Thế giới đang quay lưng với than đá, cớ sao Việt Nam còn vấn vương

Linh Lan

The LEADER” Đây đã là năm 2018, chúng ta không thể tiếp tục dựa vào những nguồn năng lượng truyền thống mà thế giới đang quay lưng lại như vậy được”, cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry khẳng định.

Trung Quốc, một trong những quốc gia đi đầu trong phát triển năng lượng mặt trời và đang dần từ bỏ than đá, lại chính là nước cấp nhiều vốn nhất cho Việt Nam trong các dự án xây dựng các nhà máy nhiệt điện than, với 8,3 tỷ USD.

Theo cơ cấu quy hoạch điện Việt Nam năm 2016 – 2030, nhiệt điện than chiếm tỷ trọng lớn nhất, ở mức 43% đến năm 2030, trong khi tiềm năng phát triển thủy điện không còn nhiều và không đám ứng kịp tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng của nền kinh tế.

Theo ông Hoàng Quốc Vượng, Thứ trưởng Bộ công thương, với nhu cầu năng lượng trong nước tăng nhanh, đi kèm với sự gia tăng nhanh chóng về tỷ trọng các nguồn nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là than trong cơ cấu nguồn cung năng lượng, thì thách thức về tác động môi trường của các hoạt động cung cấp năng lượng sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến 2050, đề ra ưu tiên thúc đẩy phát triển các dạng năng lượng tái tạo, bao gồm: thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng gió, mặt trời, sinh khối, khí sinh học, nhiên liệu sinh học.

Duy trì tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung cấp năng lượng sơ cấp ở trên mức 30% đến năm 2035. Đây là một mục tiêu dường như còn khiêm tốn so với tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam.

Và phải chăng đã đến lúc Việt Nam nên đưa ra câu trả lời cho câu hỏi của Cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry: “Lựa chọn nào cho Việt Nam: Than đá hay Năng lượng tái tạo?”.

Quay trở lại Việt Nam lần này, ông John Kerry đã có những chia sẻ cởi mở và thẳng thắn tới những thách thức trong ngành năng lượng ở Việt Nam hiện nay.

Theo ông Kerry, vào năm 1992, các biện pháp đưa ra nhằm chống lại biến đổi khí hậu hầu hết là những chương trình mang tính chất tự nguyện. Nhiều nước chỉ muốn gắn bó với những thứ truyền thống như năng lượng hóa thạch: than đá, dầu mỏ, khí đốt.

Tuy nhiên, trong vòng 20 năm tiếp theo, những con số biết nói của khoa học đã khẳng định rằng “con người đã làm trầm trọng thêm vấn đề biến đổi khí hậu và đang đặt sinh mạng của chính chúng ta trong rủi ro”, ông nói.

Rất nhiều người đã buộc phải rời khỏi căn nhà của họ, quê hương của họ vì không có đủ thức ăn và điều kiện sống tồi tàn. Trong năm qua, nước Mỹ đã phải chi ra 350 tỷ USD, một con số kỷ lục, để phục hồi sự tàn phá do thảm họa thiên tai gây ra.

Hàng trăm nghìn tỷ đô la Mỹ khác đã phải chi để giải quyết cho những vấn đề mà lẽ ra nếu chúng ta có những giải pháp thông minh hơn thì những con số này đã không cao đến mức như vậy.

“Tôi biết rõ và đã song hành với Việt Nam kể từ khi hai nước có những hoạt động đầu tiên sau khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Sau các quan hệ hợp tác lâu dài giữa Việt Nam và Mỹ, tôi tin rằng chúng ta có cơ hội lớn để cùng nhau xây dựng, phát triển nguồn năng lượng sạch”, ông Kerry nhấn mạnh.

Hiện nay, 14000 kw điện được sử dụng có nguồn gốc từ năng lượng điện than và nhu cầu sử dụng điện than trong tương lai còn tăng lên nữa.

Tuy nhiên, ông John Kerry cho rằng than đá là nguồn nguyên liệu bẩn nhất và cũng chính là một trong những yếu tố lớn nhất gây ra hiệu ứng nhà kính.

“Khắp nơi trên thế giới, các nước đang dịch chuyển từ việc sử dụng năng lượng than đá sang các loại năng lượng sạch khác. 75% nguồn năng lượng điện của Mỹ hiện nay đến từ năng lượng mặt trời trong khi than đá chỉ chiếm 0,2% mà thôi. Tôi muốn song hành cùng các bạn, tôi tin rằng tất cả chúng ta có thể tìm ra giải pháp chính sách về năng lượng”, ông nói.

Bên cạnh đó, than đá không hề rẻ hơn so với năng lượng mặt trời khi chúng ta tính tất cả các chi phí của những ảnh hưởng tiêu cực của việc khai thác than đối với sức khỏe của người dân và môi trường. Các chi phí đó rõ ràng khiến điện than trở nên đắt hơn rất nhiều so với năng lượng mặt trời.

Việc lắp đặt các máy móc hay công nghệ liên quan đến ngành năng lượng mặt trời và năng lượng gió là những ngành có tốc độ tăng trưởng việc làm nhanh nhất ở Mỹ hiện tại, ông Kerry cho biết.

Ông tin tưởng rằng Việt Nam hoàn toàn có cơ hội và tiềm năng để phát triển năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời… và nếu biết kết hợp các loại hình này với nhau, chi phí sẽ giảm đi đáng kể.

“Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng các chính sách cởi mở, bước đầu tạo ra những lộ trình và thực thi các quy định để các bạn có thể đạt được tạo dựng được hệ thống để biến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu trên thế giới, trở thành mô hình mẫu cho các quốc gia khác trên thế giới về phát triển năng lượng sạch”, ông nói.

Trong những năm qua, Trung Quốc là một trong những quốc gia đang phát triển năng lượng mặt trời lớn nhất và nước này cũng đã quay lưng lại với mô hình sử dụng điện than. Các quốc gia châu Á khác như Malaysia, Indonesia, Ấn Độ cũng đều đang hướng tới việc phát triển các năng lượng tái tạo.

Nếu chúng ta cam kết và nghiêm túc thực hiện quá trình chuyển đổi, thì nó có thể mang lại 500.000 việc làm trong lĩnh vực này.

Với tiềm năng cao và cam kết chắc chắn của Chính phủ với định hướng ấy, yếu tố quan trọng nhất bây giờ, theo người bạn lâu năm của Việt Nam, là làm thế nào để huy động được các nguồn đầu tư, hỗ trợ tài chính, và xây dựng các cơ chế chính sách thuận lợi, tạo điều kiện cho sự phát triển của năng lượng xanh.

Nguồm: http://theleader.vn/the-gioi-dang-quay-lung-voi-than-da-co-sao-viet-nam-con-van-vuong-2018011201004522.htm

 

Advertisements

Lũ quét tan hoang, người dân oằn mình: Vì đâu nên nỗi?

Những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn.

Mấy ngày qua, cả nước đang hướng về Hà Giang, Lai Châu… nơi người dân địa phương đang phải gồng mình chống chọi với  những cơn lũ quyét đáng sợ, khó lường, sẵn sàng cướp đi tính mạng, tài sản của bất kỳ ai.

Trong những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn. Thống kê cho thấy trong giai đoạn 2000 – 2015, trung bình hàng năm cả nước xảy ra khoảng 18 trận lũ quét và sạt lở đất, làm chết và mất tích 47 người. Riêng trong năm 2017, trận lũ quét vào rạng sáng 3/8 tại Yên Bái, Sơn La, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu làm chết và mất tích 41 người. Hai tháng sau đó, vụ sạt lở đất tại Tân Lạc, Hòa Bình rạng sáng 12/10, cũng đã khiến 18 người bị vùi lấp và thiệt mạng.

Những nguyên nhân cốt lõi khiến cho loại hình thiên tai này trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên tại các tỉnh miền núi nước ta là hệ lụy mang nặng dấu ấn từ các hoạt động khai thác tài nguyên thái quá trong suốt thời gian dài. Trong đó không thể không nhắc tới nạn chặt phá rừng và khaithác khoáng sản bừa bãi.

Tan hoang vì lũ quét. Ảnh: VOV

Mất rừng và suy giảm chất lượng rừng

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, hiện tại độ che phủ rừng của nước ta năm 2017 là 41,45% diện tích lãnh thổ, tương đương với 14,2 triệu ha (bao gồm 10,1 triệu ha rừng tự nhiên và 4,1 triệu ha rừng trồng).

Ngoài việc giảm sút diện tích, chất lượng rừng cũng bị suy giảm – các khu vực có trữ lượng giàu và trung bình bị giảm mạnh trong khi diện tích rừng nghèo và tái sinh lại tăng lên nhanh chóng. Năm 1990, diện tích các loại rừng nghèo và tái sinh vào khoảng 7.000.000 ha, nhưng đến năm 2005 đã tăng lên 10,2 triệu ha, chiếm 80% tổng diện tích rừng ở Việt Nam.

Mặc dù tổng diện tích rừng không giảm nhiều trong 50 năm qua, nhưng có sự suy giảm rõ rệt về diện tích rừng tự nhiên cũng như chất lượng rừng tự nhiên. Hiện nay chỉ có 8,7% diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu. Nhiều diện tích vẫn được gọi là rừng tự nhiên, nhưng trong thực tế chỉ là cây bụi và cây gỗ tái sinh nên tán che phủ là không đáng kể, thảm thực vật không dày và khả năng giữ nước giúp ổn định dòng chảy là không đáng kể.

Sự suy giảm về diện tích và độ dày của lớp thảm thực vật đã làm (i) giảm độ kết dính của đất khi bị bão hòa nước nhanh chóng và phá vỡ sự liên kết giữa các lớp đất (do thiếu hoặc ít rễ cây) – gây sạt/ trượt lở đất/ lũ ống và (ii) giảm độ thô, nhám bề mặt (độ cản nước), gia tăng tốc độ dòng chảy, khiến một lượng lớn nước dồn về quá nhanh trong quãng thời gian ngắn, bằng mực nước các khe suối dâng cao với nguồn năng lượng lớn, cuốn phăng tất cả đất đá và vật liệu trên đường đi của nước, gây ra lũ quét.

Khai thác khoáng sản bừa bãi

Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc đã và đang xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi (cả có phép và không phép). Thiếu hay yếu kém trong quy hoạch khai thác khoáng sản ở các địa phương đã và đang khiến cho rừng bị tàn phá, đồi núi bị đào khoét nham nhở và nhiều sông suối bị bồi lấp. Nhiều đơn vị khai thác khoáng chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt nên đã liên tục đào, khoét sâu và lòng núi và để lại nhiều hang động nhân tạo với nguy cơ đổ sập rất cao.

Tại những nơi có cấu tạo địa chất yếu, những hang núi nhân tạo này có thể bị sập bất cứ khi nào trong mùa mưa lũ, tạo nên những trận lũ ống lũ quét kinh hoàng. Nghiêm trọng hơn, nhiều doanh nghiệp do muốn tiết kiếm chi phí nên sẵn sàng xả thải hay đổ chất thải rắn tại chỗ xuống sông suối gây ách tắc dòng chảy. Khi gặp lũ lớn, một lượng lớn đất đá bị dòng nước lũ cuốn phăng xuống hạ lưu làm bồi lấp nhà cửa và đất canh tác của người dân sinh sống gần sông suối.

