TÁC ĐỘNG PHÁT TRIỂN THUỶ ĐIỆN LƯU VỰC MEKONG ĐẾN SINH KẾ ĐỊA PHƯƠNG

Scott William David Pearse-Smith

Phát triển thủy điện lưu vực Mekong đang tiến triển với tốc độ ngày càng cao. Thủy điện đã ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và xã hội lưu vực Mekong và đe dọa sinh kế ở địa phương vì các dự án thủy điện tăng về quy mô và số lượng. Bài viết này dựa trên kiến ​​thức khoa học về những tác động môi trường của việc phát triển thủy điện Mekong để xem xét những ảnh hưởng do biến đổi môi trường đến sinh kế của người dân địa phương. Bài báo tập trung vào việc phát triển thủy điện sẽ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên tái tạo quan trọng như thế nào và điều này sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất lương thực và thu nhập cho hàng triệu cư dân lưu vực ra sao. Nghiên cứu này cho rằng an ninh lương thực và kinh tế của đa số dân cư địa phương gắn bó không thể tách rời với sự toàn vẹn của môi trường tự nhiên. Do đó, phát triển thủy điện liên tục sẽ tác động xấu đến sinh kế của hàng triệu cư dân lưu vực. Cần có những biện pháp thay thế bền vững hơn.

1.Giới thiệu

Sông Mekong bắt đầu cuộc hành trình 4800 km trên cao nguyên Tây Tạng ở Trung Quốc, đi về phía đông nam, qua sáu quốc gia đang phát triển và cuối cùng đổ ra Biển Đông của Việt Nam.

Lưu vực Mekong được chia thành hai tiểu lưu vực: thượng lưu và hạ lưu. Thượng lưu sông nằm trong lãnh thổ Trung Quốc và Myanmar, chiếm khoảng 30% diện tích toàn lưu vực và có dân số khoảng 15 triệu. Lưu vực Mekong từ “Tam giác Vàng” về phía Nam là  hạ lưu vực, thuộc lãnh thổ của Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Hạ lưu vực chiếm 70% diện tích lưu vực và có khoảng 60 triệu người. Có khoảng 29,6 triệu người sống và làm việc với 15 km của chính dòng sông Mekong. Nghiên cứu này tập trung vào tác động hạ lưu vực Mekong nơi có tầm quan trọng cả về kinh tế xã hội và môi trường hơn so với thượng lưu.

Tại hạ lưu vực, hiện nay có 25 đập thủy điện đang hoạt động và 99 dự án thủy điện sông nhánh trong các giai đoạn khảo sát khác nhau. Như vậy, hầu hết các sông nhánh Mekong đều có các đập hoặc đã được xây dựng xong hoặc dự kiến hoàn thành vào năm 2030. Phần này tập trung vào hai đập thủy điện đặc biệt được công bố rộng rãi như: đập Pak Mun ở đông bắc Thái Lan và đập Thác Yali ở Việt Nam.

Trung Quốc là quốc gia duy nhất đã chặn dòng chính Mekong, và cho đến nay đã xây dựng 4 đập đầu tiên trong một kế hoạch gồm 8 công trình thủy điện. Trong số này, đập Tiểu Loan sẽ là đập vòm cao nhất thế giới, công trình này sẽ đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử lưu vực Mekong rằng “một sự phát triển đơn độc sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chế độ thuỷ văn” lưu vực. Bốn đập chính cuối cùng ở Vân Nam cũng sẽ được hoàn thành vào năm 2020.

Ở hạ lưu vực Mekong, có ít nhất 12 công trình thuỷ điện dòng chính tiềm năng hiện đang được các nhà đầu tư xem xét. 10 dự án được đề xuất đã được qui hoạch cho Lào, và hai cho Campuchia

Hình 1: Bản đồ các đập thủy điện dòng chính Mekong hiện tại và đề xuất (from Lee & Scurrah, 2009)

2.Phát triển thủy điện hạn chế năng suất nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản

2.1 Môi trường lưu vực biến đổi

Mekong là “một trong số ít lưu vực sông lớn nhưng chưa bị biến đổi bởi cơ sở hạ tầng quy mô lớn” và là sông cuối cùng còn lại vẫn chảy tự do qua năm quốc gia. Hệ thống thuỷ văn Mekong vẫn ở trạng thái cân bằng động với sinh thái và khí hậu lưu vực trong nhiều nghìn năm. Nhiều hệ sinh thái của lưu vực có đặc tính riêng riêng và phụ thuộc vào sự biến động theo mùa của sông có thể dự báo được. Tuy nhiên, trong 15 năm qua, phát triển thủy điện đã bắt đầu làm thay đổi thủy văn lưu vực. Các tác động tích lũy của xây dựng đập thuỷ điện trên dòng chính và các chi lưu đang chuyển đổi đặc trưng cơ bản của chế độ sông với những ảnh hưởng lan rộng không chỉ đối với các hệ thống tự nhiên mà còn bởi các hệ thống xã hội và nền kinh tế.

Việc xây dựng bốn đập dòng chính ở thượng lưu Mekong đã ảnh hưởng đến thời gian và quy mô nhịp điệu tự nhiên của Mekong cũng như nhiều đặc điểm của hệ thống tự nhiên khác bị điều chỉnh.

