hóa dựa trên các hình ảnh vệ tinh. Hình ảnh vệ tinh Google Earth gần đây đã được số hóa cho toàn bộ vùng đồng bằng. Để phân tích sâu các khu vực trọng điểm, các hình ảnh vệ tinh lịch sử có sẵn từ Google Earth cũng được số hóa và bổ sung với các đường bờ biển sẵn có từ các khảo sát và giám sát ven bờ do các dự án GIZ tại Bạc Liêu và Sóc Trăng thực hiện cũng như bản đồ lịch sử số hóa từ cơ sở dữ liệu địa lý của Sóc Trăng. Ngoài ra, hình ảnh vệ tinh Landsat đã được số hóa để bổ sung cho cơ sở dữ liệu đến năm 2017. Tất cả các số hóa được thực hiện theo chiều kim đồng hồ, giúp đơn giản hóa việc sử dụng một số công cụ của ArcGIS. Bạn có thể tải xuống toàn bộ tập dữ              liệu qua CPMD trực tuyến. Một bộ sưu tập gồm 14 đường bờ biển trải dài trong thời gian hoàn chỉnh có thể được hiển thị trong CPMD trực tuyến trong mục Khảo sát -> Đường bờ biển lịch sử.

Cần thiết có ít nhất hai đường bờ biển từ các mốc thời gian khác nhau để tính toán tỷ lệ thay đổi bằng DSAS qua việc cung cấp một số phương pháp tính toán thống kê (U.S. Khảo sát địa chất Mỹ, 2018b). Các phương pháp được trích dẫn thường xuyên nhất là phương pháp EPR (tỷ lệ điểm cuối) và phương pháp LRR (hồi quy tuyến tính) (Thi et al., 2014). Điều này được thực hiện là vì các phương pháp đòi hỏi ít nhất về dữ liệu đầu vào. EPR được tính bằng cách chia khoảng cách của đường bờ biển theo thời gian trôi qua giữa đường bờ biển cũ nhất và mới nhất trong một tập dữ liệu nhất định. Ưu điểm chính của nó là tính toán dễ dàng và yêu cầu tối thiểu chỉ có hai kỳ hạn đường bờ biển. Điểm bất lợi lớn nhất là trong trường hợp có nhiều dữ liệu có sẵn hơn, các thông tin bổ sung sẽ bị bỏ qua (Sở Địa chất Hoa Kỳ, 2018b). Phương pháp này được sử dụng cho tỷ lệ thay đổi đường bờ biển tổng quan giữa dữ liệu từ bản đồ lịch sử và hình ảnh vệ tinh Google Earth mới nhất được sử dụng trong phân tích này (2014/15).

LRR là kết quả của việc ước tính tốc độ thay đổi trung bình bằng cách sử dụng một số vị trí bờ biển theo thời gian, với thống kê thay đổi phù hợp với đường hồi qui bình phương tối thiểu cho tất cả các điểm bờ biển cho mỗi tuyến. Tốc độ hồi quy tuyến tính là độ dốc của đường thẳng (Thi et al., 2014). Phương pháp này sử dụng tất cả dữ liệu có sẵn không kể những thay đổi về xu hướng hoặc độ chính xác và dễ sử dụng. Tuy nhiên nó dễ bị ngoại lệ và có xu hướng đánh giá thấp tỷ lệ thay đổi so với các phương pháp thống kê khác, giống như EPR (Sở Địa chất Hoa Kỳ, 2018b). Cả hai phương pháp đều được sử dụng để phân tích đường bờ biển (Sorgenfrei, 2016).

Mặc dù không thể xác định giá trị về độ chính xác cho các bản đồ lịch sử cũ, nhưng lại có thể xác định cho các hình ảnh vệ tinh của Google Earth cũng như cho chuỗi bản đồ L7014. Bởi vì vậy, và bởi vì cả hai phương pháp tính toán này đã không sử dụng thông tin chính xác trong quá trình tính toán, nên độ chính xác của các đường bờ biển đơn lẻ không được tính đến trong các phân tích đã tiến hành. Để phân tích sâu hơn về dữ liệu gần đây hơn, có thể phân bổ độ chính xác, các phương pháp thống kê khác như hồi quy tuyến tính trọng số (WLR), có thể được sử dụng trong phương pháp DSAS (Sở Địa chất Hoa Kỳ, 2018b).