Quy hoạch dân cư

Do sức ép về tăng trưởng dân số, hiện nay nhiều địa phương khu vực miền núi đang bị thiếu đất ở khiến nhiều hộ dân phải mạo hiểm dựng nhà tại những nơi có nguy cơ cao về sạt lở như chân núi hay sườn đồi. Một số hộ khác khi xây dựng nhà cửa đã vô tình chặn mất dòng chảy hoặc hạn chế khả năng thoát lũ tự nhiên của sông suối.

Ở hầu hết các tỉnh, chính quyền địa phương đã xác định được các rủi ro này và phần lớn đã lên được danh sách các điểm cần di dời hay tái định cư. Tuy nhiên do thiếu quỹ đất và vốn hỗ trợ (theo quy định, ngân sách nhà nước chỉ có thể hỗ trợ số tiền 20 triệu/ hộ để di dời ra khỏi vùng nguy hiểm) nên phần lớn nguy cơ vẫn còn đó cho hàng ngàn hộ dân tại mỗi tỉnh.

Cần những giải pháp căn bản, kịp thời

Trước hết là các giải pháp mang tính căn bản liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng. Bộ NN & PTNT cũng như chính quyền địa phương cần ban hành và triển khai các biện pháp kịp thời nhằm hạn chế và chấm dứt việc mất rừng hiện nay do chuyển đổi mục đích sử dụng đất thành các dự án khác. Việc này chiếm đến 67% nguyên nhân suy giảm diện tích rừng giai đoạn 2011 – 2016, bên cạnh hai nguyên nhân khác là phá rừng trái phép (11%) và cháy rừng (22%).

Thứ 2 là các giải pháp chuyên môn về phòng chống thiên tai. Áp dụng các biện pháp công trình như kè, gia cố những địa điểm dễ gây sạt lở, khơi thông dòng chảy, xác định và lắp đặt các biển cảnh báo tại những khu vực nhạy cảm về thiên tai, nhanh chóng hỗ trợ di dời nhà cửa cho người dân đang sống tại những khu vực có nguy cơ cao.

Song hành với đó là các biện pháp phi công trình, như nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, tăng cường nhận thức cộng đồng trong phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai & biến đổi khí hậu, và xây dựng cộng đồng chủ động chống chịu thiên tai, v.v.

Quan trọng hơn, cần thể chế hóa và quy định “đánh giá rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu” như một yêu cầu bắt buộc đối với bất kỳ dự án can thiệp nào – như cách mà chúng ta vẫn áp dụng đối với “đánh giá tác động môi trường” lâu nay.

Trần Văn Tuấn

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/lu-quet-tan-hoang-nguoi-dan-oan-minh-vi-dau-nen-noi-459228.html

Vì sao đường Nguyễn Hữu Cảnh vẫn ngập dù có siêu máy bơm?

Việc chống ngập bằng máy bơm được đánh giá là không khả thi, lãng phí; thiết kế của công trình này chưa đúng tiêu chuẩn thoát nước .

Đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) gần đây lại bị ngập, dù những lần thử nghiệm máy bơm công suất lớn trước đó đều thành công. Nghiêm trọng nhất là trận mưa đêm 1/6 khiến cả đoạn đường biến thành sông, ngập lút yên xe máy.

Công ty Quang Trung (chủ đầu tư máy bơm) cho rằng, rác đã gây nghẽn cống khiến nước không về trạm bơm và không loại trừ khả năng có hành vi “cố tình phá hoại”. Lãnh đạo TP HCM đã đề nghị chuyên gia, nhà khoa học vào cuộc tìm nguyên nhân.

Chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm thoát nước

Trao đổi với VnExpress, Kỹ sư Vũ Hải (hơn 50 năm công tác trong lĩnh vực cấp thoát nước, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa và ĐH Xây dựng Hà Nội) đánh giá, chủ đầu tư giỏi chế tạo máy bơm nhưng lại không phải là đơn vị thoát nước chuyên nghiệp. Họ đã thiết kế công trình không đúng quy phạm, tiêu chuẩn thoát nước, dẫn đến việc chống ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh không hiệu quả.

Ông Hải phân tích, máy bơm phải hút từ bể chứa mới đủ nước để vận hành. Trong khi đó hệ thống đang hút nước trực tiếp từ đường phố, dẫn đến tình trạng thiếu nước, máy bơm không hoạt động.

Về nguyên tắc thiết kế, một trạm cần 2-3 máy bơm. Lúc mưa nhỏ dùng một cái, khi mưa to thì tăng số lượng. Hiện, chủ đầu tư dùng duy nhất một máy bơm, khi hư hỏng sẽ bị động.

Đường Nguyễn Hữu Cảnh sau trận mưa đêm 1/6 dù có siêu máy bơm. Ảnh: Duy Trần.

Máy bơm công suất lớn, tốc độ nước chảy vượt quá tiêu chuẩn có thể làm vỡ ống. Nhất là phải bơm nước nhiều lần nên khả năng bục vỡ ống là rất cao. Lực hút của máy rất mạnh khiến bùn rác luôn bị cuốn vào trong, làm tắc ống.

“Theo tôi không có ai phá hoại máy bơm. Ống bơm có lực chảy nhất định nhưng đang bị cưỡng bức phải chảy nhanh, khiến hệ thống ống rơi vào tình trạng không an toàn. Thực tế là sau một thời gian sử dụng ống bơm đã xuất hiện hàng tấn rác và đơn vị thoát nước đô thị phải vào cuộc dọn dẹp, khơi thông”, ông Hải nói.

Tuy nhiên, theo ông Hải, chống ngập bằng máy bơm chỉ giải quyết bề nổi, không phải giải pháp lâu dài. Trong khi ngập đang là vấn đề lớn của thành phố, nếu vẫn giữ lối tư duy cứng nhắc sẽ khó giải quyết triệt để.

Đường ngập nhưng máy bơm thiếu nước hút

Tương tự, TS Hồ Long Phi (chuyên gia thoát nước) cho rằng, việc dùng máy bơm công suất lớn chống ngập cấp bách cho đường Nguyễn Hữu Cảnh cần tính toán khoa học hơn.

Hệ thống thoát nước tại tuyến đường không đồng bộ, trong khi máy bơm chưa được áp dụng kiến thức về thủy lực, khiến lượng nước về không đủ cho máy hoạt động. Nếu dùng máy bơm công suất nhỏ nhưng chia thành nhiều lưu vực sẽ hiệu quả, hợp lý hơn.

“Giải pháp dùng máy bơm chống ngập là cần thiết cho những khu trũng. Nhưng nó chỉ mang tính tình thế, không thể áp dụng ngày này qua tháng kia. Thành phố phải có những giải quyết căn cơ hơn, đặc biệt là đối với đường Nguyễn Hữu Cảnh và những khu ngập nặng khác phải có hệ thống thoát và ngăn nước”, ông Phi nói.

Siêu máy bơm được đánh giá chống ngập thành công sau hơn chục lần chạy thử nghiệm. Ảnh: Thành Nguyễn.

Lãng phí mà không hiệu quả

Đứng ở góc độ nhà quy hoạch kiến trúc, TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, việc lắp máy bơm chống ngập là xử lý phần ngọn, trong khi cốt lõi vấn đề là vì sao nước chỉ tập trung ở đó.

Hiện, đường Nguyễn Hữu Cảnh có dãy cao ốc nối dài từ Tân Cảng đến Ba Son – giống như một tuyến đê ngăn nước từ thành phố thoát ra sông Sài Gòn. Khi con đường liên tục bị ngập, người dân sống hai bên đường phải nâng nền cục bộ.

“Như vậy là biến con đường thành sông bị kẹp giữa hai tuyến đê, cứ mưa là ngập. Việc này có thể giải quyết triệt để nếu xác định đúng phương pháp”, ông Sơn nói.

Theo ông, thành phố phải tổ chức lại không gian xanh và không gian nước cho các khu vực ngập, vừa ít tốn kém lại hiệu quả lâu dài. Chú ý việc cân đối độ bêtông hóa, độ dốc và độ nền của khu vực xung quanh; đồng thời phải làm những không gian chứa nước tạm thời như: hồ điều tiết, hồ chứa nước ngầm, hệ thống thoát nước từ những hồ này ra sông, để đối phó với những trận mưa lớn.

“Có như thế thì vấn đề mới được giải quyết. Còn việc thấy ngập ở đâu thì lắp máy bơm ở đó sẽ lãng phí tiền tỷ mà không hiệu quả”, ông Sơn nói.

Hữu Nguyên – Minh Ngọc

Nguồn: http://daubao.com/vi-sao-duong-nguyen-huu-canh-van-ngap-du-co-sieu-may-bom/xa-hoi/1728281.html

Trả lại tên cho một ngọn núi

Bạch Mộc Lương Tử  – một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp ở Lào Cai, nay được trả lại tên gốc Kỳ Quan San.

Với giới đi phượt, chinh phục ngọn núi cao 3.046m với tên thường gọi là Bạch Mộc Lương Tử ở Bát Xát (Lào Cai) là một thử thách hấp dẫn. Sự hấp dẫn không chỉ nằm ở trải nghiệm vượt khó khăn, mà còn bởi quang cảnh trên đỉnh núi này cực đẹp. Nhưng Bạch Mộc Lương Tử lại chỉ là một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp này, vốn nguyên gốc mang tên Kỳ Quan San. Hôm 7-4-2018, huyện Bát Xát đã trả lại tên cho ngọn núi.

Tháo dỡ cột trụ ghi tên “Bạch Mộc Lương Tử”

“Thực tế ở đây không có ngọn núi nào tên là Bạch Mộc Lương Tử cả mà theo tôi biết, phía bên Trung Quốc có ngọn núi tên Bạch Mộc Lương mà thôi. Vì vậy, vừa rồi địa phương đã quyết định đặt cột mốc ghi tên ngọn núi này lại cho chính xác là Kỳ Quan San, thay cho cột mốc do một nhóm phượt tự làm trước đây với tên gọi là Bạch Mộc Lương Tử (con của Bạch Mộc Lương!)” – anh Hoàng Công Kiều, trưởng Phòng văn hóa huyện Bát Xát, nói.

Kỳ Quan San

Chuyến đi trả lại tên cho núi là một hành trình vất vả kéo dài gần 70km đường rừng, núi cao và vách đá. Đã vậy, những ngày đầu tháng 4 lại lạnh giá, băng tuyết xuất hiện trên đỉnh Kỳ Quan San. Tuy nhiên, tất cả mệt mỏi đã tan biến với chúng tôi, những người được trực tiếp tham gia sự kiện này.

