Người dân Phú Quốc bàng hoàng vì gần 1 km bờ biển sạt lở

Hoàng Trung

Đến sáng 1.9, nhiều người dân ở các tổ 6, 7, 8, 9 thuộc KP9 (TT. Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc, Kiên Giang) vẫn chưa hết bàng hoàng khi ngồi nhìn phần bờ biển trước mặt nhà mình bị sóng đánh làm sạt lở.

Bờ biển bị sạt lở khiến căn nhà của bà Thuý luôn trong tình trạng nguy hiểm

Từ chiều đến sáng hôm sau mất 1km bờ biển

Người dân đảo ngọc Phú Quốc vô cùng lo lắng khi cho rằng nếu tình trạng này kéo dài, căn nhà của họ nằm bên trong cũng sẽ chịu chung số phận trong thời gian không lâu sau này.

Ông Tăng Văn Dũng (49 tuổi, ngụ tổ 9, KP9) cho biết ông đã sống ở đây hơn 30 năm. Ông bàng hoàng kể lại, sự việc xảy ra vào khoảng 15 giờ ngày 30.8, khi đó biển có sóng lớn đã đánh mạnh vào bờ làm một cây dừa to đổ ngã. Sóng đã đánh dần vào bên trong bờ biển và đến sáng ông thức dậy thì đã thấy một cảnh tượng tan hoang, 1 đoạn bờ biển gần 1km đã không còn nữa.

Mặc dù vị trí bị sạt lở vẫn còn cách nhà ông Dũng một con đường nhỏ, nhưng ông Dũng vẫn lo lắng nếu tình trạng này không được khắc phục, sẽ không lâu sau, căn nhà ông đang ở và nhiều nhà dân xung quanh cũng chịu chung số phận.

Người dân làm tạm đê chắn sóng trong khi chờ chính quyền giúp đỡ.
Cây dừa gãy đổ, phơi gốc rễ lên trên
Sóng đánh làm tường nhà bị nứt, vết nứt khá rộng
Dân mua đá về tự làm đê chắn sóng
Cảnh tượng bờ biển sạt lở sát nhà dân ở tổ 9, KP9

Ông Dũng cho rằng nguyên nhân gây sạt lở do sóng lớn, có lẽ là do ảnh hưởng của cơn bão số 4. Tuy nhiên, bà Lê Ngọc Thuý (38 tuổi, ngụ tổ 9, KP9) thì cho rằng ngoài sóng lớn ra thì việc khai thác cát quá nhiều tại khu vực này trong thời gian gần đây đã làm cho đáy biển ở đây sụp xuống tạo thành một lòng chảo. Gần đây do tình hình biến đổi khí hậu, nước biển dâng cao, sóng biển đánh vào bờ đã kéo cát từ trong bờ ra nên gây sạt lở như vậy. Riêng bà Thuý cho biết đã bị sóng đánh hư hết 3 căn nhà.

Bà Thuý còn cho biết, từ hơn 1 năm trước, do lo sợ tình trạng lấy cát quá mức làm cho nước biển tràn vào sẽ khiến khu vực mình sinh sống bị nhiễm mặn nên đã phản ánh với chính quyền địa phương, thế nhưng đến nay không thấy một cơ quan nào đến xem xét xử lý.

Bờ biển lở sát vách nhà dân

Nếu tình trạng này không được khắc phục, nhiều hộ dân lo lắng nhà sẽ bị sóng đánh sụp theo

Nhà từng cách bờ 50m nay nằm gọn trên bãi biển

“Trước đây nhiều nhà dân có đất cất nhà ở cách bờ biển 50m, thế nhưng hiện giờ nhiều nhà đã phải bị rơi vào tình trạng sóng biển đánh đến tận vách”, bà Thuý nói.

“Nhà đất chúng tôi có giấy tờ hẳn hoi, nằm cách bờ biển 50m, thế nhưng giờ đây căn nhà tôi đang sử dụng tự nhiên nằm gọn trên bãi biển, thử hỏi chúng tôi phải sống làm sao”, bà Thuý chia sẻ.

Theo ghi nhận của Thanh Niên, đoạn bị sạt lở kéo dài từ tổ 6 đến tổ 9 của KP9 gần 1km, độ rộng sạt lở trung bình khoảng 10m. Chỉ tay về phía biển cách bờ chừng 100m, người dân cho biết cách đây khoảng 20 năm trước, bờ biển nằm ở đó.

Trên bờ biển, nhiều cây dừa cao to hơn chục mét nằm ngã sóng xoài trên bãi cát, gốc bị bật ngượi nằm hướng lên trên, một số nhà bị sóng đánh bật cả móng, tường nứt nhiều đoạn dài với vết nứt rộng đến nổi có thể thò tay vào.

Cũng theo ghi nhận, tại tổ 6, nhiều người dân đang thuê xe cuốc để đưa những hòn đá to xuống biển làm đê chắn sóng.

Bà Nguyễn Thị Thuý Lệ (39 tuổi, ngụ tổ 6, KP9) cho biết đã phải mua đá về làm việc này. Tại nhà bà Lệ, sóng đánh vào tạo thành một hố hàm ếch sâu gần 2m trong nhà. Bà rất lo lắng về an toàn của các thành viên trong gìa đình mình.

Trao đổi với Thanh Niên, ông Mai Văn Huỳnh, Bí thư kiêm Chủ tịch UBND H.Phú Quốc cho biết vẫn chưa nắm được thông tin, sẽ cho kiểm tra lại.

https://thanhnien.vn/doi-song/nguoi-dan-phu-quoc-bang-hoang-vi-gan-1km-bo-bien-sat-lo-1120942.html

 

Chuyên gia Nhật: Sở TN&MT TP.HCM chưa hiểu công nghệ làm sạch sông Tô Lịch

Chuyên gia Nhật Bản cho rằng báo cáo của Sở TN&MT TP.HCM có nhiều nhận định sai về công nghệ Nano-Bioreactor đang áp dụng tại sông Tô Lịch.

Sở TN&MT TP.HCM mới đây có công văn gửi UBND TP về đề xuất xử lý nước kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, rạch Xuyên Tâm và kênh 19/5 của công ty cổ phần cải thiện môi trường Việt Nhật (JVE).

Sau khi tham khảo thông tin và tài liệu, Sở TN&MT đưa ra đánh giá, nhận xét ban đầu về khả năng phân hủy bùn và các chất ô nhiễm, khả năng cung cấp oxy mà JVE đưa ra. Sở TN&MT cho biết cần theo dõi, đánh giá sự hiệu quả việc làm sạch sông Tô Lịch bằng công nghệ Nano-Bioreactor rồi mới tính chuyện áp dụng cho xử lý nước kênh rạch ở TP.HCM.

Các chuyên gia thuộc Tổ chức xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho rằng báo cáo mà Sở TN&MT gửi có nhiều nhận định sai về công nghệ Nano-Bioreactor của Nhật Bản. Do vậy, phía chuyên gia Nhật Bản chính thức phản đối báo cáo này.

Nguồn oxy được cung cấp “vô tận”

Sở TN&MT TP.HCM cho rằng khả năng cung cấp oxy “vô tận” là không thể vì các máy tạo khí cần cung cấp năng lượng, nếu ngưng cung cấp điện thì các máy này sẽ không hoạt động.

Tổ chức xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho biết công nghệ Nano-Bioreactor có 2 nguồn tạo ra oxy. Thứ nhất là hệ thống máy Nano (có dùng điện) tạo ra trực tiếp oxy, thứ hai yếu tố tạo ra oxy “vô tận” là các tấm vật liệu thiên nhiên Bioreactor (không dùng điện).

Vật liệu Bioreacror được làm từ đá núi lửa dạng tổ ong, xốp, được chế tạo qua bí quyết đặc biệt của phát minh tại Nhật Bản, sau khi được đặt trong nước là việc cung cấp các “giá thể” dạng tổ ong để vi sinh vật trú ngụ và phát triển, do vậy nó kích hoạt được hầu hết các vi sinh vật ở cả 3 dạng hiếu khí, thiếu khí nhưng chủ yếu là vi sinh vật yếm khí, các vi sinh vật này tiết ra rất nhiều enzyme.

Theo nghiên cứu khoa học tại Nhật Bản, các enzyme này cung cấp năng lượng rất lớn và liên tục cho phân tử nước, giải phóng oxy từ trong phân tử nước từ đó cung cấp nguồn oxy vô tận.

Chứng minh cho nhận định sai của Sở TN&MT TP.HCM, JVE cho biết tháng 5/2017, công nghệ Bioreactor phiên bản đầu tiên đã thực hiện tại hồ Hạnh Phúc (Kiến An, Hải Phòng). Sau theo dõi sau hơn 2 năm, mặc dù không cần bổ sung hay bảo trì, nhưng theo kết quả phân tích của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển (Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ VN) hàm lượng oxy hòa tan trong nước vẫn luôn duy trì, cá sinh trưởng tốt không bị tái ô nhiễm.

Kích hoạt vi sinh vật

Trong báo cáo, Sở TN&MT TP.HCM cho biết giải pháp Nano-Bioreactor không kích hoạt đủ số lượng vi sinh vật mà cần kết hợp việc sử dụng các loại thực vật nước mới mang lại hiệu quả.

Chuyên gia Nhật Bản cho rằng đây là thông tin không chính xác. Công nghệ Nano kích hoạt các vi sinh vật hiếu khí, công nghệ Bioreactor là giá thể để kích hoạt vi sinh vật yếm khí (có thêm một phần vi sinh vật thiếu khí và hiếu khí).

Công nghệ này hiện đang áp dụng tại dự án xử lý tại hồ Hùng Thắng (TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh), thí điểm tại một góc Hồ Tây. Kết quả phân tích số liệu khoa học do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN thực hiện cho thấy chất lượng nước, lượng vi sinh vật có hại giảm, số lượng vi sinh vật có lợi tăng hàng chục ngàn lần.

Sở TN&MT TP.HCM nhận định một yếu tố nữa mà công nghệ của JVE chưa đáp ứng là thời gian xử lý, phục hồi cần 2-3 tháng trong khi nước thải ra hàng ngày.

Về vấn đề này, Tổ chức xúc tiến Thương mại – Môi trường Nhật Bản cho biết Sở TN&MT chưa hiểu về quy trình công nghệ đang áp dụng tại sông Tô Lịch. Sau khi phân hủy lượng bùn hữu cơ ô nhiễm ở tầng đáy thành khí CO2 và nước H2O, dù nước thải từ bên ngoài có đổ vào liên tục hàng ngày nhưng sẽ được xử lý ngay mà không cần thu gom, tách nước thải từ nguồn, không luân chuyển nước thải đi nơi khác, không dồn chất ô nhiễm xuống hạ lưu.

Còn thời gian 2-3 tháng là xử lý phân hủy bùn hữu cơ mà không cần nạo vét cơ học chứ không phải là riêng thời gian xử lý nước thải.

Ngoài ra, chuyên gia Nhật cũng cho rằng những thông tin trong báo cáo mà Sở TN&MT TP.HCM đưa ra về khả năng phân hủy bùn và các chất ô nhiễm, nguyên lý phân hủy chất ô nhiễm của công nghệ Nano-Bioreactor, nguyên lý xử lý nitơ, phốt pho của công nghệ Nano-Bioreactor cũng đều chưa chính xác.

Thành Nam

https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/moi-truong/chuyen-gia-nhat-so-tn-mt-tp-hcm-chua-hieu-cong-nghe-lam-sach-song-to-lich-559247.html

 

Phú Quốc: Đảo ngọc thành… đảo ngập!

Tình trạng ngập sâu trên đảo một phần do ảnh hưởng bão, mưa lớn kéo dài nhiều ngày, song cần nghiêm túc nhận diện nguyên nhân chính để có giải pháp khắc phục

Mấy ngày qua, gần như toàn bộ khu vực đô thị trên đảo Phú Quốc đều bị ngập, có nơi sâu cả mét nước. Nhiều tuyến đường tại thị trấn Dương Đông, các xã Cửa Dương, Cửa Cạn, Dương Tơ chìm trong nước. Buôn bán đình trệ, giao thông ách tắc, hàng trăm hộ dân phải sơ tán, hàng ngàn người được huy động để hỗ trợ, khắc phục tình hình.

Phát triển nóng và hệ lụy

Tình trạng ngập sâu trên đảo một phần do ảnh hưởng cơn bão số 3, mưa lớn kéo dài nhiều ngày. Nhưng không cần những luận cứ khoa học, kết quả dự báo, nhận xét của người dân là rất đáng quan tâm: “Đừng đổ lỗi cho ông trời, trên đảo năm nào mà không có mưa nhưng sao trước đây không ngập mà nay hễ mưa là ngập!?”. Cần nghiêm túc nhìn nhận nguyên nhân chính gây ngập lụt trên đảo để có giải pháp khắc phục trước khi quá muộn.

Chưa bao giờ đảo Phú Quốc ngập nặng như những ngày qua Ảnh: HOÀNG TUẤN

Mấy năm qua, Phú Quốc như một đại công trường thu hút rất nhiều dự án đầu tư tầm cỡ. Lượng du khách tăng từ 25%-50% mỗi năm. Năm 2018 có khoảng 4 triệu du khách đến đảo này, nhiều hơn gần 40 lần dân cư trên đảo.

Yêu cầu phát triển không được phá rừng, bê-tông hóa đảo ngọc, đánh đổi môi trường lấy dự án đầu tư. Nhưng trong thực tế, hoạt động kinh tế với cường độ cao đã và đang phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, làm mất dần các “túi chứa nước” tự nhiên bao đời nay trên đảo. Không gian trữ nước vốn là đất rừng, sông, suối tự nhiên đã dần biến mất, nhường chỗ cho “đất vàng” các khu đô thị, dân cư, các dự án du lịch hoành tráng từ hấp lực của các cơn sốt đất.

Ngay cả khu đất rừng Bắc đảo vốn là lá phổi xanh của Phú Quốc cũng phải nhường một phần diện tích cho các dự án du lịch. Quy hoạch, quản lý quy hoạch đất đai, xây dựng yếu kém, trật tự đô thị lộn xộn. Phát triển đảo chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu giải pháp đồng bộ. Hệ thống xử lý rác thải, nước thải, cấp nước trên đảo quá tải, chưa được đầu tư. Các khu dân cư, đô thị vô tư xả thải bừa bãi, cướp mất không gian của nước… Từ đó, ngập lụt là điều không tránh khỏi.