Đáng chú ý nhất, sự thay đổi môi trường do phát triển thủy điện gây ra ngày càng hạn chế năng suất nông nghiệp và đánh bắt thủy sản. Thủy văn Mekong biến đổi sẽ làm giảm thiểu một số nguồn tài nguyên lưu vực như trữ lượng cá, chất dinh dưỡng tự nhiên, đất nông nghiệp và đất rừng, tất cả đều là đầu vào rất quan trọng cho cả nông nghiệp và đánh bắt thủy sản.

2.2 Tác động phát triển thủy điện đến đánh bắt thủy sản

Nghề cá sông Mekong là nghề đánh bắt cá nước ngọt lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, một số thay đổi môi trường do phát triển thủy điện đã làm giảm nguồn cung cấp cá ở lưu vực sông. Điều đó “về cơ bản làm suy yếu sự phong phú, năng suất và tính đa dạng của nguồn lợi cá. Nói chung, phát triển thủy điện có hai tác động chính đến thủy sản: tạo ra một rào cản vật lý đối với di cư và giảm hoặc phá hủy môi trường sống của cá.

Phát triển thủy điện cũng có thể cản trở năng suất đánh bắt vì các kỹ thuật đánh bắt địa phương đã được điều chỉnh phù hợp với điều kiện dòng chảy cụ thể và có thể phản ứng kém với sự thay đổi chế độ sông. Hơn nữa, như trường hợp phía hạ lưu đập Yali, các sự cố ngập nước bất ngờ có thể cuốn đi thuyền và thiết bị đánh cá cũng như cây trồng và vật nuôi.

2.3 Tác động phát triển thuỷ điện đến nông nghiệp

Phát triển thủy điện ảnh hưởng xấu đến năng suất nông nghiệp bằng cách làm suy thoái hoặc cạn kiệt một số tài nguyên thiên nhiên tạo thành đầu vào nông nghiệp quan trọng, làm giảm nguồn cung đất nông nghiệp. Ước tính tối thiểu 9.000 ha đất nông nghiệp bị ngập bởi các đập dòng chính hạ lưu. Lũ lụt có thể cuốn đi cây trồng và gia súc, và có một nỗi lo đáng kể ở Việt Nam rằng phát triển thủy điện ở thượng nguồn có thể gây ra sự xâm nhập mặn ở đồng bằng Mekong. Phát triển thủy điện làm tăng thêm độ mặn của đất bằng cách giảm nhịp điệu lụt mùa mưa, lượng muối mỗi năm tăng thêm.

Mối quan tâm kế tiếp là việc giảm nguồn cung các chất dinh dưỡng tự nhiên do phát triển thủy điện. Hiện nay, khoảng 26.400 tấn mỗi năm chất dinh dưỡng “được cung cấp cho đồng bằng ngập lụt Mekong từ trầm tích lơ lửng”. Đồng bằng ngập lụt màu mỡ Mekong phụ thuộc vào các chất dinh dưỡng này, đặc biệt là Campuchia và Việt Nam. Tuy nhiên, các đập bẫy trầm tích dinh dưỡng, ngăn không cho đổ vào đồng bằng lụt. Tải lượng dinh dưỡng dòng chảy sẽ giảm 75% vào năm 2030 nếu tất cả các dự án phát triển thủy điện dòng chính được thực hiện.

Mất đất rừng, liên quan trực tiếp và gián tiếp với phát triển thủy điện, sẽ hạn chế năng suất nông nghiệp. Mất rừng ảnh hưởng đến nông nghiệp do gia tăng lũ lụt và hạn hán và làm mất tính ổn định đất. Trường hợp đập Pak Mun và Thá Yali cho thấy việc phát triển thủy điện cũng góp phần gián tiếp phá rừng do dân di cư vào các khu vực rừng, sau đó chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp và đất ở.

Cuối cùng, phát triển thủy điện có thể gây hại cho nông nghiệp Mekong bằng cách giảm lượng nước ngọt sạch. Mặc dù sông Mekong vẫn được xem là sông có chất lượng nước tốt, việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp và thủy điện đang bắt đầu có ảnh hưởng. Ví dụ, sông Sê San ở hạ lưu đập Thác Yali, chất lượng nước đục hơn so với trước khi xây đập do xói mòn bờ sông gia tăng.

3.An ninh lương thực suy giảm

3.1 Tầm quan trọng của nghề cá đối với an ninh lương thực

Nông nghiệp và nghề cá rất quan trọng đối với các vùng nông thôn của Mekong nơi mà người dân được mô tả là “sinh kế dựa vào sông”. Cá cùng với gạo tạo thành “nền tảng an ninh lương thực ở hầu hết các nước ven sông. Bốn quốc gia hạ lưu nói riêng “đặc trưng tiêu thụ cá nước ngọt cao nhất trên thế giới”. Bất kỳ việc suy giảm sản lượng đánh bắt cá hoặc năng suất nông nghiệp sẽ đe doạ sinh kế của người dân và an ninh lương thực.

Nghề cá không chỉ có lợi cho những người sống ven sông hoặc các vùng ngập lũ, mà cho cả các nước hạ lưu sông Mekong. Ví dụ, mức độ sản xuất thủy sản đáng kể ở Tonle Sap không chỉ có tầm quan trọng đặc biệt đối với Campuchia mà còn đối với toàn bộ lưu vực sông Mekong.

3.2 Tầm quan trọng của nông nghiệp đối với an ninh lương thực

Lúa là sản phẩm chủ yếu cho phần lớn cư dân trong vùng. Ở hạ lưu sông Mekong, hơn 10 triệu ha đất canh tác được sử dụng để sản xuất lúa. Gạo là lương thực phổ biến cho dân cư trong lưu vực và chiếm tới 76% lượng tiêu thụ bình quân mỗi ngày. Với mức tiêu thụ năng lượng trung bình chỉ là 2.407 so với chuẩn nghèo về lương thực là 2.100 calo, bất kỳ việc giảm sản xuất gạo nào cũng sẽ gây ảnh hưởng.

