Kênh xáng Xà No

ĐÌNH TUYỂN

Kênh xáng Xà No dài 40 km, bắt nguồn từ ngã ba Vàm Xáng, sông Cần Thơ (nhánh lớn sông Hậu), đoạn qua huyện Phong Điền chạy dài tới ngã ba sông Ba Voi (Hậu Giang) trước khi đổ ra sông Cái Lớn (Kiên Giang) chảy ra biển Tây. Con kênh được người Pháp thi công bằng cơ giới, chỉ trong 2 năm (từ 1901 – 1903) đã hoàn thành, mặt kênh rộng 60 m, đáy 40 m; phí tổn lên tới gần 3,7 triệu quan (Franc). Đây cũng là công trình đường thủy lớn đầu tiên của Nam kỳ có thể so sánh với việc thiết lập đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho.

Cải tạo vùng “đất chết”

Ngồi quây quần cùng con cháu trong căn nhà sát bờ kênh xáng Xà No, cụ ông Nguyễn Văn Kiểu (92 tuổi, ngụ xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, Hậu Giang) không nhớ hết tên cháu chắt của mình nhưng thuộc vanh vách những câu chuyện về con kênh xáng trước nhà. Câu chuyện của ông Kiểu thường bắt đầu từ tên con kênh. Cụ bảo, người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của phum Sok Snor (phum có nhiều cây điên điển của người Khmer), nơi con kênh chảy qua. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

Gốc gác xứ Sóc Trăng, cụ Kiểu theo cha mẹ lưu lạc về vùng đất dọc kênh Xà No khai khẩn, lập nghiệp từ khi mới 5 tuổi. Cụ nhớ cả vùng đất từ Một Ngàn, Bảy Ngày cho tới Vị Thanh, Hỏa Lựu thuở ấy toàn là rừng trũng, đầy cỏ năn, cỏ lác. Mùa mưa ghe xuồng luồn lách đi được nhưng ít ai dám vào sâu bên trong vì toàn cá sấu, cọp beo… Còn mùa nắng, lại toàn là phèn, chẳng trồng được cây gì. “Cả chục năm sau khi Pháp đào con kênh, đưa nước ngọt từ Hậu Giang về thau chua, rửa phèn, lúa mới trúng, nhà máy xay xát của điền chủ mọc lên, ghe lúa, rồi dân thương hồ tứ xứ qua lại con kênh, chợ búa hình thành, người dân về lập nghiệp kín bờ kênh”, cụ Kiểu kể.

Người về dựng lều, nhà cửa kín bờ kênh, họ lại lấn vào trong 2 – 3 lớp nhà, dần dần hình thành xóm, thành làng. Ở các ngã ba, ngã tư sông tập trung nhiều hộ dân thì mở chợ, xây đình, cất trường học. Sống nơi sông sâu nước chảy, đất ruộng thẳng cánh cò bay, nông dân làm tá điền tuy có vất vả, nhưng “làm chơi mà ăn thiệt” sạ lúa bỏ đó, cuối mùa cũng gặt hái 5 – 7 giạ/công.

Cánh đồng lớn

Khi đã có con kênh xáng, những năm 1920 – 1930, Pháp đẩy mạnh việc khai thác đất đai. Dọc hai bên bờ kênh được quy hoạch thành những cánh đồng lúa bạt ngàn. Đó là những điền Bảy Ngàn của Tây Albert, một trong những điền chủ lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ với trên 30.000 mẫu đất, hơn 3.000 hộ tá điền. Mỗi năm Tây Albert thu lúa ruộng, lúa vay hàng triệu giạ. Nơi kho chứa lúa và nhà của Tây Albert tại thị trấn Bảy Ngàn được người dân gọi là Lầu Trắng rộng hơn 1 ha. Những cánh đồng nhỏ hơn như điền Tây Duval và điền Tây Guery cũng sở hữu 2.500 mẫu; điền do các công ty của Pháp đầu tư, quản lý, khai thác chí ít cũng 10.000 mẫu.