Bao giờ thôi hết ngập?

Trong khi đường sá, sân bay, bến cảng và nhiều dự án du lịch quy mô lớn được đầu tư trên đảo, lưới điện quốc gia vượt biển, đường cáp quang ra đảo thì các dự án xử lý rác thải, cấp, thoát nước vẫn ì ạch. Với tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, dân cư và du khách tăng nhanh, huyện đảo đang đứng trước tình trạng khát nước sạch, thừa nước ngập, đầy rác thải.

Tổng nhu cầu cấp nước của Phú Quốc được xác định khoảng 70.000 m3/ngày vào năm 2020 nhưng hiện cả đảo chỉ mới có nhà máy cấp nước công suất 16.500 m3, lấy nước từ hồ chứa Dương Đông dung tích 5 triệu m3. Dự án đầu tư hồ Cửa Cạn với dung tích 15 triệu m3, xây nhà máy cấp nước công suất 20.000 m3 được quy hoạch là hồ chứa nước chính của huyện đảo nhưng nhiều năm qua chưa được đầu tư. Tương tự là các dự án xử lý rác thải, nước thải sau nhiều năm kêu gọi vẫn đang xếp hàng trong danh mục chưa biết bao giờ được đầu tư.

Trước tình trạng đảo ngập, cần thay đổi “tư duy ngập nước” với các tính toán khoa học và thực tế. Cần “khu biệt hóa” không gian trên đảo, ngoài vùng lõi phải triệt để chống ngập bằng các giải pháp công trình, kiểm soát nghiêm trật tự xây dựng thì cần giữ cho được vùng đệm và các “túi chứa nước” tự nhiên. Đó chính là diện tích đất rừng, sông, suối để tạo không gian giữ nước và thoát nước.

Chống ngập cần những giải pháp công trình, kỹ thuật, cần kiểm soát hệ thống cấp, thoát nước đồng bộ. Nhưng quan trọng hơn vẫn là các giải pháp kiểm soát công trình xây dựng và giải pháp phi công trình, giữ nghiêm trật tự đầu tư xây dựng. Đảo ngập không chỉ vì thiên tai mà trực tiếp là do nhân tai.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhiều lần nhắc Phú Quốc phải giữ rừng, không “bê-tông hóa” đảo. Tình trạng ngập nước trên đảo xảy ra là một chỉ dấu phản chiếu tình hình bất ổn trong phát triển, bộc lộ những yếu kém trong quy hoạch, quản lý quy hoạch đất đai, xây dựng. Để khắc phục, cần tiến hành cuộc tổng rà soát tình hình quản lý, sử dụng đất rừng trên đảo, bảo đảm trật tự xây dựng, bảo đảm các dự án đầu tư không chiếm đất mặt tiền bãi biển công cộng của người dân thành của riêng, kiên quyết xử lý, thu hồi, xóa bỏ các dự án đầu tư bát nháo.

Yêu cầu phát triển đảo Phú Quốc theo hướng bền vững, hài hòa giữa kinh tế với thiên nhiên, môi trường, bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa. Đảo ngọc được kỳ vọng tạo ra một không gian xanh – sạch – đẹp kiểu mẫu, xứng đáng là điểm đến lý tưởng, chất lượng cao cho du khách trong tương lai, không thể là một đảo ngập trong hiện tại.

Lời đáp cho câu hỏi “khi nào hết ngập?” không chỉ bằng cam kết “giữ biển, giữ rừng, không bê-tông hóa” mà chính là kết quả của tư duy, quyết tâm và hành động có trách nhiệm của con người với hòn đảo này trong tương lai.

Xây thêm hồ chứa nước

Ông Phạm Văn Nghiệp, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, cho biết nguyên nhân dẫn đến ngập lụt mấy ngày qua là do trong quá trình làm đường không tính toán cụ thể nước ngầm và triền dốc nên bị ngập úng. Bên cạnh đó, do trong quá trình xây dựng, người dân san lấp, lấn chiếm một số kênh rạch, suối khiến dòng chảy bị thu hẹp, nước không thể thoát nhanh dẫn đến ngập úng.

Để giải quyết vấn đề này, ông Nghiệp cho rằng trước mắt, khơi thông cống rãnh để nước chảy ra biển, về lâu dài thì phải đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước đồng bộ, toàn diện trên toàn đảo. Hiện tại, hồ chứa nước Dương Đông đang trong tình trạng quá tải. Huyện có chủ trương đầu tư một hồ chứa nước ở xã Cửa Cạn. Ngoài ra, một doanh nghiệp cũng có văn bản xin tỉnh đầu tư xây dựng một hồ chứa nước tại ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ.

H.Tuấn

https://nld.com.vn/thoi-su/dao-ngoc-thanh-dao-ngap-20190806220606836.htm

HỘI THẢO QUỐC TẾ VỀ GIÁ TRỊ DI SẢN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN-SA HUỲNH

Ngày 18-19/6/2019,Hội thảo Quốc tế về giá trị di sản công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh được tổ chức tại Quảng Ngãi với sự tham dự của nhiều nhà khoa học về địa chất, khảo cổ, văn hóa, lịch sử trong và ngoài nước.

20190618_082221

Đến tham dự Hội thảo có ông Guy Martini Tổng thư ký mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu, các đại diện Ban quản lý các Công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu của UNESCO và Việt Nam, đặc biệt có sự hiện diện của nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương.

20190618_092724
Bài trình bày của Ông Guy Martini “Làm thế nào để phát triển thành công CVĐC toàn cầu UNESCO.”
20190618_080414
Gian hàng triễn lãm của các Công viên địa chất Việt Nam và trưng bày các sản phẩm địa phương.

Hội thảo lần này cho thấy diện mạo một CVĐC đã được định hình. Trên diện tích 4.600 kmCVĐC (2.000kmđất liền, 2.600kmmặt biển) đã xác định được 87 điểm có giá trị di sản địa chất, văn hoá lịch sử, và đa dạng sinh học.

Nổi bật CVĐC Lý Sơn – Sa Huỳnh với chủ đề Miền đất của những chuyển động (The Land of Motions). Đó là chuyển động từ tây sang Đông là sự dịch chuyển, nâng lên hạ xuống của thạch quyển lục địa cổ Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, là sự cuộn chảy của những dòng nham thạch trên đảo Lý Sơn. Chuyển động từ Bắc xuống Nam là dòng thời gian, dòng chảy của những nền văn hóa từ Sa Huỳnh, Chămpa đến Đại Việt.

Các điểm di sản chọn lọc phân bố trên bốn tuyến: 1) Bí ẩn nơi Đảo thiêng – tuyến về phía Đông, tham quan vùng lõi của CVĐC là đảo Lý Sơn với 30 điểm di sản địa chất và văn hóa; 2) Vũ điệu thời gian – tuyến về phía Tây, trong hương quế Trà Bồng với 20 điểm di sản; 3) Hành trình về những nền văn hóa cổ – tuyến về phiaNam tại trung tâm của nền văn hóa Sa Huỳnh, và tiếp nối dòng chảy văn hóa là Chămpa và giao thoa với nền văn hóa Đại Việt sau này, với 19 điểm di sản; và 4) Tiếng vọng của biển và Ký ức chiến tranh – tuyến về phía Bắc CVĐC với 18 điểm di sản.

geotours-quang-ngai-a3-revised-18052019
Các tuyến du lịch và 87 điểm dừng chân của CVĐC Lý Sơn – Sa Huỳnh. Nguồn: Website của CVĐC Lý Sơn – Sa Huỳnh

Chương trình hội thảo được chia thành 3 phiên: 1) Giá trị di sản văn hóa khảo cổ Sa Huỳnh nhân 110 năm phát hiện, nghiên cứu về văn hóa Sa Huỳnh (7 báo cáo); 2) Giá trị di sản địa chất (8 báo cáo); và 3) Công tác quản lý, khai thác và phát triển bền vững các giá trị di sản (2 báo cáo).

Các báo cáo, tham luận được trình bày tại Hội thảo đã nêu những kết quả nghiên cứu mới về văn hóa Sa Huỳnh, thêm nhiều công bố giá trị về các di sản địa chất trên địa bàn CVĐC.

20190618_085905
Ông Nguyễn Minh Trí – BQL CVĐC giới thiệu về CVĐC Lý Sơn – Sa Huỳnh

Việc nhận diện đầy đủ giá trị di sản địa chất, văn hóa – lịch sử là bước rất quan trọng làm cơ sở cho tỉnh Quảng Ngãi xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy di sản phù hợp với thực tế và các tiêu chuẩn quốc tế.

Thực địa sau hội thảo được tổ chức tại 3 vị trí: Bảo tàng Tỉnh Quảng Ngãi, một vài điểm di sản trong tuyến Bí ẩn nơi đảo thiêng – ra Đảo Lý Sơn, và Khu chứng tích Sơn Mỹ.

DSCF0158
Bãi Hang – đảo Bé, một bãi biển dạng túi với vách đá basalt ấn tượng

Theo tiến độ, hồ sơ Công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh sẽ được hoàn chỉnh và đệ trình UNESCO vào tháng 11 năm 2019./.

Phương Chi.

Dự án 10.000 tỉ chưa chắc giúp TP.HCM thoát ngập

Hà Mai

Dự án chống ngập 10.000 tỉ đang gấp rút về đích kịp tiến độ vào quý 1/2020. Vì thế ngay từ lúc này, hiệu quả của dự án là vấn đề được người dân cũng như lãnh đạo TP.HCM đặc biệt quan tâm.

Dự án chống ngập 10.000 tỉ đã hoàn thành 76% tiến độ thi công. H.Mai

Hoàn thành chưa chắc hết ngập?

Sáng nay (14.5), Đoàn giám sát HĐND TP.HCM có buổi thực địa một số hạng mục thuộc dự án Giải quyết ngập do triều cường khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu giai đoạn 1 (dự án chống ngập 10.000 tỉ).

Dự án chống ngập 10.000 tỉ cam kết ‘về đích’ trong năm 2019 Ông Nguyễn Tâm Tiến, Giám đốc Công ty TNHH Trung Nam thông tin toàn bộ dự án hiện đã đạt khoảng 76% tiến độ thi công. Hiện khó khăn lớn nhất của dự án là công tác giải phóng mặt bằng. Tuy phần đê kè đã được điều chỉnh dịch chuyển, giảm số hộ phải đền bù xuống khoảng 50% (giảm 97 hộ so với 238 hộ theo dự kiến ban đầu) nhưng vẫn còn vướng một số tổ chức, hộ dân tại khu vực quận 4, quận 7, huyện Nhà Bè.

Bên cạnh đó, thời gian vay của hợp đồng đã ký liên quan đến nguồn vốn vay ưu đãi chỉ kéo dài đến hết tháng 6. Do một số vướng mắc về thủ tục trong thời gian qua, dự án đã chậm hơn so với tiến độ đề ra ban đầu.

Đáng chú ý, khi các thành viên Đoàn giám sát đặt câu hỏi về tác động của dự án sau khi hoàn thành, có thể giúp TP.HCM hết ngập không, ông Tiến trả lời “có thể có, có thể không”. Giám đốc Công ty Trung Nam giải thích, năm 2001, Chính phủ đã ban hành Quyết định 752 phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước TP.HCM đến năm 2020. Trong đó chủ yếu là các công trình, dự án nạo vét cống, kênh rạch, khơi thông dòng chảy, tiêu thoát nước đô thị. Tuy nhiên do nhiều sự thay đổi khách quan từ biến đổi tự nhiên, đến năm 2008, quy hoạch thủy lợi 1547 chống ngập úng khu vực TP.HCM lại được phê duyệt với mục tiêu giải quyết tình trạng ngập lụt của TP trong phạm vi diện tích vùng trung tâm 209.500 ha và một số vùng phụ cận.

“Dự án chúng tôi đang làm thuộc quy hoạch 1547, nhiệm vụ chính là ngăn triều, hỗ trợ tiêu thoát nước. Nếu trước đây thủy triều đạt mức 1,5 m – >1,7 m TP sẽ ngập thì sau khi dự án đi vào hoạt động, có thể ngăn triều lên tới mức 3 m. Có thể hình dung dự án như lực lượng biên phòng bao quanh vùng diện tích 570 km² khu vực bờ hữu sông Sài Gòn và trung tâm TP.HCM. Nếu các dự án theo quy hoạch 752 chưa hoàn thiện, hệ thống cống, kênh rạch không được khơi thông thì hệ thống cống ngăn triều cũng không thể hoạt động hiệu quả. Do đó, người dân không nên hiểu nhầm dự án hoàn thành là TP.HCM sẽ hết ngập. Đây là công trình quan trọng nhằm bổ trợ cho loạt hệ thống công trình chống ngập của TP” – ông Tiến lý giải.

TP.HCM vẫn khó thoát mùa ngập năm nay. Phạm Hữu

Cần đồng bộ thoát trong, bơm ngoài

8.000 tỉ đồng có giúp TP.HCM giảm ngập? Cung cấp thêm thông tin cho Đoàn giám sát, ông Nguyễn Hoàng Anh Dũng, Phó ban Quản lý khai thác hạ tầng kỹ thuật (Sở Xây dựng TP.HCM) cho biết đơn vị này đang tham mưu cho TP từng bước thực hiện hoàn thiện các dự án nạo vét kênh rạch, cống thoát nước, xây dựng các khu vực trữ nước nhằm giải quyết bài toán thoát nước mưa, nước mặt, đồng bộ cùng công trình kiểm soát ngập do triều. Các dự án thuộc quy hoạch 1547 và quy hoạch 752 đang được triển khai song song, đồng bộ, đảm bảo tương hỗ, bổ trợ cho nhau

“Ngoài nhiệm vụ kiểm soát triều, dự án chống ngập 10.000 tỉ còn giúp giảm mực nước, hỗ trợ thoát nước phía trong TP. Tuy nhiên vẫn cần kết hợp với hệ thống thoát nước đô thị tốt, đồng bộ thoát trong, bơm ngoài mới có thể giải quyết bài toán ngập cho TP.HCM” – ông Dũng nói.