Đồng bằng Mekong là vùng nông nghiệp đặc biệt quan trọng trong lưu vực, chiếm đa số sản lượng lương thực của Việt Nam. Hơn một nửa trang trại lúa ở Việt Nam nằm trong đồng bằng này, do đó bất kỳ sự phá vỡ nào đối với năng suất nông nghiệp của đồng bằng có thể là vấn đề đặc biệt khó khăn đối với quốc gia này.

Các vườn ven sông, ngành nông nghiệp truyền thống phổ biến dọc theo hạ lưu sông Mekong cũng bị đe dọa. Nhiều loại trái cây, rau và các cây trồng khác cung cấp nguồn thực phẩm bổ sung quan trọng trong mùa khô được sản xuất ở đây.

4.An ninh kinh tế suy giảm

4.1 Tầm quan trọng của nông nghiệp và nghề cá đối với kinh tế địa phương

83% dân số hoạt động kinh tế ở hạ lưu Mekong liên quan đến tài nguyên nước là nghề chính của họ. Các hoạt động này bao gồm “nông trại, nghề cá, đánh bắt các loài thủy sản khác, trồng rau, nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng thủy điện nhỏ, chế biến cá, mua bán cá, kinh doanh các sản phẩm khác phụ thuộc vào nước, đóng/sửa chữa thuyền hoặc lao động trang trại.

Nông nghiệp là “hoạt động kinh tế quan trọng nhất vùng hạ lưu Mekong”. Trong một cuộc khảo sát gần đây, 73% hộ ở hạ lưu sông cho biết nông nghiệp là ngành nghề quan trọng nhất trong gia đình họ. 50% hộ gia đình nông thôn trong hành lang Mekong có thu nhập từ việc bán gạo.

Nông nghiệp cũng là ngành có việc làm lớn nhất ở mỗi nước hạ lưu, sử dụng từ 65% đến 85% lực lượng lao động ở Việt Nam, Campuchia và Lào. “Ngay cả ở Thái Lan, nơi mà nông nghiệp chiếm dưới 10% GDP, 70% lực lượng lao động ở khu vực phía đông bắc làm việc trong ngành nông nghiệp”. Nếu chỉ tính dân cư ven sông của các quốc gia vùng hạ lưu, ước tính khoảng 90% dân số tham gia vào nông nghiệp.

Nghề cá là hoạt động kinh tế quan trọng tiếp theo ở lưu vực. Nghề này cũng đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực khu vực, nó cũng mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể. 25% hộ gia đình nông thôn trong hành lang Mekong có thu nhập từ việc bán cá. Đây là  nguồn thu nhập thứ hai phổ biến từ những người được khảo sát.

 4.2 Thu nhập và lợi nhuận suy giảm do năng suất nông nghiệp và nghề cá bị hạn chế

Phát triển thủy điện trong 6 năm qua đã ảnh hưởng đến kinh tế địa phương. Gần 1/6 hộ gia đình được hỏi trong một cuộc khảo sát gần đây cho biết có một thành viên đã thay đổi nghề nghiệp do năng suất hệ sinh thái thủy sinh giảm xuống. Riêng ở Campuchia, hơn một triệu người phải đối mặt với mất sinh kế nếu hai đập dòng chính của Campuchia tiến hành. 21% hộ gia đình không có nghề thứ hai đặc biệt dễ bị tổn thương do ảnh hưởng sự khan hiếm tài nguyên đang gia tăng trong lưu vực Mekong.

Một yếu tố nữa làm giảm lợi nhuận là chi phí phát sinh trong cuộc chiến với sự thay đổi môi trường do phát triển thủy điện. Đặc biệt, chi phí của các chương trình dưỡng đất quy mô lớn để bù vào việc giảm nguồn cung cấp chất dinh dưỡng tự nhiên. Chi phí thủy lợi cũng sẽ tăng khi nông dân di chuyển sang vùng đất cận kề. Chi phí thay thế dụng cụ sản xuất do lũ lụt hoặc không phù hợp với điều kiện sinh thái thay đổi.

Nếu sản lượng nông nghiệp và năng suất đánh bắt giảm, thu nhập của nông dân và ngư dân sẽ giảm hoặc không còn. Trong một số trường hợp, chẳng hạn như gần đập Thác Yali, sản lượng nông nghiệp nhiều hộ nông dân bị giảm sút đến nỗi họ buộc phải bán số gạo ít ỏi mà họ sản xuất và mượn gạo để ăn. Cuối cùng, điều này có thể dẫn đến một nền kinh tế địa phương thuần túy là tồn tại, nơi nông dân chỉ có thể sản xuất đủ lương thực cho tiêu dùng cho chính họ, không có dư để trao đổi hàng hoá khác.

Đập Thác Yali là một ví dụ hiếm thấy về phát triển thủy điện ở Mekong, nơi tác động kinh tế đã được đánh giá bằng tiền mặt. McKenny (2001) khảo sát thu nhập của các hộ gia đình Cămpuchia ở hạ lưu đập trước và sau khi xây dựng. Ông nhận thấy rằng thu nhập trung bình hộ gia đình đã giảm từ 109 đô la Mỹ một tháng trước khi xây dựng đập tới 46 đô la Mỹ một tháng ba năm sau khi xây dựng đập.