Đoạn đầu kênh xáng Xà No tiếp giáp với sông Cần Thơ (H.Phong Điền, TP.Cần Thơ)

Nhâm nhi ly trà bên quán nước cạnh Bảo tàng Cần Thơ, soạn giả Nhâm Hùng, người dành nhiều thời gian nghiên cứu về văn hóa Nam bộ, bảo rằng: “Tới bây giờ ta mới đẩy mạnh các mô hình cánh đồng lớn và xem đó như là hướng đi của nông nghiệp sản xuất tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật. Ấy thế mà những năm đầu thế kỷ 20, bằng việc đào kênh xáng Xà No, người Pháp đã hình thành những điền trại quy mô hàng chục ngàn héc ta, máy cày đã chạy sáng đồng ở vùng đất này”.

Chỉ trong một thời gian ngắn, kênh xáng Xà No đã làm thay đổi diện mạo một vùng đất úng ngập, ứ phèn quanh năm. Diện tích ruộng đất hai bên bờ kênh lại được mở rộng hơn khi những chuyên gia thủy lợi Pháp cho đào tiếp hệ thống kênh nhỏ “xôm lươn” (như xương cá) để điều hòa dòng chảy. Cứ cách 500 m xẻ một kênh nhỏ; cách 1.000 m đào con kênh lớn hơn. Các con kênh nhỏ đào sâu và hai bên xáng Xà No 1.000 m được nối bằng những con kênh sườn, phân đất ra như những ô bàn cờ. Việc tưới tiêu nhờ đó mà ngày càng thuận lợi, giúp các chủ điền mở rộng thêm diện tích, tăng năng suất, sản lượng lúa. Từ việc Tây Albert cho đánh số các kênh thủy lợi trên diện tích đất của mình mà sau này còn hình thành nên những đơn vị hành chính, như thị trấn Một Ngàn, thị trấn Bảy Ngàn, Hai Ngàn Rưỡi… Chỉ 5 năm sau ngày đào kênh xáng Xà No, lúa gạo miền Hậu Giang đưa đi xuất cảng tăng vọt: chiếm đến 900.000 tấn, trong tổng số 1,3 triệu tấn của toàn Nam kỳ.

Di sản thủy lợi

“Nếu người Pháp thời đó không đào kênh xáng Xà No thì cho đến bây giờ, chúng ta cũng khó mà làm được”, TS Dương Văn Ni, chuyên gia về đa dạng sinh học, khẳng định. Ông phân tích: Không chỉ khơi thông vùng đất trũng nhất của ĐBSCL là Vị Thanh – Long Mỹ – Phụng Hiệp (Hậu Giang), kênh xáng Xà No giúp vùng nông nghiệp trọng điểm Thới Lai, Cờ Đỏ của Cần Thơ thoát lũ mỗi năm. “Kênh Xà No còn là đường đi tắt từ Cần Thơ xuống Kiên Giang cực kỳ dễ dàng nhờ sự giao thoa giữa chế độ bán nhật triều (ngày 2 con nước lớn – ròng) của sông Hậu và nhật triều (chỉ 1 con nước lớn – ròng) của sông Cái Lớn”.

Soạn giả Nhâm Hùng nói, cơ giới của người Pháp không chỉ cải tạo vùng đất “chết” thành vùng ngọt hóa, xanh tốt mà còn hình thành nên nền “văn minh kênh xáng”. Nó bắt đầu từ việc cơ giới hóa thủy nông, tiếp cận với sản xuất bằng cơ giới, sản xuất lớn. Sau đó, việc phát triển của công nghiệp xay xát, nghề buôn bán, dịch vụ trên sông… Nhiều khu chợ cũng hình thành từ đó như chợ Vàm Xáng (lập năm 1907), chợ Một Ngàn, chợ Bảy Ngàn, chợ Cái Nhum, chợ Hỏa Lựu. Đặc biệt hơn là chợ nổi Cái Răng, Phong Điền. Tại chợ Cái Răng, hàng chục nhà máy xay xát hình thành bên cạnh các chành lúa khổng lồ. Các ghe lúa tập nập mua gom từ Rạch Giá, Bạc Liêu và vùng lân cận kênh xáng Xà No đưa về đây xay xát, rồi chở lên Chợ Lớn xuất cảng. Kênh xáng Xà No trở thành “con đường lúa gạo” lớn sầm uất nhất Đông Dương.