Hoàng hôn ở Kỳ Quan San
Hoa đỗ quyên rạng rỡ ở Kỳ Quan San
Bình minh núi Muối tại điểm dừng chân 2.100m
Bữa trưa vội vàng của cán bộ mặt trận xã trong lán Dê để lấy sức mang cơm cho đoàn thay cột trụ ghi tên, chỉ có cơm trắng với nước sôi và muối
Lán chăn dê của cặp vợ chồng người dân tộc Mông tại độ cao 2.800m. Đây là một điểm dừng chân rất đẹp với rừng cây khô phủ đầy băng tuyết
Đoàn cán bộ phụ trách công tác thay cột trụ ghi tên xuất phát từ điểm nghỉ 2.100 m
Đoàn cán bộ huyện Bát Xát làm công tác thay cột trụ ghi tên ngọn núi
Niềm vui bên cạnh cột trụ mới ghi tên Kỳ Quan San
Những bông hoa rừng trên hành trình tới Kỳ Quan San

VI NGỌC HÀ

Nguồn: https://tuoitre.vn/tra-lai-ten-cho-mot-ngon-nui-1437824.htm

Ưu thế dầu đá phiến của Mỹ

Nguyễn Anh Tuấn

Kỹ thuật khai thác hiệu quả dầu khí từ đá phiến cho phép Mỹ tính đến việc bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu loại tài nguyên thiết yếu này.

Phương pháp fracking và khoan xiên ngang

Giá dầu thô trên thế giới đã giảm mạnh trong thời gian vừa qua. Nếu trong năm 2008 giá dầu đạt đến mức 160 USD/thùng và duy trì ở mức dao động trong khoảng từ 100 – 120 USD/thùng cho đến những năm 2013 – 2014, thì giá dầu đã sụt giảm một cách không ngờ và chỉ còn dưới 60 USD/thùng vào cuối năm 2014. Chiều hướng này có thể được duy trì trong thời gian sắp tới hay không vẫn là một câu hỏi, nhưng bỏ ngoài các yếu tố thương mại và chính trị trên thế giới thì kỹ thuật khai thác hiệu quả dầu khí từ đá phiến của Mỹ là một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc hạ giá thành của loại nhiên liệu cốt yếu này.

Nguồn gốc dầu khí đá phiến

Trong các kiểu khai thác truyền thống, dầu khí được hình thành trong đá phiến (shale), đây là nhóm đá tạo thành trong ao hồ, đầm lầy, nền biển cạn… chứa nhiều vật liệu hữu cơ như rong tảo, mảnh vụn thực vật. Trong những điều kiện bị vùi lấp nhanh chóng và môi trường yếm khí sâu bên dưới, chúng sẽ chuyển hóa dần thành dầu và khí. Sau khi hình thành trong nhóm đá phiến, hay còn gọi là đá nguồn, với một tỷ trọng thấp hơn tỷ trọng các nhóm đá chung quanh, các phân tử dầu khí có khuynh hướng thoát ra khỏi đá nguồn và di chuyển lên trên về phía mặt ngoài vỏ đất qua các khe hở li ti của các nhóm đá có đặc tính thẩm thấu phía bên trên (đá cát, đá vôi…) hay còn gọi là đá chứa. Sự di chuyển lên trên của dầu khí sẽ bị chặn lại khi chúng gặp một nhóm đá không thẩm thấu (đá phiến, đá muối…) và dần dà tập trung nhiều hơn tại nơi đây, tạo thành các túi dầu khí với những cấu trúc khác nhau. Đây chính là nơi các mũi khoan nhắm đến để thu hoạch nguồn “vàng đen” từ thiên nhiên.

Khác với các kiểu truyền thống, khai thác dầu khí trong đá phiến là phương cách khai thác trực tiếp từ đá nguồn chứ không phải từ trong các vỉa đá chứa túi dầu. Thực ra kỹ nghệ khai thác dầu từ đá phiến từng được thực hiện từ thập niên 1970, lúc đó đá phiến chứa dầu khí nằm cạn hoặc lộ trên mặt đất, được cào bới và di chuyển vào các bồn chứa. Tại đây chúng được nung nóng và trộn lẫn với các luồng hơi nước nóng và nén ép để trích xuất dầu khí. Kỹ thuật này không mang lại hiệu quả kinh tế cao và vấn đề trọng yếu là thiếu kho bãi chứa đá phiến trong cả hai phần thu thập và thải bỏ, cùng các vấn đề an toàn môi sinh.

Ứng dụng công nghệ

Mọi việc chỉ trở nên tốt đẹp hơn vào giữa thập niên 2000 khi các ứng dụng kỹ thuật mới được phát triển. Sự khai thác hiệu quả dầu khí từ đá phiến được hỗ trợ bằng các phương pháp kỹ thuật khác nhau, nổi bật là kỹ thuật khoan xiên ngang (horizontal directional drilling) và làm rạn nứt đá bằng thủy lực (hydraulic fracking, còn gọi là fracking). Một thí dụ dễ hiểu về khoan xiên ngang là khi khai thác dầu khí, nhất là ở ngoài biển, người ta không cần phải di chuyển giàn khoan đến các vị trí khác nhau của mỏ dầu khí để khoan thẳng đứng từ trên xuống dưới mà chỉ cần cố định giàn khoan và từ đó khoan xiên ngang đến các vị trí cần thiết bên dưới.

Kỹ thuật fracking được thực hiện bằng cách dùng nước nóng dưới áp suất cực lớn bắn vào vách đá chung quanh để làm phần vách rạn nứt và các hạt dầu khí trong đó sẽ di chuyển ra ngoài một cách dễ dàng hơn để vào các ống dẫn. Vào những năm cuối thập niên 2000, những kỹ thuật ấy được áp dụng trực tiếp trên phần đá nguồn (đá phiến) sau khi một giếng khoan xiên ngang được tạo ra ngay bên trong các lớp đá này.

Cho đến nay đá phiến chứa dầu khí đã được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng nhiều nhất vẫn là ở Mỹ. Vùng đá phiến chứa dầu khí Green River Formation nằm giữa các tiểu bang Colorado, Wyoming và Utah có trữ lượng khoảng 1.200 – 1.800 tỉ thùng. Không hẳn chúng sẽ được khai thác hết nhưng với ước tính trữ lượng có thể khai thác được là 800 tỉ thùng, thì con số này cũng đã gấp 3 lần trữ lượng dầu khí của Ả Rập Xê Út.

Với con số tiêu thụ khoảng 20 triệu thùng mỗi ngày, nếu nguồn dầu từ đá phiến có thể đóng góp 1/4 nhu cầu cần thiết bên cạnh các nguồn dầu khác trên nước Mỹ, dầu từ đá phiến Green River Formation sẽ được cung cấp liên tục khoảng 400 năm nữa. Mỹ đã đưa ra lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt từ 1975 để bảo vệ nguồn tài nguyên và bảo đảm an toàn cho nhu cầu trong nước nhưng trong những ngày vừa qua họ đang xem xét lại việc đồng ý cho các công ty dầu của Mỹ xuất khẩu dầu sang các nước khác.

(Tài liệu tham khảo: Oil shale extraction methods, AMSO American Shale Oil Comapy, 2010; Oil shale and Tar sand programmatic IES, 2012; North America tight light oil, Canada gas resource, 2011)

Nguồn: https://thanhnien.vn/the-gioi/uu-the-dau-da-phien-cua-my-523828.html

Các vấn đề môi trường ở đồng bằng sông Cửu Long

Nguyễn Trần Nhẫn Tánh

Khoa Kỹ Thuật – Công nghệ – Môi trường, Trường Đại học An Giang

Tóm tắt

Bài viết này xem xét các vấn đề môi trường chính ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Điều kiện môi trường ở ĐBSCL đã thay đổi mạnh mẽ theo thời gian. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ĐBSCL đang đối mặt các vấn đề về cấp nước, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng. Người dân đã áp dụng các giải pháp để đối phó với sự thay đổi. Tuy nhiên, các giải pháp vẫn còn nhiều hạn chế.

I.Giới thiệu

Các con sông hình thành nên các đồng bằng trên thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành từ sông Mekong có nguồn gốc từ Tây Tạng. Đây là con sông lớn nhất Châu Á. Ở ĐBSCL, người dân địa phương khai thác các nguồn tài  nguyên thiên nhiên chủ  yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động này làm thay đổi mạnh mẽ đồng bằng. Nhìn chung, ĐBSCL có các vấn đề môi trường về cấp nước, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng như các đồng bằng khác như Vịnh Chesapeake, sông Columbia, Everglades-South Florida, sông San Joaquin, sông Colorado, sông Mississippi, the Puget South, the Netherlands và sông Po.

II.Các vấn đề môi trường ở ĐBSCL

Các vấn đề môi trường ở ĐBSCL liên quan nhiều đến sông Mekong. Sông Mekong có chiều dài khoảng 4200 km (trong đó, phần ở Việt Nam khoảng 230km). Lưu vực sông khoảng 795000km2 (trong đó 39000 km2 ở Việt Nam). Diện tích ngập ở Việt Nam vào khoảng 19000 km2. Ở ĐBSCL, lũ là hiện tượng tự nhiên. Nhìn về lịch sử cho thấy con  người  đã  phát  triển  các  hệ  thống kênh và đê bao để quản lý nước. Năm 1820, Thoại Ngọc Hầu đã khởi đầu đào một kênh chính. Sau đó, vua Minh Mạng đã xây dựng một con kênh nối với vịnh Siam để tăng khả năng kiểm soát khu vực.  Từ  thời  Pháp,  từ  năm  1880  đến 1960, ĐBSCL là nơi để canh tác nông nghiệp với việc phát triển của nhiều con kênh và đê (Biggs, 2001).

Hoạt động chủ yếu ở ĐBSCL là sản xuất nông nghiệp. Đồng bằng có hai mùa rõ rệt. Trong đó, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4. Hai mùa này cung cấp các điều kiện môi trường thích hợp cho việc canh tác. Thông thường, rau được canh tác trong mùa khô và lúa vào mùa mưa (Nakai  and  Cuc,  2005).  Bên  cạnh  đó, nghề nuôi cá Basa cũng là một hoạt động tiêu biểu mang nhiều lợi ích cho người dân địa phương.

Ở ĐBSCL, người dân nhận nhiều lợi ích từ nguồn nước. Phù sa trong nước tạo một môi trường trong đó có nhiều tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết người dân ở vùng  ĐBSCL  sử  dụng  nước  dọc  theo sông cho các hoạt động và hoàn trả lại các thành phần độc hại. Hiện tại, nguồn nước đang bị ô nhiễm ngày càng tăng do thuốc trừ sâu, trừ cỏ và phân bón… Mỗi năm, nông dân bơm nước trực tiếp vào đất canh tác và giữ đó trong 1 vài tháng và sau đó tháo nước vào các con kênh và sông trực tiếp. Họ lặp lại  chu kỳ này nhiều lần cho đến khi thu hoạch lúa. Do nhiều người nhất là người dân ở nông thôn lấy nước trực tiếp từ các con kênh và sông nên họ nhận các chất ô nhiễm nước trong cả năm. Mặc dầu mỗi tỉnh ở ĐBSCL có hệ thống nước cấp riêng nhưng các hệ thống chỉ phục vụ cho người dân sống ở các vùng đô thị hoặc thị xã, thị trấn và một số khu vực nông thôn.  Điều  này  cho  thấy,  vấn  đề  cấp nước vẫn đang là một nhu cầu lớn cho người dân ở ĐBSCL.