Tính toán thay đổi đường bờ bổ sung từ sử dụng ảnh vệ tinh Landsat được tiến hành bao gồm toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long cho các tuyến điều tra cách nhau 100 mét dọc theo bờ biển. Chỉ những phần bờ biển được phân loại là đoạn đặc biệt trong CPMD mới được loại trừ, có tổng cộng 20 km bờ biển, đó là các đoạn có sự phát triển bến cảng ở Sông Đốc, Cà Mau, lấn biển ở Rạch Giá, Kiên Giang và kênh và nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, Trà Vinh. Tính toán đầu tiên là EPR dựa trên các đường bờ biển 1988 và 2015 (30 năm), lần thứ hai EPR dựa trên năm 2005 và 2015 (10 năm). Kết quả cho tất cả các tuyến điều tra xung quanh bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long có thể được hiển thị trong CPMD trực tuyến (các lớp nằm trong mục Khảo sát -> Thay đổi bờ biển hơn 10/30 năm). Tỷ lệ thay đổi được phân loại thành 6 lớp.

  1. Một số kết quả lựa phân tích biến động đường bờ ở Đồng bằng sông Cửu Long

Kết quả phân tích tốc độ xói lở nói trên (EPR) trong suốt hơn 10 năm cho mỗi 100m dọc bờ biển ĐBSCL cho thấy chỉ có 10% bờ biển được bồi lắng trong khi có hơn 50% bị xói lở. Hơn 70km bị xói lở với tốc độ từ 20 đến 50m mỗi năm (bảng 5).

Bảng 5: Kết quả tổng quan về phân tích biến động đường bờ biển sử dụng EPR (tỷ lệ điểm cuối) trong DSAS trong giai đoạn 2005 – 2015. * Trong tổng số 720km đường bờ có các cảng ở Sông Đốc, Cà Mau, khu lấn biển ở Rạch Giá, Kiên Giang và các kênh và nhà máy nhiệt điện ở Duyên Hải, Trà Vinh chiểm khoảng 20km đã được loại trừ.
Bảng 6: Tổng quan về kết quả phân tích biến động đường bờ biển sử dụng EPR (tỷ lệ điểm cuối) trong DSAS giai đoạn 1988-2015. * Trong tổng số 720km đường bờ có các cảng ở Sông Đốc, Cà Mau, khu lấn biển ở Rạch Giá, Kiên Giang và các kênh và nhà máy nhiệt điện ở Duyên Hải, Trà Vinh chiểm khoảng 20km đã được loại trừ.

Sau đây là một số địa điểm được lựa chọn xung quanh ĐBSCL được minh họa như là ví dụ, cũng như các địa điểm khác cũng có thể được thể hiển trong CPMD (Khảo sát -> biến động bờ biển trên 10/30 năm và Khảo sát -> Lịch sử biến động đường bờ biển).