Đồ họa: Duy Quang | Ảnh: Đình Tuyển

https://thanhnien.vn/doi-song/kenh-dao-huyen-thoai-mien-tay-mo-con-duong-lua-gao-tu-vung-dat-sau-loi-cop-dua-1048395.html

Advertisements

Ảnh thiên nhiên đẹp nhất tháng 1

Chim ó biển tranh mồi dưới nước, sư tử con cắn đuôi mẹ, bình minh trên núi tuyết là ba trong những bức ảnh ấn tượng trên National Geographic.

Hai con chim Cissopis leverianus thuộc bộ sẻ dường như đang có một cuộc trò chuyện căng thẳng trong rừng mưa Đại Tây Dương ở Brazil. Loài chim ồn ào này thường xuất hiện theo cặp hoặc nhóm.
Sông Ili mang những màu sắc khác nhau tùy theo mùa và sự hiện diện của các khoáng chất trong nước. Dòng sông dài khoảng 1.450 km, trải dài từ tây bắc Trung Quốc đến đông nam Kazakhstan.
Nhiếp ảnh gia Yaron Schmid ghi lại cảnh tượng sư tử con nô đùa với mẹ trong công viên quốc gia Serengeti, Tanzania. “Khoảnh khắc đẹp nhất là ba con sư tử nhỏ bắt đầu chơi đùa và cắn đuôi mẹ chúng, giống như lũ mèo chơi với cuộn len vậy”, Schmid chia sẻ.
Lốc xoáy quét qua bang Colorado, Mỹ. Lốc xoáy có thể hình thành và di chuyển ngoài dự đoán, tạo ra thách thức lớn cho các nhiếp ảnh gia.
Chim Tringa flavipes săn côn trùng hoặc cá nhỏ trong một bãi nước nông ở công viên Presqu’ile, Ontario, Canada. Bữa ăn sẽ cung cấp năng lượng cho nó di cư đến Nam Mỹ vào mùa đông.
Gấu Kermode, hay gấu thần linh, tìm kiếm cá hồi trong rừng mưa Gấu Lớn ở British Columbia, Canada. Hạn hán khiến mực nước sông giảm. Cá hồi, thức ăn chủ yếu của gấu Kermode, không thể di cư như bình thường.
Cá voi lưng gù nhỏ tuổi lọt vào ống kính của nhiếp ảnh gia Leighton Lum trong một chuyến lặn biển ở Tonga. “Thật tuyệt vời khi nhìn thấy sinh vật hoang dã này vô tư bơi lội và đùa nghịch. Chúng tôi ở lại với con vật hiếu kỳ hơn một tiếng. Thậm chí nó còn theo chúng tôi về thuyền vì muốn chơi nhiều hơn”, Lum kể lại.
Những ngọn cây phủ đầy tuyết trắng ở dãy núi Krkonose, Ba Lan, phía trên là bầu trời buổi sớm ửng đỏ. Dãy núi này nằm ở khu vực biên giới với Cộng hòa Czech.
Chim ó biển tranh giành con mồi dưới nước. Nhiếp ảnh gia Sally Hinton đặt máy ảnh trong vỏ chống nước rồi hạ xuống từ mạn thuyền. Hinton theo dõi lũ chim và chụp khi thấy chúng lặn xuống, hoàn toàn không biết bức ảnh cuối cùng sẽ như thế nào.
Hươu cao cổ đơn độc dừng chân dưới bóng mát của cây keo trong công viên quốc gia Serengeti, Tanzania. Đây là thức ăn yêu thích của hươu cao cổ. Với cổ dài và chiếc lưỡi linh hoạt, chúng có thể ăn lá cây ở độ cao mà không loài nào khác vươn tới được.

Ảnh: National Geographic

https://vnexpress.net/khoa-hoc/anh-thien-nhien-dep-nhat-thang-1-3876142.html

 

 

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

Một số hình ảnh chọn lọc dưới đây để các bạn sinh viên K.15 tham gia tuyến hành trình thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ  giải đoán, hãy trả lời câu hỏi: Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?, diễn giải nội dung càng chi tiết càng tốt. Đây là bài tập kiểm tra kiến thức đã học, khả năng quan sát thực tế của các bạn đấy.

Ngày 7.12

H_1 ?
H_2?
H_3?
H_4?
H_5?

Ngày 8.12

H_6?
H_7?
H_8
H_9?
H_10?