Khoản thu nhập thua lỗ hàng năm là 2.5 triệu $ Mỹ cho 3443 hộ gia đình trong vòng 3 năm. Ngoài ra, thiệt hại tài sản 800.000$ Mỹ đã được ghi nhận, mặc dù vậy đây được cho là đánh giá thấp do khó khăn trong việc định lượng thiệt hại; sự mất mát về năng suất kinh tế cũng rất khó đo lường. Lũ lụt do đập Yali gây ra cũng làm chết một số người dân Campuchia, và chất lượng nước giảm đã khiến nhiều người bị ốm.

4.3 Những hạn chế về sức mua

Sự cạn kiệt và suy thoái các nguồn tài nguyên tái tạo do phát triển thủy điện được phản ánh trong việc tăng giá. Ví dụ, với sự cạn kiệt của các khu vực rừng, giá gỗ có khả năng tăng lên. Bởi vì gỗ tạo thành chi phí đầu vào quan trọng, gỗ dùng sưởi ấm, nấu ăn và xây dựng đắt hơn. Tương tự, cá và sản phẩm nông nghiệp sẽ có xu hướng tăng giá do chất lượng môi trường suy giảm.

Một số tác động kinh tế tiềm ẩn nghiêm trọng nhất của việc phát triển thủy điện đến người dân ở lưu vực Mekong không dễ dàng được đánh giá bằng tiền tệ. Nhiều người trong khu vực “nghèo về tiền tệ, nhưng giàu tài nguyên thiên nhiên”. Về mặt này, họ dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho “thu nhập” của họ, không nhất thiết là dưới dạng tiền mặt.

Các ước tính hiện tại về tổng giá trị kinh tế của sản lượng cá ở lưu vực sông Mekong dao động từ 2 đến 3 tỷ $ Mỹ một năm. Tuy nhiên phải thêm vào giá trị chưa biết của tất cả các sản phẩm đánh bắt cá tự cung mà không bao giờ đưa vào thị trường, làm cho việc đánh giá chính xác các nghề cá ở Mekong rất khó khăn. Những nỗ lực tính toán một cách chính xác giá trị tổng sản lượng nông nghiệp – giá trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên đầu vào cho sản xuất nông nghiệp –  cũng gặp phải những thách thức tương tự như nghề cá.

Những khó khăn trong việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên tái tạo có nghĩa là những tác động kinh tế tiêu cực của phát triển thủy điện thường bị đánh giá thấp. Sai sót này đặc biệt phổ biến trong các đánh giá kinh tế xã hội ở cấp vĩ mô, vì những thiệt hại tài sản phát sinh do phát triển thủy điện thường xảy ra ở cấp độ kinh tế vi mô. Vì vậy, mặc dù có sự đồng ý chung rằng sức khoẻ của hệ sinh thái trực tiếp nuôi dưỡng người dân địa phương, các mối liên quan cấp địa phương đối với phát triển thủy điện phần lớn bị bỏ qua bởi các nhà hoạch định chính sách ở cấp quốc gia. Các nhà hoạch định chính sách cho rằng không phát triển thủy điện quy mô lớn hiện nay là sử dụng không hiệu quả tài nguyên của Mekong. Tuy nhiên, trên thực tế, các nguồn tài nguyên của Mekong đang được sử dụng rộng rãi ở quy mô nhỏ hơn, qui mô địa phương.

5.Kết luận

Sinh kế của người dân lưu vực Mekong gắn liền với nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực. Bất kỳ tác nhân thay đổi môi trường làm tổn hại đến các nguồn tài nguyên này sẽ có tác động sâu sắc đến sinh kế địa phương. Việc giảm năng suất nghề cá và nông nghiệp sẽ có những hậu quả nghiêm trọng đối với an ninh lương thực và kinh tế của người dân địa phương. Phát triển thủy điện sẽ loại bỏ khả năng duy trì bền vững của phần lớn dân số lưu vực. Nhiều người sẽ buộc phải tìm kiếm các sinh kế thay thế mà thường dẫn đến phá hủy môi trường hơn nữa, làm trầm trọng sự không bền vững của việc phát triển thủy điện liên tục.

Điều quan trọng là phải áp dụng cách tiếp cận liên ngành trong đánh giá tác động của các dự án phát triển tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù đánh giá tác động môi trường thường được tiến hành đối với các dự án thủy điện Mekong, nhưng các tác động xã hội thường ít được chú ý. Chỉ đánh giá tác động môi trường không thể nhận ra giá trị của các tài nguyên thiên nhiên này đối với người dân lưu vực.

Như Witoon Permpongsacharoen tóm tắt: “Đây là huyết mạch, nguồn sống, cho hàng triệu người. Bạn chỉ đơn giản là không thể mắc bất kỳ sai lầm lớn nào với Mekong”. Nếu người dân lưu vực đã duy trì sinh kế mà họ thụ hưởng trong nhiều thế kỷ, các nhà hoạch định chính sách phải tạo ra một sự cân bằng tinh tế giữa việc theo đuổi tăng trưởng kinh tế và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Huỳnh Thị Luông lược dich

Nguồn: Consilience: The Journal of Sustainable Development Vol. 7, Iss. 1 (2012), Pp. 73-86

Advertisements

Coralliths – Loài san hô có thể di động và đặt nền móng cho các rạn san hô mới ở những môi trường khắc nghiệt

Các nhà khoa học đã phát hiện loài san hô có khả năng tái sinh sau khi bị tách rời khỏi rạn, tạo thành nền móng để các loại san hô khác sống bám trên đó và xây dựng nên các rạn san hô mới bằng cách tạo ra môi trường sống ổn định cho chính chúng.

