Phản đối cáp treo vào hang Én bởi đây là cửa ngõ Sơn Đoòng

TTO – Giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương, chủ tịch Hội Cổ sinh – địa tầng Việt Nam, một lần nữa khẳng định quan điểm không nên xây cáp treo vào hang Én, động Sơn Đoòng cũng như vùng lõi di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng.

Hang Én nằm trên cửa ngõ vào động Sơn Đoòng, cách cửa Sơn Đoòng khoảng 3,5km – Ảnh: T.THẮNG

Ông Phương nhắc lại quan điểm đã thể hiện trong văn bản đề nghị dừng dự án cáp treo vào vùng lõi Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, gửi đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tháng 9-2017, rằng làm cáp treo vào hang Én thực chất không khác gì làm cáp treo vào Sơn Đoòng.

Đã có nhiều người vào hang Én thì chắc chắn sẽ tràn vào Sơn Đoòng gây ảnh hưởng môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và nhiều thứ khác. Tôi nhắc lại quan điểm phản đối làm cáp treo vào hang Én bởi đây là cửa ngõ Sơn Đoòng

Giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương

Cáp treo vào Sơn Đoòng: “Cần hủy bỏ vĩnh viễn”

Ủy ban Di sản thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, khoa học và giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) tháng 7-2017 đã tổ chức phiên họp tại Krakow, Ba Lan, bàn về việc bảo vệ các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, và hang Sơn Đoòng được đề cập tới trong khoảng hai trang thuộc biên bản hội nghị này.

Trong phần các phân tích và kết luận của Trung tâm Di sản thế giới và Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN), dù ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam, ủy ban chuyên trách của UNESCO vẫn nhận thấy những vấn đề theo họ có độ “chênh” giữa báo cáo và thực tiễn.

Cụ thể, các phân tích và kết luận cho rằng Chính phủ Việt Nam khẳng định dự án đề xuất xây tuyến cáp treo vào hang Sơn Đoòng nằm trong khu vực được đặc biệt bảo vệ của di sản sẽ chỉ được thực hiện khi có sự thông qua và đồng thuận của Ủy ban Di sản thế giới.

Thế nhưng biên bản hội nghị nêu: “Tuy nhiên trên thực tế Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã cho phép tiến hành các cuộc thăm dò và nghiên cứu tại khu vực này, điều đó cho thấy dự án vẫn đang được cân nhắc”.

Theo bản đánh giá, chính quyền sở tại cần phải lưu tâm tới việc một hệ thống cáp treo (nếu có) sẽ đẩy nhanh tốc độ khám phá di sản, dẫn đến việc tăng lượng du khách và tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực với môi trường rất dễ tổn thương của hang Sơn Đoòng, từ đó làm tăng thêm áp lực từ các hoạt động phi pháp như săn bắt thú rừng và khai thác gỗ trái phép.

Bản đánh giá còn cho rằng: “Hoạt động du lịch và dã ngoại ở hang Sơn Đoòng đang tạo nhiều công ăn việc làm cho các cộng đồng dân cư địa phương, cơ hội này sẽ giảm nếu nhu cầu về người hướng dẫn và người mang vác đồ bị xóa bỏ”.

Vì lẽ đó, Trung tâm Di sản thế giới và IUCN khuyến nghị Ủy ban Di sản thế giới cần nhắc lại những nguy cơ liên đới tới dự án cáp treo này và những tác động tiềm ẩn của nó với di sản có giá trị nổi bật toàn cầu (là hang Sơn Đoòng), đồng thời yêu cầu Chính phủ Việt Nam cần hủy bỏ vĩnh viễn các kế hoạch phát triển dự án cáp treo vào hang Sơn Đoòng.

Không dùng cáp treo khám phá hang động

Nhắc lại quan điểm đã nêu trong kiến nghị trước đó, giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương nhấn mạnh: “Hang Én nằm trên cửa ngõ vào động Sơn Đoòng, chỉ cách cửa Sơn Đoòng khoảng 3,5km. Hang Én là nơi cư trú của hàng vạn con chim én, một điểm hội tụ đặc sắc nhất của loài chim này ở nước ta.

Khai thác du lịch bằng cáp treo hiện khá phổ biến trên thế giới và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng thực tế người ta không dùng cáp treo để khám phá hang động, đặc biệt với những hang động lớn và đẹp lộng lẫy như Sơn Đoòng, hang Én, bởi việc đó tiềm ẩn nguy cơ phá hoại hệ sinh thái rất dễ bị tổn thương và các thành tạo hang động tinh tế”.

Ông cũng cho rằng hình thức khai thác du lịch mạo hiểm, khám phá hang Én và động Sơn Đoòng như hiện nay là phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế và ít tác hại nhất đến toàn hệ thống hang động này. Đây là tour du lịch đẳng cấp cao của thế giới và duy nhất ở Việt Nam hiện nay.

“Khuyến nghị của UNESCO rất chính xác, cho thấy tổ chức này theo dõi rất chặt chẽ và nắm bắt kịp thời thông tin dư luận Việt Nam.

Đó cũng là cách để mọi người thấy rõ hơn rằng bất kỳ ý định làm cáp treo vào hang Én, Sơn Đoòng của bất kỳ đơn vị nào cũng sẽ bị phản đối” giáo sư, tiến sĩ Tạ Hòa Phương quyết liệt.

Kiến trúc sư Phạm Thanh Tùng – chánh văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam – cũng cho biết ông ủng hộ quan điểm chung của UNESCO.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Viết Cường – trưởng phòng quản lý di tích Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch), khi UNESCO đưa khuyến nghị cần hủy bỏ vĩnh viễn các kế hoạch phát triển dự án cáp treo vào động Sơn Đoòng vào văn bản dự thảo.

Phía Việt Nam và một số nước thành viên đã khẳng định Việt Nam không có ý định làm cáp treo tiếp cận vào động Sơn Đoòng nữa. Vì vậy phiên họp đã thống nhất không đưa khuyến nghị đó vào kết luận cuối cùng.

Hiện chúng tôi chưa nhận được hồ sơ cụ thể về phương án làm cáp treo vào hang Én. Từ giai đoạn khảo sát đến lập phương án phải được Bộ Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch và UNESCO có ý kiến thông qua mới được thực hiện. Nếu làm cáp treo mà ảnh hưởng đến giá trị nổi bật toàn cầu của di sản đã được UNESCO công nhận thì chúng tôi không thống nhất làm.

Ông Nguyễn Viết Cường – trưởng phòng quản lý di tích Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch)

“Sơn Đoòng không phù hợp với du lịch đại trà”

Dư luận gần đây lại xôn xao khi Tập đoàn FLC phủ nhận những thông tin cho rằng tập đoàn này khảo sát làm cáp treo vào hang Sơn Đoòng.

Ông Lê Thanh Tịnh, giám đốc ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, cũng khẳng định Sơn Đoòng không phù hợp với kiểu làm du lịch đại trà, nên không có chuyện làm cáp treo vào đó.

Ông Tịnh cho biết FLC thực hiện việc khảo sát làm cáp treo vào hang Én đã diễn ra cuối năm 2016.

Đến đầu năm 2017, đoàn khảo sát này đã báo cáo phương án xây dựng cáp treo vào hang Én với tỉnh Quảng Bình.

Tuyến cáp treo này dài khoảng 5,1km từ km37 đường Hồ Chí Minh nhánh đông vào đến hang Én.

Tháng 8-2017, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào làm việc với tỉnh Quảng Bình đã đồng ý về chủ trương làm cáp treo vào hang Én với điều kiện không làm ảnh hưởng đến di sản và có tham khảo ý kiến của UNESCO.

Nguồn: https://tuoitre.vn/phan-doi-cap-treo-vao-hang-en-boi-day-la-cua-ngo-son-doong-20180201084948622.htm

Advertisements

UNESCO đề nghị huỷ bỏ vĩnh viễn dự án cáp treo vào Sơn Đoòng

Tháng 7/2017, Trung tâm Di sản Thế giới và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã tái khẳng định mối quan tâm về đề xuất xây dựng cáp treo vào hang động Sơn Đoòng trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và những tác động tiềm tàng của dự án đến tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, kêu gọi hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch xây dựng cáp treo.

(ảnh: John Spies)

UNESCO khẳng định cáp treo sẽ gây tác động tiêu cực đến Sơn Đoòng

Trong Báo cáo thẩm định và bảo tồn 99 di sản thế giới tại các quốc gia thành viên vào tháng 7/2017, trong đó có hang Sơn Đoòng thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng tại Việt Nam, Ủy ban Di sản Thế giới cho biết có một số yếu tố tác động tiêu cực đến di sản như các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, các hành vi xâm phạm rừng và hoạt động khai thác gỗ trái phép, sự giảm sút và biến mất của một số động thực vật…

Bên cạnh đó, chính quyền địa phương và trung ương đều thiếu các kế hoạch quản lý khách du lịch. Kế hoạch Phát triển Du lịch Bền vững đưa ra không đầy đủ, thiếu những cảnh báo về tác động của khách du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí, trong đó có dự án làm cáp treo vào hang động Sơn Đoòng.