Ngày 9.12

H_11?
H_12?
H_13?
H_14?

 

Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi

TTO – “Tịnh Biên – An Giang vào mùa nước nổi đẹp như tranh vẽ với hàng cây thốt nốt huyền thoại” – nhiếp ảnh gia Minh Trung (TP. HCM) nhận xét

Mùa nước nổi Tịnh Biên yên bình, đẹp như tranh vẽ – Ảnh: MINH TRUNG

Cây thốt nốt gắn liền với vùng Thất Sơn (hay còn gọi là vùng Bảy Núi) thuộc địa phận huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên của tỉnh An Giang. Vì thế, nơi đây được xem là “xứ sở của thốt nốt”.

Mùa nước nổi Tịnh Biên từ tháng 9 tới 11 hàng năm là thời điểm các nhiếp ảnh gia về đây để sáng tác ảnh.

Du khách đến Tịnh Biên có thể dễ dàng bắt gặp những cây thốt nốt vươn thẳng lên cao 30m, có cây lại uốn cong thân và khi chúng soi bóng mặt hồ tạo nên cấu trúc đối xứng tuyệt đẹp.

Du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh cây thốt nốt khi đến Tịnh Biên, An Giang – Ảnh: MINH TRUNG

Continue reading “Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi”

Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học

Đa dạng địa học (Geodiversity)

Vị trí của đa dạng địa học trong đa dạng thiên nhiên là gì?

Đa dạng địa học (ĐDĐH) là sự đa dạng của các yếu tố tự nhiên, như các khoáng vật, các loại đá, hóa thạch, dạng địa hình và cảnh quan của chúng, các kiểu đất, và các quá trình địa chất/địa mạo hoạt động.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Cùng với đa dạng sinh học, ĐDĐH tạo nên sự đa dạng tự nhiên của Trái Đất. ĐDĐH làm nền móng cho đa dạng sinh học và cung cấp cho xã hội những lợi ích bao gồm các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ, cung cấp và văn hóa.

Di sản địa học (Geoheritage)

Di sản địa học là gì ?

Di sản địa học là một phần di sản tự nhiên của một diện tích (hoặc một điểm) nào đó được cấu thành bởi các yếu tố ĐDĐH với giá trị địa chất đặc biệt và do đó xứng đáng được bảo vệ vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai. Di sản địa học có thể bao gồm cả các yếu tố tại chỗ (geosites) hoặc các yếu tố đã di chuyển (các tập hợp các mẫu vật địa chất) có sự quan trọng về  cổ sinh, địa mạo, khoáng vật, thạch học và địa tầng…

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Bảo tồn địa học (Geoconservation)

Bảo tồn địa học là gì ?

Tập hợp các hành động hướng đến thông tin quản lý các điểm địa chất bao gồm kiểm kê và đánh giá, bảo tồn, bảo vệ theo luật định, diễn giải và giám sát các điểm địa di sản.

Việc quản lý các địa di sản di chuyển (ex situ) cũng là một hoạt động bảo tồn địa học. Bảo tồn địa học được coi là một ngành mới nổi trong khoa học địa chất.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Vì sao địa di sản dễ bị rủi ro? Continue reading “Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học”

Central Park giống hệt cái ‘mỏ hàn’ đe dọa sông Sài Gòn

Nhiều người đang phát cuồng về cao ốc 81 tầng Landmark và công viên Central Park (thuộc tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) đã “lung linh, chễm chệ” trên nền cảng cũ.

Dù tài sản làm cho Nhà nước, cũng không được phép

Tương tự như Đồng Nai, ông Tứ e ngại những gì đang diễn ra ở TP.HCM tiếp tục tạo tiền lệ cho việc gia tăng vi phạm và lấn chiếm hành lang thoát lũ, dòng chảy của các con sông trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo ông, không thể lập luận rằng việc xây Central Park làm công trình công cộng là đúng quy định được. “Dòng chảy sông cần được duy trì một cách tự nhiên như vốn có được quy định bởi tiến trình lịch sử mạng thoát nước tự nhiên, cũng như hệ sinh thái đặc thù riêng. Cầu cảng cũ vẫn khác với khối bê tông mặt đất như hiện nay, bởi cầu cảng vẫn thông nước. Do đó, công trình này sẽ tạo áp lực nước cho phía bờ đối diện”, ông Tứ nói.