Song song với vấn đề nước cấp, lũ là một trong những vấn đề đáng ngại ở vùng đồng bằng. Mỗi năm, khu vực có một  mùa  lũ  thường  kéo  dài  trong  3 tháng. Vào mùa lũ, người dân có thể tận dụng lợi ích từ phù sa trong việc cung cấp  dinh  dưỡng  cho  đất  đai  và  nuôi dưỡng cá (Nga, 1999). Ở ĐBSCL, lũ thường bao phủ từ 1,4 đến 1,9 triệu ha (chiếm khoảng 50% diện tích của đồng bằng). Lũ lớn thường xuất hiện 2 năm một lần. Trong nhiều trường hợp, vùng đồng bằng có lũ trong 3-4 năm liên tiếp chẳng hạn như 1937-1940, 1946-1949 và 1994-1996. Năm 2000 và năm 2001 là thời điểm mà ĐBSCL có các cơn lũ lớn gây  ra  nhiều  khó  khăn  cho  đời  sống người dân. Người dân địa phương đối phó với lũ bằng cách xây dựng nhiều con đê để bảo vệ lúa và đẩy mạnh làm lúa 3 vụ trong năm (Tanh, 2004). Tuy nhiên, việc xây dựng đê để kiểm soát lũ gây ra các tác động tiêu cực đến canh tác lúa. Trong nghiên cứu về so sánh lợi ích và chi phí của làm lúa 2 vụ (không có đê khép kín) và làm lúa 3 vụ (có đê khép kín), Tanh (2004) chỉ ra rằng chênh lệch về lợi ích chi phí giữa 2 khu vực là khoảng 11 triệu đồng/ha/năm, trong đó khu vực không có đê khép kín có lợi ích cao hơn. Điều này đã đã đặt ra bài toán về các giải pháp nào tốt nhất đối với việc kiểm soát lũ ở khu vực.

Bên cạnh vấn đề nước cấp và lũ, sự thay đổi về hệ sinh thái cũng là một vấn đề quan trọng mà nhiều người quan tâm. ĐBSCL có các hệ sinh thái đa dạng như hệ sinh thái nước ngọt, nước mặn, rừng ngập mặn,… ĐBSCL cùng với các đặc điểm của đồng bằng đã thay đổi theo thời gian. Hoạt động nông nghiệp và nhà ở được xem như là các nhân tố chính làm thay đổi hệ sinh thái của đồng bằng. Các hoạt động này góp  phần vào việc các cùng đất tự nhiên dành cho hệ sinh thái bị mất đi, nhất là đất ngập nước. Trong một bức tranh khác, sự thay đổi khí hậu liên quan đến chảy tràn có thể làm tăng việc chảy tràn ở vùng Đông Nam Châu Á (IPPC, 2001). Sự thay đổi này sẽ thay đổi các hệ sinh thái ở ĐBSCL. Sự thay đổi về sinh thái là một tình trạng chung không chỉ riêng ĐBSCL mà cũng là một vấn đề của tất cả các đồng bằng trên thế giới.

Trong bất kỳ sự thay đổi nảo của đồng bằng, cuối cùng thì sự thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của công cộng. Sự thay đổi về điều kiện môi trường của Đồng bằng sẽ làm cho người dân gặp khó khăn nhiều hơn về sức khỏe. Bên cạnh Tây dược, nhiều người ở vùng nông thôn sử dụng các loại lá và cây cỏ để trị bệnh như ở Vườn Quốc gia Tràm Chim, Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen (Maltby, Linstead, Ni, Beazley, Khiem và Tanh, 2006). Sự biến đổi về các hệ sinh thái có thể làm mất đi các loại thực vật  phục  vụ  nhu  cầu  của  người  dân. Thêm vào đó, chất lượng nước cũng bị ảnh hưởng từ sự thay đổi này. Do việc xâm nhập mặn đang ngày càng phát triển ở ĐBSCL, nhiều người đang thiếu các nguồn nước chất lượng tốt cho sức khỏe. Các loại thuốc trừ sâu trong nước phát sinh từ sản xuất nông nghiệp đang tổn hại đến những người không tham gia vào hệ  thống cấp  nước của  các  tỉnh  trong vùng Đồng bằng.

Quản lý ĐBSCL đang là vấn đề thách thức. Sự ưu tiên phát triển kinh tế làm tổn hại đến  môi trường của đồng bằng. Chính  quyền địa  phương đã  cải thiện về luật lệ về môi trường và đã bắt đầu gặt hái được một số thành tựu trong việc bảo vệ đồng bằng. Các tỉnh đang thảo luận để hợp tác trong việc bảo vệ đồng bằng mặc dầu các hành động vẫn còn hạn chế. Nhiều tỉnh đã thiết lập các kế hoạch cho việc thích nghi với biến đổi khí hậu. Nhiều cuộc họp về bảo vệ môi trường, nhất là quản lý đê bao đã được tổ chức ở cấp độ địa phương và vùng để đạt được các thỏa thuận chung giữa các tỉnh (Tanh, 2004). Hiện tại chính quyền địa phương và trung ương đang tăng cường sẽ hỗ trợ tài chính cho việc bảo vệ ĐBSCL. Tuy nhiên, việc quản lý ĐBSCL là một bài toán khó bởi vì Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển mà đang thiếu các nguồn lực về tài chính không chỉ cho phát triển kinh tế mà còn đáp ứng việc bảo vệ môi trường.

III. Kết luận

Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi mạnh mẽ. Sự thay đổi thể hiện ở các ảnh hưởng về nước cấp, lũ, hệ sinh thái và sức khỏe công cộng. Người dân địa phương đã xây dựng vài giải pháp để ứng phó với các vấn đề của đồng bằng cũng như với các tác động của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên các giải pháp thì vẫn còn  nhiều    hạn  chế.  Trong  tương  lại, dưới các tác động của biến đổi khí hậu, các kịch bản về thay đổi của đồng bằng nên được xem xét cẩn thận để tìm ra các kế hoạch hành động và chính sách khả thi cho sự sống còn và phát triển của đồng bằng.

Tài liệu tham khảo

Biggs, David. 2001. Comparing stories of flood control in Misssissippi and the Mekong Deltas: What lessons can be learned?. Seminar in Department of Environment and Natural resources management, Can Tho University, pp. 1-12

Intergovernmental Panel on  Climate Change (IPPC). 2001.  Climate Change 2001: Impacts, Adaptation, and Vulnerability. Cambridge University Press.

Nakai M. and N. T. T. Cuc. 2005. Field application of an insect virus in the Mekong Delta: Effects of a Vietnamese nucleopolyhedrovirus on Spodoptera litura (Lepidoptera: Noctuidae) and its parasitic natural enemies. Biocontrol Science & Technology, vol.15, p.443-453.

Nga, T.T. 1999. Ảnh hưởng của phù sa trên năng suất lúa và một số động vật thủy sinh chính tại An Giang (phần I và II) (Effects of alluvial on rice production yield and some major aqua-fauna in An Giang Province (Part I and II). Department of Science, Technology and Environment, An Giang Province.

Maltby,  E.,  C  Linstead,  DV  Ni,  H  Beazley,  NT  Khiem  and  NTN  Tanh.  2006. Application  of  Ecosystem  Approach  to  strategic  wetland  management  in  Vietnam’s Mekong Delta. Darwin Initiative.

Tanh, N.T.T. 2004. Tác động của đê bao đến kinh tế, xã hội và môi trường huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (Socio-economic and environmental impacts of full flood protection levees  in  Phu  Tan  district,  An  Giang  Province).  Master’s  program  thesis.  Can  Tho University.

Nguồn: http://daihocxanh.hoasen.edu.vn/hoi-thao/cac-van-de-moi-truong-o-dong-bang-song-cuu-long-527.html

Phản đối cáp treo vào hang Én bởi đây là cửa ngõ Sơn Đoòng

TTO – Giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương, chủ tịch Hội Cổ sinh – địa tầng Việt Nam, một lần nữa khẳng định quan điểm không nên xây cáp treo vào hang Én, động Sơn Đoòng cũng như vùng lõi di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng.

Hang Én nằm trên cửa ngõ vào động Sơn Đoòng, cách cửa Sơn Đoòng khoảng 3,5km – Ảnh: T.THẮNG

Ông Phương nhắc lại quan điểm đã thể hiện trong văn bản đề nghị dừng dự án cáp treo vào vùng lõi Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, gửi đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tháng 9-2017, rằng làm cáp treo vào hang Én thực chất không khác gì làm cáp treo vào Sơn Đoòng.

Đã có nhiều người vào hang Én thì chắc chắn sẽ tràn vào Sơn Đoòng gây ảnh hưởng môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và nhiều thứ khác. Tôi nhắc lại quan điểm phản đối làm cáp treo vào hang Én bởi đây là cửa ngõ Sơn Đoòng

Giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương

Cáp treo vào Sơn Đoòng: “Cần hủy bỏ vĩnh viễn”

Ủy ban Di sản thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tháng 7-2017 đã tổ chức phiên họp tại Krakow, Ba Lan, bàn về việc bảo vệ các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, và hang Sơn Đoòng được đề cập tới trong khoảng hai trang thuộc biên bản hội nghị này.

Trong phần các phân tích và kết luận của Trung tâm Di sản thế giới và Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN), dù ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam, ủy ban chuyên trách của UNESCO vẫn nhận thấy những vấn đề theo họ có độ “chênh” giữa báo cáo và thực tiễn.

Cụ thể, các phân tích và kết luận cho rằng Chính phủ Việt Nam khẳng định dự án đề xuất xây tuyến cáp treo vào hang Sơn Đoòng nằm trong khu vực được đặc biệt bảo vệ của di sản sẽ chỉ được thực hiện khi có sự thông qua và đồng thuận của Ủy ban Di sản thế giới.

Thế nhưng biên bản hội nghị nêu: “Tuy nhiên trên thực tế Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã cho phép tiến hành các cuộc thăm dò và nghiên cứu tại khu vực này, điều đó cho thấy dự án vẫn đang được cân nhắc”.

Theo bản đánh giá, chính quyền sở tại cần phải lưu tâm tới việc một hệ thống cáp treo (nếu có) sẽ đẩy nhanh tốc độ khám phá di sản, dẫn đến việc tăng lượng du khách và tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực với môi trường rất dễ tổn thương của hang Sơn Đoòng, từ đó làm tăng thêm áp lực từ các hoạt động phi pháp như săn bắt thú rừng và khai thác gỗ trái phép.

Bản đánh giá còn cho rằng: “Hoạt động du lịch và dã ngoại ở hang Sơn Đoòng đang tạo nhiều công ăn việc làm cho các cộng đồng dân cư địa phương, cơ hội này sẽ giảm nếu nhu cầu về người hướng dẫn và người mang vác đồ bị xóa bỏ”.

Vì lẽ đó, Trung tâm Di sản thế giới và IUCN khuyến nghị Ủy ban Di sản thế giới cần nhắc lại những nguy cơ liên đới tới dự án cáp treo này và những tác động tiềm ẩn của nó với di sản có giá trị nổi bật toàn cầu (là hang Sơn Đoòng), đồng thời yêu cầu Chính phủ Việt Nam cần hủy bỏ vĩnh viễn các kế hoạch phát triển dự án cáp treo vào hang Sơn Đoòng.