Báo cáo cũng lưu ý rằng, việc làm cáp treo đồng nghĩa với khả năng số lượng khách tham quan vào hang tăng mạnh. Điều đó đi kèm các tác động tiêu cực tiềm ẩn đối với môi trường nhạy cảm của hang động. Các hoạt động bất hợp pháp khác cũng có khả năng gia tăng.

Vì vậy, Trung tâm Di sản Thế giới và IUCN đề nghị Ủy ban Di Sản Thế giới khẳng định lại mối quan tâm của mình đối với dự án này và các tác động tiềm tàng lên tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, đồng thời yêu cầu Việt Nam hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch phát triển cáp treo.

Đồng thời, UNESCO còn yêu cầu Việt Nam nộp bản báo cáo cập nhật về tình trạng bảo tồn di sản cho Trung tâm Di sản Thế giới vào tháng 12/2018 để Uỷ ban Di sản Thế giới kiểm tra vào năm 2019.

Thực hư chuyện xây cáp treo vào Sơn Đoòng?

Những ngày gần đây, dư luận đang đặc biệt quan tâm về dự án xây cáp treo vào hang Sơn Đoòng do tập đoàn FLC khởi xướng. Đã có một số thông tin lan truyền trên mạng về việc FLC và chính quyền tỉnh Quảng Bình đang âm thầm triển khai dự án cáp treo tới gần hang Sơn Đoòng.

Tuy vậy, ngày 26/1/2018, ông Lê Thanh Tịnh, giám đốc ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết thực chất của thông tin này là việc tập đoàn FLC thực hiện việc khảo sát làm cáp treo vào hang Én, nhưng thời điểm diễn ra vào cuối năm 2016. Hơn nữa, chủ trương làm cáp treo vào hang Én cũng đã được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý vào tháng 8/2017.

Hang Én được coi là “cửa ngõ” đến hang Sơn Đoòng, từ Hang Én đến hang Sơn Đoòng cách khoảng hơn 3km và chỉ có thể tiếp cận bằng cách lội suối và đi bộ (trekking).

Hang Én (Ảnh: Flickr)

Trong báo cáo của Việt Nam gửi cho UNESCO đầu năm 2017 liên quan đến bảo tồn và phát triển quần thể di sản này, Việt Nam cũng đã khẳng định: “Chưa cấp phép cho dự án cáp treo vào hang động Sơn Đoòng, trong khi chờ đợi Đánh giá Tác động Môi trường”, và “dự án xây dựng cáp treo sẽ chỉ được tiến hành nếu có sự tán thành của Uỷ ban Di sản Thế giới.”

Như vậy, có thể thấy hiện nay chưa có chủ trương làm cáp treo vào hang Sơn Đoòng mà chỉ có tới hang Én, kèm điều kiện “không làm ảnh hưởng đến di sản và có tham khảo ý kiến của UNESCO.” Tuy nhiên, với khoảng cách rất gần giữa hai hang, đồng thời hang Én cũng nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, nếu việc triển khai xây cáp treo dài 5,1km vào hang Én được chính thức phê duyệt, thì ảnh hưởng của nó tới sinh thái của Vườn Quốc gia nói chung và hang Sơn Đoòng nói riêng sẽ không nhỏ chút nào.

Trước khuyến nghị của UNESCO, liệu các cơ quan chức năng của Việt nam và lãnh đạo tỉnh Quảng Bình có nghiêm túc thực hiện theo để bảo tồn một quần thể di sản thiên nhiên vào loại kỳ vĩ nhất của thế giới hay không sẽ được đông đảo dư luận quan tâm và chờ câu trả lời.

Hiện tại ở Việt Nam, đang có nhiều cá nhân và tổ chức lên tiếng bảo vệ hang Sơn Đoòng bằng nhiều cách thức với mong muốn lan toả ý thức bảo vệ và giữ gìn một di sản thiên nhiên đặc biệt của Việt Nam, trong đó nổi bật là dự án #SaveSonDoong (Cứu Sơn Đoòng) của nhiều bạn trẻ.

Thanh Thuỷ (t/h)

Nguồn: http://trithucvn.net/chinh-tri-xa-hoi/de-nghi-huy-bo-vinh-vien-du-cap-treo-vao-son-doong-cua-unesco-va-cac-buoc-tiep-theo-cua-vn.html

Xem clip Hãy bảo vệ Sơn Đoòng tại https://www.youtube.com/watch?time_continue=653&v=oyYkYGG7V1A

 

 

 

ĐỊA DU LỊCH AN GIANG – TIỀM NĂNG CẦN ĐƯỢC KHAI THÁC

Hà Quang Hải*, Lê Nguyên Cẩn**

*Trường Đại học khoa học Tự nhiên, Đại học QG. TP.HCM

**Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang

Bài báo này được trích từ chuyên đề “Tiềm năng Địa du lịch Tỉnh An Giang” thuộc nhóm các “Báo cáo chuyên đề và đề xuất các định hướng nghiên cứu” do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang chủ trì.

Các tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Anh Giang đã tạo nhiều điều kiện cho việc thực hiện chuyên đề này.

Cán bộ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc đã hỗ trợ trong công tác thực địa.

Lãnh đạo và các cán bộ Ban quản lý di tích văn hóa Óc Eo đã cung cấp tài liệu và hướng dẫn thăm quan một số di tích tại Óc Eo.

1.Giới thiệu

An Giang là tỉnh có tài nguyên địa chất, địa mạo đa dạng bao gồm nhiều loại đất, đá;  núi, đồi; đồng bằng, đầm lầy; sông, kênh và hồ nước. An Giang là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Kinh – Chăm – Hoa – Khmer với một nền văn hóa độc đáo, đa sắc màu. Sự đa sắc màu văn hóa hình thành và phát triển trên nền địa chất, địa mạo đa dạng đã tạo cho An Giang một tiềm năng lớn về du lịch.

Những điểm thu hút du khách tại An Giang bao gồm: Miếu Bà Chúa xứ Núi Sam, đỉnh Núi Cấm (huyện Tịnh Biên); tham quan dâng hương tại Nhà mồ Ba Chúc, Đồi Tức Dụp (Tri Tôn). Khách đến An Giang chủ yếu là khách hành hương kết hợp tham quan du lịch [3], có thể nói du lịch tâm linh là loại hình du lịch ưu thế trong thời gian qua.

Những điểm du lịch tâm linh cũng như các danh thắng khác tại An Giang được dựa vào núi, đồi, đầm lầy, cồn bãi… như Núi Cấm, Núi Sam, Núi Két, rừng tràm Trà sư…tức là dựa vào yếu tố địa chất và địa mạo; nói cách khác tài nguyên thiên nhiên là nền tảng cho tài nguyên văn hóa (tôn giáo, lịch sử, thẩm mỹ, nghệ thuật…). Những nghiên cứu mới hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, giá trị văn hóa được xem là các giá trị bổ sung của các di sản tự nhiên (địa chất, địa mạo).

Như vậy có thể thấy du lịch hiện nay ở An Giang mới chỉ khai thác một phần của giá trị tự nhiên. Để khai thác toàn diện hơn giá trị nguồn tài nguyên này, phát triển địa du lịch đang là hướng đi mới.

2.Sơ lược về Địa Du lịch

Phần này trình bày định nghĩa, tính chất và đặc điểm cơ bản về địa du lịch dựa vào các công bố của Ross K. Dowling [5, 6].

2.1 Định nghĩa

Địa du lịch là một hình thức du lịch tự nhiên tập trung vào các cảnh quan địa chất. Nó thúc đẩy du lịch tại các di sản địa chất (Geosites) và bảo tồn đa dạng địa học (Geodiversity) cũng như sự hiểu biết về khoa học Trái đất thông qua bảo tồn và học tập. Điều này đạt được thông qua việc tham quan các đặc điểm địa chất theo các đường mòn địa chất (geotrails) các điểm nhìn (view points), hướng dẫn du lịch, các hoạt động địa chất và bảo trợ của trung tâm du khách tại các geosite”.

2.2 Tính chất địa du lịch

Nhìn chung, địa du lịch cung cấp nhiều sản phẩm như: các đặc điểm địa chất, địa mạo, cơ sở hạ tầng, quá trình giải thích (diễn giải), lập kế hoạch, và quản lý bởi vì địa du lịch không chỉ là hiện tượng địa chất; nó còn bao gồm các cơ sở và dịch vụ du lịch, quản lý du lịch, các điểm hấp dẫn địa chất, giải thích sinh động và hiệu quả, lập kế hoạch linh hoạt và các hoạt động thú vị. Mặt khác, địa du lịch phản ánh nét đặc trưng và các quá trình xảy ra tại một geosite (Hình 1).