Ông cho rằng ở Vinhomes Tân Cảng hiện tồn tại 2 vấn đề. Thứ nhất, lấn chiếm mặt nước để làm công trình, điều đó hoàn toàn sai luật, gồm các Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng chống thiên tai và Luật Giao thông đường thủy nội địa.

“Không ai có quyền lấy sông của mọi người làm tài sản, dù tài sản ấy có làm cho Nhà nước cũng không được phép. Chưa kể, trong điều kiện thiên nhiên đang thê thảm như hiện nay, phải giữ gìn dòng sông, đã không giữ được lại còn phá hoại, lại cứ nhăm nhe “chém nó”, ông Tứ bức xúc.

Một góc Central Park

Thứ hai, về mặt khoa học, khi lấp cầu cảng như vậy đã tạo nên một “mỏ hàn” rất lớn để đẩy nước sang phía bờ bên kia.

Tác động như thế nào, theo ông Tứ cần phải nghiên cứu. Nhưng nguyên tắc về chỉnh trị sông có hai hình thức. Một là kè, như ta thấy người ta thường dùng bê tông đắp lên. Dù không lấn ra sông, nhưng kè vẫn có tác động đến bờ đối diện, bởi tạo ra thế bên này cứng, bên kia vẫn là đất mềm.

Hình thức còn lại nguy hiểm hơn dùng trong trường hợp người ta muốn làm xói lở một bên sông và cho bên còn lại bồi, đó là “mỏ hàn”. Thuật ngữ chuyên môn “mỏ hàn” có thể hình dung là một khối bê tông cứng chòi ra lòng sông.

“Dù không to như Tân Cảng, nhưng “mỏ hàn” có thể lái dòng nước sang phía kia để tác động cho bờ đó lở đi, nói chi cả khu vực cầu cảng đã bị lấp. Nói cách khác, khu vực Tân Cảng như hiện nay là một “mỏ hàn” cực lớn”, ông Tứ phân tích.

Ông nói tiếp: “Họ sẽ cho rằng có ăn thua gì, sông to như thế, chúng tôi chỉ làm một tí “mỏ hàn”. Nhưng với tôi là không! Vì chắc chắn động lực của dòng chảy bị biến động khi các bờ sông bị thay đổi”.

“Dấu ấn” chiếm mặt sông

Luật sư Phùng Thanh Sơn (Đoàn Luật sư TP.HCM) đánh giá tình trạng lấn chiếm, san lấp kênh, rạch, sông để làm dự án ở TP.HCM khá phổ biến và ở nhiều mức độ khác nhau. Tình trạng này không phải mới diễn ra gần đây, nó đã xảy ra từ hàng chục năm trước.

Về nguyên tắc, theo ông Sơn, chủ đầu tư không được phép xây dựng trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch (trừ trường hợp các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các công trình quốc phòng, phòng cháy chữa cháy, công trình phục vụ công ích có thời hạn thì được phép xây dựng).

“Từ đó, có thể thấy nhiều lý do để chủ đầu tư muốn lấn sông. Do hành lang bảo vệ sông, kênh rạch có thể tính từ mép được xây dựng, cải tạo nên nếu việc xây dựng, cải tạo đó lấn sông, kênh rạch thì phần đất trong hành lang bảo vệ bờ thực tế sẽ ít đi. Hay nói cách khác, việc lấn sông, kênh rạch sẽ đem lại nhiều lợi ích cho chủ đầu tư như diện tích đất mà chủ đầu tư có thể xây dựng nhà ở, cao ốc… sẽ tăng lên mà không vượt quá mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất mà pháp luật quy định”, ông Sơn nói.

Việc biến đất vốn dĩ thuộc hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch thành đất thương mại bán cho khách hàng giúp chủ đầu tư có đủ không gian để có thể tạo ra một “dấu ấn” cho dự án của mình, để bán nhà với giá cao bằng việc xây công trình hạ tầng xã hội trong hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch đó, theo luật sư Sơn.

Tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng trước đây là khu vực cảng nên hiển nhiên phải có các công trình bến cảng, cầu cảng… để phục vụ cho việc neo đậu tàu, bốc dỡ hàng hóa.