Không dùng cáp treo khám phá hang động

Nhắc lại quan điểm đã nêu trong kiến nghị trước đó, giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương nhấn mạnh: “Hang Én nằm trên cửa ngõ vào động Sơn Đoòng, chỉ cách cửa Sơn Đoòng khoảng 3,5km. Hang Én là nơi cư trú của hàng vạn con chim én, một điểm hội tụ đặc sắc nhất của loài chim này ở nước ta.

Khai thác du lịch bằng cáp treo hiện khá phổ biến trên thế giới và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng thực tế người ta không dùng cáp treo để khám phá hang động, đặc biệt với những hang động lớn và đẹp lộng lẫy như Sơn Đoòng, hang Én, bởi việc đó tiềm ẩn nguy cơ phá hoại hệ sinh thái rất dễ bị tổn thương và các thành tạo hang động tinh tế”.

Ông cũng cho rằng hình thức khai thác du lịch mạo hiểm, khám phá hang Én và động Sơn Đoòng như hiện nay là phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế và ít tác hại nhất đến toàn hệ thống hang động này. Đây là tour du lịch đẳng cấp cao của thế giới và duy nhất ở Việt Nam hiện nay.

“Khuyến nghị của UNESCO rất chính xác, cho thấy tổ chức này theo dõi rất chặt chẽ và nắm bắt kịp thời thông tin dư luận Việt Nam.

Đó cũng là cách để mọi người thấy rõ hơn rằng bất kỳ ý định làm cáp treo vào hang Én, Sơn Đoòng của bất kỳ đơn vị nào cũng sẽ bị phản đối” giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương quyết liệt.

Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng – chánh văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam – cũng cho biết ông ủng hộ quan điểm chung của UNESCO.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Viết Cường – trưởng phòng quản lý di tích Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch), khi UNESCO đưa khuyến nghị cần hủy bỏ vĩnh viễn các kế hoạch phát triển dự án cáp treo vào động Sơn Đoòng vào văn bản dự thảo.

Phía Việt Nam và một số nước thành viên đã khẳng định Việt Nam không có ý định làm cáp treo tiếp cận vào động Sơn Đoòng nữa. Vì vậy phiên họp đã thống nhất không đưa khuyến nghị đó vào kết luận cuối cùng.

Hiện chúng tôi chưa nhận được hồ sơ cụ thể về phương án làm cáp treo vào hang Én. Từ giai đoạn khảo sát đến lập phương án phải được Bộ Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch và UNESCO có ý kiến thông qua mới được thực hiện. Nếu làm cáp treo mà ảnh hưởng đến giá trị nổi bật toàn cầu của di sản đã được UNESCO công nhận thì chúng tôi không thống nhất làm.

Ông Nguyễn Viết Cường – trưởng phòng quản lý di tích Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch)

“Sơn Đoòng không phù hợp với du lịch đại trà”

Dư luận gần đây lại xôn xao khi Tập đoàn FLC phủ nhận những thông tin cho rằng tập đoàn này khảo sát làm cáp treo vào hang Sơn Đoòng.

Ông Lê Thanh Tịnh, giám đốc ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, cũng khẳng định Sơn Đoòng không phù hợp với kiểu làm du lịch đại trà, nên không có chuyện làm cáp treo vào đó.

Ông Tịnh cho biết FLC thực hiện việc khảo sát làm cáp treo vào hang Én đã diễn ra cuối năm 2016.

Đến đầu năm 2017, đoàn khảo sát này đã báo cáo phương án xây dựng cáp treo vào hang Én với tỉnh Quảng Bình.

Tuyến cáp treo này dài khoảng 5,1km từ km37 đường Hồ Chí Minh nhánh đông vào đến hang Én.

Tháng 8-2017, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào làm việc với tỉnh Quảng Bình đã đồng ý về chủ trương làm cáp treo vào hang Én với điều kiện không làm ảnh hưởng đến di sản và có tham khảo ý kiến của UNESCO.

Nguồn: https://tuoitre.vn/phan-doi-cap-treo-vao-hang-en-boi-day-la-cua-ngo-son-doong-20180201084948622.htm

UNESCO đề nghị huỷ bỏ vĩnh viễn dự án cáp treo vào Sơn Đoòng

Tháng 7/2017, Trung tâm Di sản Thế giới và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã tái khẳng định mối quan tâm về đề xuất xây dựng cáp treo vào hang động Sơn Đoòng trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và những tác động tiềm tàng của dự án đến tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, kêu gọi hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch xây dựng cáp treo.

(ảnh: John Spies)

UNESCO khẳng định cáp treo sẽ gây tác động tiêu cực đến Sơn Đoòng

Trong Báo cáo thẩm định và bảo tồn 99 di sản thế giới tại các quốc gia thành viên vào tháng 7/2017, trong đó có hang Sơn Đoòng thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng tại Việt Nam, Ủy ban Di sản Thế giới cho biết có một số yếu tố tác động tiêu cực đến di sản như các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, các hành vi xâm phạm rừng và hoạt động khai thác gỗ trái phép, sự giảm sút và biến mất của một số động thực vật…

Bên cạnh đó, chính quyền địa phương và trung ương đều thiếu các kế hoạch quản lý khách du lịch. Kế hoạch Phát triển Du lịch Bền vững đưa ra không đầy đủ, thiếu những cảnh báo về tác động của khách du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí, trong đó có dự án làm cáp treo vào hang động Sơn Đoòng.

Báo cáo cũng lưu ý rằng, việc làm cáp treo đồng nghĩa với khả năng số lượng khách tham quan vào hang tăng mạnh. Điều đó đi kèm các tác động tiêu cực tiềm ẩn đối với môi trường nhạy cảm của hang động. Các hoạt động bất hợp pháp khác cũng có khả năng gia tăng.

Vì vậy, Trung tâm Di sản Thế giới và IUCN đề nghị Ủy ban Di Sản Thế giới khẳng định lại mối quan tâm của mình đối với dự án này và các tác động tiềm tàng lên tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, đồng thời yêu cầu Việt Nam hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch phát triển cáp treo.

Đồng thời, UNESCO còn yêu cầu Việt Nam nộp bản báo cáo cập nhật về tình trạng bảo tồn di sản cho Trung tâm Di sản Thế giới vào tháng 12/2018 để Uỷ ban Di sản Thế giới kiểm tra vào năm 2019.

Thực hư chuyện xây cáp treo vào Sơn Đoòng?

Những ngày gần đây, dư luận đang đặc biệt quan tâm về dự án xây cáp treo vào hang Sơn Đoòng do tập đoàn FLC khởi xướng. Đã có một số thông tin lan truyền trên mạng về việc FLC và chính quyền tỉnh Quảng Bình đang âm thầm triển khai dự án cáp treo tới gần hang Sơn Đoòng.

Tuy vậy, ngày 26/1/2018, ông Lê Thanh Tịnh, giám đốc ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết thực chất của thông tin này là việc tập đoàn FLC thực hiện việc khảo sát làm cáp treo vào hang Én, nhưng thời điểm diễn ra vào cuối năm 2016. Hơn nữa, chủ trương làm cáp treo vào hang Én cũng đã được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý vào tháng 8/2017.

Hang Én được coi là “cửa ngõ” đến hang Sơn Đoòng, từ Hang Én đến hang Sơn Đoòng cách khoảng hơn 3km và chỉ có thể tiếp cận bằng cách lội suối và đi bộ (trekking).

Hang Én (Ảnh: Flickr)

Trong báo cáo của Việt Nam gửi cho UNESCO đầu năm 2017 liên quan đến bảo tồn và phát triển quần thể di sản này, Việt Nam cũng đã khẳng định: “Chưa cấp phép cho dự án cáp treo vào hang động Sơn Đoòng, trong khi chờ đợi Đánh giá Tác động Môi trường”, và “dự án xây dựng cáp treo sẽ chỉ được tiến hành nếu có sự tán thành của Uỷ ban Di sản Thế giới.”

Như vậy, có thể thấy hiện nay chưa có chủ trương làm cáp treo vào hang Sơn Đoòng mà chỉ có tới hang Én, kèm điều kiện “không làm ảnh hưởng đến di sản và có tham khảo ý kiến của UNESCO.” Tuy nhiên, với khoảng cách rất gần giữa hai hang, đồng thời hang Én cũng nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, nếu việc triển khai xây cáp treo dài 5,1km vào hang Én được chính thức phê duyệt, thì ảnh hưởng của nó tới sinh thái của Vườn Quốc gia nói chung và hang Sơn Đoòng nói riêng sẽ không nhỏ chút nào.

Trước khuyến nghị của UNESCO, liệu các cơ quan chức năng của Việt nam và lãnh đạo tỉnh Quảng Bình có nghiêm túc thực hiện theo để bảo tồn một quần thể di sản thiên nhiên vào loại kỳ vĩ nhất của thế giới hay không sẽ được đông đảo dư luận quan tâm và chờ câu trả lời.

Hiện tại ở Việt Nam, đang có nhiều cá nhân và tổ chức lên tiếng bảo vệ hang Sơn Đoòng bằng nhiều cách thức với mong muốn lan toả ý thức bảo vệ và giữ gìn một di sản thiên nhiên đặc biệt của Việt Nam, trong đó nổi bật là dự án #SaveSonDoong (Cứu Sơn Đoòng) của nhiều bạn trẻ.

Thanh Thuỷ (t/h)

Nguồn: http://trithucvn.net/chinh-tri-xa-hoi/de-nghi-huy-bo-vinh-vien-du-cap-treo-vao-son-doong-cua-unesco-va-cac-buoc-tiep-theo-cua-vn.html

Xem clip Hãy bảo vệ Sơn Đoòng tại https://www.youtube.com/watch?time_continue=653&v=oyYkYGG7V1A

 

 

 

ĐỊA DU LỊCH AN GIANG – TIỀM NĂNG CẦN ĐƯỢC KHAI THÁC

Hà Quang Hải*, Lê Nguyên Cẩn**

*Trường Đại học khoa học Tự nhiên, Đại học QG. TP.HCM

**Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang

Bài báo này được trích từ chuyên đề “Tiềm năng Địa du lịch Tỉnh An Giang” thuộc nhóm các “Báo cáo chuyên đề và đề xuất các định hướng nghiên cứu” do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang chủ trì.

Các tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Anh Giang đã tạo nhiều điều kiện cho việc thực hiện chuyên đề này.

Cán bộ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc đã hỗ trợ trong công tác thực địa.

Lãnh đạo và các cán bộ Ban quản lý di tích văn hóa Óc Eo đã cung cấp tài liệu và hướng dẫn thăm quan một số di tích tại Óc Eo.

1.Giới thiệu

An Giang là tỉnh có tài nguyên địa chất, địa mạo đa dạng bao gồm nhiều loại đất, đá;  núi, đồi; đồng bằng, đầm lầy; sông, kênh và hồ nước. An Giang là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Kinh – Chăm – Hoa – Khmer với một nền văn hóa độc đáo, đa sắc màu. Sự đa sắc màu văn hóa hình thành và phát triển trên nền địa chất, địa mạo đa dạng đã tạo cho An Giang một tiềm năng lớn về du lịch.