Hình 1. Nhận thức về tính chất và phạm vi của địa du lịch [6]. Tài nguyên thiên nhiên – đó là các Dạng (FORM) thành tạo địa chất, địa mạo bao gồm: cảnh quan, các dạng địa hình, các điểm lộ đá, các loại đá, các loại trầm tích, kiểu đất và các khoáng vật, chúng là sản phẩm của các Quá trình (PROCESS) địa chất, địa mạo. Phần ‘du lịch’ trong địa du lịch là hoạt động tham quan, học tập và thưởng thức di sản địa chất (geosite). Nhìn chung, địa du lịch là sự kết hợp các yếu tố địa chất của ‘Dạng’ và ‘Quá trình’ với các thành phần của Du lịch như sự hấp dẫn, chỗ ở, chuyến thăm quan, hoạt động, diễn giải cũng như quy hoạch và quản lý.

2.3 Địa du lịch – loại hình du lịch bền vững

Địa du lịch là loại hình du lịch đặc biệt tập trung vào các giá trị địa chất và cảnh quan. Các du khách có thể thăm quan các khu vực tự nhiên hoặc các khu đô thị/xây dựng hoặc bất cứ nơi nào có sự thu hút đặc điểm địa chất. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa địa du lịch và các loại hình du lịch tự nhiên khác vì theo định nghĩa du lịch tự nhiên chỉ diễn ra ở các vùng tự nhiên.

Ngoài trọng tâm là trải nghiệm các đặc điểm địa chất của trái đất, bảo tồn địa di sản; địa du lịch giúp tăng cường sự hiểu biết môi trường và xã hội cũng như mang lại lợi ích cho địa phương, giúp xây dựng cộng đồng. Như vậy địa du lịch chính là loại hình du lịch bền vững, có thể xem địa du lịch là hình thức du lịch thân thiện với môi trường.

3.Tiềm năng địa du lịch An Giang

3.1 Địa tầng, magma

Trên diện tích tỉnh An Giang có sự hiện diện 11 phân vị địa tầng và phức hệ magma xâm nhập. Đá cổ nhất thuộc hệ tầng Tà Pạ tuổi Trias thượng – Jura hạ (T3 – J1tp), trẻ nhất là các trầm tích hiện đại tuổi Holocen muộn có nguồn gốc sông, sông đầm lầy, đầm lầy.

Hệ tầng Tà Pạ và hệ tầng Xa Lon (J3xl) là hai hệ tầng được thiết lập từ những quan hệ địa chất tại hai địa danh Tà Pạ và Xa Lôn thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang [1].

Magma xâm nhập vùng Bảy Núi gồm: Phức hệ Định Quán tuổi Kreta sớm pha 1: Diorit aphibol biotit (Di/K1dq1) và pha 2: Granodiorit biotit (GDi/K1dq2). Phức hệ Đèo Cả tuổi Kreta gồm pha 2: Granit – granosyenit (G/Kđc2), pha 3: Granit granosyenit (G/Kđc3) và pha đá mạch: aplit (a/Kđc). Phức hệ Ankroet tuổi Kreta muộn chủ yếu là đá granite (G/K2ak). Phức hệ Cù Mông tuổi Paleogen chủ yếu là đá mạch gabrodiaba porphyr, andesit porphyr (Gby/Ecm).

Đá magma phun trào có sự hiện diện hệ tầng Nha Trang tuổi Kreta (Knt), đá thuộc tướng á núi lửa, thành phần chủ yếu là ryolit porphy.

Hoạt động khai thác đá đã làm mất đi địa hình nguyên thủy tại Tà Pạ và Xa Lôn cũng như một số vị trí khác, các vết lộ tự nhiên quan sát trước đây có thể không còn, nhưng lại có thể bộc lộ những điểm quan hệ địa chất mới?. Điều tra bổ sung để có giải pháp bảo tồn các điểm lộ phục vụ cho nghiên cứu và khoa học là việc làm cần thiết.

3.2 Địa hình – Địa mạo

An Giang nổi bật với địa hình núi, đồi sót và đồng bằng ngập lụt.

Núi, đồi với Thất Sơn hùng vĩ – một địa danh nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ. Vùng Thất Sơn thuộc huyện Tịnh Biên và Tri Tôn gồm bốn cụm khối núi (Phú Cường, Cấm, Dài, Tô) xếp dài theo hướng bắc nam khoảng 34 km, chiều ngang theo hướng đông tây khoảng 18 km, cao nhất là núi Cấm 705 m. Những huyện khác như An Phú, Châu Đốc và Thoại Sơn cũng có rải rác các núi thấp như núi Nổi, cụm núi Ba Thê, cụm núi Sập.

Địa hình đồng bằng thấp có độ cao phổ biến 1,0 – 2,0 m chiếm phần lớn diện tích tỉnh An Giang. Đây là đồng bằng ngập lụt do sông Tiền và sông Hậu bồi đắp, các dạng địa hình cơ bản bao gồm: Đê ven sông Tiền, sông Hậu, vùng trũng giữa sông Tiền và sông Hậu, Đồng bằng sau đê ven sông, Đồng bằng ven chân núi, các cù lao cổ và trẻ.

3.3 Thủy văn

Sông Tiền, sông Hậu là hai sông lớn đã hình thành nên địa hình dòng chảy đa dạng. Hàng năm, hai sông này mang một lượng phù sa lớn bồi đắp cho đồng bằng Tây Nam Bộ. Một hệ thống sông, rạch tự nhiên và kênh đào dày đặc trên đồng bằng tạo nên một mạng dòng chảy đa dạng.

Sự đa dạng dòng chảy An Giang là nhân tố quyết định hình thành các dạng địa hình vùng đồng bằng ngập lụt và mùa nước nổi An Giang bao phủ đồng bằng hay ven vùng núi là kiểu môi trường địa chất duy nhất của Việt Nam. Đặc điểm này nên được xem là lợi thế trong phát triển địa du lịch, một hiện tượng địa chất đặc thù của Việt Nam.

3.4 Khí hậu

Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, khoảng 26 – 28oC. Mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) nắng chói chang, mỗi ngày có tới 10 giờ nắng. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11). Lượng mưa năm trong khoảng 1.400 – 1500 mm, lượng mưa trong các tháng khá điều hòa. Trong mùa mưa, có tới 7 giờ nắng mỗi ngày [2].

Khí hậu điều hòa chính là nguồn tài nguyên thiết yếu ảnh hưởng tích cực đến phát triển du lịch. An Giang có thời tiết thích hợp cho việc phát triển loại hình địa du lịch, du lịch chữa bệnh và nghỉ dưỡng. 

3.5 Các geosite – điểm du lịch tiềm năng ở An Giang

1) Geosite Núi Sam

Geosite Núi Sam thuộc cảnh quan núi sót cao 228 m, đỉnh nhọn, cấu tạo bởi đá granit phức hệ Ankroet. Trên bình đồ Núi Sam có dạng gần như đẳng thước, chiều bắc nam 2,0 km, chiều đông tây 1,8 km. Liên quan đến tên Núi Sam có hai truyền thuyết: 1) trên bình đồ, núi có dáng dấp như con sam và 2) thời xưa ở đây nước dâng rất cao, xung quanh núi có nhiều con sam đeo.

Là núi sót nhô cao trên đồng bằng nên Núi Sam cũng là điểm nhìn ấn tượng để chiêm ngưỡng cảnh quan như: cánh đồng Châu Phú mênh mông bao quanh núi đổi màu theo thời vụ, màu xanh của mạ, màu vàng của lúa chín; các kênh đào thẳng tắp, nhất là kênh Vĩnh Tế phía tây bắc (Hình 2); thành phố Châu Đốc phía đông bắc; vào những ngày quang mây, từ chùa Hang có thể nhìn thấy tượng phật Di Lặc trên đỉnh Núi Cấm phía tây nam.

Hình 2. Cảnh quan phía tây Chùa Hang.         Hình 3. Lăng Thoại Ngọc Hầu (Sơn Lăng)

Núi Sam nổi tiếng là điểm du lịch tâm linh và lịch sử với những di tích thu hút một lượng lớn du khách hàng năm như: Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Tây An, Chùa Hang, Lăng Thoại Ngọc Hầu (Hình 3). Đó là những di tích gắn với nhiều huyền thoại và truyền thuyết từ thời khai khẩn, mở mang bờ cõi.

Tâm linh và lịch sử là những giá trị bổ sung nổi bật của geosite Núi Sam, trong khi đó giá trị khoa học địa chất, địa mạo của geosite này chưa được minh giải một cách tường tận. Nghiên cứu chi tiết cấu tạo địa chất, các dạng vi địa hình bổ sung tư liệu cho Núi Sam sẽ làm cho cụm điểm di tích này giá trị hơn nữa.