“Đã là cầu cảng thì không thể xây dựng sát bờ mà phải cách xa bờ. Do đó cầu cảng không được xem là bờ của sông Sài Gòn nên không thể lấy cầu cảng làm cơ sở để xác định hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn và cho xây dựng công viên trên đó. Chưa kể, thiết kế cảng rất khác với việc lấp các vùng nước trong cảng để làm công viên. Bởi điều đó ảnh hưởng và thay đổi dòng chảy”, ông Sơn lập luận.

Theo ông, việc trên rất dễ kiểm chứng. Cứ lấy hồ sơ thiết kế cảng trước đây và so với thực trạng hiện nay sẽ biết ngay là Vingroup có lấn, lấp sông Sài Gòn hay không; vùng nước nào trong cảng bị lấp, vùng nước nào không. Dựa vào thiết kế cảng trước đây chúng ta cũng xác định được vị trí bờ sông Sài Gòn đang ở đâu để từ đó xác định chính xác hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn.

Theo Quyết định 150/2004/QĐ-UBND trước đây về quy định quản lý, sử dụng hành lang trên bờ sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố và nay là Quyết định 22/2017/QĐ-UBND của UBND TP.HCM, thì hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch cấp kỹ thuật I, II mỗi bên là 50m; cấp kỹ thuật III, IV mỗi bên là 30m; cấp kỹ thuật V, VI mỗi bên là 20m và đối với kênh rạch chưa được phân cấp kỹ thuật mỗi bên là 10m, được tính từ mép bờ cao của sông, kênh, rạch (theo dạng tự nhiên hoặc được xây dựng, cải tạo) vào bên trong phía đất liền. Chủ đầu tư không được xây dựng các công trình nhà ở, cơ sở kinh doanh trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch… Và các công trình xây dựng phải đảm bảo độ lùi so với hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/thoi-su/central-park-giong-het-cai-mo-han-de-doa-song-sai-gon-136152/

Nam Anh

Thành lập bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang do mực nước biển dâng trong tương lai

Hoàng Thị Phương Chi, Hà Quang Hải

1.Giới thiệu

Nhiều nghiên cứu trong khuôn khổ Tổ chức Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu – IPCC đã dự báo mức biển toàn cầu sẽ tăng từ 17,8 – 54,42 cm vào cuối thế kỷ (2090 – 2099 so với giai đoạn 1980 – 1999) [8]. Dựa vào các kịch bản của IPCC [8], Bộ Tài nguyên môi trường Việt Nam cũng đưa ra kịch bản dự đoán vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 2,3oC, và mực nước biển dâng 75cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 [2].

Mực biển dâng sẽ kéo theo các tai biến đới bờ mà nghiêm trọng nhất là ngập lụt trên diện rộng [10]. Một khu vực ngập dài hạn sẽ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên cũng như làm thay đổi điều kiện kinh tế xã hội của khu vực đó. Do đó đánh giá mức độ tổn thương đới bờ do mực biển dâng trong tương lai là cơ sở cho việc xây dựng hành động ứng phó. Phương pháp đánh giá tổn thương trong bài báo này được sử dụng dựa trên các yếu tố về hải văn và địa chất, địa mạo.

Bài báo này trình bày phương pháp thành lập bản đồ phân vùng tổn thương bờ biển do mực nước biển dâng với kịch bản 75 cm vào năm 2100. Các điểm đánh giá và thể hiện mức độ tổn thương trên bản đồ sẽ là cơ sở cho việc đánh giá rủi ro ven biển và là công cụ hữu ích phục vụ cho việc Quản lý tổng hợp đối bờ (ICZM – Integrated Coastal zone Management) [10].

2.Khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu thuộc dải bờ biển từ Hà Tiên đến Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, dài 72,8 km. Khí hậu gió mùa cận xích đạo chịu ảnh hưởng của biển với đặc điểm chung là nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa nhưng ít bão. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.600 đến 2.000mm [3]. Nhiệt độ trung bình năm cao 27,3oC [3]. Chế độ nhật triều là chủ yếu.