Những điểm thu hút du khách tại An Giang bao gồm: Miếu Bà Chúa xứ Núi Sam, đỉnh Núi Cấm (huyện Tịnh Biên); tham quan dâng hương tại Nhà mồ Ba Chúc, Đồi Tức Dụp (Tri Tôn). Khách đến An Giang chủ yếu là khách hành hương kết hợp tham quan du lịch [3], có thể nói du lịch tâm linh là loại hình du lịch ưu thế trong thời gian qua.

Những điểm du lịch tâm linh cũng như các danh thắng khác tại An Giang được dựa vào núi, đồi, đầm lầy, cồn bãi… như Núi Cấm, Núi Sam, Núi Két, rừng tràm Trà sư…tức là dựa vào yếu tố địa chất và địa mạo; nói cách khác tài nguyên thiên nhiên là nền tảng cho tài nguyên văn hóa (tôn giáo, lịch sử, thẩm mỹ, nghệ thuật…). Những nghiên cứu mới hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, giá trị văn hóa được xem là các giá trị bổ sung của các di sản tự nhiên (địa chất, địa mạo).

Như vậy có thể thấy du lịch hiện nay ở An Giang mới chỉ khai thác một phần của giá trị tự nhiên. Để khai thác toàn diện hơn giá trị nguồn tài nguyên này, phát triển địa du lịch đang là hướng đi mới.

2.Sơ lược về Địa Du lịch

Phần này trình bày định nghĩa, tính chất và đặc điểm cơ bản về địa du lịch dựa vào các công bố của Ross K. Dowling [5, 6].

2.1 Định nghĩa

Địa du lịch là một hình thức du lịch tự nhiên tập trung vào các cảnh quan địa chất. Nó thúc đẩy du lịch tại các di sản địa chất (Geosites) và bảo tồn đa dạng địa học (Geodiversity) cũng như sự hiểu biết về khoa học Trái đất thông qua bảo tồn và học tập. Điều này đạt được thông qua việc tham quan các đặc điểm địa chất theo các đường mòn địa chất (geotrails) các điểm nhìn (view points), hướng dẫn du lịch, các hoạt động địa chất và bảo trợ của trung tâm du khách tại các geosite”.

2.2 Tính chất địa du lịch

Nhìn chung, địa du lịch cung cấp nhiều sản phẩm như: các đặc điểm địa chất, địa mạo, cơ sở hạ tầng, quá trình giải thích (diễn giải), lập kế hoạch, và quản lý bởi vì địa du lịch không chỉ là hiện tượng địa chất; nó còn bao gồm các cơ sở và dịch vụ du lịch, quản lý du lịch, các điểm hấp dẫn địa chất, giải thích sinh động và hiệu quả, lập kế hoạch linh hoạt và các hoạt động thú vị. Mặt khác, địa du lịch phản ánh nét đặc trưng và các quá trình xảy ra tại một geosite (Hình 1).

Hình 1. Nhận thức về tính chất và phạm vi của địa du lịch [6]. Tài nguyên thiên nhiên – đó là các Dạng (FORM) thành tạo địa chất, địa mạo bao gồm: cảnh quan, các dạng địa hình, các điểm lộ đá, các loại đá, các loại trầm tích, kiểu đất và các khoáng vật, chúng là sản phẩm của các Quá trình (PROCESS) địa chất, địa mạo. Phần ‘du lịch’ trong địa du lịch là hoạt động tham quan, học tập và thưởng thức di sản địa chất (geosite). Nhìn chung, địa du lịch là sự kết hợp các yếu tố địa chất của ‘Dạng’ và ‘Quá trình’ với các thành phần của Du lịch như sự hấp dẫn, chỗ ở, chuyến thăm quan, hoạt động, diễn giải cũng như quy hoạch và quản lý.

2.3 Địa du lịch – loại hình du lịch bền vững

Địa du lịch là loại hình du lịch đặc biệt tập trung vào các giá trị địa chất và cảnh quan. Các du khách có thể thăm quan các khu vực tự nhiên hoặc các khu đô thị/xây dựng hoặc bất cứ nơi nào có sự thu hút đặc điểm địa chất. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa địa du lịch và các loại hình du lịch tự nhiên khác vì theo định nghĩa du lịch tự nhiên chỉ diễn ra ở các vùng tự nhiên.

Ngoài trọng tâm là trải nghiệm các đặc điểm địa chất của trái đất, bảo tồn địa di sản; địa du lịch giúp tăng cường sự hiểu biết môi trường và xã hội cũng như mang lại lợi ích cho địa phương, giúp xây dựng cộng đồng. Như vậy địa du lịch chính là loại hình du lịch bền vững, có thể xem địa du lịch là hình thức du lịch thân thiện với môi trường.

3.Tiềm năng địa du lịch An Giang

3.1 Địa tầng, magma

Trên diện tích tỉnh An Giang có sự hiện diện 11 phân vị địa tầng và phức hệ magma xâm nhập. Đá cổ nhất thuộc hệ tầng Tà Pạ tuổi Trias thượng – Jura hạ (T3 – J1tp), trẻ nhất là các trầm tích hiện đại tuổi Holocen muộn có nguồn gốc sông, sông đầm lầy, đầm lầy.

Hệ tầng Tà Pạ và hệ tầng Xa Lon (J3xl) là hai hệ tầng được thiết lập từ những quan hệ địa chất tại hai địa danh Tà Pạ và Xa Lôn thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang [1].

Magma xâm nhập vùng Bảy Núi gồm: Phức hệ Định Quán tuổi Kreta sớm pha 1: Diorit aphibol biotit (Di/K1dq1) và pha 2: Granodiorit biotit (GDi/K1dq2). Phức hệ Đèo Cả tuổi Kreta gồm pha 2: Granit – granosyenit (G/Kđc2), pha 3: Granit granosyenit (G/Kđc3) và pha đá mạch: aplit (a/Kđc). Phức hệ Ankroet tuổi Kreta muộn chủ yếu là đá granite (G/K2ak). Phức hệ Cù Mông tuổi Paleogen chủ yếu là đá mạch gabrodiaba porphyr, andesit porphyr (Gby/Ecm).

Đá magma phun trào có sự hiện diện hệ tầng Nha Trang tuổi Kreta (Knt), đá thuộc tướng á núi lửa, thành phần chủ yếu là ryolit porphy.

Hoạt động khai thác đá đã làm mất đi địa hình nguyên thủy tại Tà Pạ và Xa Lôn cũng như một số vị trí khác, các vết lộ tự nhiên quan sát trước đây có thể không còn, nhưng lại có thể bộc lộ những điểm quan hệ địa chất mới?. Điều tra bổ sung để có giải pháp bảo tồn các điểm lộ phục vụ cho nghiên cứu và khoa học là việc làm cần thiết.

3.2 Địa hình – Địa mạo

An Giang nổi bật với địa hình núi, đồi sót và đồng bằng ngập lụt.

Núi, đồi với Thất Sơn hùng vĩ – một địa danh nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ. Vùng Thất Sơn thuộc huyện Tịnh Biên và Tri Tôn gồm bốn cụm khối núi (Phú Cường, Cấm, Dài, Tô) xếp dài theo hướng bắc nam khoảng 34 km, chiều ngang theo hướng đông tây khoảng 18 km, cao nhất là núi Cấm 705 m. Những huyện khác như An Phú, Châu Đốc và Thoại Sơn cũng có rải rác các núi thấp như núi Nổi, cụm núi Ba Thê, cụm núi Sập.

Địa hình đồng bằng thấp có độ cao phổ biến 1,0 – 2,0 m chiếm phần lớn diện tích tỉnh An Giang. Đây là đồng bằng ngập lụt do sông Tiền và sông Hậu bồi đắp, các dạng địa hình cơ bản bao gồm: Đê ven sông Tiền, sông Hậu, vùng trũng giữa sông Tiền và sông Hậu, Đồng bằng sau đê ven sông, Đồng bằng ven chân núi, các cù lao cổ và trẻ.

3.3 Thủy văn

Sông Tiền, sông Hậu là hai sông lớn đã hình thành nên địa hình dòng chảy đa dạng. Hàng năm, hai sông này mang một lượng phù sa lớn bồi đắp cho đồng bằng Tây Nam Bộ. Một hệ thống sông, rạch tự nhiên và kênh đào dày đặc trên đồng bằng tạo nên một mạng dòng chảy đa dạng.

Sự đa dạng dòng chảy An Giang là nhân tố quyết định hình thành các dạng địa hình vùng đồng bằng ngập lụt và mùa nước nổi An Giang bao phủ đồng bằng hay ven vùng núi là kiểu môi trường địa chất duy nhất của Việt Nam. Đặc điểm này nên được xem là lợi thế trong phát triển địa du lịch, một hiện tượng địa chất đặc thù của Việt Nam.

3.4 Khí hậu

Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, khoảng 26 – 28oC. Mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) nắng chói chang, mỗi ngày có tới 10 giờ nắng. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11). Lượng mưa năm trong khoảng 1.400 – 1500 mm, lượng mưa trong các tháng khá điều hòa. Trong mùa mưa, có tới 7 giờ nắng mỗi ngày [2].

Khí hậu điều hòa chính là nguồn tài nguyên thiết yếu ảnh hưởng tích cực đến phát triển du lịch. An Giang có thời tiết thích hợp cho việc phát triển loại hình địa du lịch, du lịch chữa bệnh và nghỉ dưỡng. 

3.5 Các geosite – điểm du lịch tiềm năng ở An Giang

1) Geosite Núi Sam

Geosite Núi Sam thuộc cảnh quan núi sót cao 228 m, đỉnh nhọn, cấu tạo bởi đá granit phức hệ Ankroet. Trên bình đồ Núi Sam có dạng gần như đẳng thước, chiều bắc nam 2,0 km, chiều đông tây 1,8 km. Liên quan đến tên Núi Sam có hai truyền thuyết: 1) trên bình đồ, núi có dáng dấp như con sam và 2) thời xưa ở đây nước dâng rất cao, xung quanh núi có nhiều con sam đeo.

Là núi sót nhô cao trên đồng bằng nên Núi Sam cũng là điểm nhìn ấn tượng để chiêm ngưỡng cảnh quan như: cánh đồng Châu Phú mênh mông bao quanh núi đổi màu theo thời vụ, màu xanh của mạ, màu vàng của lúa chín; các kênh đào thẳng tắp, nhất là kênh Vĩnh Tế phía tây bắc (Hình 2); thành phố Châu Đốc phía đông bắc; vào những ngày quang mây, từ chùa Hang có thể nhìn thấy tượng phật Di Lặc trên đỉnh Núi Cấm phía tây nam.

Hình 2. Cảnh quan phía tây Chùa Hang.         Hình 3. Lăng Thoại Ngọc Hầu (Sơn Lăng)

Núi Sam nổi tiếng là điểm du lịch tâm linh và lịch sử với những di tích thu hút một lượng lớn du khách hàng năm như: Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Tây An, Chùa Hang, Lăng Thoại Ngọc Hầu (Hình 3). Đó là những di tích gắn với nhiều huyền thoại và truyền thuyết từ thời khai khẩn, mở mang bờ cõi.

Tâm linh và lịch sử là những giá trị bổ sung nổi bật của geosite Núi Sam, trong khi đó giá trị khoa học địa chất, địa mạo của geosite này chưa được minh giải một cách tường tận. Nghiên cứu chi tiết cấu tạo địa chất, các dạng vi địa hình bổ sung tư liệu cho Núi Sam sẽ làm cho cụm điểm di tích này giá trị hơn nữa.