2) Geosite Bảy Núi

Geosite Bảy Núi thuộc kiểu Cảnh quan đồi, núi sót. Geosite này gồm bốn cụm (Hình 4) cấu tạo chủ yếu bởi đá magma, từ bắc xuống nam gồm: Phú Cường, Cấm, Dài và Tô. Các núi nhô cao nổi bật trên bề mặt đồng bằng, đỉnh cao nhất của cụm núi Cấm là 705 m, có thể xem là nóc nhà của Tây Nam Bộ.

Cảnh quan Bảy Núi là đối tượng thích hợp cho nghiên cứu, học tập địa mạo vùng núi cho học sinh, sinh viên các trường từ phổ thông đến đại học ở Tây Nam Bộ, nơi mà địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích. Sơ bộ nhận thấy có mối quan hệ về mặt hình thái với nguồn gốc và thành phần thạch học như các khối núi cao, đỉnh nhọn, sườn dốc được cấu tạo bởi magma xâm nhập (thuộc phức hệ Định Quán, Đèo Cả) và magma phun trào (thuộc hệ tầng Nha Trang); các núi cấu tạo bởi các đá cát kết, bột kết thuộc hệ tầng Tà Pạ tạo nên kiểu địa hình cuesta.

Bao bọc xung quanh geosite Bảy Núi là đồng bằng, đầm lầy và kênh rạch, trong đó có những điểm đến hấp dẫn có giá trị sinh thái hay lịch sử như rừng tràm Trà Sư, kênh Vĩnh Tế…

Hình 4. Địa hình khu vực Bảy Núi

Geosite Bảy Núi rất khả thi trong việc xây dựng các tuyến địa du lịch như: đường mòn địa chất (geotraile), đi bộ thám hiểm đường dài (trecking), địa du lịch thể thao-mạo hiểm kết hợp giữa tìm hiểu giá trị khoa học trái đất và các giá trị bổ sung kèm theo (lịch sử, tâm linh, địa sử…).

3) Geosite Tà Pạ

Geosite Tà Pạ thuộc kiểu địa tầng. Tại đây lộ các đá bột kết, cát kết, đá phiến, cát kết chứa cuội (Hình 5). Ranh giới dưới chưa quan sát được, ranh giới trên trên bị xâm nhập phức hệ Định Quán (Hình 6) xuyên cắt và bị cuội kết cơ sở của hệ tầng Xa Lôn phủ lên [1]. Dựa vào mặt cắt này các tác giả thiết lập hệ tầng Tà Pạ có tuổi Trias muộn – Jura sớm (T3-J1tp).

Hình 5 (trái). Bột kết màu tím xen trong cát kết hệ tầng Tà Pạ. Hình 6 (phải). Đá xâm nhập phức hệ Định Quán xuyên cắt các đá hệ tầng Tà Pạ. Ảnh Trương Công Đượng

Đồi Tà Pạ hiện nay là khu mỏ đá bỏ hoang. Moong khai thác đá nay là hồ nước (Hình 7), những tháp đá (Hình 8) đã hình thành kiểu địa hình mới lạ thu hút một số du khách thăm quan.

Đồi Tà Pạ sẽ là điểm đến hấp dẫn của huyện Tri Tôn nếu qui hoạch khu mỏ đá bỏ hoang này cùng với chùa Tà Pạ (chùa Chơn Num)… thành điểm du lịch.

Hình 7 (trái). Một phần moong khai thác đá Tà Pạ nay là hồ nước trong xanh. 
Hình 8 (phải). Tháp đá để lộ các tầng bột kết, cát sạn kết cắm về tây bắc với góc dốc 15o.

4) Geosite Xa Lôn

Geosite Xa Lôn thuộc kiểu địa tầng. Tại đây lộ mặt cắt cuội kết, tuf tảng và phun trào andesit được nghiên cứu chi tiết. Một lỗ khoan sâu 200 m được thực hiện để nghiên cứu bổ sung cho mặt cắt này. Dựa vào tài liệu địa chất mặt cắt và lỗ khoan các tác giả đã thiết lập hệ tầng Xa Lôn tuổi Jura muộn (J3xl).

Hình 9. Cuội kết cơ sở hệ tầng Xa Lôn phủ trên cát kết chứa cuội, bột kết hệ tầng Tà Pạ. Ảnh Trương Công Đượng

Theo mô tả [1] đây là mặt cắt khá đẹp về hệ tầng Xa Lôn. Tại mặt cắt này, ranh giới dưới của hệ tầng phủ trên cát kết chứa cuội, bột kết màu tím của hệ tầng Tà Pạ (Hình 9) và ranh giới trên bị phun trào ryolit porphyr của hệ tầng Nha Trang (K2nt) phủ lên.

5) Geosite Óc Eo – Ba Thê

Geosite Óc Eo – Ba Thê thuộc kiểu cảnh quan địa mạo núi sót bao gồm cụm núi Ba Thê (Ba Thê, Nhỏ, Tượng, Trọi, Chóc) và vùng đồng bằng bao quanh, nơi có di tích văn hóa Óc Eo.

Hình 10 (trái). Cảnh quan địa mạo núi sót Óc Eo – Ba Thê. Hình 11 (phải). Từ trên đỉnh núi Ba Thê có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Ba Thê và đồng bằng bao quanh

Hai giá trị khoa học địa chất nổi bật của geosite này gồm:

– Núi Ba Thê (Hình 10) nhô cao trên đồng bằng bằng phẳng. Đỉnh núi Ba Thê – một điểm nhìn lý tưởng. Từ đây có thể chiêm ngưỡng những ruộng lúa bằng phẳng được phân chia bởi những dòng kênh thẳng tắp cắt nhau như ô bàn cờ (Hình 11). Vào mùa nước nổi, Ba Thê trở thành hòn đảo trên những cánh đồng khi đã ngập nước mênh mông.

– Các lòng sông cổ để lại dấu vết trên bề mặt đồng bằng lân cận di tích Óc Eo, trong đó Kênh 4 là kênh dài nhất (80 km) gần như một đường thẳng từ Angkor Borei đến Óc Eo.

Kênh 4 là một trong bốn kênh rạch dẫn từ trung tâm nông nghiệp Funan của Angkor Borei lần đầu tiên được vẽ bởi nhiếp ảnh gia hàng không Pierre Paris vào những năm 1930. Các cuộc khai quật tiếp theo của Louis Malleret trong những năm 1940, cuộc khảo sát do Janice Stargardt dẫn đầu trong những năm 1970 và bản đồ không ảnh của Finnmap Oy trong những năm 1992-1993 đã bổ sung thêm thông tin[4].

Nếu được nghiên cứu khôi phục vị trí và hình dạng, các lòng sông cổ, cửa biển cổ sẽ góp phần làm sáng tỏ bối cảnh của vương quốc Phù Nam vào giai đoạn hưng thịnh cũng như giúp luận giải sự suy tàn của vương quốc này ?.

Hai giá trị bổ sung cho geosite Óc Eo – Ba Thê gồm:

– Khảo cổ: khu di tích văn hóa Óc Eo – dấu vết của vương quốc Phù Nam xưa, vốn là một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á cách nay khoảng 2000 năm. Di chỉ văn hóa Óc Eo có trung tâm là khu vực núi Ba Thê (thị trấn Óc Eo) và các xã Vọng Thê, Vọng Đông, huyện Thoại Sơn.

– Tâm linh: Trên đỉnh núi Ba Thê có ngôi chùa cổ Sơn Tiên Tự được dựng vào năm 1933. Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát cao chừng 8 m (Hình 12). Cạnh chùa có một khối đá granit mà trên đó có dấu lõm dạng bàn chân được nhà chùa ghi là “bàn chân tiên” – một điểm nhấn gắn với câu truyện thần thoại đặc biệt thu hút du khách.

Hình 12. Tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát trên đỉnh núi Ba Thê

Ở chân núi Ba Thê có Chùa Linh Sơn còn được gọi là chùa Phật bốn tay xây dựng năm 1913. Năm 2012 chùa được xếp vào loại hình kiến trúc tiêu biểu trong quần thể Di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo – Ba Thê. Chùa Linh Sơn là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng của tỉnh An Giang.

Geosite Óc Eo – Ba Thê có thể trở thành điểm đến Địa du lịch – Lịch sử – Khảo cổ – Tâm linh nếu được nghiên cứu, phục dựng mô hình cổ địa lý giai đoạn phát triển vương quốc Phù Nam bổ sung cho giá trị khoa học địa chất, địa mạo và giá trị khảo cổ hiện có.

6) Geosite sông Tiền

Sông Tiền từ biên giới với Campuchia đến đuôi cù lao Giêng dài khoảng 80 km thuộc kiểu sông bện tết với hệ thống cù lao cổ gần như nối tiếp nhau bao gồm cù lao Long Khánh, cù lao Long Thuận và cù Lao Tây (thuộc tỉnh Đồng Tháp).