Đây là một vùng đất giàu tài nguyên: đất, nước, biển, khoáng sản và nhất là tài nguyên du lịch. Bên cạnh đó tính đa dạng sinh học và đa dạng địa học cũng là một thế mạnh của vùng [6]. Bảo tồn tính đa dạng sinh học cũng là một vấn đề được quan tâm ở khu vực này. Nhất là các hệ sinh thái mang tính chất đặc trưng của cả vùng như thảm thực vật trên núi đá vôi, hay hệ sinh thái đồng cỏ bàng [6].

Dân cư phân bố tập trung chủ yếu tại thị xã Hà Tiên, thị trấn Kiên Lương và các vùng đất thấp ven biển, hay dọc theo quốc lộ. Nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp trồng lúa, hoa màu, kết hợp nuôi trồng thủy sản cũng như du lịch, dịch vụ, khai thác khoáng sản.

3. Dữ liệu

Ngoài việc các tài liệu tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực, nghiên cứu này chủ yếu dựa vào các dữ liệu thuộc tính và không gian của các bản đồ và ảnh viễn thám. Các dữ liệu sử dụng chính được trình bày trong Bảng 1.

4.Phương pháp

Chỉ số tổn thương đới bờ (CVI) được V. Gornitz và cộng sự [11] xây dựng như là công cụ để đánh giá khả năng thay đổi của vùng bờ biển. Chỉ số này được áp dụng cho cả khu vực quy mô vùng hoặc quốc gia trong việc quản lý tài nguyên đới bờ.

Theo V. Gornitz và cộng sự [8], CVI được tính toán như sau:

Chỉ số tổn thương đới bờ được xây dựng từ các biến mà có tác động lý học trực tiếp lên sự thay đổi đường bờ biển trong điều kiện mực nước biển dâng gồm: địa mạo bờ biển (đặc điểm hình thái các vách bờ), địa chất bờ biển (đặc điểm thạch học các đá cấu tạo bờ và bãi), độ dốc của bờ về phía biển, tốc độ bồi/ xói, độ cao địa hình, mực nước biển dâng trung bình, mực triều trung bình, độ cao sóng trung bình.

Sự định lượng tổn thương đới bờ dựa vào các biến sẽ phản ánh cụ thể vùng bị tác động lý học của nước biển dâng tùy theo mức độ. Do đó công thức tính CVI trong nghiên cứu sẽ là:

Địa mạo

Yếu tố địa mạo được phân chia làm 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa đặc điểm hình thái các vách bờ và mức độ xói lở. Thang phân chia được tính điểm từ 1 đến 5 theo mức độ gia tăng sự tổn thương đới bờ đối với hiện tượng nước biển dâng. Trong nghiên cứu này, yếu tố địa mạo chủ yếu dựa vào khảo sát thực địa. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Địa chất

Yếu tố địa chất cũng được phân thành 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa các loại đá/ trầm tích cấu tạo nên bờ biển và mức độ xói lở. Bờ có cấu tạo từ đá gốc của hệ tầng Núi Cọp (Đá tuff, ryolit xen phiến silic, cát kết, bột kết) hoặc hệ tầng Hòn Heo (Đá cát kết thạch anh, cát kết quazit, đá phiến bột kết) là các loại đá vững chắc nhất trong khu vực nghiên cứu, do đó mức độ tổn thương do biển dâng sẽ là thấp nhất (thang điểm 1). Dạng bờ có cấu tạo bởi trầm tích bở rời như cát, bột, sét kém ổn định nhất, do đó mức độ tổn thương sẽ là cao nhất (thang điểm 5). Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương cũng được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Tốc độ bồi/xói

Tốc độ bồi xói (mm/năm) được tính toán dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat năm 1979, 1992 và 2009 (30 năm). Từ các ảnh trên, dùng phần mềm ENVI 4.0 để tách ra đường bờ của hai thời kỳ bằng phương pháp chọn ngưỡng cho band 4 của ảnh Landsat TM và ETM+. Từ bản đồ đường bờ hai thời kỳ, giải đoán sự thay đổi bằng mắt, đường bờ được chia thành 41 đoạn dựa theo hiện tượng bồi, xói. Tốc độ bồi xói sẽ được tính toán bằng cách đo các khoảng cách của các đường bờ trong một đoạn và tính trung bình. Đới bờ của khu vực nghiên cứu có tất cả 10/41 đoạn xói lở (11,95/72,80 km) với tốc độ cao nhất lên đến -3,2m/năm, có 16/41 đoạn bờ bồi tụ (41,25/72,80 km) với tốc độ cao nhất khoảng +6,38 m/năm, và có 14/41 đoạn bờ ổn định (17,32 km) (bao gồm khu vực bờ nhân tạo và các vùng có kè bảo vệ). Vùng bờ càng xói thì mức độ tổn thương do mực biển dâng trong tương lai càng cao và ngược lại. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ dốc bờ biển (%)