Sau khi nghe báo cáo từ phía chủ đầu tư và các Sở, Ban ngành, bà Nguyễn Thị Lệ, Chủ tịch HĐND TP.HCM ghi nhận sự cố gắng của tất cả các đơn vị trong quá trình triển khai đã sốt sắng, chủ động để dự án “chạy” nhanh nhất trong khả năng có thể. Tuy nhiên bà Lệ vẫn e ngại quá trình giải quyết các kiến nghị liên quan thủ tục giải phóng mặt bằng, gia hạn vốn đầu tư có thể không đảm bảo đúng tiến độ đã cam kết, khiến dự án kéo dài, tăng chi phí. Do đó, bà yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước không chỉ báo cáo, đề xuất trên giấy mà phải trực tiếp đeo bám, sát sao, làm sao đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để chủ đầu tư đảm bảo dự án “về đích đúng hẹn”.

“Trong lần thị sát dự án mới nhất do UBND TP tổ chức, các quận, huyện đã cam kết đến 30.6 sẽ bàn giao toàn bộ mặt bằng để nhà đầu tư thực hiện cam kết dự án về đích vào cuối 2019, đưa vào hoạt động trong quý 1/2020 nhưng với tốc độ thực hiện như hiện nay, tôi e rằng khó. Các quận, huyện cần đeo bám, sốt sắng hơn nữa, thực hiện theo đúng cam kết vì đây là dự án quy mô lớn, tác động mạnh tới đời sống nhân dân. UBND sẽ sớm tổ chức buổi làm việc với các quận, huyện để trực tiếp lắng nghe khó khăn, tháo gỡ, tiếp sức cùng địa phương giúp đẩy nhanh tốc độ dự án” – Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Lệ khẳng định.

https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/du-an-10000-ti-chua-chac-giup-tphcm-thoat-ngap-1081527.html

Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu

Giữa tháng 3, cô Phương Chi mời đi đảo Phú Quí để tìm hiểu những giá trị địa chất – địa mạo phục vụ cho luận án sắp tới. Phương Chi thông báo có Quế Nam (mới bảo vệ luận văn thạc sỹ) và bạn Ngọc Nhiên làm khóa luận về địa du lịch cùng đi; vậy thì đi thôi.

Từ năm 1995 khi tham gia lập bản đồ địa chất Bình Thuận đã rất muốn ra đảo Phú Quí, những năm gần đây khi nghiên cứu về di sản địa chất, địa mạo phục vụ bảo tồn giá trị tự nhiên và phát triển du lịch lại thôi thúc người viết bài này ra đảo.

1.Hành trình tới đảo

14:00 ngày 03/04 bốn thày trò trên xe du lịch The Sing Tourist tại 273 Đề Thám bắt đầu hành trình. 18:30 đến Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Đường Hiền Vương. Homestay nhỏ, bài trí đơn giản nhưng mọi người đều cảm nhận được sự thân thiện: một sơ đồ kiểu mindmap giới thiệu các điểm du lịch, một không gian nhỏ gắn ảnh các du khách để lại, một kệ sách nhỏ, một bàn ăn nhỏ, mấy ghế đu và võng, mấy chậu hoa. Đêm đó, những trận mưa đầu mùa làm cho Phan Thiết có vẻ dịu hơn.

Homestay Cô Tư tại 160 Hiền Vương, Phan Thiết
Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Hiền Vương
Một góc Homestay Cô Tư Phan Thiết

Sáng 04/04 cô My (chủ quán) gọi xe đưa bốn thày trò ra bến tàu. Tàu Superdong mới hoạt động, thời gian đi Phú Quí là 2,5 giờ, giá vé 350.000 đ/người, vé cho người cao tuối (trên 60) là 295.999 đ, lần đầu tiên trong đời được giảm vé. Tàu khởi hành lúc 9:30, đến bến tàu đảo Phú Quí lúc 12:00. Giỏi ‘Phú Quí’ và Sang đã chờ nhóm ở bến tàu. Đưa 2 xe máy cho thày trò, Sang dẫn mọi người về Homestay Chú Tư nghỉ vì Homestay Cô Sang (mẹ Giỏi) nơi mà nhóm đặt trước chưa bố trí được chỗ do du khách muốn ở lại thêm trên đảo.

2. Khảo sát

15:00 chiều 04/04 điểm khảo sát đầu tiên là Núi Cấm, chùa Linh Bửu, đuốc Bác Hồ và Hải đăng cao 18 m. từ Hải Đăng có thể quan sát, chụp ảnh núi Cao Cát phía đông, địa hình phía nam đảo, các thôn thuộc xã Ngũ Phụng phía tây nam, bờ biển tây và bờ biển bắc. Điểm khảo sát thứ hai là bờ biển mũi Bà Giàng, bờ biển Mũi Mom và ngắm hoàng hôn từ Mũi Mom.

Đảo xanh Phú Quí nhìn từ Đèn biển trên Núi Cấm. Tại đây có thể thấy đảo Hòn Tranh ở phía nam

7:00 ngày 05/05 khảo sát núi Cao Cát, chùa Linh Sơn. Tại đây hướng dẫn các bạn quan sát địa hình, địa mạo, đo thế nằm các lớp trầm tích núi lửa. Tại đỉnh núi Cao Cát (cao 89 m) có thể quan sát bờ biển phía đông với mũi Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ có dạng vòng cung, địa hình phía nam đảo, núi Cấm phía Tây.

Lên chùa Linh Sơn trên núi Cao Cát

Buổi trưa ra nhà bè ở Lạch Dù thưởng thưc mấy món hải sản tươi sống. 14:30 sang đảo nhỏ Hòn Tranh. Các điểm khảo sát gồm Vũng Phật, bãi Nam, hang Đú. 17:00 về lại đảo lớn và chạy đến bờ kè Ngũ Phụng đón hoàng hôn.

Ngày 06/04 khảo sát các đồi cát đỏ đường Lý Thường kiệt, đồi bazan đường Ngô Quyền, Đường hầm xẻ đôi, gành Hang, cột cờ Phú Quí, dốc Phượt, đồi Ông Đụn. Nhiều cấu trúc địa chất đẹp, quan hệ địa tầng xuất lộ như đơn nghiêng của trầm tích núi lửa, bazan lỗ rỗng xen bazan đặc xít, mặt cắt vỏ phong hóa trên bazan… địa mạo cũng khá đa dạng: vách biển, thềm biển, mũi nhô, bãi cát…

Buổi chiều thăm quan Vạn An Thạnh, chùa Linh Quang, đền thờ công chúa Bàn Tranh và ra đón hoàng hôn tại bờ biển Long Hải.

Chuẩn bị đón hoàng hôn
Hoàng hôn trên biển Long Hải

3. Vài nét về tài nguyên địa chất – địa mạo

Núi Cấm cao 108 m là núi lửa kiểu vòm, lộ bazan màu xám đen đặc xít, vỏ phong hóa trên bazan kết tảng, rắn chắc, những khối lăn kích thước tới 1 m3. Hai khối laterit đặt tại cổng chùa Linh Bửu là laterit trên đá bazan Núi Cấm.

Cảnh quan Núi Cấm nhìn từ núi Cao Cát

Núi Cao Cát cao 89 m, quan sát hình thái tại thực địa, thế nằm các lớp cát kết tuf, bột kết tuf, dăm sạn chứa nhiều mảnh và khối đá bazan cho thấy đây là cấu trúc phun nổ. Giới hạn núi lửa là chân phía tây nam núi Cao Cát và một đường gờ dạng vòng cung từ Doi Thày qua Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ đến mũi Long Hải ở phía đông.

Phía sau Phương Chi là di tích vòng cung núi lửa Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ
Đo thế nằm các trầm tích núi lửa trên đỉnh núi Cao Cát

Gò Gành Hang cao 45 m, hình thái và thế nằm các lớp đá cho phép dự đoán đây là núi lửa kiểu trung tâm. Khoảng hơn nửa khối lượng phía đông núi lửa bị biển xâm thực tạo nên các dạng địa hình bờ biển ấn tượng như các gành đá, thềm biển, vách biển, bãi cát…

Các lớp cát kết tuf và bazan lỗ rỗng tại Gành Hang

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Bề mặt cát đỏ cao 30 – 40 m phân bố khá rộng ở trung tâm đảo, thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt mịn, gắn kết yếu. Nhìn chung màu sắc, thành phần và cấp hạt khá giống với cát đỏ Phan Thiết.

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí
Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Các bãi biển cát trắng mịn

Bãi cát vịnh Triều Dương, bãi Nhỏ và bãi Nam (đảo Hòn Tranh) đều là những bãi tắm đẹp, hoang sơ, cát trắng mịn ven chân vách đá núi lửa và chìm dần xuống nước biển trong xanh.

Đi bè xốp từ tàu vào bãi Nam đảo Hòn Tranh

Đa dạng địa hình bờ biển xâm thực

Sự phá hủy của sóng biển vào nền đá bazan dòng chảy, đá vụn núi lửa hay đá cát kết đã tạo nên sự đa dạng địa hình bờ biển xâm thực. Vô số dạng địa hình được đặt tên dựa vào hình dạng như: mũi Gò Cao, bàu Mực Khô (tảng đá giống con mực khô), mũi Xương Cá, gò Móng Tay; dựa vào màu sắc như: mũi Đá Đen, bãi đá bàn Than, bàu đá Đỏ; đặt theo tên người như mũi Doi Thày, mũi Bà Giàng, bàu Ông Giao, hay đặt tên theo truyền thuyết như Vũng Phật.

Vũng Phật phía nam đảo Hòn Tranh

4. Người dân đảo

Những người dân mà chúng tôi gặp đều rất thân thiện, luôn sẵn sàng và nhiệt tình trao đổi những thông tin mà nhóm quan tâm.

Giỏi ‘Phú Quí’ và các bạn trẻ làm du lịch

Giỏi ‘Phú Quí’ tận tình chỉ dẫn những điểm du lịch hấp dẫn trên đảo mà nhóm cần khảo sát, cung cấp số điện thoại những nhân vật am hiểu về danh thắng và lịch sử để nhóm tìm gặp. Sang (chủ homestay Chú Tư) chỉ dẫn cho nhóm đường đi, những nơi thưởng thức món ăn như nhà Bè ở Rạch Dù, quán Ông Già, các quán ăn sáng ở đường Võ Văn Kiệt. Huấn và My dẫn nhóm qua Hòn Tranh thăm quan Vũng Phật, Hang Đú và bãi Nam. Giỏi, Sang, Huấn, My thuộc nhóm tám bạn trẻ làm du lịch đảo Phú Quí.

Giỏi ‘Phú Quí’ đang trao đổi với nhóm về các vị trí khảo sát

Bác Trần Trọng

Qua số điện thoại ghi ở công chùa, chúng tôi liên hệ để gặp bác Trần Trọng quản lý Vạn An Thạnh. Chỉ sau 10 phút bác đã đến mở cửa bảo tàng, giới thiệu cặn kẽ về bộ xương cá nhà táng (thuộc họ cá voi) có chiều dài trên 17 m. Bác Trọng cũng cho biết, đầu năm 2016, Ban quản lý khu di tích lịch sử Vạn An Thạnh đã tiếp nhận một ông Lụy (cá voi chết – cách gọi trang trọng trong tín ngưỡng ngư dân) lớn hơn cá voi ở bảo tàng do ngư dân Bình Định lai dắt từ vùng biển phía nam đảo Phú Quí. Nghi thức an táng ông Lụy đã được tiến hành tại vịnh Triều Dương.

Bác Trọng giới thiệu về Vạn An Thạnh

Bác Đỗ Kim Long

Qua Giỏi ‘Phú Quí’ chúng tôi có số điện thoại của bác Đỗ Kim Long quản lý chùa Linh Quang, bác chính là tác giả bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí viết trên phiến đá bazan đặt tại cổng Chùa. Tấm bản đồ mà nhóm mang theo được trải trên nền sân chùa, từng vị trí trên đảo Phú Quí, nhất là đảo nhỏ Hòn Tranh được bác chỉ dẫn chi tiết. Bác Long cũng lược kể về lịch sử Chùa Linh Quang, về một vụ cháy lớn làm hư hại các pho tượng lúc chùa còn là nhà tranh, về câu chuyện Vũng Phật. Có nhiều công việc phải giải quyết nhưng bác Long vẫn dành gần 2 giờ để chỉ cho chúng tôi về Phú Quí.

Bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí. Từ bài thơ này nhóm tìm gặp bác Đỗ Kim Long (tác giả bải thơ) để xác định các địa danh trên bản đồ
Bác Đỗ Kim Long trao đổi với nhóm về các địa danh trên đảo Phú Quí

Vũng Phật, một vũng nhỏ khoét vào vách đá vụn núi lửa ở tây nam Hòn Tranh. Người dân Phú Quý nói rằng, khi chùa Linh Quang bị cháy, tượng phật bị thiêu rụi; tại vũng này có một linh thạch dáng phật nổi lên vào những ngày trời xanh, biển lặng. Ngư dân đã thỉnh tượng phật về đặt tại chùa Linh Quang để thờ cúng. Kể từ đó đảo Phú Quí thanh bình, dân đảo an lành. Vũng Phật đến giờ vẫn là chỗ dựa tinh thần của ngư dân khi ra khơi đánh bắt cá, tôm.

Bác Năm Quang

Khảo sát khu vực Gành Hang xong, chúng tôi ghé quán nước bác Năm Quang ở lối vào cột cờ Phú Quí. Các hũ rượu ngâm dứa tươi màu nâu thẫm rất bắt mắt, thế là câu chuyện về các cây thuốc trên đảo được bác Năm Quang say sưa kể: rượu dứa trị sỏi thận, hạn chế bệnh tiểu đường; cây ngũ trảo (từ bi) trị bệnh phong, đau nhức; cây chân âm có tác dụng điều hòa máu cho sản phụ; cây rau lẻ (hải sâm) trị bệnh phát ban, nấu canh. Bác năm Quang kể thời trẻ thường đi lấy cây thuốc cho mọi người, đó là việc làm từ thiện mà bác yêu thích.