Các cù lao trẻ (cồn) hình thành và phát triển giữa sông Tiền (đoạn sông phía bắc Tân Châu) chính là hình ảnh quá khứ của các cù lao cổ nói trên. Có thể lấy cồn Chính Sách làm ví dụ:

– Ảnh vệ tinh năm 1985 (Hình 13) cho thấy lòng sông Tiền (phía đông xã Vĩnh Hòa) chỉ có hai cù lao nhỏ;

– Ảnh vệ tinh năm 2015 cù lao này đã phát triển thành cồn Chính Sách, mở rộng tới 1,2 km; dài tới 7,2 km (Hình 14).

Hình 13 Trên ảnh vệ tinh năm 1985, các cồn giữa lòng sông Tiền nhỏ, phân bố rải rác.Nguồn Google Earth nh năm 1985). Nguồn Google Earth
Hình 14. Trên ảnh vệ tinh năm 2015, hai cồn nhỏ phía đông xã Vĩnh Hòa phát triển thành cồn Chính Sách rất rộng.Nguồn Google Earth

Sự hình thành cồn Chính Sách là ví dụ sinh động về hiện tượng “Đảo trôi” – bài học giáo khoa trong khoa học địa mạo. Đảo trôi bồi tụ mở rộng diện tích sẽ dẫn đến hiện tượng xói lở hai bờ sông (Hình 15). Hiện tượng xói lở nhiều năm thấy rất rõ dọc bờ sông Tiền thuộc Tân Châu và Hồng Ngự. Đảo trôi là hiện tượng cù lao hình thành giữa dòng sông mà luôn bị xói lở đầu cù lao (Hình 16) và bồi tụ phần đuôi cù lao.

Có một thực tế rằng, trong nhiều năm qua, nhiều công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào hiện tượng xói lở bờ sông mà quên mất hiện tượng bồi tụ. Kết quả là các phương tiện thông tin đại chúng chỉ nói đến xói lở gây mất đất, mất nhà, mất người…mà hầu như không nói gì đến các cù lao hình thành do bồi tụ?

Hình 15 (trái). Bồi tụ cồn Chích Sách đẩy dòng chảy về phía tây gây xói lở bờ sông tại ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Hòa, Tân Châu. Ảnh Trương Ngọc Bích
Hình 16 (phải). Đầu cồn Chích Sách đang bị xói lở – hiện tượng đảo trôi thường được giới thiệu trong giáo trình địa mạo đại cương. Ảnh Trương Ngọc Bích

Có thể xem các cù lao trẻ giữa dòng là mô hình thực tế minh họa cho kiểu geosite chủ động. Đưa mô hình này phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như thăm quan du lịch sẽ thực sự bổ ích cho du khách.

7) Geosite sông Hậu

Sông Hậu từ biên giới với Campuchia đến hết địa phận thành phố Long Xuyên dài khoảng 100 km, cũng thuộc kiểu sông bện tết với các dấu ấn thể hiện trên địa hình là các cù lao cổ bao gồm các gờ cao và trũng xen kẽ nhau.

Một hệ thống cù lao cổ từ Campuchia qua Khánh An, Phú Hữu, Phước Hưng đến Vĩnh Trường (huyện An Phú) cho thấy sự dịch chuyển phức tạp của sông Hậu trong quá khứ. Búng Bình Thiên kéo dài theo hướng tây – đông và đoạn sông dạng chữ “U”, nơi hội lưu giữa sông Bình Di, sông Tà Keo và sông Châu Đốc cho chúng ta một gợi ý về sự dịch chuyển dòng sông Hậu từ tây sang đông, cũng có thể xảy ra hiện tượng cướp dòng ở khu vực này.

Các cù lao dọc sông Hậu thường nhỏ hơn sông Tiền, mỗi cù lao đều có những nét văn hóa đặc thù. Cù lao Vĩnh Trường (huyện An Phú) có làng Chăm ở ấp La Ma; cù lao Khánh Hòa (huyện Châu Phú) có ẩm thực nổi tiếng là mắm Ba Vui), cù lao Bình Thủy còn gọi là cù lao Năng Gù (huyện Châu Phú) có di tích Đình thần Bình Thủy cổ kính (Hình 17), là một công trình kiến trúc mang giá trị nghệ thuật độc đáo. Cù lao Năng Gù còn có nhiều căn nhà to đẹp trang trí kiểu Pháp. Cù lao Ông Hổ có khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng (Hình 18).

Hình 17 (trái). Đình Thần Bình Thủy trên cù lao Năng Gù. Nguồn Internet
Hình 18 (phải). Tòa nhà chính của khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng trên cù lao Ông Hổ. Nguồn Internet

Geosite sông Tiền và sông Hậu thuộc kiểu geosite thủy văn chủ động (geosite hoạt động). Phát triển tuyến địa du lịch dọc theo geosite này sẽ nhận được những kiến thức trực quan, sinh động về hoạt động của sông hiện đại bao gồm động lực dòng chảy theo mùa (lũ và kiêt), những đảo trôi giữa dòng giải thích cho sự hình thành cù lao, các quá trình xói lở và bồi tụ đan xen phản ánh qui luật phát triển tự nhiên của sông ngòi.

Ghé thăm những thành phố, thị trấn cổ kính ven sông như Tân Châu, Châu Đốc, Long Xuyên hay những cù lao thanh bình và hấp dẫn với những giá trị văn hóa, dân tộc độc đáo sẽ là những trải nghiệm thú vị và ấn tượng của du khách.

5.Kết luận và khuyến nghị

An Giang có sự đa dạng về địa chất, địa mạo: Về địa chất có sự hiện diện 11 phân vị địa tầng và phức hệ magma, cổ nhất là các đá thuộc hệ tầng Tà Pạ được hình thành cách ngày nay khoảng 200 triệu năm, trẻ nhất là các trầm tích hiện đại nguồn gốc sông do sông Tiền, sông Hậu bồi đắp hàng năm. Về địa mạo có sự hiện diện nhiều dạng địa hình với qui mô khác nhau bao gồm núi, đồi, đồng bằng thấp trải rộng, đồng bằng cao hẹp viền quanh núi, trũng lầy, hồ nước, đê thiên nhiên, hệ thống cù lao cổ, trẻ giữa sông và các bãi bồi ven sông.

An Giang có bốn dân tộc (Kinh – Chăm – Hoa – Khmer) hội tụ và cùng chung sống. Mỗi dân tộc có riêng một tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục đã tạo nên tính đa sắc màu văn hóa của mảnh đất An Giang – tỉnh đầu tiên của Tây Nam Bộ đón nhận những hạt phù sa từ sông Tiền, sông Hậu – hai dòng chảy lớn của sông Mê Công nổi tiếng thế giới.

Đa dạng văn hóa hình thành trên một nền tự nhiên đa dạng là tiềm năng rất lớn để An Giang phát triển địa du lịch – một loại hình du lịch mới đang được một số nước trên thế giới áp dụng và đạt được kết quả tốt. Địa du lịch là giải pháp giúp địa phương bảo tồn các di sản tự nhiên, di sản văn hóa và nâng cao đời sống của cộng đồng các dân tộc.

Để có cơ sở phát triển loại hình địa du lịch, những nội dung dưới đây cần được đầu tư nghiên cứu:

– Kiểm kê, đánh giá các geosite về giá trị khoa học và các giá trị bổ sung (sinh thái, thẩm mỹ, văn hóa và kinh tế) để có kế hoạch bảo tồn, phục vụ nghiên cứu khoa học, học tập và du lịch.

– Hiệu chỉnh bản đồ địa hình vùng Bảy Núi cùng với việc định rõ vị trí, định danh cụ thể cho bảy ngọn núi được gọi là “THẤT SƠN” cũng như các ngọn núi khác. Mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và cấu trúc của từng ngọn núi.

– Lập bản đồ hệ thống các bờ biển cổ, cảng biển cổ, lòng sông cổ; tìm hiểu hiện tượng dịch chuyển dòng hay cướp dòng của sông Hậu hiện đại đối với sông Hậu cổ?, định rõ hình thái kênh 4 từ Angkor Borei tới Óc Eo để bổ sung tư liệu cho văn hóa Óc Eo.

– Tiến hành cải tạo, qui hoạch những moong khai thác bỏ hoang thành các điểm du lịch để tránh lãng phí diện tích đất đai, ô nhiễm môi trường cũng như rủi ro đối với con người và vật nuôi.

Để kết thúc bài viết này, xin trích dẫn đoạn dưới đây từ trang web của Tổ chức Phát triển Địa du lịch [7].

Tổ chức Phát triển Địa du lịch (GDF) tin tưởng rằng, du lịch làm cho thế giới trở nên tốt hơn. Du lịch tạo ra thu nhập và việc làm cho người nghèo nhất, bảo tồn văn hoá và môi trường, thúc đẩy lòng khoan dung và hiểu biết giữa các dân tộc và mở rộng trí óc.