Phát hiện này hé lộ một tia sáng mới nghiên cứu về các loài san hô di động – được gọi là các Coralliths – phát triển trên cuội sỏi hoặc trên các mảnh vụn các rạn san hô chết, và có thể sống sót qua sự xô đẩy của sóng và dòng hải lưu.

Các polyp sát gần nhau tập trung trên cùng một san hô, chúng có nhiều xúc tua đung đưa. Có đến hàng ngàn polyps trên một nhánh san hô đơn

Khả năng tự thiết lập để thích nghi với môi trường khắc nghiệt có nghĩa là Coralliths có thể đóng một vai trò quan trọng trong nỗ lực bảo tồn và khôi phục môi trường sống của các rạn san hô, nhóm nghiên cứu cho biết.

Các nhà khoa học từ trường Đại học của Edinburgh, Glasgow và Đại học Heriot-Watt đã khám phá ra điều này trong khi họ làm thực nghiệm trên loài Coralliths ở vùng biển nhiệt đới thuộc quần đảo Maldives.

Họ đã xác định được nhiều cấu trúc khác nhau – từ những hòn sạn có kích thước hạt đậu đến những hòn cuội có đường kính vài feet– ở những nơi mà san hô khác không thể sống và tồn tại. Phát hiện này cho thấy nhiều sinh cảnh san hô hiện tại – đặc biệt là ở những khu vực bị cát và các vật liệu vụn đổ thải – có thể do Coralliths tạo ra.

Các nhà nghiên cứu cho hay, Coralliths trước đây đã được ghi nhận trong hồ sơ hóa thạch, và bằng chứng cho thấy rằng sự tồn tại của chúng từ lâu đã đóng một vai trò đáng kể trong việc hình thành các rạn san hô, muộn nhất cũng phải là kỷ băng hà cuối cùng.

Nghiên cứu này do Hội đồng Nghiên cứu Môi trường Tự nhiên tài trợ và được công bố trên tạp chí Scientific Reports.

Tiến sĩ Sebastian Hennige thuộc Trường Đại học Edinburgh cho biết: “Trong nhiều năm chúng tôi cho rằng các rạn san hô cũng như các nhóm san hô nhỏ sống trong môi trường cát cần phải có lớp nền ổn định mới có thể tạo thành. Hiện nay chúng tôi nhận ra rằng san hô có thể tự tạo thành môi trường ổn định riêng và hình thành môi trường sống cho tất cả các loài ở những nơi mà chúng ta nghĩ là không thích hợp cho việc hình thành rạn san hô.”

Tiến sĩ Heidi Burdett, thuộc Đại học Heriot-Watt, nói: “Khám phá này đặt câu hỏi về nhiều điều mà chúng ta đã chấp nhận trong sinh thái san hô, chẳng hạn như làm thế nào một số rạn san hô hình thành ở nơi đầu tiên và liệu Corallith có thể đóng một vai trò nào đó trong quá trình phục hồi rạn san hô sau thiên tai hay không?”.

Quan trọng hơn, không phải tất cả các loài san hô đều có thể trở thành Coralliths, theo lời của Tiến sĩ Nick Kamenos thuộc Trường Khoa học Địa lý và Khoa học Trái đất Đại học Glasgow: “Corallith – những loài có sức sống mãnh liệt và có tính thích nghi cao với thay đổi môi trường hoặc sự phá hủy vật lý – những đặc điểm này có thể mang lại cho chúng một lợi thế trong tương lai khi biến đổi khi hậu tiến triển. Các quá trình sinh thái được miêu tả bởi giả thuyết của chúng ta có thể trở nên phổ biến hơn trong tương lai.”

Lược dịch: Trần Thị Linh Chi – 14KMT

https://phys.org/news/2017-10-tough-species-corals-mobile-foundations.html

Chỉ đúng nguyên nhân ĐBSCL sạt lở và các khuyến nghị

Nguyễn Ngọc Trân*

Tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển ở ĐBSCL ngày càng nhiều và nghiêm trọng.

Các nguyên nhân cơ bản thường được nói đến thời gian gần đây là do thiếu hụt trầm tích bị các đập thủy điện trên dòng chính sông Lancang – Mekong giữ lại, và do lạm khai thác cát sông.

Hiểu sâu để có giải pháp tốt. Nhằm mục đích này, xin đóng góp một số ý kiến vào nhận thức khách quan vấn đề sạt lở và từ đó một số việc cần làm theo thiện ý của tác giả.

1.Trước tiên, việc sạt lở bờ sông ở đồng bằng đã từng xảy ra trong những thập niên 1980 và trước đó, tại thị xã Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và nhiều nơi khác nữa, mỗi lần đã từng “nuốt chững” hàng chục căn nhà kiên cố. Lúc đó chưa có đập thủy điện nào ở thượng nguồn. Bởi lẽ bồi lở hai bờ của một con sông là tất yếu và có tính quy luật. Không chỉ thấy sạt lở mà quên yếu tố bồi. Trong sạt lở có bồi và ngược lại.

2.Sau khi sạt lở, các cơ quan chức năng ở An Giang đã đo địa hình lòng sông trong khu vực sạt lở. Đã “thấy” một hố sâu đến -43 mét và vách đứng nơi sạt lở (Hình 1). Chúng ta sẽ trở lại dưới đây về các hố sâu giữa sông, các vách đứng dọc bờ, kết quả tác động của dòng chảy lên lòng sông và bờ sông.