Hình 2. Ví dụ này cho thấy sự thay đổi của đường bờ biển trong khu vực ranh giới giữa Bạc Liêu và Cà Mau (từ CPMD trực tuyến) cho thấy sự thoái trào một cách ổn định. Đường bờ biển từ năm 1904 (đường trắng) đến năm 2017 (đường màu xanh) với các xu hướng thay đổi trong 10 năm được chỉ ra là đường thẳng được thể hiện trong CPMD trực tuyến. Dữ liệu đã xử lý cho đường bờ biển bắt nguồn từ bản đồ lịch sử và hình ảnh vệ tinh có thể tải xuống (dưới dạng định dạng shapefile GIS) trên CPMD trực tuyến.
Hình 3. Bờ biển Cà Mau khoảng năm 1889. Nguồn: Cơ quan Lưu trữ quốc gia (Archives nationales d’outre-mer or ANOM), tiền thân là Trung tâm Lưu trữ nước ngoài (Centre des archives d’outre-mer), ở tỉnh Aix-en, CH Pháp.
Hình 4. Mũi phía Nam của Cà Mau là một trong số ít các khu vực còn lại ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy sự bồi tụ tiếp diễn từ năm 1903. Tại thời điểm đó, từ sự hình thành một mũi ‘nhô’ điển hình, tới nay trầm tích đã bồi rộng thêm tới 5 km về phía Bắc. Sự diễn tiến này có thể được coi là một chỉ thị quan trọng cho nguồn cung cấp trầm tích tới các vị trí lắng đọng ngoài khơi phía Tây Nam mũi Cà Mau. Phần phía Tây của rừng ngập mặn là Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được bảo vệ. Phía bên phải (bờ biển phía Đông Nam Cà Mau) có thể bị xói mòn lâu dài.
Hình 5. Phạm vi không gian lớn hơn bao gồm khu vực được mô tả trong Hình 4. Có thể thấy rất rõ sự mất đất do xói lở từ năm 1904 dọc theo bờ Biển Đông (Cà Mau và phía Nam Bạc Liêu) ngược lại với sự bồi tụ mạnh mẽ dọc theo bờ Biển Tây nhô ra ở phía Bắc. Mặc dù vẫn còn những nghi hoặc, có thể giả định rằng xu hướng này sẽ tiếp tục và cho thấy sự thiếu trầm tích liên tục dọc theo bờ biển Tây Nam (CPR 5). Phân tích GIS cũng đưa ra ước tính diện tích đất bị mất và tăng lên, và dải ven biển phía Nam dọc theo Biển Đông bị mất đất liên tục suốt từ năm 1904.
Hình 6. Vùng ven biển phía Nam vùng cửa sông. Một mô hình điển hình là sự xói mòn nổi bật ở phần phía Bắc của đầu bờ biển được mô tả ở đây (Vĩnh Hải, tỉnh Sóc Trăng) và bồi đắp vào cuối phía Nam. Mô hình này được tìm thấy rõ ràng hơn ở tất cả các cồn/cù lao sông. Các thay đổi trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2016 được chỉ ra ở đây.
Hình 7. Thay đổi bờ biển ở Cù Lao Dung (Sóc Trăng) từ năm 1904 đến năm 2012 ở nhánh phía Nam của hệ thống sông Cửu Long. Kết quả phân tích GIS, bản đồ nền do ESRI cung cấp, hình ảnh vệ tinh từ DigitalGlobe 2008 & 2011, GeoEye 2000 & 2009 và i-cubed 1999 (Roman Sorgenfrei, xuất bản trong SCHMITT & ALBERS 2014). Tâm của cù lao này hẹp hơn nhiều vào năm 1904 và đất đai được mở rộng chủ yếu về phía Nam và phía Đông vào Biển Đông. Đối với phân tích này, đường bờ biển được xác định là mép rừng ngập mặn ven biển, dù không chính xác theo các định nghĩa chính thức của bờ biển hoặc đường bờ biển nhưng lại thực tế hơn nếu làm việc với các bản đồ lịch sử. Tỷ lệ bồi tụ dao động từ 6,2 đến 68,2 m mỗi năm trong khoảng thời gian 108 năm.
Hình 8. Chi tiết lịch sử đường bờ biển vịnh Kiên Giang tại ranh giới giữa huyện An Minh và An Biên. Đường màu trắng cho thấy đường bờ biển được giả định vào khoảng năm 1904. Nhìn chung, bờ biển đang tiến triển theo hướng Tây Bắc kể từ đó. Tuy nhiên, ở phía Tây (phía bên trái của hình) bờ biển có xu hướng thụt lùi từ sau năm 1988. Xu hướng này có thể nhận biết được dọc theo toàn bộ đoạn kéo dài về phía Nam điểm này đến Phú Tân ở tỉnh Cà Mau.
Hình 9. Thay đổi đường bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long từ 1903/4 đến 2015. Tỷ lệ thay đổi lớn khoảng 60 m/năm xói lở cũng như bồi tụ 100 m/năm có thể được thấy trong phân tích này. Bồi tụ trong thế kỷ trước là dọc theo bờ biển của tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Trong giai đoạn này, trong khi bờ biển phía Đông của tỉnh Cà Mau có tỷ lệ xói lở cao nhất thì bờ biển phía Tây lại có tỷ lệ bồi tụ cao nhất. Ở phía Tây Cà Mau gần và qua ranh giới với Kiên Giang, không quan sát thấy có thay đổi lớn nào trong suốt 110 năm qua, ngoài sự mất đất trong hai thập kỷ gần đây.
  1. Kết luận và kiến nghị