Tham khảo chính

[1] Trương Công Đượng và nnk. 1998. Báo cáo đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản Nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc tỷ lệ 1:50.000. Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[2] Địa chí An Giang. 2013. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang

[3] Nguyễn Văn Thanh,  Nguyễn Quang Vũ. 2016. Phát triển loại hình du lịch tâm linh tại tỉnh An Giang. SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016

[4] K. Kris Hirst. Oc Eo – Funan Culture Site in Vietnam. https://www.thoughtco.com/oc-eo-funan-culture-site-vietnam-172001

[5] Ross K. Dowling. 2013. Global Geotourism – An emerging Form of sustainable tourism. Czech Journal of Tourism, 2(2), 59-79. DOi: 10.2478/cjot-2013-0004.

[6] Ross K. Dowling. 2014. Geotourism’s Contributionto Protected Areas. IUCN World Parks Congress. Sydney.2014.

[7] GDF. http://www.geotourismfoundation.org/

 

 

Báo cáo và Triển lãm Con người – Tài nguyên – Môi trường Đới bờ 2017

Sáng ngày 15.01.2018, Báo cáo và Triển lãm Con người – Tài nguyên – Môi trường đới bờ của sinh viên khóa 2014 thuộc ba chuyên ngành: Tài nguyên TN và MT;  Môi trường và Tài nguyên biển;  Khoa học Môi trường đã diễn ra tại phòng E 22, cơ sở Nguyễn Văn Cừ. Năm nay thời gian chuẩn bị báo cáo kéo dài hơn so với những năm trước, các nhóm đầu tư nhiều công sức cho báo cáo chuyên đề cũng như các sản phẩm triển lãm.

Hội đồng chấm Báo cáo và triển lãm gồm thày Hải, thày Ngân, cô Tuyến và cô Chi.

Sau 4 giờ làm việc, kết quả và giải thưởng dành cho các nhóm như sau:

1/ Báo cáo chuyên đề theo nhóm:

Giải 1: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển, đề tài Dịch vụ hệ sinh thái cồn cát ven biển Bình Thuận

Giải 2: Nhóm 2 CN. MT và TN Biển, đề tài Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến di sản địa học dải ven biển Lộc An – Cổ Thạch

Giải 3: Nhóm 4 CN. KHMT, đề tài Đánh giá khía cạnh giáo dục trong phát triển địa du lịch tuyến ven biển Bình Thuận

2/Clip

Giải 1: Nhóm 1 KHMT

Giải 2: Nhóm 3 TNTN và MT

Giải 3: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển

3/ Bài cảm nhận

Giải 1: Linh Chi CM. KHMT

Giải 2: Thu Hằng & Khánh Linh CN. MT và TN Biển

Giải 3: Kim Ngân CN. KHMT

4/ Ảnh nghệ thuật

Giải 1: Yến Nhi CN. TNTN (Hà của biển)

Giải 2: Linh Chi CN. KHMT (Người và biển)

Giải 3: Thanh Trúc CN. KHMT ( Người thầy)

5/ Poster

Giải 1: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển

Giải 2: Nhóm 2 CN. KHMT

Giải 3: Nhóm 1 CN. MT và TN Biển

6/ Mô hình

Đồng Giải 1: Tranh cát (Nhóm 2 CN. MT và TN Biển) & Mô hình rãnh xâm thực (Nhóm 3 CN. KHMT)

Kết quả báo cáo chuyên đề nhóm và cá nhân đạt giải các loại hình triển lãm sẽ được cộng điểm vào điểm thi môn học Quản lý tổng hợp đới bờ và môn học Tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường.

Một số hình ảnh báo cáo và triển lãm:

Nhóm 1 CN. MT và TN Biển báo cáo đề tài Dịch vụ hệ sinh thái cồn cát ven biển Bình Thuận
Nhóm 2 CN. MT và TN Biển báo cáo đề tài Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến di sản địa học dải ven biển Lộc An – Cổ Thạch
Nhóm 4 CN. KHMT báo cáo đề tài Đánh giá khía cạnh giáo dục trong phát triển địa du lịch tuyến ven biển Bình Thuận
Poster nhóm 1 CN. MT và TN Biển – Lộ trình đới bờ, trung tâm poster là bức ảnh cạo rất ấn tượng
Postet nhóm 2 CN. KHMT – Lăng kính đới bờ
Mô hình nhóm 2 CN. MT và TN Biển – Tranh cát
Nhận giải thưởng
Kết thúc buổi Báo cáo và triển lãm, Bộ môn Khoa học môi trường chân thành cảm ơn thày Ngân vì những đóng góp của thày trong công tác đào tạo nhiều thế hệ sinh viên khoa Môi trường, nhất là tham gia giảng dạy theo những chuyến thực địa hàng năm.

H & H

 

DU LỊCH HỘI AN – ĐÔ THỊ CỔ VÙNG CỬA SÔNG LIMAN THƯỜNG XUYÊN NGẬP LỤT

Hà Quang Hải

Đô thị cổ Hội An nằm trên bãi bồi thấp vùng cửa sông Liman thường xuyên ngập lụt. Trải qua mấy trăm năm, các ngôi nhà vẫn giữ được những nét cổ xưa. Xem cấu trúc các ngôi nhà, cấu trúc phố xá có vẻ như người xưa đã sẵn sàng ứng phó với những trận lụt ở vùng cửa sông này. Đến Hội An không chỉ thăm quan, tìm hiểu kiến trúc và văn hóa độc đáo của một đô thị cổ, du khách còn được thưởng ngoạn những cảnh quan thiên nhiên đa dạng vùng cửa sông Liman Cửa Đại. Nếu đến Hội An đúng vào kỳ ngập lụt, du khách sẽ được trải nghiệm một sản phẩm từ tai biến địa chất đặc thù – Ngập lụt phố cổ Hội An.

1. Cửa sông Liman

Liman mượn từ tiếng Nga (Лиман), từ này lại có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là vịnh hoặc bến cảng. Liman hình thành ở cửa sông mở rộng, nông nơi dòng chảy bị chặn bởi đê cát cửa sông. Đê cát có thể là trầm tích biển (đê cát được tạo ra bởi dòng biển) hoặc dòng chảy sông (đê cát được tạo ra bởi dòng chảy của một sông lớn hơn tại điểm hợp lưu) [4].

Một thuật ngữ khác đồng nghĩa với Liman là Guba (губа) được sử dụng trong các văn liệu của Nga cho các cửa sông bờ biển ở phía bắc Nga [4].

Nước trong một Liman là nước lợ với độ mặn biến đổi: trong giai đoạn mùa kiệt nước sông có thể trở nên mặn do sự bốc hơi và dòng nước biển đổ vào.

Nhiều cửa sông miền Trung Việt Nam thuộc kiểu Liman với các đê cát chắn được hình thành do quá trình di chuyển trầm tích dọc bờ biển, phía trong đê cát là vũng cửa sông thường rộng và nông. Các đê cát chắn bịt kín cửa sông khi động lực biển chiếm ưu thế và bị xuyên thủng khi dòng chảy sông trở lên mạnh mẽ vào mùa lũ.

Loạt ảnh Google Earth cho thấy từ năm 1984 đến 1993 Liman Cửa Đại bị đê cát gần như chắn kín cửa ra, từ năm 1994 đến nay cửa sông mở rộng hơn.

Đê cát Liman Cửa Đại (1984)              Đê cát Liman Cửa Đại (2016)

2. Cảnh quan Liman cửa Đại

Liman cửa Đại (cửa sông Thu Bồn) nơi có đô thị cổ Hội An – điểm du lịch luôn thu hút một lượng lớn du khách trong và ngoài nước. Đến Hội An ngoài thăm quan, tìm hiểu kiến trúc và văn hóa độc đáo của một đô thị cổ, du khách còn được thưởng ngoạn những cảnh quan thiên nhiên đẹp, thanh bình như cù lao An Hội, Cẩm Nam; các bãi biển cát xám vàng trải dài như An Bàng, Cửa Đại, các dòng sông nhỏ quanh co có cái tên hình tượng như Cổ Cò, Đế Võng.

Đê cát chắn, vịnh biển, cù lao, bãi biển, cửa sông hay đầm nước lợ nơi có Rừng dừa Bảy mẫu…là các yếu tố địa chất, địa mạo lí thú vùng Liman Cửa Đại. Các yếu tố này vừa có giá trị là nền tảng đô thị vừa có giá trị bổ sung tăng thêm sức hấp dẫn cho Hội An.

Cù lao An Hội bên sông Hoài
Bãi biển An Bàng vào ngày biển động
Cảnh quan sông Cổ Cò với mặt nước phẳng lặng thích hợp du lịch đường sông
Khách du lịch theo sông Hoài hướng ra Cửa Đại
Rừng dừa nước Bảy mẫu nằm giáp sông Đế Võng, Thu Bồn và sông Hoài. Nguồn Internet
Cửa Đại một buổi sớm thanh bình
  1. Ngập lụt đô thị cổ Hội An

Vùng cửa sông Liman khả năng thoát lũ rất kém, đô thị cổ Hội An nằm trên địa hình thấp (bãi bồi) nên thường xuyên bị ngập lụt. Đợt lũ đầu tháng 11 năm 2017 có mức ngập xấp xỉ với năm (2009). Đến Hội An vào kỳ lũ lụt, nơi phố cổ chìm trong biển nước sẽ cho du khách một trải nghiệm thú vị.