Hỏi bác Năm Quang về những cây làm thuốc trên đảo Phú Quí

5. Trở về

Ba ngày trên đảo trôi qua thật nhanh, lộ trình và khối lượng đặt ra cho chuyến đi về cơ bản hoàn thành, nhưng để hiểu biết về tự nhiên, văn hóa/lịch sử của hòn đảo này cần thời gian hàng tháng, hàng năm.

Tiếc nhất trong chuyến đi tới đảo lần này là không đón được bình minh ở Gành Hang do không đặt được chỗ khách sạn tại Vịnh Triều Dương.

6:30 ngày 07, trả hai xe máy, Giỏi ‘Phú Quí’ nói mọi người cứ để xe (cả chìa khóa xe) tại bến tàu.

7:00 về Phan Thiết trên tàu Hưng Phát, tàu cũ hơn, chạy chậm hơn, trên 60 tuổi lại không được giảm vé (hình như trên 70 mới được xem là người cao tuổi). Nhưng đi tàu Hưng Phát được ngồi trên mui để ngắm biển, trời bao là và đảo Phú Quí từ khơi xa.

11:00 tàu tới cảng Phan Thiết, ăn trưa tại cảng. 12:00 lên tàu hỏa để trở về Sài Gòn – kết thúc một chuyến đi đẹp đến Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu.

H & H

 

 

 

Đặc thù địa học trong các công viên địa chất quốc gia dự kiến thuộc dải ven biển Nam Trung Bộ

Nguyễn Thị Quế Nam, Hà Quang Hải

Ba CVĐC cấp quốc gia dự kiến thuộc dải ven biển Nam Trung Bộ đều là những khu vực có đặc thù về địa học: 1) CVĐC Đảo núi lửa Lý Sơn được cấu thành từ những vật liệu núi lửa chủ yếu phun nổ vào Holocen muộn. 2) CVĐC Bờ biển Phú Yên có sự đa dạng về địa chất và địa mạo với sự hiện diện của đá cổ nhất từ Tiền Cambri (Precambri) cách ngày nay khoảng trên 570 triệu năm. 3) CVĐC Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận có sự đa dạng về địa hình tạo bởi cát nổi bật bởi cao nguyên cát đỏ hùng vĩ được giới hạn phía đông là bờ biển đá và những cung bờ tuyệt đẹp được định hình bởi các mũi nhô đá granit.

1. Công viên Địa chất Đảo núi lửa Lý Sơn

Lý Sơn gồm gồm 2 đảo là Cù Lao Ré (xã An Hải, xã An Vĩnh) và Cù Lao Bờ Bãi (xã An Bình). Địa mạo đặc trưng của đảo núi lửa Lý Sơn thể hiện rõ nét như sau:

– Đảo có các nón núi lửa phun nổ (trong đó núi lửa Hang Câu – chùa Hang và Thới Lới có cùng họng phun). Các nón núi lửa có hình dạng khá nguyên vẹn, nhô cao trên đảo phổ biến có miệng dạng trũng.

– Bazan dòng chảy hình thành lớp phủ thấp dưới chân các nón núi lửa.

– Trầm tích biển chủ yếu là cát kết san hô, đá rạn san hô phân bố xung quanh đảo bị ngập triều thường xuyên.

– Sự phá hủy của sóng biển vào sườn núi lửa và lớp phủ bazan đã hình thành các dạng địa hình lý thú ven đảo như: vách biển, hang biển, bờ biển đá, tháp đá…, trong đó hấp dẫn nhất là vách biển Hang Câu – Chùa Hang, nơi để lộ mặt cắt cấu trúc núi lửa và quan hệ địa tầng giữa đá vụn núi lửa phủ trên các lớp cát kết san hô.

1.1.1 Các nón núi lửa giữa biển khơi

Trên Cù lao Ré có 6 nón núi lửa nội đảo và 5 biểu hiện dưới biển, trong đó núi Thới Lới chồng trên Hang Câu – Chùa Hang là núi lửa hai tầng. Đây là núi lửa lớn nhất đảo với độ cao 175 m. Hình thái và cấu trúc phân lớp núi lửa này có thể nhận dạng dễ dàng bằng việc giải đoán ảnh vệ tinh. Các lớp cấu tạo núi lửa Hang Câu-Chùa Hang cắm thoải, trong khi đó các lớp cấu tạo núi Thới Lới dốc hơn cắm trên vành miệng núi Hang Câu – Chùa Hang.

Núi lửa Thới Lới chồng lên núi Hang Câu – Chùa Hang. Nguồn: Fly Cam của Minh Hoàng, Bùi Trung

1.1.2 Vách biển Hang Câu – Chùa Hang

Vách biển hiện đại Hang Câu – Chùa Hang cao 20 – 40 m dài 1250 m để lộ cấu trúc núi lửa cực kỳ ấn tượng. Đi dọc theo vách biển này quan sát rất rõ các trầm tích gồm sạn kết tuf, cát kết tuf, bột kết tuf phân lớp, phân dải, lượn sóng chứa các mảnh đá, khối đá bazan kích thước từ 1 – 2 cm đến 1,0 m.

Cấu trúc trầm tích núi lửa phun nổ tại Hang Câu

1.1.3 Cát trắng san hô

Các bãi cát nhỏ nhỏ, hẹp phân bố rải rác bờ bắc cù lao Ré, bờ tây và nam cù lao Bờ Bãi hoặc tích tụ trong các hố, trũng trên bãi biển mài mòn đều là cát san hô, ít hơn là các mảnh vụn sinh vật biển khác (sò, ốc). Các bãi cát trắng thường có sự thay đổi hình dạng theo mùa phụ thuộc vào chế độ sóng biển. Cát trắng – cát san hô là nguồn vật liệu quan trọng trong canh tác tỏi, hành ở Lý Sơn.

1.1.4 Đa dạng địa hình bờ biển

Các quá trình phong hóa, bóc mòn và tác động của sóng biển vào cấu trúc núi lửa đã tạo nên sự nhiều dạng địa hình có hình thù độc đáo như: nấm đá, tháp đá, hang biển; cầu đá, bãi biển dạng túi. Một số dạng địa hình tạo nên cảnh biểm hấp dẫn lượng lớn du khách đến Lý Sơn thăm quan hàng năm như Cổng Tò Vò ở cù lao Ré.

2. Công viên địa chất Bờ biển Phú Yên

Dải bờ biển Phú Yên dài 180 km bắt đầu từ Vũng Rô – Đèo Cả (huyện Đông Hòa) đến đầm Cù Mông (thị xã Sông Cầu), đi qua 4 huyện và thành phố đó là huyện Đông Hòa, thành phố Tuy Hòa, huyện Tuy An và thị xã Sông Cầu.

Sự đa dạng về cấu trúc địa chất, thạch học, địa hình, địa mạo đã tạo cho vùng ven biển Phú Yên nhiều cảnh quan hấp dẫn. Đây là nơi hội tụ của các đới kiến tạo, có lịch sử  phát triển từ tiền Cambri đến nay. Cùng với sự tham gia của hầu hết các quá trình địa chất như magma (xâm nhập, phun trào), biến chất; trầm tích (sông, hồ, biển, gió); các hoạt động kiến tạo như nén ép, tách giãn với các hệ thống đứt gãy, khe nứt theo nhiều phương khác nhau kết hợp với sự chạm khắc của quá trình ngoại sinh (phong hóa, bóc mòn, mài mòn, vận chuyển vật liêu sông suối, biển gió, …) để lộ ra sự đa dạng của các hệ tầng tạo nên tính đặc thù của cảnh quan và địa hình khu vực. Một số thắng cảnh nổi tiếng được công nhận như đầm Ô Loan, gành Đá Dĩa, vịnh Xuân Đài.

2.1 Đa dạng địa chất

Nổi bật là sự đa dạng các loại đá – sản phẩm của các quá trình địa chất với sự hiện diện 6 phân vị hệ tầng trầm tích – phun trào, 7 phức hệ đá magma xâm nhập. Các đá biến chất cổ hiện diện như hệ tầng Tắc Pỏ (Tiền Cambri), hệ tầng Phong Hanh (Ordovic). Trẻ nhất là các trầm tích Holocen có nhiều nguồn gốc khác nhau như sông, biển, đầm lầy, vũng vịnh và gió.

Địa tầng và các kiểu đá chính dọc bờ biển Phú Yên
Bazan cột Gành đá Dĩa. Ảnh: Huỳnh Lê Viễn Duy

Sự xuất lộ các cấu trúc địa chất có giá trị khoa học cũng đã được ghi nhận dọc ven biển Phú Yên, như:

– Các cột đá bazan trụ uốn cong xuống mặt biển.

– Quan hệ địa tầng: basalt Xuân Hòa phủ trên các trầm tích phân lớp mỏng, nằm ngang thuộc hệ tầng Kon Tum.

– Ranh giới giữa đá xâm nhập granit biotit thuộc phức hệ Đèo Cả 3 và basalt Xuân Hòa.

Cột đá bazan uốn cong tại Gành đá Dĩa

2.2 Đa dạng địa hình, địa mạo

Sự đa dạng địa hình, địa mạo dải bờ biển Phú Yên do tác động của sông, biển, phong hóa và quá trình sườn cắt xẻ vào các đá móng có thành phần khác nhau. Trên quy mô lớn, dải bờ biển Phú Yên bao gồm các cảnh quan địa mạo: 1) Cảnh quan Đèo Cả nơi có núi Đá Bia – một địa danh nổi tiếng; 2) Đồng bằng Tuy Hòa nơi có cửa sông Đà Diễn; 3) Bờ biển Phú Yên với những cảnh đẹp như Vịnh Xuân Đài, Gành Dĩa, Đầm Ô Loan… Các dạng địa hình mài mòn, xâm thực phổ biến là các vách biển (cliff), khối đá sót mũi nhô (stack), nền mài mòn (platform), hang biển. Các dạng địa hình tích tụ cũng khá đa dạng bao gồm các đê cát chắn cửa sông, cửa đầm, vũng, vịnh, các đê cát nối đảo (tombolos), các mũi cát, bãi biển cuội, bãi biển cát.

3. Công viên địa chất Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận

Dải bờ biển Ninh Thuận dài 105 km, với rất nhiều kiểu địa mạo đa dạng: vũng, vịnh, bờ đá, mũi nhô, bờ san hô cổ, đụn cát di động, đầm phá, đảo đá ven bờ. Trong đó, có thể kể đến một số geosite đặc trưng như: vịnh Vĩnh Hy, Hòn Đỏ, đồi cát Nam Cương, mũi Dinh.

Bình Thuận có đường bờ biển dài hơn 150 km có nhiều geosite mang giá trị khoa học và giá trị bổ sung cao. Đó là các mũi nhô đá xâm nhập, phun trào; các vịnh biển, bãi biển, thềm biển, vách biển do hoạt động mài mòn và tích tụ và cao nguyên cát đỏ rộng lớn, các đụn cát hiện đại do gió. Các geosite đặc trưng có thể kể đến là Suối Tiên, mũi Kê Gà và bãi đá Cổ Thạch, Gành Son.

3.1 Cao nguyên cát Đỏ Phan Thiết

Địa hình nổi bật dải ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận là Cao nguyên Cát đỏ, phân bố chủ yếu từ Phan Rang đến Hàm Thuận Nam. Một khối lượng cát màu đỏ ước tính 20 tỉ m3, phân bố trên diện tích khoảng 830 km2, nơi cao nhất ở bắc thành phố Phan Thiết tới 160 m so với mực nước biển. Cao nguyên Cát đỏ – một thực thể địa chất – địa mạo đới bờ kỳ vĩ, gây ấn tượng mạnh với mọi du khách mỗi khi đặt chân đến. Cao nguyên cát đỏ cũng là một phân vị địa tầng phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của các nhà địa chất trong và ngoài nước khoảng 100 năm qua.

Bề mặt cao nguyên Cát đỏ tại Hòa Thắng

Cao nguyên Cát đỏ phân bố thành ba khu vực chính: 1) Nam Phan Rang, 2) Bắc Phan Thiết và 3) Nam Phan Thiết. Lớn nhất là khu vực Bắc Phan Thiết có diện tích gần 600 km2, có vách phía đông xâm thực cao 20 – 40 m lộ cát đỏ đậm.

Chạm khắc trên cao nguyên cát đỏ là các cồn cát đỏ tái tạo, cồn cát trắng liên tục được gió tạo dáng. Diện mạo những đồi cát bay lớn như ở Nam Cương, Ninh Thuận, Đồi Hồng, Bàu Trắng (Bình Thuận) thường xuyên thay đổi.

Một không gian cát mênh mông ở Hòa Thắng với những đồi cát vàng, cát trắng được gió biển vun cao dưới nắng cháy chẳng khác gì một sa mạc. Vậy mà trecking qua sa mạc nóng bỏng đã trở thành mơ ước của nhiều người.

Chinh phục sa mạc Hòa Thắng. Ảnh: Trần Đặng Đăng Khoa

Dưới cát đỏ là cát xám trắng, sự xói mòn của biển và xâm thực của sông suối để lộ ra sự tương phản về màu sắc, thành phần vật chất và tuổi thành tạo được xem là những di sản địa chất, địa mạo có giá trị trong việc tìm hiểu điều kiện cổ địa lý của cao nguyên cát đỏ. Thung lũng Suối Tiên là một trong những di sản như vậy. Tại đây lộ một quan hệ địa chất đẹp-cát đỏ phủ bất chỉnh hợp trên cát trắng xám. Kết quả phân tích nhiệt phát quang cho thấy cát đỏ có tuổi 85000 ± 9000 năm hình thành vào giai đoạn biển tiến pleistocen muộn (MIS -5) trong khi cát trắng xám có tuổi > 204000 năm được hình thành trong giai đoạn biển tiến Pleistocen giữa (MIS – 7). Cát trắng xám giàu CaCO3 tạo địa hình giả kast dọc theo vách suối – một dạng địa hình hấp du khách.

3.2 Mũi đá, bờ biển đá và các cung bờ biển cát, bờ biển cuội

Dọc bờ biển Ninh Thuận – Bình Thuận, những dạng dạng địa hình đặc trưng khác đó là mũi đá, bờ biển đá và cung bờ biển.