Mặc dù khá phức tạp về chuyên môn kỹ thuật nếu áp dụng cho các đoạn đường bờ biển dài hơn, việc phân tích các đường bờ biển lịch sử bổ sung thêm giá trị rõ ràng vào quy hoạch bảo vệ bờ biển. Xu hướng có thể bắt nguồn từ cơ sở dữ liệu rộng hơn trong không gian và thời gian để nhận biết các khu vực không thể nhìn thấy từ các điểm nóng xói lở ngắn hạn và khảo sát một lần. Bờ biển trầm tích rất năng động bởi liên tục được tiếp xúc với các tác động không ngừng thay đổi về mặt thủy văn một cách tự nhiên. Toàn bộ ĐBSCL vẫn đang trong quá trình hình thành như là kết quả của các tác động này. Bằng cách bao gồm không chỉ hình ảnh vệ tinh mà còn bản đồ lịch sử (ít nhất từ 1903/4 trở lại đây), cái nhìn sâu sắc hơn về thay đổi được cung cấp. Các xu hướng về quy mô không gian và thời gian lớn hơn được phản ánh trong việc phân loại các bờ biển ở ĐBSCL thành 7 “Vùng bảo vệ bờ biển (CPR)”. Sự hiểu biết về động thái ven biển và sự phân loại thành các vùng tương ứng giúp chuyển từ bảo vệ bờ biển theo hướng ứng phó khẩn cấp theo hướng bảo vệ bờ biển chiến lược. Chúng tôi khuyên bạn nên mở rộng bộ sưu tập đường bờ biển bằng sử dụng các hình ảnh vệ tinh trong tương lai đang được xuất bản miễn phí (ví dụ: hình ảnh vệ tinh Sentinel).

Tài liệu tham khảo

Albers, T., Dinh, C. S. & K. Schmitt (2013): Hướng dẫn quản lý bờ biển – Bảo vệ bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long.

Allison, M.A., C.A. Nittrouer, A.S. Ogston, J.C. Mullarney and T.T. Nguyen (2017): Trầm tích và sự sống còn của đồng bằng sông Cửu Long: Một nghiên cứu trường hợp về suy giảm nguồn cung cấp trầm tích và tỉ lệ gia tăng nước biển dâng. Hải dương học 30 (3):98-109, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.318.

Anthony, E.J., G.Brunier, M. Besset, M. Goichot, P. Dussouillez and V.L. Nguyen (2015): Những liên kết xói mòn nhanh ở đồng bằng sông Cửu Long với hoạt động của con người. Báo cáo khoa học 5:14745, Doi:10.1038/srep14745. http://www.Nature.com/scientificreports.

Dang, H. V. & Q. T. Le (2001): Sự phát triển về công nghệ khảo sát và lập bản đồ ở Việt Nam. – <http://www.fig.net/resources/proceedings/fig_proceedings/korea/fullpapers/pdf/session3/dang-le.pdf&gt; (accessed: 02.07.2018).

Trợ giúp Google Earth (2018): Sử dụng ảnh Google Earth. –<https://support.google.com/earth/search?q=Use+of+Google+Earth+Imagery > (accessed: 02.07.2018).

Google Earth chuyên nghiệp (2018): Tải Google Earth Pro cho PC, Mac, hoặc Linux. –<https://www.google.com/earth/download/gep/agree.html&gt; (accessed: 02.07.2018).

Cấp phép Google (2015): Sử dụng bản đồ Google và Google Earth. –<http://www.google.com/permissions/geoguidelines.html&gt; (accessed: 02.07.2018).

Liu, J.P., D.J. DeMaster, T.T. Nguyen, Y. Saito, V.L. Nguyen, T.K.O. Ta, and X. Li. (2017a): Hình thành địa tầng của ĐBSCL và sự thay đổi đường bờ gần đây. Oceanography 30(3):72–83, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.316.

Lui, J.P., D.J. DeMaster,, C. Nittrouer, A. Nittrouer, E.F. Eidam, and T.T. Nguyen (2017b): Nghiên cứu đại chấn của ĐBSCL ngập nước – Tích tụ trầm tích gần so với xa. Continental Shelf Research, Vol 147, pp 197-212.

LMDCZ, (2017). Vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, trang web dự án và báo cáo cuối cùng, Liên minh châu Âu, Cơ quan phát triển Pháp (AFD) và Viện khoa học thủy lợi miền Nam (SIWRR). http://lmdcz.siwrr.org.vn.

Madore, B. (2014): Thay đổi bờ biển từ quy trình các sự kiện bão bằng cách sử dụng Hệ thống phân tích bờ biển kỹ thuật số. –<http://sandy.ccom.unh.edu/publications/library/Shoreline_change_procedural_2014_11_18.pdf&gt; (28.09.2015).

Milliman, J.D. and K.L. Fainsworth, (2011): Sự xả ra đại dương: Một tổng hợp toàn cầu. Tạp chí đại học Cambridge, New York, trang 1-394.