Hình 1. Ngã ba sông Hậu – sông Vàm Nao (trái) và nơi sạt lở phóng to (phải). Nguồn: Tỉnh An Giang.

Continue reading “Chỉ đúng nguyên nhân ĐBSCL sạt lở và các khuyến nghị”

ỨNG DỤNG CÔNG CỤ SAFA ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC QUY MÔ NÔNG HỘ

Nguyễn Trường Ngân1, Nông Thị Ngọc Vân2

(1) Khoa Kỹ thuật Xây dựng – Trường Đại học Bách khoa TP HCM

(2)Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM

(Nguồn: kỷ yếu Hội nghị Khoa học Công nghệ lần 15 – Đại học Bách Khoa Tp.HCM)

Tóm tắt: Đất nông nghiệp nước ta bị suy thoái nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất người dân. Việc tìm kiếm và nhân rộng các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững và phù hợp tập quán sản xuất của người bản địa là một yêu cầu cấp thiết. Bộ tiêu chí SAFA (Sustainability Assessment of Food and Agriculture systems) cung cấp một bộ gồm 4 lĩnh vực, 21 chủ đề và 58 chủ đề phụ được chi tiết hóa thành 118 tiêu chí. SAFA đã được áp dụng rộng rãi và cho kết quả tốt trong đánh giá nông nghiệp bền vững theo nhiều quy mô khác nhau. Nghiên cứu này áp dụng công cụ SAFA ở quy mô nông hộ, nghiên cứu điển hình trên hai mô hình nông nghiệp của người M’Nông tại xã Yang Mao, huyện Krông Bông, tỉnh Đak Lak. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai mô hình đều đạt mức bền vững cao. Các hạn chế cần cải thiện gồm: an toàn nguồn nước, sự công bằng trong thương mại cho người sản xuất và đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho người trực tiếp lao động sản xuất.

Từ khóa: Nông nghiệp bền vững, SAFA, nông hộ, M’Nông, Đak Lak.

  1. Giới thiệu

Đến nay, 106 quốc gia đã xây dựng khung mục tiêu và tiêu chí phục vụ phát triển bền vững [5]. Mặc dù vậy, vẫn chưa có những quy chuẩn quốc tế nào rõ ràng để xác định các yêu cầu trong sản xuất nông nghiệp bền vững, cũng như chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi để đánh giá một nhà sản xuất nông nghiệp là “bền vững”.

Để khắc phục sự khiếm khuyết này, SAFA được xây dựng để áp dụng đánh giá tính bền vững cho các nhà sản xuất nông nghiệp ở nhiều quy mô khác nhau. Khung SAFA phân thành 4 cấp độ: 4 khía cạnh, 21 chủ đề, 58 chủ đề phụ và 118 tiêu chí [2].

Năm 2016, Việt Nam có đến 49,19% hộ ở nông thôn là hộ sản xuất nông nghiệp. Số hộ này sản xuất 70% rau, quả, thịt, trứng, cá và khoảng 30% quỹ lương thực cho cả nước [1].

Hình 1: Sơ đồ vị trí xã Yang Mao

Do đó, việc đánh giá, lựa chọn và áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững ở quy mô nông hộ sẽ mang lại một sự cải thiện rất lớn cho kinh tế nông nghiệp xanh của cả nước.

Xã Yang Mao là một trong 11 xã có địa phận thuộc VQG Chư Yang Sin. Năm 2015, đất nông nghiệp của xã chiếm đến 90,48%. Người M’nông chiếm đến 65% nhân khẩu của xã và hầu hết sinh sống bằng nghề nông [4]. Các cây trồng chủ lực của người M’nông là mỳ và bắp. Các vật nuôi phổ biến là bò và heo. Continue reading “ỨNG DỤNG CÔNG CỤ SAFA ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA MÔ HÌNH CANH TÁC QUY MÔ NÔNG HỘ”

Các cơn bão được đặt tên như thế nào?

Vào ngày 29 tháng 10 năm 2012, cơn bão Sandy (ảnh) đổ bộ vào New York. Khoảng 200 người đã thiệt mạng và thiệt hại lên tới 71 tỉ đô la, chỉ thấp hơn thiệt hại do siêu bão Katrina gây nên tại New Orleans vào năm 2005. Tuy nhiên, cả bảo Sandy lẫn Katrina sẽ không bao giờ xảy ra nữa do các nhà khí tượng đã nhanh chóng loại bỏ hai tên gọi này. Tổ chức Khí tượng Thế giới thuộc Liên Hợp Quốc chọn tên bão từ các danh sách được sử dụng lại sau mỗi sáu năm, nhưng loại bỏ những tên gọi gắn liền với những cơn bão có mức độ hủy diệt khủng khiếp. Những tên gọi gây tranh cãi như Adolf và ISIS cũng bị loại ra. Vậy các cơn bão được đặt tên như thế nào và truyền thống này đã hình thành ra sao? Continue reading “Các cơn bão được đặt tên như thế nào?”