Các mũi đá granit nhô ra biển như những mỏ hàn tự nhiên bảo vệ bờ biển. Tác động xâm thực của sóng biển vào hệ thống khe nứt dầy đặc chia cắt nền đá granit hình thành một phức hợp cột đủ hình dạng, kích thước, thế nằm (ngang, xiên, thẳng đứng). Một số mũi đá đã là những điểm đến nổi tiếng như Kê Gà, La Gàn, Cổ Thạch.

Bờ biển đá: tác động của sóng biển vào đá granit ở khu vực Vịnh Vĩnh Hy (Ninh Thuận) cũng tạo nên những dạng địa hình bờ biển đá mà ít thấy ở nhưng nơi khác như: các vách dốc đứng theo đường đứt gẫy như  Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và Thái An –  mũi Thị (dài 6,3 km) theo phương kinh tuyến.

Một số dạng địa hình dọc theo bờ biển đá từ Vĩnh Hy đến Láng Chổi là những hình mẫu trực quan giải thích những hiện tượng địa chất đặc biệt lý thú như sự hình thành: đá chồng, hang đá, phong hóa bóc vỏ, tafoni do phong hóa muối.

Các cung bờ biển cát, bờ biển cuội

Các mũi đá nhô ra biển có vai trong chính trong việc hình thành các đường bờ biển dạng vòng cung với các bãi biển cát hay bãi biển đá tuyệt đẹp như Ninh Chữ, Mũi Dinh, Cổ Thạch, Gành Son, Mũi Né, Phan Thiết. Cảnh quan, hình dáng, độ lớn, thành phần và màu sắc trầm tích trong các cung bờ biển cũng là đối tượng thu hút du khách cũng như các khoa học gia trong lĩnh vực địa chất, địa mạo.

Cung bờ biển cát Ninh Chữ, Ninh Thuận . Nguồn: phanrangninhthuan.com

Tóm lại: Núi lửa hai tầng Thới Lới với sự xuất lộ cấu trúc phun nổ tại vách biển Hang Câu – Chùa Hang; bờ biển xâm thực lộ đá bazan cột Gềnh đá Dĩa và cao nguyên Cát Đỏ Phan Thiết là những geosite địa chất, địa mạo có giá trị khoa học và thẩm mỹ thuộc loại quí, hiếm Việt Nam. Các geosite này đáp ứng các tiêu chí xây dựng Công viên Địa chất Quốc gia.

 

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ DO KHÔNG THỂ PHÊ DUYỆT DỰ ÁN HỆ THỐNG THỦY LỢI CÁI LỚN – CÁI BÉ [1]

GS. Nguyễn Ngọc Trân [2]

1.Trích QĐ 498/ TTg, 14.07.2017 về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé

Mục tiêu đầu tư

– Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn  – Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang;

–  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định;

– Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn;

– Kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án.

Quy mô đầu tư:

Xây dựng cụm công trình giai đoạn 1, gồm các hạng mục:
– Cống Cái Lớn, cống Cái Bé;
– Đê nối hai cống Cái Lớn, Cái Bé với Quốc lộ 61;
– Kênh nối sông Cái Lớn – Cái Bé;
– Sửa chữa cống âu Tắc Thủ.

Tổng mức đầu tư dự kiến: 3.309,5 tỷ đồng

7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau: (1) Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động của dự án; (2) Nghiên cứu tác động của công trình đến vùng hưởng lợi; (3) Về công tác quản lý vận hành, (4) Bổ sung đánh giá, phân tích so chọn giải pháp bao lớn và bao vừa; (5) Xác định vị trí âu thuyền Ninh Quới, (6) Đề xuất giải pháp lấy nước mặn cho vùng sản xuất lúa tôm; (7) Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Chúng tôi đã viết 4 bài báo liên quan đến dự án:

Những âu lo về dự án 3000 tỷ cống Cái Lớn-Cái Bé
http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/nhung-au-lo-ve-du-an-3000-ty-cong-cai-lon-cai-be-3335949/

Hai dự án đầu tư công ngàn tỷ cần soi kỹ

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/hai-du-an-dau-tu-cong-ngan-ty-can-soi-ky-3344861/

Làm rõ vì ngân sách và vì quản lý nhà nước

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/lam-ro-vi-ngan-sach-va-vi-quan-ly-nha-nuoc-3345231/

Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé và NQ 120

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-va-nghi-quyet-120-3363756/

vì theo chúng tôi:

(1) 7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau quyết định thành bại của Dự án. Khi chưa làm rõ triển khai giai đoạn 1, bắt tay xây dựng các cống có nguy cơ đâm lao sẽ phải tiếp tục phóng theo lao. Phải tiết kiệm từng đồng ngân sách nhà nước, nợ công đã rất cao.

(2) Cần thực hiện đúng Nghị quyết 120 của CP về phát triển bền vững ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu;

(3) Không thể họp hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM khi dự án chưa được “phản biện khoa học và khách quan”. Sau phản biện, Hội đồng sẽ có thêm cơ sở để thẩm định.

2.Môi trường vật lý của địa bàn dự án

Vùng dự án trải ra từ phía Nam của đồng lũ mở Tứ Giác Long Xuyên, đồng lũ nửa kín Tây Nam sông Hậu, trũng treo U Minh và trũng trung tâm Bán đảo Cà Mau[3]. Hình 1.

Gọi là đồng lũ mở là vì lượng nước vào, sau một thời gian ngắn thoát ra khỏi đồng lũ. Về phía Nam, việc thoát nước khó dần chuyển tiếp sang đồng lũ nửa kín, úng ngập dài ngày. Sông Cái Lớn, sông Cái Bé là cửa thoát nước duy nhất của đồng lũ ra Biển Tây.

Hình 1. Môi trường vật lý ĐBSCL và vùng dự án HTTL CL-CB

Treo là vì địa hình cao hơn xung quanh. Trũng vì là một bồn chứa than bùn dày đến hơn 5-6 mét. Trũng than bùn “ngậm” nước mùa mưa và “nhả” nước ngọt trở ra màu nước trà vào mùa khô, đặc biệt qua sông Trẹm và sông Cái Tàu.

Trũng trung tâm, địa hình rất thấp, là nơi giao thoa giữa triều Biển Đông, Biển Tây và sông Hậu. Rất khó thoát nước, vào mùa khô nước mặn trên mặt và mao dẫn từ dưới đất sắc lại, độ mặn rất cao.

Địa hình vùng dự án

Nước chảy về chỗ trũng là một quy luật. Vì vậy trong một dự án liên quan đến thủy lợi, yếu tố địa hình là quan trọng hàng đầu.

Trong các đơn vị môi trường vật lý đã hàm chứa địa hình: trũng, treo, đồng lũ, … Địa hình cụ thể của vùng của dự án được sưu tầm từ Chương trình 60-02, 60-B và gián tiếp qua bản đồ các tỉnh có nguy cơ bị ngập do BĐKH, nước biển dâng (Bộ TNvMT công bố năm 2009, và 2012).

Hình 2a là bản đồ địa hình liên quan đến một của vùng dự án mà CT 60-B đã xây dựng từ các mảnh bản đồ mộc tỷ lệ 1/50000 có cấy điểm độ cao. Sơ đồ cho thấy phía Tây Nam của đồng lũ nửa kín Tây sông Hậu là vùng trũng nhất và đường tháo của nước là cửa hai sông Cái Bé và Cái Lớn.

Địa hình còn gián tiếp được thể hiện qua bản đồ những địa bàn có nguy cơ bị ngập tĩnh khi mực nước biển dâng dâng lên 65 cm do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố [4]. Hình 2b.

Hình 2a
Hình 2b

Hoạt động kiến tạo đã qua tại châu thổ sông Mekong giúp hiểu địa hình trong vùng dự án. Đó là đứt gãy kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ dãy Cardamones (Campuchia) sang trong địa bàn Cái Lớn – Cái Bé; đứt gãy sông Hậu cũng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; đới nâng Hòn Khoai theo hướng Nam – Bắc dọc theo bờ biển Tây; và đới nâng Sóc Trăng theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Hình 3.

Hình 3: Hoạt động kiến tạo đã qua liên quan đến địa bàn dự án

Mưa và bốc hơi

Mưa được đề cập khá nhiều trong báo cáo tóm tắt: phân bố lượng mưa theo không gian, trong vùng hưởng lợi của dự án, trong mô hình mặn ngọt luân canh, chống ngập úng mùa mưa… Rất tiếc báo cáo chỉ đưa ra những con số bình quân chung chung (như “rất cao từ 2200 – 2400 mm/năm”, trang1). Báo cáo dường như không quan tâm đến diễn biến của lượng mưa trên địa bàn ra sao trong các thập niên qua, mặc dù sự diễn biến này ảnh hưởng đến việc chống ngập úng, đến mô hình luân canh mặn ngọt.

Tìm hiểu từ kho số liệu khí tượng thủy văn hết sức quý báu, chúng tôi thu nhận được một số thông tin đáng quan tâm, xin giới thiệu để hội thảo tham khảo và cùng suy nghĩ về ý nghĩa đằng sau các con số.

Hình 4. Diễn biến của lượng mưa năm tại các trạm thủy văn Xẻo Rô, Vĩnh Thuận, Cà Mau, Gành Hào.

Nếu lượng mưa ở trạm Xẻo Rô tăng (∆ = 12,8 mm/năm, trong các năm 1987-2017), ở Gành Hào tăng (∆ = 29,7 mm/năm trong các năm 1988-2008) thì ngược lại tại Cà Mau giảm (∆ = – 32,0 mm/năm) trong thời đoạn (1996-2017); ở Vĩnh Thuận giảm (∆ = -37,8 mm/năm) trong thời đoạn 1990-2013.

Việc sụt giảm lượng mưa tại Cà Mau và tại Vĩnh Thuận có liên quan đến việc chặt phá rừng tràm tại U Minh Hạ và U Minh thượng hay không? Nếu có, việc phá rừng tràm để trồng lúa tại U Minh, chẳng những làm giảm lượng nước ngọt trữ trong trũng treo U Minh, làm thiếu hụt nước ngọt vào mùa khô, mà còn làm giảm nguồn cung nước ngọt từ mưa trên địa bàn.

Việc chặt phá rừng tràm chắc chắn còn làm gia tăng độ bốc hơi. Rất tiếc chúng tôi chưa tìm được số liệu tại địa bàn cần tìm.

3.Địa bàn dự án đã được khai thác ra sao trong các thập niên đã qua

Sợi chỉ đó xuyên suốt trong khai thác vùng ĐBSCL là đưa nước ngọt về, và ngọt hóa nơi nào có thể, để sản xuất lúa gạo, mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ, tăng năng suất.

3.1. Khai thác nước ngọt của Trũng treo U Minh

Ảnh vệ tinh cho thấy sau năm 1975, diện tích rừng tràm giảm nhanh chóng, nhường chỗ cho diện tích canh tác lúa ngày càng mở rộng trong Trũng treo U Minh. Nhiều kinh đã được đào trong hai rừng tràm U Minh Thượng và U Minh Hạ. Cháy rừng tràm đã xảy ra thường xuyên. Bề dày của các tầng than bùn mỏng dần, thậm chí có nơi hầu như “chạm đáy”. Khả năng ngậm nước ngọt giảm dần cùng với nguy cơ cháy rừng tăng [5]. Hình 5.

Hình 5. Ảnh vệ tinh Landsat vùng trũng treo U Minhvào các năm 1973, 1979, 1993 và 2017

Trũng treo U Minh với hệ sinh thái rừng tràm ngập nước, một nơi cung cấp nước ngọt, với dịch vụ hệ sinh thái đa dạng, phong phú, ngày càng kiệt quệ trong nhiệm vụ cung cấp nước ngọt, ngay cả để chống cháy cho chính mình. Kênh Cán Gáo nối với sông Trẹm cung cấp nước ngọt cho mạng lưới kênh xương cá ngày càng dày về phía các huyện An Minh, An Biên và sông Cái Lớn. Điều này thể hiện rõ qua các ảnh vệ tinh dưới đây vào các thời điểm 1973, 1979, 1993 và 2017.

Việc khai thác nước ngọt quá mức trong trũng treo U Minh phục vụ canh tác lúa có ít nhất ba hậu quả nghiêm trọng.

Trước tiên đó là sự cạn kiệt dần và nhanh chóng nguồn nước ngọt trong trũng treo, kéo theo hậu quả thứ hai là sự kiệt quệ hệ sinh thái ngập nước ngọt ở đây như đã đề cập. Hậu quả thứ ba là mặn xâm nhập vào từ hai phía, theo kênh Cán Gáo và từ bờ Biển Tây, nhất là vào mùa khô.

Cần đánh giá khách quan và toàn diện các mặt việc khai thác trũng treo U Minh thay vì đỗ lỗi một cách dễ dãi cho sự thiếu đầu tư đồng bộ và từ đó dấn thêm vào việc hủy hoại hệ sinh thái tự nhiên vốn có của nơi này.

3.2. Các tác động lên các đồng lũ ở hữu ngạn sông Cái Lớn

Từ cuối thập niên 1980, sau thành công của việc chuyển nước sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây, bằng kênh Hồng Ngự – Long An (còn được gọi là “Kênh Trung ương”) đưa nước từ sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây để khai thác một vùng rộng lớn của Đồng Tháp Mười còn hoang hóa, Bộ Thủy lợi đã tìm cách làm điều tương tự, dẫn nước ngọt từ sông Hậu về để tăng diện tích canh tác lúa.

Hàng chục kênh các cấp đã được đào trong vùng Tây sông Hậu là minh chứng cho nỗ lực này. Tuy nhiên kết quả không như mong đợi, thậm chí còn tạo ra rất nhiều hậu quả bất cập, mặc cho hàng trăm cống các cỡ, hàng trăm trạm bơm đã được xây dựng. Hình 6.

Có ít nhất ba hậu quả.

Hậu quả trước tiên là tăng cường úng ngập trong lưu vực sông Cái Bé, Cái Lớn với lượng nước từ sông Hậu cuối cùng đổ về đây mà bây giờ mục tiêu thứ ba của dự án HTTL Cái Lớn Cái Bé là phải tiêu úng giảm ngập.

Hình 6. Mang lưới kênh các cấp và các cống trong đồng lũ Tây sông Hậu. Có thể nhận thấy trong mạng lưới kênh trong hình trên đây, hầu hết các kênh trước 1975 được đào theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, song song với sông Hậu.