Nguyen, V.L., T.K.O. Ta, M. Tateishi, I. Kobayashi and Y. Saito (2005): Sự tiến hóa Holocen của đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Tạp chí của Hội Địa chất Nhật Bản 111(11):XXI. https://dol.org/10.5575/geosoc.111.11.XXI.

Nittrouer, C.A., D.J. DeMaster, E.F. Eidam, T.T. Nguyen, J.P. Liu, A.S. Ogston and P.V. Phung (2017): Thềm lục đại Mê Công: Sụt lún sơ cấp của các hạt trầm tích. Hải dương học 30 (3):60-70, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.314.

Nittrouer, C.A., J.C. Mullarney, M.A. Allison, and A.S. Ogston. (2017b): Giới thiệu về các vấn đề đặc biệt về quá trình bồi lắng trầm tích tại đồng bằng nhiệt đới hôm qua, hôm nay và ngày mai: Hệ thống Mekong. Oceanography 30(3):10–21, https://doi.org/10.5670/oceanog.2017.310.

QGIS (2018): QGIS – Phần mềm hệ thống thông tin địa lý mã nguồn mở và miễn phí. –<https://qgis.org/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Schmitt, K. & T. Albers (2014): Bảo vệ vùng ven biển và sử dụng kè phá sóng tre ở đồng bằng sông Cửu Long. – In: Nguyen, D. T.; Takagi, H. & M. Esteban [eds.] (2014): Thiên tai ven biển và biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Quan điểm kỹ thuật và quy hoạch. 107-132. Amsterdam, Boston, Heidelberg.

Sorgenfrei, R. (2016): Báo cáo về dịch vụ tư vấn cho việc tạo ra một cơ sở dữ liệu địa lý liên quan đến khu vực ven biển bao gồm các bản đồ lịch sử đã được xử lý từ lưu trữ của Pháp cũng như tài liệu GIS gần đây và ước tính hồi quy bờ biển từ năm 1904 ở đồng bằng sông Cửu Long. – <http://coastal-protectionmekongdelta.com/download/library/8.R.Sorgenfrei2016_Coastal_geodatabase_estimation_coastline_regressionsince1904_southernMekongDelta.pdf&gt; (accessed: 02.07.2018).

Thi, V. T., Xuan, A. T. T., Nguyen, H. P., Dahdouh-Guebas, F. & N. Koedam (2014): Ứng dụng viễn thám và GIS để phát hiện các thay đổi bờ biển ngập mặn lâu dài ở Mũi Cà Mau, Việt Nam. – Biogeosciences 11:3781-3795.

Thư viện đại học Texas (2018a): Dịch vụ bản đồ quân đội Mỹ, Đợt bản đồ L7014, Vietnam Bản đồ địa hình 1/50 000. – <http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Thư viện đại học Texas (2018b): Cơ quan lập bản đồ và hình ảnh quốc gia Mỹ, Đợt bản đồ L7015, Bản đồ địa hình Campuchia 1/50 000. –<http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/cambodia/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Sở Địa chất Hoa Kỳ (2018a): DSAS – Hệ thống phân tích bờ biển kỹ thuật số. Phần mềm máy tính để tính toán thay đổi bờ biển. – <http://woodshole.er.usgs.gov/projectpages/DSAS/&gt; (accessed: 02.07.2018).

Sở Địa chất Hoa Kỳ (2018b): Hệ thống phân tích bờ biển kỹ thuật số (DSAS) phiên bản 4.0 -một phần mở rộng ArcGIS để tính toán thay đổi bờ biển. –<http://woodshole.er.usgs.gov/project-pages/DSAS/version4/index.html&gt; (02.07.2018).

Sở Địa chất Hoa Kỳ (2018c): Thám hiểm trái đất. – <http://earthexplorer.usgs.gov/&gt; (02.07.2018).

Cơ quan Lưu trữ quốc gia nước ngoài (Archives nationales d’outre-mer or ANOM), tiền thân là Cơ quan lưu trữ quốc gia nước ngoài (Centre des archives d’outre-mer), mở ra ở tỉnh năm 1966.

Unverricht, D, (2014): Các quá trình thủy văn, hình thái và trầm tích học ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam, Luận văn, Christian-Albrechts University Kiel.

Nguồn:

Click to access TOOLS%20CPMD%20Coastline%20change%20analysis_VN.pdf