ĐẠI TUYỆT CHỦNG ORDOVIC CÓ THỂ DO NHỮNG ĐỢT PHÚN XUẤT NÚI LỬA

Enrico de Lazaro, Ngày 18 tháng 05 năm 2017

Các nhà địa chất học của Đại học Tohoku (Nhật Bản) cùng với Cao đẳng Amherst và Đại học Washington ở Saint Louis (Hoa Kỳ) cho rằng họ có lẽ đã tìm ra nguyên nhân cuộc đại tuyệt chủng kết thúc kỷ Ordovic. Đây là lần đầu tiên trong năm cuộc đại tuyệt chủng được biết đến trên thế giới.

Sinh cảnh trong đại dương thời kỷ Ordovic. (Ảnh: Vince Smith/Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ / CC BY 2.0.)

Có 5 sự kiện đại tuyệt chủng trong lịch sử Trái Đất, bao gồm:

  • Tuyệt chủng kết thúc kỷ Ordovic (450 – 440 triệu năm trước),
  • Tuyệt chủng vào Devon Muộn (375 – 360 triệu năm trước),
  • Tuyệt chủng kết thúc kỷ Permi (252 triệu năm trước),
  • Tuyệt chủng kết thúc kỷ Trias (201.3 triệu năm trước)
  • Tuyệt chủng kết thúc kỷ Cretaceous (66 triệu năm trước)

Continue reading “ĐẠI TUYỆT CHỦNG ORDOVIC CÓ THỂ DO NHỮNG ĐỢT PHÚN XUẤT NÚI LỬA”

Nước mắt kẻ ăn rừng, nước mắt người vùng lũ

Khủng khiếp, bất ngờ, tàn khốc, tang thương… Đó là những tính từ được lặp đi lặp lại khi những trận lũ đổ về.

Liên tiếp những trận lũ được giới chuyên môn gọi là “lũ lịch sử”, mức độ tàn khốc, trận lũ lịch sử sau ghê gớm hơn trận lũ lịch sử trước. Rồi sẽ đến lúc, khái niệm “lũ lịch sử” không còn phù hợp để các chuyên gia làm mốc so sánh về mức độ nguy hiểm của lũ, vì càng ngày lũ không còn tuân theo những quy luật thông thường, và mức độ mỗi ngày một lớn hơn bội phần.

Xã Hoàng Văn Thụ, huyện Chương Mỹ, Hà Nội bị nhấn chìm trong nước lũ. Ảnh: Nhị Tiến

Dù được rút kinh nghiệm, dù được dự báo, cảnh báo sớm và dù được tăng cường nhiều biện pháp chống lũ, tránh lũ, nhưng xem ra, con người không thể chống được thiên tai, bão lũ. Continue reading “Nước mắt kẻ ăn rừng, nước mắt người vùng lũ”

Thiên nhiên vừa gần vừa xa trong cuộc thi ảnh National Geographic

TTO – “Đến hẹn lại lên”, cuộc thi Nhiếp ảnh gia thiên nhiên của năm 2017 được National Geographic tổ chức, thu hút các “anh tài” từ khắp thế giới.

Ban tổ chức sẽ nhận ảnh dự thi cho đến ngày 17-11-2017. BBC ngày 26-9 đã điểm lại những bức ảnh thiên nhiên “vừa gần vừa xa” dự giải năm nay.

Tác giả Angad Achappa chụp ảnh con ếch vàng Coorg này ở vùng rừng rậm Agumbe, Karnataka, Ấn Độ. Loài này từng được gọi là ếch mắt xanh do có vòng màu xanh nước biển quanh mắt.
Đường sắt Tadami nối Fukushima và Niigata, Nhật Bản nhìn từ trên cao. Nhiếp ảnh gia Teruo Araya nói: “Ngắm cảnh dọc sông Tadami từ trên xe lửa rất tuyệt. Bạn sẽ được ngắm hoa anh đào vào mùa xuân, hoa lá xanh tươi vào mùa hè, lá vàng màu vào mùa thu và tuyết vào mùa đông”.

Continue reading “Thiên nhiên vừa gần vừa xa trong cuộc thi ảnh National Geographic”

CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT YEHLIU

Công viên địa chất Yehliu có qui mô nhỏ, không thuộc mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu nhưng có sức hút khá mạnh đối với du khách do những hình thù kỳ thú của đá được diễn giải một cách hấp dẫn. Bài giới thiệu và hình ảnh về công viên Địa chất Yehliu do thày Tú cung cấp cũng như tham khảo từ một số nguồn trên internet.

Công viên địa chất Yehliu nằm ở gần điểm cực Bắc của đảo Đài Loan tại thị trấn Vạn Lịch (Wanli Town). Công viên có dạng một mũi đá, dài khoảng 1,7 km; rộng nhất khoảng 300 m. Mũi đá này được các nhà địa chất gọi là Mũi Yehliu, tạo thành một phần của Hệ tầng Daliao (chủ yếu là cát kết vôi) tuổi Miocene. Mũi đá được hình thành do lực kiến tạo đẩy Núi Datun về phía biển.

Cảnh quan đá của Công viên địa chất Yehliu là một trong những kỳ quan nổi tiếng trên thế giới. Đường bờ biển kéo dài theo đường phương của các lớp đá. Tác động của sóng, phong hóa và dịch chuyển vỏ trái đất do kiến tạo đã tạo nên địa chất tuyệt đẹp và hiếm có.

Tên “Yehliu” bắt nguồn từ: 1. Một thuật ngữ được dịch từ ngôn ngữ Pinpu; 2. Một chữ viết tắt của từ tiếng Tây Ban Nha “Punto Diablos (có nghĩa là” Mũi đá của quỷ”);

Công viên địa chất Yehliu có thể được chia thành ba khu vực. Khu vực đầu tiên chứa đá nấm và đá củ gừng. Du khách có thể học về quá trình phát triển của đá nấm cũng như chứng kiến sự xuất hiện đá củ gừng, hố nồi; đặc biệt là đá hình nến và đá hình cây kem.