Hậu quả thứ hai là các kênh đào sau này tạo ra rất nhiều điểm giáp nước (nước đứng) mà các cống, rất nhiều, không tháo ra được. Môi trường nước bị ô nhiểm, trầm tích lắng đọng, lục bình sinh sôi nãy nở, giao thông thủy gặp thêm khó khăn ngoài các cống đóng mở.

Hậu quả thứ ba là lượng nước trước đây theo các kênh hướng Tây Bắc – Đông Nam chảy về lung Ngọc Hoàng, về lâm trường Phương Nam, và xa hơn nữa về trũng trung tâm rất cần nước ngọt, nay bị các điểm nước đứng ngăn chận lại.

Một lần nữa, chúng tôi nghĩ cần phải đánh giá khách quan và khoa học những bất cập này là từ đâu ra để có hướng giải quyết đúng.

3.3. Ngọt hóa BĐCM: hàng loạt cống, âu thuyền tác động lên Trũng trung tâm được xây dựng nhưng hầu hết chưa bao giờ hoạt động đúng như thiết kế

Dự án Ngọt hóa BĐCM được triển khai, một mặt bằng đào Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp và bơm nước ngọt từ sông Hậu vào kênh này. Mặt khác bằng xây dựng 11 cống dọc theo QL 1A, và cống Bạch Ngưu, cống Cà Mau và âu thuyền Tắc Thủ để ngăn không cho mặn vào vùng ngọt hóa.

Các cống xây dựng và vận hành không đồng bộ là một lẽ, nhưng chủ yếu vì nước ngọt về không đủ vào mùa khô, nên ngoại trừ phần phía Đông Bắc (về phía Sóc Trăng) nằm ngoài Trũng trung tâm, dự án ngọt hóa không thành công. Mùa mưa phải mở cống để Trũng trung tâm không bị ngập úng. Mùa khô phải mở cống để lấy nước mặn nuôi tôm và để tránh nẻ đất, xì phèn. Chức năng “theo thiết kế” của các công trình thủy lợi của Dự án Ngọt hóa BDCM về cơ bản có thể xem là chỉ thành công về phía Sóc Trăng, thất bại ở phía Cà Mau. Ngoài ra còn có những vùng nước đứng, như ở huyện Phước Long, gây ô nhiểm nặng môi trường nước.

Đây là một bài học rất đắt giá về quy hoạch duy ý chí, không tôn trọng các quy luật, hoặc nghiên cứu khả thi làm không có chất lượng, thiếu trách nhiệm.

Hình 7. Hoạt động của các CTTL trong dự án Ngọt hóa BĐCM trên thực tế

4.Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng thực tế tại địa bàn dự án

Một trong những mục tiêu đầu tư của dự án là “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, …”

Căn cứ vào dự báo mực nước biển dâng mà Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố để chạy mô hình là chưa đủ, bởi lẽ trên thực địa, không phải MNBD mà Bộ TNvMT công bố, mà là MNBD thực tế [6].

MNBD thực tế = MNBD tương đối + Độ sụt lún tự nhiên + Độ sụt lún gia tốc

trong đó độ sụt lún tự nhiên là do quá trình nén dẽ nền đất và do canh tác; độ sụt lún gia tốc là do khai thác nước ngầm, khoáng sản trong lòng đất, do xây dựng nhà máy, sân bay, phát triển đô thị , … Độ sụt lún gia tốc càng quan trọng khi nền đất càng yếu.

Hiện nay, theo hiểu biết của chúng tôi, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang có một dự án đo đạc độ sut lún để xây dựng bản đồ sụt lún ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trong khi chờ đợi, chúng tôi trích dẫn một nghiên cứu (mà chúng tôi cho là nghiêm túc hiện có), đánh giá tốc độ tụt của mặt nước trong các giếng khoan và tốc độ sụt lún mặt đất tại đồng bằng sông Cửu Long [7]. Hình 8.

Theo nghiên cứu này, địa bàn của dự án sụt lún với tốc độ bình quân từ 2 đến 2.75 cm/năm. Địa bàn đã thấp, lại còn bị lún khá nhanh. Điều này ảnh hưởng ra sao đến tính khả thi mục tiêu của dự án cần được đánh giá.

Hình 8. Tốc độ tụt của mực nước trong các giếng khoan (trái), Tốc độ sụt lúb mặt đất tại đồng bằng sông cửu Long (phải).

5.Diễn biến của các mực nước đặc trưng tại các trạm thủy văn ven Biển Tây và tại Gành Hào (Biển Đông)

Mực nước biển dâng thực tế tai bờ biển đồng bằng sông Cửu Long được phản ánh trong mực nước đo đạc liên tục bằng máy tự ghi tại các trạm thủy văn ven biển. Từ mực nước này, sẽ tính được mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm và biên độ triều cao nhất năm [8].

Liên quan đến địa bàn của dự án, xin trình bày kết quả đo đạc và tính toán tại các trạm thủy văn ven Biển Tây là Xẻo Rô, Rạch Giá, và ven Biển Đông là Gành Hào trong 29 năm từ 1988 đến 2016, và tại Sông Đốc từ 1993 đến 2016.

Hình 9. Diễn biến của đỉnh triều cao nhất và chân triều thấp nhất tại Gành Hào và Xẻo Rô
∆ là tốc độ gia tăng bình quân năm (xu thế tuyến tính)

Tại Xẻo Rô, mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm, và biên độ triều lớn nhất năm đều tăng. Để theo dõi biến động theo thời gian, nhất là trong những năm gần đây, thời gian 29 năm được phân thành hai giai đoạn 1988 – 2016 và 2003 – 2016. Hình 9.

Tốc độ gia tăng bình quân năm tại Gành Hào khá cao, cao hơn trong giai đoạn 2003-2016. Tại Xẻo Rô và Rạch Giá tăng nhưng giá trị tuyệt đối ∆ không lớn bằng phía Biển Đông. Tuy nhiên so với biên độ triều Biển Tây (75–110 cm) ∆ có ý nghĩa không kém ở Biển Đông. Tại Sông Đốc, do chịu ảnh hưởng từ Biển Đông nên ∆ thấp hơn tại Gành Hào, nhưng cao hơn tại Xẻo Rô và Rạch Giá.

Đỉnh triều cao nhất năm tăng có nghĩa là lượng nước biển vào nội đồng qua trạm tăng. Chân triều thấp nhất năm tăng có nghĩa là lượng nước trong châu thổ tháo ra biển theo triều rút trở nên khó khăn hơn. Hệ lụy đến các mục tiêu của dự án không khó để suy ra.

6.Bốn lý do để không phê duyệt BC NCKT của dự án HTTL Cái Lớn, Cái Bé

(1) Lý do 1. Về mặt phương pháp luận, cho dù là một dự án thủy lợi, báo cáo NCKT phải xem xét dự án trong một khung khổ toàn diện các yếu tố của môi trường, với quan điểm hệ thống (tác động giữa các yếu tố) và động (nhịp điệu và biến động theo thời gian). Có như vậy giải pháp và việc khai thác tài nguyên để phát triển mới có thể bền vững.

Vì địa bàn bằng phẳng và cao trình mặt đất thấp, địa hình là hết sức quan trọng, nước chảy về chỗ trũng là quy luật. Không tìm thấy một bản đồ địa hình chi tiết nào của vùng dự án.

Báo cáo tóm tắt dự án nói nhiều đến mưa nhưng không tìm được một phân tích nào về mưa, diễn biến của lượng mưa trong vùng dự án.

Triều là nhịp thở của châu thổ. Địa bàn của dự án là nơi giao thoa giữa triều Biển Đông, triều Biển Tây và sông Hậu nên có nhiều nhịp đập. Cũng có nghĩa là địa bàn rất phong phú, đa dạng về hệ sinh thái và các dịch vụ hệ sinh thái. Với hệ thống cống các cỡ đã có và sẽ xây dựng, dự án sẽ góp thêm phần “nghèo hóa” chúng theo một hình mẫu sản xuất mà mình quen thuộc.

Báo cáo tóm tắt dự án và báo cáo đánh giá ĐTM có giới thiệu Bản đồ quy hoạch sử dụng đất (Hình 8, trang 14, báo cáo tóm tắt). Làm sao tin được ở chất lượng bản đồ khi mà thông tin về Thổ nhưỡng của dự án mà chúng tôi có được chỉ là một bản đồ “minh họa” của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam.

Đối chiếu với những gì chúng tôi đã sưu tầm làm cơ sở để phản biện, rõ ràng Báo cáo NCKT của dự án là phiến diện, tĩnh tại và quá sơ lược, hầu như chỉ tập trung vào vấn đề nước, và căn cứ vào kết quả chạy mô hình để kết luận.

Đây là kết quả tất yếu của việc Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé được xây dựng khép kín trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và hầu như là một sản phẩm chỉ của ngành thủy lợi [9]. Các kết quả và kết luận của Báo cáo NCKT do vậy chất lượng và độ tin cậy không cao.

Xin nói thêm vê mô hình. Sử dụng mô hình toán là cần và bổ ích để mô phỏng và tiên liệu những gì sẽ xảy ra. Tuy nhiên vì mô hình có những hạn chế bẩm sinh (từ mô hình hóa bài toán vật lý với những giả thiết đơn giản hóa), kết quả tính toán phụ thuộc vào số liệu đầu vào (ở đồng bằng thiếu rất nhiều và không được cập nhật, địa hình rất bằng phẳng) nên kết quả tính toán chỉ có giá trị tham khảo và chưa thể xem là kết luận khi chưa được đối chiếu với thực tế. Về vấn đề này, chúng tôi đã phân tích khi phản biện dự án MDS do Bộ TNvMT quản lý, ký hợp đồng với Viện Thủy Lợi Đan Mạch DHI để thực hiện [10].

(2) Lý do 2. Báo cáo tóm tắt Dự án, trong 48 trang đã 11 lần đổ lỗi cho đầu tư chưa/không đồng bộ, 7 lần viện dẫn cần đầu tư hoàn chỉnh. Như vậy là không nghiêm túc.

Cần phân tích khách quan và khoa học Nêu lên hiện trạng mà không chỉ đúng nguyên nhân, rồi từ đó kết luận là cần thiết đầu tư hai cống sẽ dẫn đến nguy cơ tiếp tục vòng xoáy tiếp tục khai thác sai, bao ví đồng bằng với quá nhiều cống đập các kích cở, đối lập con người với thiên nhiên, châu thổ với biển.

Ở đồng lũ nửa kín Tây Nam sông Hậu, đặc biệt giữa Kênh Ô Môn và Kênh Xà No có dày đặc các cống các cỡ (Hình 6) là hậu quả của các dự án ODA không được nghiên cứu tới nơi tới chốn, rồi cống sau chồng lên cống trước để tìm sự “đồng bộ” hay “hoàn chỉnh”.

Điều này trái ngược với xu thế hiện nay trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đó là chuyển từ khống chế dòng chảy theo ý muốn của con người sang dành không gian cho sông (rooms for rivers) [11; 12], dành không gian cho giao tiếp giữa con Người với Thiên nhiên.

(3) Lý do 3. “7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau” nêu lên trong QĐ 489, quyết định thành bại của Dự án. Khi chưa làm rõ, triển khai giai đoạn 1, bắt tay xây dựng các cống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường về môi trường, về sản xuất và đời sống của người dân và về ngân sách nhà nước trong khi nợ công đã rất cao.

Sau 16 tháng (kể từ ngày có QĐ 489/TTg), giai đoạn 1 và “giai đoạn sau” vẫn còn là một cái bóng mờ mờ ảo ảo.

Khi nào xong giai đoạn 1? Kết quả của giai đoan 1 cụ thể là gì? Báo cáo tóm tắt viết: “Khi công trình hoàn thành” (trang 47, dòng 12 từ dưới đếm lên). Khi đó là khi nào? Còn phải đầu tư những công trình nào nữa, ở đâu, lúc nào, bao nhiêu thì mới gọi là đầu tư hoàn chỉnh, đồng bộ, công trình hoàn thành?

Không thể phê duyệt khống về nội dung như vậy. Phải làm rõ để nếu sau này hiệu quả của dự án không như báo cáo thì biết tại sao và từ đâu, trách nhiệm thuộc về khâu nào, và về ai.

(4) Lý do 4. Báo cáo đánh giá ĐTM là một tài liệu “kỳ lạ” về cấu trúc, nội dung và nhất là về vị trí.

Báo cáo có 467 trang A4. Hai chương đầu dài gần 100 trang mà nội dung có thể trình bày tối đa không đến 15 trang. Chương Hai, Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực thực hiện dự án, dài 150 trang, trong này đặc điểm thổ nhưỡng được 22 từ và một hình minh họa phân bố các loại đất của ĐBSCL do Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam thực hiện; đoạn về đặc điểm về mưa sử dụng một số bảng biểu mà nguồn là từ Báo cáo NCKT 2018. …

Chúng tôi tự hỏi sự hiện diện khá “đồ sộ” về số trang của Chương 2 có chủ đích gì sau khi đọc các chương sau. Đọc phần “Kết luận, Kiến nghị và Cam kết” ở cuối báo cáo, chúng tôi không hiểu vị trí của BC ĐG ĐTM trong “hồ sơ” dự án là gì.

Sau khi đọc phiên bản đã trình Hội đồng thẩm định và phiên bản “chưa hoàn thiện” (thật ra khó tìm được những khác biệt, cả hai đều dày 467 trang A4), chúng tôi mới ngộ ra rằng BC ĐG TĐMT được xây dựng hoàn toàn khác với chờ đợi của chúng tôi.

Nội dung của BC chủ yếu là đánh giá tác động lên môi trường của việc chuẩn bị và triển khai thực hiện dự án. Còn những chương khác hầu hết là từ “cắt và dán” (copy & paste) từ báo cáo NCKT.

Trong khi đó, chúng tôi chờ đợi báo cáo đánh giá tác động lên MT nếu dự án hoàn thành và đi vào vận hành. Bởi có như vậy việc thẩm định dự án (BC NCKT) mới mang đầy đủ ý nghĩa trước khi dự án được phê duyệt để thực hiện.