Đỉnh lũ tháng 11 năm 2017 kém năm 2009 khoảng 7 cm

Trong quá khứ, đô thị cổ Hội An từng ngập rất sâu: năm 1964 đỉnh lũ là 3,4 m; năm 1975: 2,67 m; năm 1998: 2,97 m; tháng 11 năm 1999: 3,01; tháng 12 năm 1999: 3,21 m; năm 2007: 3,0 m; năm 2009: 2,72 m [2].

Trải qua khoảng 300 năm, lũ lụt thường xuyên, các ngôi nhà ở khu phố cổ vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Các nhà nghiên cứu đã nhìn ra kỹ thuật xây dựng của người xưa ứng phó bão lũ: “ Tường xây 40 cm, sử dụng gạch thẻ và chất kết dính truyền thống (vôi, mật mía, nhựa bời lời) giúp mùa đông ấm, mùa hè mát và chịu lực tốt; các công trình sử dụng loại gỗ rất tốt, thuộc nhóm 1. Kết cấu sườn, cột tán, mái… và tường san sát nhau cũng tạo nên sự chắc chắn cho cả khu phố. Ngay cả chùa Cầu, trông khá mỏng manh, cũng được tính toán kỹ về kết cấu chịu lực vì xây dựng ngay trên khe nước chảy mạnh” [2].

“Người xưa đã tính toán rất kỹ các yếu tố kiến trúc, phong thủy, địa lý, điều kiện tự nhiên để xây dựng phố cổ, ngay cả những con hẻm nhỏ cũng trở thành lối thoát nước. Ở các hiệu buôn lớn, giữa lầu 1 thường trổ một lỗ lớn thông xuống tầng trệt, để mỗi khi có lũ người dân dùng tời kéo hàng hóa lên cao”.

Có thể nhận thấy người dân ở đây đã chấp nhận và chủ động xây dựng nhà cửa, đường phố trên diện tích bãi bồi thường xuyên ngập lụt, lý do chính có lẽ đây là vị trí gần sông tiện cho việc vận chuyển hàng hóa và đi lại.

Cảnh lũ lụt tại Hội An năm 1964, ảnh tư liệu của hiệu Ảnh Vĩnh Tân. Nguồn [2]
Hội An chìm trong lũ tháng 11.2017. Nguồn Internet
  1. Du lịch đô thị cổ mùa lũ

Đoạn trích dẫn dưới đây cho thấy du khách đến Hội An vào kỳ ngập lụt thêm hứng thú với tai biến địa chất diễn ra tại khu phố cổ.

“Lâu nay, đô thị cổ Hội An được ví như “túi lũ” của vùng hạ du sông Thu Bồn, hình ảnh nước ngập lưng chừng nóc nhà cổ đã trở nên quen thuộc. Vào mùa lũ, nhiều người bắt gặp từng nhóm du khách nước ngoài thuê thuyền dạo loanh quanh trong phố cổ, chụp hình những mái nhà rêu phong chìm trong biển nước, khám phá đời sống cư dân Hội An mùa nước lũ. Được ngắm cảnh quan tổng thể của mái nhà cổ Hội An khi nước lũ dâng cao, tham quan các ngõ phố Hội An bằng thuyền hay ghé vào quán cà phê trên tầng 2 của ngôi nhà cổ nào đó, tất cả tạo nên cảm giác đặc biệt và mới lạ” [3].

Đi thuyền trong phố cổ là trải nghiệm thú vị đối với du khách. Nguồn Internet

“Trong những năm gần đây, khi du lịch Hội An phát triển, mỗi khi nước lớn lên, hai bên đường Bạch Đằng bị ngập lại là điều thích thú với du khách, thấy như vậy, người dân có tổ chức đi ghe để du khách tham quan Hội An ở một góc khác, một phố cổ Hội An trong nước” [1].

“Đây chính là sự năng động của người dân nơi đây, vốn dĩ Hội An là thành phố du lịch thì phải biết tận dụng tự nhiên để giải quyết bài toán kinh tế, nghĩa là mình phải biết tận dụng điều kiện tự nhiên để tạo ra giá trị cho chính bản thân mình, bắt tự nhiên phục vụ con người” [1].

Ngập lụt cũng là một “sản phẩm du lịch” của Hội An. Ảnh Dân Trí. Nguồn [1]

Lời kết

Đã có dự án về du lịch mạo hiểm “Phát triển sản phẩm du lịch từ mưa, bão, lụt tại miền Trung Việt Nam”. Trong đó, ngoài sản phẩm du lịch từ lũ lụt tại Hội An (Quảng Nam), còn có ý tưởng độc đáo về mưa ở Huế, bão ở Đà Nẵng [2].

Trước khi dự án trên trở thành hiện thực, sản phẩm “Du lịch Hội An mùa lũ” cần sớm được nghiên cứu, triển khai; sao cho sản phẩm đặc thù này vừa hấp dẫn vừa an toàn cho du khách.

Hội An – đô thị cổ sẽ hấp dẫn du khách hơn nữa nếu như những đặc trưng địa chất, địa mạo và các dạng cảnh quan vùng cửa sông Liman và nhất là lịch sử hình thành và bảo tồn đô thị gắn với lũ lụt trong suốt mấy trăm năm qua được nghiên cứu cặn kẽ và quảng bá rộng rãi.

Tham khảo:

[1] Hội An ngập nước vẫn hút khách: Ông Nguyễn Sự lý giải: http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/hoi-an-ngap-nuoc-van-hut-khach-ong-nguyen-su-ly-giai-3322351/

[2] Di sản sống chung với lũ: https://thanhnien.vn/van-hoa/di-san-song-chung-voi-lu-776328.html

[3] Du lịch mùa lũ bão lũ: http://www.hoianworldheritage.org.vn/vi/news/Du-lich-Hoi-An/Du-lich-mua-lu-bao-lu-450.hwh

[4] Liman (landform): https://www.revolvy.com/main/index.php?s=Liman%20(landform)&item_type=topic

THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2017 QUA HÌNH ẢNH

Có 77 sinh viên KMT 14 thuộc ba chuyên ngành tham gia thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ (tuyến lộ trình Lộc An – Cổ Thạch). Năm nay có một số đề tài mới, các nhóm nghiên cứu đề tài trong phòng một cách kỹ lưỡng, tại thực địa đại diện nhóm trình bày sau đó thày bổ sung. Các đề tài giao cho các nhóm cụ thể như sau:

I.1 Chuyên ngành Khoa học Môi trường

Nhóm 1: Nguyễn Thị Đẹp (nhóm trưởng): Biến động đường bờ khu vực cửa Lộc An và giải pháp

Nhóm 2: Trần Thị Linh Chi (nhóm trưởng): Giá trị của các bãi biển phục vụ phát triển du lịch (ví dụ dải ven biển Lộc An – Cổ Thạch)

Nhóm 3: Lê Thị Kim Ngân (nhóm trưởng): Hệ thống rãnh xâm thực trên cao nguyên cát đỏ Phan Thiết

Nhóm 4: Nguyễn Thị Tuyết Trinh (nhóm trưởng): Đánh giá khía cạnh giáo dục trong phát triển địa du lịch tuyến ven biển Bình Thuận

I.2 Chuyên ngành Môi trường và Tài nguyên biển

Nhóm 1: Đoàn Ngọc Khánh Linh (nhóm trưởng): Dịch vụ hệ sinh thái cồn cát ven biển Bình Thuận

Nhóm 2: Ngô Nguyễn Minh Thùy (nhóm trưởng): Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến di sản địa học dải ven biển Lộc An – Cổ Thạch

I.3 Chuyên ngành Tài nguyên TN và MT

Nhóm 1: Phan Mạnh Đình (nhóm trưởng): Cát thủy tinh Bình Châu – La Gi

Nhóm 2: Phan Thị Ngọc Huyền (Nhóm trưởng): Dải ven biển Bình Thuận công nghiệp không khói hay Nhiệt điện ?

Nhóm 3: Lê Nhật Đoan (Nhóm trưởng): Khai thác Titan ở Bình Thuận và các vấn đề môi trường

Ngày 8.12.2017

Đại diện nhóm 1 KHMT trình bày biến động đường bờ khu vực cửa Lộc An và giải pháp

Continue reading “THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2017 QUA HÌNH ẢNH”

TÁC ĐỘNG PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN LƯU VỰC MEKONG ĐẾN SINH KẾ ĐỊA PHƯƠNG

Scott William David Pearse-Smith

Phát triển thủy điện lưu vực Mekong đang tiến triển với tốc độ ngày càng cao. Thủy điện đã ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và xã hội lưu vực Mekong và đe dọa sinh kế ở địa phương vì các dự án thủy điện tăng về quy mô và số lượng. Bài viết này dựa trên kiến ​​thức khoa học về những tác động môi trường của việc phát triển thủy điện Mekong để xem xét những ảnh hưởng do biến đổi môi trường đến sinh kế của người dân địa phương. Bài báo tập trung vào việc phát triển thủy điện sẽ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên tái tạo quan trọng như thế nào và điều này sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất lương thực và thu nhập cho hàng triệu cư dân lưu vực ra sao. Nghiên cứu này cho rằng an ninh lương thực và kinh tế của đa số dân cư địa phương gắn bó không thể tách rời với sự toàn vẹn của môi trường tự nhiên. Do đó, phát triển thủy điện liên tục sẽ tác động xấu đến sinh kế của hàng triệu cư dân lưu vực. Cần có những biện pháp thay thế bền vững hơn.