Khu vực thứ hai tương tự như khu vực đầu tiên, nơi đá nấm và đá củ gừng là những tiêu điểm chính. Tại đây du khách có thể nhìn thấy đá hình Đầu Nữ hoàng, Đầu Rồng… Do khu vực này gần bờ biển, các loại đá phát triển thành bốn loại khác nhau như đá voi, hài tiên, đá hang và đá củ lạc. Các đá có hình dạng đặc biệt này là kết quả của quá trình gặm mòn của nước biển.

Khu vực thứ ba là nền mài mòn do sóng. Khu vực này hẹp hơn nhiều so với khu vực thứ hai. Một số loại đá có hình dạng và kích thước kỳ lạ do xói mòn biển như đá ngọc trai và Đá Chim Biển. Khu vực thứ ba cũng bao gồm khu bảo tồn sinh thái chính của Công viên địa chất Yehliu.

Vườn Nấm
Hình Đầu Nữ Hoàng (Ảnh góc trên tham khảo internet)

Continue reading “CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT YEHLIU”

Tình cờ phát hiện hang động tuyệt đẹp, có thể trở thành “Sơn Đoòng của miền Bắc”

Trong quá trình khảo sát xây dựng chương trình du lịch khám phá mạo hiểm xuyên rừng (trekking) cho khách du lịch nước ngoài, anh Nguyễn Tuấn Linh, Giám đốc công ty lữ hành quốc tế “Mr Linh’s Adventures” đã tình cờ phát hiện một hang động tuyệt đẹp tại bản Vàng, xã Hoàng Trĩ (Ba Bể, Bắc Kạn).

Ngay sau khi phát hiện hang, anh Nguyễn Tuấn Linh đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh Bắc Kạn, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Bắc Kạn và chính quyền địa phương để xin ý kiến về việc tiến hành khảo sát thực tế, đánh giá hiện trạng để có kế hoạch đưa vào khai thác, phát triển thành sản phẩm du lịch.

Mới đây, đoàn khảo sát được thành lập, bao gồm Sở VHTTDL Bắc Kạn do ông Nguyễn Văn Hà, phó giám đốc Sở làm trưởng đoàn, cùng đại diện các phòng nghiệp vụ thuộc Sở; dại diện vườn quốc gia Ba Bể; lãnh đạo huyện Ba Bể, xã Hoàng Trĩ và phóng viên đã tiến hành khảo sát sơ bộ hang, nằm trên núi Thẩm Phầy, thuộc địa phận bản Vàng, xã Hoàng Trĩ, Ba Bể.

Đường vào núi khá hiểm trở, chỉ có duy nhất một đường độc đạo do người dân đi rừng khai phá lâu ngày hình thành lối đi, xung quanh cây cối rậm rạp. Vị trí hang nằm ở lưng chừng núi, do chưa có đường vào nên rất khó khăn trong việc di chuyển.

Cửa hang khuất nên rất khó phát hiện, từ cửa hang đi xuống sâu khoảng 20m và ăn sâu vào trong lòng núi. Ngay lối dẫn vào trong động là những khối thạch đá có hình thù như hàm răng của một con quái vật khổng lồ, phía dưới là dòng suối ngầm trong lòng hang với độ nông và dòng chảy vừa phải, song càng vào sâu bên trong động suối càng sâu, có những đoạn ngập tới ngang ngực.

Đi sâu vào lòng hang khoảng hơn 1 km, đoàn khảo sát đã phát hiện 2 nhánh động, trong đó một nhánh động ăn sâu vào sườn núi phía tay trái với chiều dài khoảng hơn 1,5 km – nhánh động này có địa hình khá bằng phẳng những đoạn suối nước trong vắt nhìn thấy những hòn đá cuội trắng tinh dưới đáy suối; nhánh thứ 2 ăn vào lòng núi bên tay phải, tuy nhiên đoàn chưa thể xác định được độ dài của nhánh này.

Càng vào sâu trong hang không khí càng lạnh và rất khó đi, những dải thạch nhũ hình thù kỳ lạ xuất hiện càng nhiều.

Sau khi thám hiểm lòng động với chiều dài khoảng 3 km, đoàn quyết định quay ra ngoài để đảm bảo an toàn.

Theo nhận định sơ bộ của đoàn khảo sát, khả năng động thông ra phía sau của núi là rất cao, nếu nhận định này chính xác thì chiều dài của động ước khoảng 5- 7 km.

Phó giám đốc Sở VHTTDL Bắc Kạn Nguyễn Văn Hà đánh giá cao việc phát hiện ra hang động nói trên, đây là yếu tố quan trọng để phát triển các sản phẩm du lịch, tạo sự phong phú hấp dẫn cho du lịch Bắc Kạn nói chung, Ba Bể nói riêng.

Sở VHTTDL Bắc Kạn và lãnh đạo địa phương đã thống nhất các bước tiếp theo là mời các chuyên gia hang động đánh giá địa chất, địa mạo, cũng như tiến hành khảo sát sâu hơn để có đánh giá cụ thể, nhằm đưa vào khai thác trong thời gian sớm nhất.

Cửa hang khuất nên rất khó phát hiện.

Continue reading “Tình cờ phát hiện hang động tuyệt đẹp, có thể trở thành “Sơn Đoòng của miền Bắc””