Phê duyệt BC ĐGĐTM, như nó được thực hiện, theo chúng tôi là một sai lầm.

Vì bốn lý do trên đây, chúng tôi cho rằng không thể phê duyệt báo cáo NCKT của dự án HTTL Cái Lớn, Cái Bé.

Chúng tôi rất hiểu và thông cảm với những bức xúc của các tỉnh và của người dân trong vùng dự án đang chờ đợi dự án được duyệt theo giới thiệu của chủ đầu tư.

Chúng tôi viết phản biện này xuất phát từ nhận thức rằng không thể giải quyết các bức xúc này bằng hệ thống thủy lợi Cái Lớn, Cái Bé, vì không đủ cơ sở khoa học, thậm chí có nguy cơ môi trường sẽ càng nghèo kiệt hơn, xấu hơn, sản xuất, đời sống và sinh kế của người dân không ổn định, không bền vững.

Chúng tôi cũng hiểu là nhận thức điều này không dễ vì liên quan đến tập quán, đến sự lựa chọn giữa cái trước mắt và di sản về môi trường mà chúng ta sẽ để lại cho các thế hệ mai sau.

7.Không xây hai cống Cái Lớn, Cái Bé, sắp tới làm gì?

Theo chúng tôi có mấy việc sau đây cần làm.

(1) Phải quán triệt và thực hiện nghiêm NQ 120, đặc biệt 3 ý chỉ đạo:

(1) “Mọi dự án công trình phải được tính toán thật kỹ, được phản biện khách quan, khoa học, bảo đảm không hối tiếc đầu tư”;

(2) “Trước khi chọn một giải pháp công trình, phải tính toán cán cân Được – Mất trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường”.

(3) Quy hoạch phải theo quy luật. Chú ý các giải pháp phi công trình.

Có ý kiến cho rằng để “chủ động chung sống với lũ”, “kiểm soát mặn”, phải có cống.

Hiểu như vậy là hiểu chưa đúng Nghị quyết 120. Phải dự báo tốt. Phải bố trí sản xuất và đời sống của dân cư theo đúng quy luật tự nhiên, kinh tế xã hội.

Chúng tôi không nói tất cả các cống, các kênh đào là không cần hay sai. Chúng chỉ cần và đúng khi phù hợp với quy luật.

(2) Bài toán sản xuất có hiệu quả, sinh kế và đời sống người dân ổn định, môi trường được bảo vệ trong đồng lũ nửa kín Tây nam sông Hậu, trũng treo U Minh và Trũng trung tâm Bán đảo Cà Mau phải nằm trong dự án tái cơ cấu nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ, và chủ trương liên kết vùng ở đồng bằng sông Cửu Long.

Không thể để dự án HTTL CLCB, nếu được phê duyệt “khống” và đi vào thực hiện, buộc Tái cơ cấu nông nghiệp phải “đồng bộ hóa” với nó!

(3) Hội thảo hôm nay, trừ một số ít tham luận, hầu như chỉ tập trung vào các công trình.

Xin kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng) và lãnh đạo các tỉnh, trước tiên là Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau, sớm tổ chức một hội thảo về các biện pháp phi công trình, đặc biệt các giống cây trồng, vật nuôi thích hợp cho từng đon vị tài nguyên nông nghiệp trong địa bàn dự án. Hội thảo này sẽ bố sung hội thảo hôm nay, hướng tới một tổ hợp các giải pháp công trình không hối tiếc và phi công trình.

(4) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần rà soát lại hệ thống các kênh KH, các cống hiện có, đánh giá khách quan các mặt được và bất cập, sự phối hợp, đồng bộ hóa chế độ vận hành các cống trong các tiều vùng I, II và III (hình 3) [13]. Đặc biêt tổng kết dự án “Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau”. Trên cơ sở rà soát và điều chỉnh vận hành các công trình hiện có, sửa sai bằng các giải pháp công trình và phi công trình, xây dựng các công trình bổ sung sau khi được chứng minh là cần thiết và không hối tiếc./.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12.09.2018.

Kính tặng đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu Long bài viết này.

Lưu ý:  Khi trích dẫn toàn phần hay một phần bài phản biện này, cần tôn trọng ý kiến của tác giả. Các bảng, hình, biểu đồ, xin trích dẫn đầy đủ nguồn. Cám ơn.

CHÚ THÍCH:

[1] Nội dung đã được tác giả trình bày tại Hội thảo khao học tại Rạch Giá, ngày 07.09.2018.

Được thực hiện trong điều kiện khá không gấp rút (đọc hơn 500 trang A4 tài liệu nhận được từ Ban 10 không đầy 72 giờ trước hội thảo, cộng với 467 trang chiều ngày hôm trước hội thảo, bài góp ý này chưa được như tác giả mong muốn. Nó phản ánh công tác góp ý phản biện rất không bình thường. Mong rằng đây chỉ là một trường hợp cá biệt!

[2] Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Chủ nhiệm Chương trình 60-02, 60-B, “Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL” (1983-1990), Trưởng Ban Chỉ đạo Nghiên cứu Khai thác Bán đảo Cà Mau (1989-1992).

[3] Trần Kim Thạch, Bản đồ Môi trường vật lý đồng bằng sông Cửu Long, trong Báo cáo tổng hợp “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển” của Chương trình 60-B. Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội, tháng 3.1991.

[4] Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012, Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội.

[5] Xem báo cáo của tỉnh Kiên Giang về vụ đám cháy rừng tràm năm 2002. Ở tỉnh Minh Hải vào những năm 1990 cũng đã có báo cáo về hậu quả của nhiều đám cháy rừng tràm nghiêm trọng trong rừng tràm U Minh Hạ.

[6] J.P. ERICSON et all, 2006, Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82.

[7] Laura E Erban, Steven M Gorelick and Howard A Zebker, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta, Vietnam. Environ. Res. Lett. 9 (2014) 084010 (6pp).

[8] Nguyễn Ngọc Trân, Evolution of water levels at coastal hydrological stations of the mekong delta, ICEC 2018, 21-23 August 2018, University of Caen.

[9] Chủ đầu tư Dự án là Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10. Cơ quan lập các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi là một liên danh gồm Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, và Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng thủy lợi 2. Cơ quan lập Báo cáo ĐTM là Viện Kỹ thuật Biển, thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam. Và có lẽ vì vậy mà các Báo cáo NCKT, Báo cáo đánh giá ĐTM và báo cáo tóm tắt dự án “cắt” (cut) “dán” (paste) nhau khá thoải mái.

[10] Nguyễn Ngọc Trân, Nhận xét báo cáo của Dự án “Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông (MDS)”, tài liệu gửi Bộ trưởng Bộ TNvMT ngày 30.3.2016 và một số Bộ trưởng các Bộ có liên quan. Nội dung đã được trình bày tại hội thảo khoa học ngày 04.12.2015 tại Tp. Hồ Chí Minh.

[11] Nguyễn Ngọc Trân, Ghi nhận từ Hà Lan, trong Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh, 11.2011.

[12] Lương Phương Hậu, Xu thế chỉnh trị sông, Tạp chí KH&CN Thủy lợi, 2012, Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam, Hà Nội.

[13] Theo một chuyên gia đã nhiều năm công tác quy hoạch thủy lợi ở ĐBSCL: “Chỉ cần tổng kết tác dụng đích thực của một số cống điều tiết mặn và ngọt trong khu vực Tây sông Hậu nhất là vùng ven biển Tây dọc tuyến Rạch Giá-Hà Tiên và trong bán đảo Cà Mâu, sẽ thấy rất rõ là vận hành chúng rất khó khăn để cho hiệu quả cao, phần lớn là 1/3 hiệu quả, 1/3 không hiệu quả và 1/3 là phản tác dụng, cội nguồn cơ bản là do đây là khu vực nhạy cảm nhất về thủy triều hỗn tạp không những của Việt Nam mà còn là điển hình của cả thế giới, đó là “đa hướng, đa chế độ, đa độ lớn, đa pha” đeo bám nhau, đan xen nhau chằng chịt, rượt đuổi nhau theo các chiều và pha hỗn loạn theo nhịp điệu không ngưng nghỉ nằm trong một trận đồ “bát quái” không có hiệu lệnh.”. Chúng tôi xin trích nguyên văn đoạn chia sẻ trên đây của chuyên gia này.

Nguồn:

Báo Đất Việt

https://www.thiennhien.net/2018/09/14/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet/

 

Nhìn lại các công trình ngăn mặn hiện có ở ĐBSCL

Hòa Tân lược ghi

(TBKTSG Online) – LTS: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã nhận được bản thảo về “Đánh giá các hệ thống ngăn mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và dự án thủy lợi sông Cái Lớn – Cái Bé” của nhóm nghiên cứu gồm Lê Anh Tuấn – Nguyễn Hữu Thiện – Dương Văn Ni – Nguyễn Hồng Tín – Đặng Kiều Nhân.

Đây là một công trình khoa học dài hơn 15.000 chữ với 37 trang, xét thấy phần đánh giá tác động các công trình ngăn mặn phù hợp với tờ báo, nên tòa soạn xin được lược đăng. Tựa đề chính và các tựa phụ do tòa soạn đặt.

Ngọt hóa bán đảo Cà Mau

Âu thuyền Tắc Thủ: một điển hình tồi về đầu tư thủy lợi vùng Bán đảo Cà Mau

Dự án Quản Lộ – Phụng Hiệp, ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được khởi công từ những năm đầu của thập niên 1990 với vốn vay của Ngân hàng Thế giới, có trị giá đầu tư xấp xỉ 1.400 tỉ đồng (theo thời giá lúc đó). Trong suốt giai đoạn 1990 – 2000 và tiếp đến nay, hàng trăm công trình cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, giữ ngọt đã được đầu tư.

Bản đồ qui hoạch thủy lợi vùng Nam Bán Đảo cá Mau. Ghi chú: Qui hoạch được duyệt theo quyết định số 1336/QĐ-KH ngày 8/5/2009. Bản đồ không thể hiện các cống nhỏ nội đồng và các cống mới xây sau đợt hạn-mặn 2016

Theo dự tính của ngành thủy lợi, hệ thống đưa nước ngọt từ sông Hậu về bán đảo Cà Mau sẽ cung cấp nước tưới, phục vụ chủ yếu trồng lúa, cho 70.000 ha đất nông nghiệp của tỉnh Bạc Liêu, 50.000 ha đất của Cà Mau và 66.000 ha đất của Kiên Giang. Do nhiều cống ngăn mặn đã cản trở giao thông thủy nên phát sinh ra những công trình khác như hệ thống Âu thuyền Tắc Thủ, được xây dựng tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, thuộc xã Hồ Thị Kỷ (huyện Thới Bình) và xã Khánh An (huyện U Minh, Cà Mau).

Âu thuyền Tắc Thủ được khởi công xây dựng từ năm 2001-2002, với tổng vốn gần 80 tỉ đồng vào thời điểm đó. Công trình này do Công ty Tư vấn xây dựng Thủy lợi II chịu trách nhiệm thiết kế và giám sát thi công xây dựng.

Tuy nhiên, công trình sau hơn 5 năm khởi công đã bắt đầu bộc lộ những bất cập trong mục tiêu và thực tế.

Từ năm 1997-1998, đã có hàng trăm nông dân đòi phá các hệ thống cống – đập này để lấy nước nuôi tôm, điển hình là sự kiện tháng 7/1998 nông dân Bạc Liêu kéo nhau phá đập Láng Trâm (xã Tân Thạnh, huyện Giá Rai).

Người dân Bạc Liêu và Cà Mau phá đập ngăn mặn (Nguồn: VTV, Giữa đôi dòng mặn ngọt). https://vtv.vn/video/phim-tài-liệu-giua-doi-dong-man-ngọt-83951.htm

Và làn sóng phá cống ngăn mặn lan sang tỉnh Cà Mau (như ở các địa điểm Vườn Cò, Rạch Mới, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân). Chính mâu thuẫn mặn – ngọt này, đến năm 2000 Chính phủ quyết định cho các tỉnh vùng ĐBSCL chuyển đổi 450.000 ha đất trồng lúa sang đất nuôi tôm, khiến mục tiêu chính dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau gần như bị thất bại.

Âu thuyền Tắc Thủ trong hệ thống ngọt hóa này là một điển hình “phá hoại” lớn của dự án: sau khi hoàn thành năm 2006, công trình trở thành một khối bê tông vô dụng, làm cản trở giao thông, gây thất thoát ngân sách và tạo nhiều bức xúc cho người dân sở tại và dư luận đánh giá xấu cho ngành giao thông – thủy lợi. Gần như đến nay, không ai chịu trách nhiệm về những đầu tư kém hiệu quả và lãng phí này.

Nguồn nước ô nhiễm

Hình ảnh phổ biến ở các vị trí công ngăn mặn: rác tích tụ và nước có màu tối đen do các chất ô nhiễm phân hủy. Cống Bãi Giá, Sóc Trăng chụp ngày 11/12/2017, Lê Anh Tuấn

Do dòng chảy sông rạch thường xuyên bị chặn lại bởi các cống, phía trong cống không còn hiện tượng nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước ròng cho mỗi chu kỳ rằm nửa tháng. Trước khi có cống – đập, biên độ thủy trình trong sông kênh có thể dao động đến gần 2 mét. Do cống đóng gần như suốt mùa khô, dòng sông lúc nào cũng đầy nước nhưng là loại nước tù, không chảy hoặc chảy lờ đờ rất chậm. Điều này khiến tình trạng ô nhiễm tích lũy trong nước rất cao. Rác rến từ nguồn thải dân cư và các chất độc như thuốc trừ sâu, thuộc diệt cỏ và phân bón tràn xuống nước tích tụ dày đặc do thiếu nguồn nước biển để rửa trôi.

Hệ quả là hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước đều rất thấp khiến khả năng tự làm sạch của nguồn nước bằng cơ chế oxy hóa, pha loãng và rửa trôi bằng thủy triều. Nước trong sông rạch mang màu đen đặc trưng và có mùi thối đặc trưng do các hợp chất hữu cơ phân hủy trong nước.