2) Geosite Bảy Núi

Geosite Bảy Núi thuộc kiểu Cảnh quan đồi, núi sót. Geosite này gồm bốn cụm (Hình 4) cấu tạo chủ yếu bởi đá magma, từ bắc xuống nam gồm: Phú Cường, Cấm, Dài và Tô. Các núi nhô cao nổi bật trên bề mặt đồng bằng, đỉnh cao nhất của cụm núi Cấm là 705 m, có thể xem là nóc nhà của Tây Nam Bộ.

Cảnh quan Bảy Núi là đối tượng thích hợp cho nghiên cứu, học tập địa mạo vùng núi cho học sinh, sinh viên các trường từ phổ thông đến đại học ở Tây Nam Bộ, nơi mà địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích. Sơ bộ nhận thấy có mối quan hệ về mặt hình thái với nguồn gốc và thành phần thạch học như các khối núi cao, đỉnh nhọn, sườn dốc được cấu tạo bởi magma xâm nhập (thuộc phức hệ Định Quán, Đèo Cả) và magma phun trào (thuộc hệ tầng Nha Trang); các núi cấu tạo bởi các đá cát kết, bột kết thuộc hệ tầng Tà Pạ tạo nên kiểu địa hình cuesta.

Bao bọc xung quanh geosite Bảy Núi là đồng bằng, đầm lầy và kênh rạch, trong đó có những điểm đến hấp dẫn có giá trị sinh thái hay lịch sử như rừng tràm Trà Sư, kênh Vĩnh Tế…

Hình 4. Địa hình khu vực Bảy Núi

Geosite Bảy Núi rất khả thi trong việc xây dựng các tuyến địa du lịch như: đường mòn địa chất (geotraile), đi bộ thám hiểm đường dài (trecking), địa du lịch thể thao-mạo hiểm kết hợp giữa tìm hiểu giá trị khoa học trái đất và các giá trị bổ sung kèm theo (lịch sử, tâm linh, địa sử…).

3) Geosite Tà Pạ

Geosite Tà Pạ thuộc kiểu địa tầng. Tại đây lộ các đá bột kết, cát kết, đá phiến, cát kết chứa cuội (Hình 5). Ranh giới dưới chưa quan sát được, ranh giới trên trên bị xâm nhập phức hệ Định Quán (Hình 6) xuyên cắt và bị cuội kết cơ sở của hệ tầng Xa Lôn phủ lên [1]. Dựa vào mặt cắt này các tác giả thiết lập hệ tầng Tà Pạ có tuổi Trias muộn – Jura sớm (T3-J1tp).

Hình 5 (trái). Bột kết màu tím xen trong cát kết hệ tầng Tà Pạ. Hình 6 (phải). Đá xâm nhập phức hệ Định Quán xuyên cắt các đá hệ tầng Tà Pạ. Ảnh Trương Công Đượng

Đồi Tà Pạ hiện nay là khu mỏ đá bỏ hoang. Moong khai thác đá nay là hồ nước (Hình 7), những tháp đá (Hình 8) đã hình thành kiểu địa hình mới lạ thu hút một số du khách thăm quan.

Đồi Tà Pạ sẽ là điểm đến hấp dẫn của huyện Tri Tôn nếu qui hoạch khu mỏ đá bỏ hoang này cùng với chùa Tà Pạ (chùa Chơn Num)… thành điểm du lịch.

Hình 7 (trái). Một phần moong khai thác đá Tà Pạ nay là hồ nước trong xanh. 
Hình 8 (phải). Tháp đá để lộ các tầng bột kết, cát sạn kết cắm về tây bắc với góc dốc 15o.

4) Geosite Xa Lôn

Geosite Xa Lôn thuộc kiểu địa tầng. Tại đây lộ mặt cắt cuội kết, tuf tảng và phun trào andesit được nghiên cứu chi tiết. Một lỗ khoan sâu 200 m được thực hiện để nghiên cứu bổ sung cho mặt cắt này. Dựa vào tài liệu địa chất mặt cắt và lỗ khoan các tác giả đã thiết lập hệ tầng Xa Lôn tuổi Jura muộn (J3xl).

Hình 9. Cuội kết cơ sở hệ tầng Xa Lôn phủ trên cát kết chứa cuội, bột kết hệ tầng Tà Pạ. Ảnh Trương Công Đượng

Theo mô tả [1] đây là mặt cắt khá đẹp về hệ tầng Xa Lôn. Tại mặt cắt này, ranh giới dưới của hệ tầng phủ trên cát kết chứa cuội, bột kết màu tím của hệ tầng Tà Pạ (Hình 9) và ranh giới trên bị phun trào ryolit porphyr của hệ tầng Nha Trang (K2nt) phủ lên.

5) Geosite Óc Eo – Ba Thê

Geosite Óc Eo – Ba Thê thuộc kiểu cảnh quan địa mạo núi sót bao gồm cụm núi Ba Thê (Ba Thê, Nhỏ, Tượng, Trọi, Chóc) và vùng đồng bằng bao quanh, nơi có di tích văn hóa Óc Eo.

Hình 10 (trái). Cảnh quan địa mạo núi sót Óc Eo – Ba Thê. Hình 11 (phải). Từ trên đỉnh núi Ba Thê có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Ba Thê và đồng bằng bao quanh

Hai giá trị khoa học địa chất nổi bật của geosite này gồm:

– Núi Ba Thê (Hình 10) nhô cao trên đồng bằng bằng phẳng. Đỉnh núi Ba Thê – một điểm nhìn lý tưởng. Từ đây có thể chiêm ngưỡng những ruộng lúa bằng phẳng được phân chia bởi những dòng kênh thẳng tắp cắt nhau như ô bàn cờ (Hình 11). Vào mùa nước nổi, Ba Thê trở thành hòn đảo trên những cánh đồng khi đã ngập nước mênh mông.

– Các lòng sông cổ để lại dấu vết trên bề mặt đồng bằng lân cận di tích Óc Eo, trong đó Kênh 4 là kênh dài nhất (80 km) gần như một đường thẳng từ Angkor Borei đến Óc Eo.

Kênh 4 là một trong bốn kênh rạch dẫn từ trung tâm nông nghiệp Funan của Angkor Borei lần đầu tiên được vẽ bởi nhiếp ảnh gia hàng không Pierre Paris vào những năm 1930. Các cuộc khai quật tiếp theo của Louis Malleret trong những năm 1940, cuộc khảo sát do Janice Stargardt dẫn đầu trong những năm 1970 và bản đồ không ảnh của Finnmap Oy trong những năm 1992-1993 đã bổ sung thêm thông tin[4].

Nếu được nghiên cứu khôi phục vị trí và hình dạng, các lòng sông cổ, cửa biển cổ sẽ góp phần làm sáng tỏ bối cảnh của vương quốc Phù Nam vào giai đoạn hưng thịnh cũng như giúp luận giải sự suy tàn của vương quốc này ?.

Hai giá trị bổ sung cho geosite Óc Eo – Ba Thê gồm:

– Khảo cổ: khu di tích văn hóa Óc Eo – dấu vết của vương quốc Phù Nam xưa, vốn là một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á cách nay khoảng 2000 năm. Di chỉ văn hóa Óc Eo có trung tâm là khu vực núi Ba Thê (thị trấn Óc Eo) và các xã Vọng Thê, Vọng Đông, huyện Thoại Sơn.

– Tâm linh: Trên đỉnh núi Ba Thê có ngôi chùa cổ Sơn Tiên Tự được dựng vào năm 1933. Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát cao chừng 8 m (Hình 12). Cạnh chùa có một khối đá granit mà trên đó có dấu lõm dạng bàn chân được nhà chùa ghi là “bàn chân tiên” – một điểm nhấn gắn với câu truyện thần thoại đặc biệt thu hút du khách.

Hình 12. Tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát trên đỉnh núi Ba Thê

Ở chân núi Ba Thê có Chùa Linh Sơn còn được gọi là chùa Phật bốn tay xây dựng năm 1913. Năm 2012 chùa được xếp vào loại hình kiến trúc tiêu biểu trong quần thể Di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo – Ba Thê. Chùa Linh Sơn là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng của tỉnh An Giang.

Geosite Óc Eo – Ba Thê có thể trở thành điểm đến Địa du lịch – Lịch sử – Khảo cổ – Tâm linh nếu được nghiên cứu, phục dựng mô hình cổ địa lý giai đoạn phát triển vương quốc Phù Nam bổ sung cho giá trị khoa học địa chất, địa mạo và giá trị khảo cổ hiện có.

6) Geosite sông Tiền

Sông Tiền từ biên giới với Campuchia đến đuôi cù lao Giêng dài khoảng 80 km thuộc kiểu sông bện tết với hệ thống cù lao cổ gần như nối tiếp nhau bao gồm cù lao Long Khánh, cù lao Long Thuận và cù Lao Tây (thuộc tỉnh Đồng Tháp).

Các cù lao trẻ (cồn) hình thành và phát triển giữa sông Tiền (đoạn sông phía bắc Tân Châu) chính là hình ảnh quá khứ của các cù lao cổ nói trên. Có thể lấy cồn Chính Sách làm ví dụ:

– Ảnh vệ tinh năm 1985 (Hình 13) cho thấy lòng sông Tiền (phía đông xã Vĩnh Hòa) chỉ có hai cù lao nhỏ;

– Ảnh vệ tinh năm 2015 cù lao này đã phát triển thành cồn Chính Sách, mở rộng tới 1,2 km; dài tới 7,2 km (Hình 14).

Hình 13 Trên ảnh vệ tinh năm 1985, các cồn giữa lòng sông Tiền nhỏ, phân bố rải rác.Nguồn Google Earth nh năm 1985). Nguồn Google Earth
Hình 14. Trên ảnh vệ tinh năm 2015, hai cồn nhỏ phía đông xã Vĩnh Hòa phát triển thành cồn Chính Sách rất rộng.Nguồn Google Earth

Sự hình thành cồn Chính Sách là ví dụ sinh động về hiện tượng “Đảo trôi” – bài học giáo khoa trong khoa học địa mạo. Đảo trôi bồi tụ mở rộng diện tích sẽ dẫn đến hiện tượng xói lở hai bờ sông (Hình 15). Hiện tượng xói lở nhiều năm thấy rất rõ dọc bờ sông Tiền thuộc Tân Châu và Hồng Ngự. Đảo trôi là hiện tượng cù lao hình thành giữa dòng sông mà luôn bị xói lở đầu cù lao (Hình 16) và bồi tụ phần đuôi cù lao.

Có một thực tế rằng, trong nhiều năm qua, nhiều công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào hiện tượng xói lở bờ sông mà quên mất hiện tượng bồi tụ. Kết quả là các phương tiện thông tin đại chúng chỉ nói đến xói lở gây mất đất, mất nhà, mất người…mà hầu như không nói gì đến các cù lao hình thành do bồi tụ?