1.Giới thiệu

Sông Mekong bắt đầu cuộc hành trình 4800 km trên cao nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc, đi về phía đông nam, qua sáu quốc gia đang phát triển và cuối cùng đổ ra Biển Đông của Việt Nam.

Lưu vực Mekong được chia thành hai tiểu lưu vực: thượng lưu và hạ lưu. Thượng lưu sông nằm trong lãnh thổ Trung Quốc và Myanmar, chiếm khoảng 30% diện tích toàn lưu vực và có dân số khoảng 15 triệu. Lưu vực Mekong từ “Tam giác Vàng” về phía Nam là  hạ lưu vực, thuộc lãnh thổ của Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Hạ lưu vực chiếm 70% diện tích lưu vực và có khoảng 60 triệu người. Có khoảng 29,6 triệu người sống và làm việc với 15 km của chính dòng sông Mekong. Nghiên cứu này tập trung vào tác động hạ lưu vực Mekong nơi có tầm quan trọng cả về kinh tế xã hội và môi trường hơn so với thượng lưu.

Tại hạ lưu vực, hiện nay có 25 đập thủy điện đang hoạt động và 99 dự án thủy điện sông nhánh trong các giai đoạn khảo sát khác nhau. Như vậy, hầu hết các sông nhánh Mekong đều có các đập hoặc đã được xây dựng xong hoặc dự kiến hoàn thành vào năm 2030. Phần này tập trung vào hai đập thủy điện đặc biệt được công bố rộng rãi như: đập Pak Mun ở đông bắc Thái Lan và đập Thác Yali ở Việt Nam. Continue reading “TÁC ĐỘNG PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN LƯU VỰC MEKONG ĐẾN SINH KẾ ĐỊA PHƯƠNG”

Coralliths – Loài san hô có thể di động và đặt nền móng cho các rạn san hô mới ở những môi trường khắc nghiệt

Các nhà khoa học đã phát hiện loài san hô có khả năng tái sinh sau khi bị tách rời khỏi rạn, tạo thành nền móng để các loại san hô khác sống bám trên đó và xây dựng nên các rạn san hô mới bằng cách tạo ra môi trường sống ổn định cho chính chúng.

Phát hiện này hé lộ một tia sáng mới nghiên cứu về các loài san hô di động – được gọi là các Coralliths – phát triển trên cuội sỏi hoặc trên các mảnh vụn các rạn san hô chết, và có thể sống sót qua sự xô đẩy của sóng và dòng hải lưu.

Các polyp sát gần nhau tập trung trên cùng một san hô, chúng có nhiều xúc tua đung đưa. Có đến hàng ngàn polyps trên một nhánh san hô đơn

Continue reading “Coralliths – Loài san hô có thể di động và đặt nền móng cho các rạn san hô mới ở những môi trường khắc nghiệt”

Chỉ đúng nguyên nhân ĐBSCL sạt lở và các khuyến nghị

Nguyễn Ngọc Trân*

Tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển ở ĐBSCL ngày càng nhiều và nghiêm trọng.

Các nguyên nhân cơ bản thường được nói đến thời gian gần đây là do thiếu hụt trầm tích bị các đập thủy điện trên dòng chính sông Lancang – Mekong giữ lại, và do lạm khai thác cát sông.

Hiểu sâu để có giải pháp tốt. Nhằm mục đích này, xin đóng góp một số ý kiến vào nhận thức khách quan vấn đề sạt lở và từ đó một số việc cần làm theo thiện ý của tác giả.

1.Trước tiên, việc sạt lở bờ sông ở đồng bằng đã từng xảy ra trong những thập niên 1980 và trước đó, tại thị xã Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và nhiều nơi khác nữa, mỗi lần đã từng “nuốt chững” hàng chục căn nhà kiên cố. Lúc đó chưa có đập thủy điện nào ở thượng nguồn. Bởi lẽ bồi lở hai bờ của một con sông là tất yếu và có tính quy luật. Không chỉ thấy sạt lở mà quên yếu tố bồi. Trong sạt lở có bồi và ngược lại.

2.Sau khi sạt lở, các cơ quan chức năng ở An Giang đã đo địa hình lòng sông trong khu vực sạt lở. Đã “thấy” một hố sâu đến -43 mét và vách đứng nơi sạt lở (Hình 1). Chúng ta sẽ trở lại dưới đây về các hố sâu giữa sông, các vách đứng dọc bờ, kết quả tác động của dòng chảy lên lòng sông và bờ sông.

Hình 1. Ngã ba sông Hậu – sông Vàm Nao (trái) và nơi sạt lở phóng to (phải). Nguồn: Tỉnh An Giang.

Continue reading “Chỉ đúng nguyên nhân ĐBSCL sạt lở và các khuyến nghị”

ỨNG DỤNG CÔNG CỤ SAFA ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC QUY MÔ NÔNG HỘ

Nguyễn Trường Ngân1, Nông Thị Ngọc Vân2

(1) Khoa Kỹ thuật Xây dựng – Trường Đại học Bách khoa TP HCM

(2)Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM

(Nguồn: kỷ yếu Hội nghị Khoa học Công nghệ lần 15 – Đại học Bách Khoa Tp.HCM)

Tóm tắt: Đất nông nghiệp nước ta bị suy thoái nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất người dân. Việc tìm kiếm và nhân rộng các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững và phù hợp tập quán sản xuất của người bản địa là một yêu cầu cấp thiết. Bộ tiêu chí SAFA (Sustainability Assessment of Food and Agriculture systems) cung cấp một bộ gồm 4 lĩnh vực, 21 chủ đề và 58 chủ đề phụ được chi tiết hóa thành 118 tiêu chí. SAFA đã được áp dụng rộng rãi và cho kết quả tốt trong đánh giá nông nghiệp bền vững theo nhiều quy mô khác nhau. Nghiên cứu này áp dụng công cụ SAFA ở quy mô nông hộ, nghiên cứu điển hình trên hai mô hình nông nghiệp của người M’Nông tại xã Yang Mao, huyện Krông Bông, tỉnh Đak Lak. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai mô hình đều đạt mức bền vững cao. Các hạn chế cần cải thiện gồm: an toàn nguồn nước, sự công bằng trong thương mại cho người sản xuất và đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho người trực tiếp lao động sản xuất.

Từ khóa: Nông nghiệp bền vững, SAFA, nông hộ, M’Nông, Đak Lak.

  1. Giới thiệu

Đến nay, 106 quốc gia đã xây dựng khung mục tiêu và tiêu chí phục vụ phát triển bền vững [5]. Mặc dù vậy, vẫn chưa có những quy chuẩn quốc tế nào rõ ràng để xác định các yêu cầu trong sản xuất nông nghiệp bền vững, cũng như chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi để đánh giá một nhà sản xuất nông nghiệp là “bền vững”.

Để khắc phục sự khiếm khuyết này, SAFA được xây dựng để áp dụng đánh giá tính bền vững cho các nhà sản xuất nông nghiệp ở nhiều quy mô khác nhau. Khung SAFA phân thành 4 cấp độ: 4 khía cạnh, 21 chủ đề, 58 chủ đề phụ và 118 tiêu chí [2].

Năm 2016, Việt Nam có đến 49,19% hộ ở nông thôn là hộ sản xuất nông nghiệp. Số hộ này sản xuất 70% rau, quả, thịt, trứng, cá và khoảng 30% quỹ lương thực cho cả nước [1].

Hình 1: Sơ đồ vị trí xã Yang Mao

Do đó, việc đánh giá, lựa chọn và áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững ở quy mô nông hộ sẽ mang lại một sự cải thiện rất lớn cho kinh tế nông nghiệp xanh của cả nước.

Xã Yang Mao là một trong 11 xã có địa phận thuộc VQG Chư Yang Sin. Năm 2015, đất nông nghiệp của xã chiếm đến 90,48%. Người M’nông chiếm đến 65% nhân khẩu của xã và hầu hết sinh sống bằng nghề nông [4]. Các cây trồng chủ lực của người M’nông là mỳ và bắp. Các vật nuôi phổ biến là bò và heo. Continue reading “ỨNG DỤNG CÔNG CỤ SAFA ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC QUY MÔ NÔNG HỘ”