Tại những vùng nước lợ bị đóng kín tù đọng, lục bình phát triển dày đặc, nước bị ô nhiễm bời nhiều chất thải, hoàn toàn không sử dụng được cho sinh hoạt (Ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Hiện nay sông ngòi ở các vùng thủy lợi này gần như không còn sử dụng được cho mục đích ăn uống, thậm chí tắm giặt. Người dân chuyển sang sử dụng nước ngầm, nhiều giếng nước ngầm đã khoan đến độ sâu 80 – 120 m để lấy nước ngọt. Sự khai thác nước ngầm để lấy nước ngọt quá lớn vùng “ngọt hóa” đang làm gia tăng tốc độ sụt lún đất ĐBSCL nhanh gấp nhiều lần nước biển dâng. Hệ quả này sẽ dần dần làm hư hỏng công trình, gây nguy cơ cao cho vấn đề nhiễm mặn và nhiễm bẩn nước ngầm.

Các giếng khoan nước ngầm xuất hiện ngày càng nhiều, ngay trong vùng ngọt hóa, do nước mặt bị ô nhiễm, đe dọa tình trạng lún sụt mặt đất (Hình chụp ở Hậu Giang)

Nguồn lợi thủy sản mất dần

Rất khó để tìm ra các loài cá trắng trên các dòng sông bị chặn bởi các cống đập, thay thế trong thủy vực bằng các loài cá đen nước tĩnh như cá lóc, cá trê và các loài cá ngoại lai như cá rô phi, cá lau kiếng. Lý do là hệ sinh thái sông ngòi (riverine environment) đã bị chuyển sang hệ sinh thái hồ (lacustrine environment).

Trao đổi với người dân trong khu vực, tất cả đều khẳng định nguồn lợi thủy sản gần như bị suy giảm nghiêm trọng, môi trường sống của các loài thủy sinh bị kiệt quệ thấy rõ. Nghiên cứu khảo sát nguồn lợi thủy sản của trường Đại học Cần Thơ ở các khu vực có dự án thủy lợi Ô Môn – Xà No, Quản Lộ – Phụng Hiệp qua thu thập mẫu (3 lần mỗi năm) và thêm phỏng vấn người dân địa phương cho thấy, cả nguồn cá nước ngọt và nước lợ trong vùng có dự án thủy lợi giảm sút gấp 3 lần so với nguồn cá đối chứng ở bên ngoài hệ thống.

Về mặt sinh thái nông nghiệp, nếu độ chua của nước pH > 4 và độ mặn S < 0,4% (4 ppt) thì có thể trồng lúa, nhưng với đặc điểm một vùng sông nước và nuôi trồng thủy sản đa dạng từ vùng nước mặn, nước lợ, nước ngọt thì ngoài 2 thông số nói trên, còn có các thông số hàm lượng oxy hòa tan, độ đục,… và cả yếu tố vi sinh, dịch bệnh… việc quản lý các hệ thống thủy lợi không sao thỏa mãn được hết.

Chất lượng đất thay đổi

Một ghi nhận rõ hơn nữa là chất lượng đất, hay nói cách khác là sức khỏe của đất (soil healthy) bị suy kiệt nhanh chóng ở những vùng đất canh tác có cống ngăn mặn phía bên ngoài. Nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ, khi lớp đất mặt ngập nhiều ngày, hàm lượng oxy khuếch tán vào nước giảm vài ngàn đến hơn 10 ngàn lần so với điều kiện tiếp xúc với không khí, lúc đó hiện tượng yếm khí toàn phần xảy ra. Đất bị ngập nước hoàn toàn sau một ngày thì hàm lượng oxy giảm nhanh tới mức không phát hiện được sự hiện diện oxy trong đất nữa. Khi đó, các tác nhân như nitrogen dioxide, các hợp chất mangan, sắt, carbon dioxit, ammoniac, hiđro sunfua, metan, acetylene, ethanol, các sản phẩm biến dưỡng của vi sinh vật,… gia tăng, gây tổn thương vùng rễ, làm nhiễm độc cho cây trồng.

Các vườn cây cam đang tươi tốt như thế này sẽ phải lần lượt bị đốn bỏ để trồng tràm vì nông dân không chịu nổi chi phí bơm nước ra liên tục và phải sử dụng nhiều phân thuốc cho đất (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nước cầm tù dâng cao, thấm bão hòa vào các lớp đất mặt khiến các loại cây trồng khó phát triển, các loại cây ăn trái có bộ rễ sâu hơn 20-30 cm dần dần bị vàng lá, thối gốc, thối rễ mà chết. Muốn giảm thiệt hại, người nông dân phải chấp nhận bơm thoát nước liên tục, khiến chi phí đầu tư ban đầu cao vì phải dùng nhiều năng lượng như điện, xăng dầu để chạy máy bơm, chưa kể công sức và thời gian phải lo trực chạy máy, sửa chữa máy, theo dõi mực nước.

Hầu hết khu vực ven biển là đất có tầng phèn hoạt động và nước thủy cấp nhiễm mặn. Xì phèn hoặc mặn xảy ra làm giảm năng suất cây trồng/vật nuôi khi mực thủy cấp thấp và không cấp đủ nước ngọt do vận hành công trình không phù hợp.

Thay đổi về sinh cảnh thực vật

Các dòng sông bị đóng kín sau mùa mưa để giữ lại nước ngọt khiến thủy triều từ biển không vào nội đồng được. Đất đai trong vùng canh tác trở nên thiếu dinh dưỡng và cây trồng phải phụ thuộc vào phân bón. Chính điều này, về lâu dài, đã làm nhiều nông đã bị buộc phải chặt bỏ hàng ngàn ha vườn cây ăn trái, chuyển sang trồng mía, rồi mía cũng thất bại, chuyển sang trồng tràm, nhưng tràm trong điều kiện ngập nước kéo dài cũng rất chậm lớn.

Cây dừa nước bị chết là do sâu bệnh phát triển trong môi trường nước chuyển từ mặn lợ sang ngọt (Ảnh chụp ở Gò Quao, Kiên Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Nhiều mảng cây rừng ven biển bị suy kiệt mà chết dần, sạt lở ven biển gia tăng. Còn phía trong đồng thì dòng sông biến thành các hồ chứa, nước bị cầm tù khiến nhanh chóng bị ô nhiễm, hôi thối. Lục bình và nhiều loại tảo lục phát triển, ghe tàu đi lại rất khó khăn, chậm chạp và tốn kém.

Nông dân đang chuyển tràm trồng thay thế các vườn cây ăn trái do đất bị cống chặn giữ nước liên tục (ảnh chụp ở Hậu Giang ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Các loại cây quen sống ở vùng nước lợ, điển hình như cây dừa nước (Nypa fruticans), sẽ nhanh chóng bị vàng lá, hư hại và chết do hệ sinh thái nước lợ biến thành nước ngọt nên loài sâu ăn lá dừa nước phát triển. Nói chung, tính đa dạng sinh học khu vực bị suy giảm đáng kể.

Sự thay đổi điều kiện giao thông thủy

Ở các vùng có cống ngăn mặn thuộc dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, lục bình phát triển dày đặc, ngăn cản giao thông thủy, hạn chế ánh sáng và không khí cho các nguồn thủy sinh và gây ô nhiễm do tù đọng (ảnh chụp ở cống Mỹ Phước, Sóc Trăng ngày 17/5/2018, Lê Anh Tuấn)

Dễ dàng thấy được các cống đập đặt ngay vị trí dòng chảy thì ảnh hưởng đến giao thông thủy. Nước không lưu thông thì lục bình thuận lợi phát triển bao trùm mặt thoáng. Việc đi lại rất trở ngại. Nhiều nơi người dân đã phải dung thuốc diệt cỏ để xịt lên lục bình nhằm tạo lối đi khiến nước sông càng ô nhiễm hóa chất nặng nề, tôm cá bị tiêu diệt và sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng.

Đoạn kênh ở Long Mỹ, Hậu Giang: do dòng chảy bị chận nên lục bình phát triển ưu thế, giao thông thủy tắc nghẽn, chi phí ghe xuồng đi lại gia tăng, có lúc người dân buộc phải dùng thuốc diệt cỏ để xịt lục bình lấy đường cho ghe xuồng chạy, hệ quả ô nhiễm hóa chất gia tăng (ảnh chụp ở Long Mỹ, Hậu Giang ngày 13/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Chi phí vận chuyển lúa ra ngoài đê tăng xấp xỉ 10%, máy gặt đập bên ngoài đưa bằng xà lan vào trong đê rất khó, hoặc không vào được (như vùng Xà Phiên, Long Mỹ).  Tại khu vực Ngã Bảy, Phụng Hiệp, Hậu Giang lượng tàu ghe đến giao dịch giảm đi hẳn.

Hệ thống tời kéo-đường ray để kéo vỏ lãi qua cống

Một số cống gây hạn chế giao thông thủy khi đóng cống hoặc do thiết diện chiều rộng cống hạn chế. Trong khi ở khu vực nông thôn nơi chưa có hạ tầng phát tiển, giao thông thủy đóng vai trò rất quan trọng. Khi thu hoạch lúa, hoặc vận chuyển hàng hóa nặng, giao thông thủy là lựa chọn ưu tiên của người dân.

Hệ thống tời kéo võ lãi qua cống Nàng Rền, nhưng rất ít hoạt động (ảnh chụp ngày 12/7/2018, Lê Anh Tuấn)

Tại một cống, có sáng kiến làm bộ tời kéo vỏ lãi vượt qua cống trên 2 thanh ray, muốn qua người dân phải trả phí. Tại một số cống ngăn mặn, người dân muốn lưu thông qua cống phải chi tiền đút lót cho người quản lý cống mở cống.

Sự thay đổi văn hóa – xã hội

Một điều mà nhiều người nhận xét, ở những nơi có cống – đập chặn dòng, tình trạng di dân ngày càng phổ biến. Việc canh tác khó khăn, chi phí đầu tư cao mà lợi nhuận giảm, cộng thêm tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm, nhiều người đã bỏ đồng ruộng đi mưu sinh ở các khu công nghiệp hoặc thành phố (ở địa phương quen gọi một tên chung là “đi Bình Dương”). Hiện tượng này không phải do vấn đề dân số, tốc độ tăng dân số của ĐBSCL hiện nay là âm, mà do kinh tế nông thôn đang đi xuống. Trong vấn đề di dân, phụ nữ và trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất.

Do sông ngòi ô nhiễm, trẻ em nông thôn ngày nay không biết bơi, chỉ trừ những đứa trẻ ở các nhánh sông lớn như Sông Tiền, Sông Hậu. Đây là một nét văn hóa đã bị mất của ĐBSCL. Hoạt động giao thông thủy sút giảm cũng là mất một nét quan trọng của văn hóa sông nước ĐBSCL. Lượng cá trắng sút giảm nghiêm trọng nên một số món ăn mất hình ảnh con cá trên thực đơn.

Sự suy giảm chất lượng nguồn nước, đi lại khó khăn,… cũng là một vấn đề khó khăn liên quan đến tiện nghi, an toàn, chất lượng sống và sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em. Hầu hết các dự án không quan tâm đến yếu tố giới, qua trao đổi với các địa phương, tham vấn và quản lý nước đều không xem xét sự tham gia của phụ nữ.

Trong hầu hết các dự án thủy lợi, đối tượng cư dân được nói đến nhiều là nông dân, đặc biệt là nông dân trồng lúa.  Thực tế, trong vùng nông thôn ven biển châu thổ Cửu Long, có rất nhiều nhóm cư dân khác nhau của địa phương, có các sinh kế khác nhau như thương buôn, chế biến nông sản, bốc xếp hàng hóa, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… Ảnh hưởng công trình đến sinh kế của họ, gần như không được chú ý nên dễ gây những tác động dây chuyền.

Tính kém hiệu quả kinh tế công trình

Ngân sách sử dụng cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm tỷ lệ cao ở các công trình thủy lợi. Chi phí nhiều ngàn tỉ của các công trình thủy lợi là do ngân sách trung ương hoặc địa phương thực hiện, tập trung cho các công trình xây dựng và chi phí duy tu, bảo dưỡng và vận hành, nhưng chưa bao giờ được hạch toán vào bài toán kinh tế được – mất. Cái được là tăng sản lượng, vụ lúa, nhưng chi phí các công trình này là “miễn phí-trên trời rơi xuống” không hề được đưa vào giá thành sản xuất. Ngoài ra những tổn thất về tài nguyên và môi trường to lớn khủng khiếp cũng chưa được tính vào chi phí.

Nói cách khác, nếu nhìn tổng thể trên bình diện nền kinh tế quốc gia, nếu càng tiếp tục cách như hiện nay, càng làm quốc gia càng nghèo thêm.

Mặt được của các công trình thủy lợi ngăn mặn, ngăn lũ là góp phần tăng vụ, chủ yếu là lúa, làm tăng thu nhập của người dân từ 1 lên 2 vụ, hoặc từ 2 lên 3 vụ. Tuy nhiên,với một nơi vốn sẵn giàu tài nguyên thiên nhiên như ĐBSCL chỉ cách đây vài thập niên, sự hủy hoại nguồn thủy sản và nguồn nước sông ngòi để đánh đổi sản lượng lúa chất lượng thấp để xuất khẩu hơn 50% là điều đáng tiếc.

Hiệu suất và hiệu quả sử dụng của các công trình hạn chế, ít hơn dự kiến trong thiết kế bởi vì thời gian và tần suất vận hành ít. Nhiều công trình cống chưa một lần vận hành từ ngày xây dựng đến nay. Điều này gây thất thoát và lãng phí lớn vì các công trình này chi phí đầu tư rất cao so với các giải pháp phi công trình.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung, lúa là quan trọng nhưng ĐBSCL không nhất thiết phải làm lúa và không chỉ có cây lúa, khi có nước lợ vào sẽ có sự đa dạng sinh học khác nhau hoàn toàn, thuận theo tự nhiên hơn khi mình ngăn chặn, bài học cống đê bao ngăn lũ (có nhiều tác động đến sản xuất nông nghiệp), cần xem xét học tập bài học từ dự án chống lũ, hay là chuyển sang cách làm khác, không tác động đến tự nhiên, đảm bảo cho nông dân sản xuất thực tế khách quan, người dân an toàn sinh sống.

https://www.thesaigontimes.vn/279478/nhin-lai-cac-cong-trinh-ngan-man-hien-co-o-dbscl.html