Hình 15 (trái). Bồi tụ cồn Chích Sách đẩy dòng chảy về phía tây gây xói lở bờ sông tại ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Hòa, Tân Châu. Ảnh Trương Ngọc Bích
Hình 16 (phải). Đầu cồn Chích Sách đang bị xói lở – hiện tượng đảo trôi thường được giới thiệu trong giáo trình địa mạo đại cương. Ảnh Trương Ngọc Bích

Có thể xem các cù lao trẻ giữa dòng là mô hình thực tế minh họa cho kiểu geosite chủ động. Đưa mô hình này phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như thăm quan du lịch sẽ thực sự bổ ích cho du khách.

7) Geosite sông Hậu

Sông Hậu từ biên giới với Campuchia đến hết địa phận thành phố Long Xuyên dài khoảng 100 km, cũng thuộc kiểu sông bện tết với các dấu ấn thể hiện trên địa hình là các cù lao cổ bao gồm các gờ cao và trũng xen kẽ nhau.

Một hệ thống cù lao cổ từ Campuchia qua Khánh An, Phú Hữu, Phước Hưng đến Vĩnh Trường (huyện An Phú) cho thấy sự dịch chuyển phức tạp của sông Hậu trong quá khứ. Búng Bình Thiên kéo dài theo hướng tây – đông và đoạn sông dạng chữ “U”, nơi hội lưu giữa sông Bình Di, sông Tà Keo và sông Châu Đốc cho chúng ta một gợi ý về sự dịch chuyển dòng sông Hậu từ tây sang đông, cũng có thể xảy ra hiện tượng cướp dòng ở khu vực này.

Các cù lao dọc sông Hậu thường nhỏ hơn sông Tiền, mỗi cù lao đều có những nét văn hóa đặc thù. Cù lao Vĩnh Trường (huyện An Phú) có làng Chăm ở ấp La Ma; cù lao Khánh Hòa (huyện Châu Phú) có ẩm thực nổi tiếng là mắm Ba Vui), cù lao Bình Thủy còn gọi là cù lao Năng Gù (huyện Châu Phú) có di tích Đình thần Bình Thủy cổ kính (Hình 17), là một công trình kiến trúc mang giá trị nghệ thuật độc đáo. Cù lao Năng Gù còn có nhiều căn nhà to đẹp trang trí kiểu Pháp. Cù lao Ông Hổ có khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng (Hình 18).

Hình 17 (trái). Đình Thần Bình Thủy trên cù lao Năng Gù. Nguồn Internet
Hình 18 (phải). Tòa nhà chính của khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng trên cù lao Ông Hổ. Nguồn Internet

Geosite sông Tiền và sông Hậu thuộc kiểu geosite thủy văn chủ động (geosite hoạt động). Phát triển tuyến địa du lịch dọc theo geosite này sẽ nhận được những kiến thức trực quan, sinh động về hoạt động của sông hiện đại bao gồm động lực dòng chảy theo mùa (lũ và kiêt), những đảo trôi giữa dòng giải thích cho sự hình thành cù lao, các quá trình xói lở và bồi tụ đan xen phản ánh qui luật phát triển tự nhiên của sông ngòi.

Ghé thăm những thành phố, thị trấn cổ kính ven sông như Tân Châu, Châu Đốc, Long Xuyên hay những cù lao thanh bình và hấp dẫn với những giá trị văn hóa, dân tộc độc đáo sẽ là những trải nghiệm thú vị và ấn tượng của du khách.

5.Kết luận và khuyến nghị

An Giang có sự đa dạng về địa chất, địa mạo: Về địa chất có sự hiện diện 11 phân vị địa tầng và phức hệ magma, cổ nhất là các đá thuộc hệ tầng Tà Pạ được hình thành cách ngày nay khoảng 200 triệu năm, trẻ nhất là các trầm tích hiện đại nguồn gốc sông do sông Tiền, sông Hậu bồi đắp hàng năm. Về địa mạo có sự hiện diện nhiều dạng địa hình với qui mô khác nhau bao gồm núi, đồi, đồng bằng thấp trải rộng, đồng bằng cao hẹp viền quanh núi, trũng lầy, hồ nước, đê thiên nhiên, hệ thống cù lao cổ, trẻ giữa sông và các bãi bồi ven sông.

An Giang có bốn dân tộc (Kinh – Chăm – Hoa – Khmer) hội tụ và cùng chung sống. Mỗi dân tộc có riêng một tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục đã tạo nên tính đa sắc màu văn hóa của mảnh đất An Giang – tỉnh đầu tiên của Tây Nam Bộ đón nhận những hạt phù sa từ sông Tiền, sông Hậu – hai dòng chảy lớn của sông Mê Công nổi tiếng thế giới.

Đa dạng văn hóa hình thành trên một nền tự nhiên đa dạng là tiềm năng rất lớn để An Giang phát triển địa du lịch – một loại hình du lịch mới đang được một số nước trên thế giới áp dụng và đạt được kết quả tốt. Địa du lịch là giải pháp giúp địa phương bảo tồn các di sản tự nhiên, di sản văn hóa và nâng cao đời sống của cộng đồng các dân tộc.

Để có cơ sở phát triển loại hình địa du lịch, những nội dung dưới đây cần được đầu tư nghiên cứu:

– Kiểm kê, đánh giá các geosite về giá trị khoa học và các giá trị bổ sung (sinh thái, thẩm mỹ, văn hóa và kinh tế) để có kế hoạch bảo tồn, phục vụ nghiên cứu khoa học, học tập và du lịch.

– Hiệu chỉnh bản đồ địa hình vùng Bảy Núi cùng với việc định rõ vị trí, định danh cụ thể cho bảy ngọn núi được gọi là “THẤT SƠN” cũng như các ngọn núi khác. Mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và cấu trúc của từng ngọn núi.

– Lập bản đồ hệ thống các bờ biển cổ, cảng biển cổ, lòng sông cổ; tìm hiểu hiện tượng dịch chuyển dòng hay cướp dòng của sông Hậu hiện đại đối với sông Hậu cổ?, định rõ hình thái kênh 4 từ Angkor Borei tới Óc Eo để bổ sung tư liệu cho văn hóa Óc Eo.

– Tiến hành cải tạo, qui hoạch những moong khai thác bỏ hoang thành các điểm du lịch để tránh lãng phí diện tích đất đai, ô nhiễm môi trường cũng như rủi ro đối với con người và vật nuôi.

Để kết thúc bài viết này, xin trích dẫn đoạn dưới đây từ trang web của Tổ chức Phát triển Địa du lịch [7].

Tổ chức Phát triển Địa du lịch (GDF) tin tưởng rằng, du lịch làm cho thế giới trở nên tốt hơn. Du lịch tạo ra thu nhập và việc làm cho người nghèo nhất, bảo tồn văn hoá và môi trường, thúc đẩy lòng khoan dung và hiểu biết giữa các dân tộc và mở rộng trí óc.

Tham khảo chính

[1] Trương Công Đượng và nnk. 1998. Báo cáo đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản Nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc tỷ lệ 1:50.000. Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[2] Địa chí An Giang. 2013. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang

[3] Nguyễn Văn Thanh,  Nguyễn Quang Vũ. 2016. Phát triển loại hình du lịch tâm linh tại tỉnh An Giang. SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016

[4] K. Kris Hirst. Oc Eo – Funan Culture Site in Vietnam. https://www.thoughtco.com/oc-eo-funan-culture-site-vietnam-172001

[5] Ross K. Dowling. 2013. Global Geotourism – An emerging Form of sustainable tourism. Czech Journal of Tourism, 2(2), 59-79. DOi: 10.2478/cjot-2013-0004.

[6] Ross K. Dowling. 2014. Geotourism’s Contributionto Protected Areas. IUCN World Parks Congress. Sydney.2014.

[7] GDF. http://www.geotourismfoundation.org/

 

 

Báo cáo và Triển lãm Con người – Tài nguyên – Môi trường Đới bờ 2017

Sáng ngày 15.01.2018, Báo cáo và Triển lãm Con người – Tài nguyên – Môi trường đới bờ của sinh viên khóa 2014 thuộc ba chuyên ngành: Tài nguyên TN và MT;  Môi trường và Tài nguyên biển;  Khoa học Môi trường đã diễn ra tại phòng E 22, cơ sở Nguyễn Văn Cừ. Năm nay thời gian chuẩn bị báo cáo kéo dài hơn so với những năm trước, các nhóm đầu tư nhiều công sức cho báo cáo chuyên đề cũng như các sản phẩm triển lãm.

Hội đồng chấm Báo cáo và triển lãm gồm thày Hải, thày Ngân, cô Tuyến và cô Chi.

Sau 4 giờ làm việc, kết quả và giải thưởng dành cho các nhóm như sau:

1/ Báo cáo chuyên đề theo nhóm:

Giải 1: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển, đề tài Dịch vụ hệ sinh thái cồn cát ven biển Bình Thuận

Giải 2: Nhóm 2 CN. MT và TN Biển, đề tài Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến di sản địa học dải ven biển Lộc An – Cổ Thạch

Giải 3: Nhóm 4 CN. KHMT, đề tài Đánh giá khía cạnh giáo dục trong phát triển địa du lịch tuyến ven biển Bình Thuận

2/Clip

Giải 1: Nhóm 1 KHMT

Giải 2: Nhóm 3 TNTN và MT

Giải 3: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển

3/ Bài cảm nhận

Giải 1: Linh Chi CM. KHMT

Giải 2: Thu Hằng & Khánh Linh CN. MT và TN Biển

Giải 3: Kim Ngân CN. KHMT

4/ Ảnh nghệ thuật

Giải 1: Yến Nhi CN. TNTN (Hà của biển)

Giải 2: Linh Chi CN. KHMT (Người và biển)

Giải 3: Thanh Trúc CN. KHMT ( Người thầy)

5/ Poster

Giải 1: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển

Giải 2: Nhóm 2 CN. KHMT

Giải 3: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển

6/ Mô hình

Đồng Giải 1: Tranh cát (Nhóm 2 CN. MT và TN Biển) & Mô hình rãnh xâm thực (Nhóm 3 CN. KHMT)

Kết quả báo cáo chuyên đề nhóm và cá nhân đạt giải các loại hình triển lãm sẽ được cộng điểm vào điểm thi môn học Quản lý tổng hợp đới bờ và môn học Tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường.

Một số hình ảnh báo cáo và triển lãm:

Nhóm 1 CN. MT và TN Biển báo cáo đề tài Dịch vụ hệ sinh thái cồn cát ven biển Bình Thuận
Nhóm 2 CN. MT và TN Biển báo cáo đề tài Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến di sản địa học dải ven biển Lộc An – Cổ Thạch
Nhóm 4 CN. KHMT báo cáo đề tài Đánh giá khía cạnh giáo dục trong phát triển địa du lịch tuyến ven biển Bình Thuận
Poster nhóm 1 CN. MT và TN Biển – Lộ trình đới bờ, trung tâm poster là bức ảnh cạo rất ấn tượng
Postet nhóm 2 CN. KHMT – Lăng kính đới bờ
Mô hình nhóm 2 CN. MT và TN Biển – Tranh cát
Nhận giải thưởng
Kết thúc buổi Báo cáo và triển lãm, Bộ môn Khoa học môi trường chân thành cảm ơn thày Ngân vì những đóng góp của thày trong công tác đào tạo nhiều thế hệ sinh viên khoa Môi trường, nhất là tham gia giảng dạy theo những chuyến thực địa hàng năm.

H & H