Độ dốc vùng bờ thể hiện mối tương quan giữa mức độ tổn thương do ngập đến khả năng thay đổi của đường bờ; vùng bờ thoải có thể thay đổi (lùi về phía đất liền) nhanh hơn vùng bờ dốc [10].

Độ dốc bờ được tính toán dựa trên dữ liệu cao độ đáy biển của khu vực nghiên cứu. Đoạn bờ dùng để tính độ dốc được quy ước là phần bờ về phía biển và cách đường bờ 7,5 km. Độ dốc được tính bằng % tỷ số độ chênh cao mép bờ và vị trí cách bờ 7,5 km với khoảng cách giữa hai vị trí đó. Cứ mỗi đoạn bờ sẽ tính 3 điểm và lấy trung bình. Theo tính toán trong khu vực nghiên cứu, độ dốc lớn nhất là 0,95% và độ dốc nhỏ nhất là 0,44%. Theo phân cấp tổn thương, độ dốc càng thấp thì mức độ tổn thương càng cao. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ cao địa hình – Xây dựng kịch bản ngập 0,75 m

Nghiên cứu này sử dụng kịch bản mực biển dâng 0,75 m vào năm 2100 [2] làm cơ sở để dự báo. Phân vùng ngập do mực biển dâng được thực hiện dựa trên bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất, ảnh Landsat và dữ liệu vệ tinh Google Earth. Khu vực nghiên cứu sẽ được phân thành hai vùng: trên 0,75 m và dưới 0,75 m.

Theo khảo sát thực địa, người dân đã tìm những vùng đất cao và an toàn để sinh sống, hầu như cao trình của các khu dân cư và đường giao thông đều trên 0,75 m. Vùng trên 0,75 m được xác định là các vùng: đất ở nông thôn và đô thị; đường giao thông; núi, đồi và các khu vực khác cao trên 0,75 m. Phần còn lại của khu vực nghiên cứu, bao gồm các kênh rạch, đầm hoặc các vùng trũng ngập nước, các khu vực RNM ven biển, các khu nuôi trồng thủy hải sản.

Theo kết quả tính toán (hình 11), vùng cao trên 0,75m có diện tích gần 170 km2, khu vực có cao độ dưới 0,75 m là khu vực dự báo ngập vào năm 2010 có diện tích khoảng 373 km2, chiếm tỉ lệ tới 68,84% toàn bộ khu vực nghiên cứu.

Dựa theo số liệu tính toán này, vùng bờ nào có độ cao địa hình trên 0,75m sẽ được xem là vùng ít bị tổn thương trong điều kiện mực biển dâng trong tương lai, và có thang điểm là 1 trong thang phân loại mức độ tổn thương; vùng bờ nào có độ cao địa hình dưới 0,75m sẽ có điểm đánh giá là 5 và là vùng có mức độ tổn thương rất cao.

Các thông số khác

Trong nghiên cứu này, các biến mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực nước biển dâng toàn cầu được xem là đồng nhất cho tất cả 41 đoạn bờ. Điểm 3 cho ba biến này được cho theo thang phân loại nghiên cứu bờ biển Tây Ấn [10]: mực triều trung bình 0,95m [3], 5 điểm (mức độ tổn thương rất cao); chiều cao sóng trung bình 2,5m [3], mực nước biển dâng toàn cầu 3,1 mm/năm [3] đều 4 điểm (mức độ tổn thương cao).

5.Kết quả và thảo luận

Mức độ tổn thương được thể hiện trong hình 12. Giá trị CVI tính được trong khoảng 5,00 – 158,11. Giá trị trung bình là 38,63, trung vị 43,30, độ lệch chuẩn 46,83. CVI được chia thành 4 khoảng đều nhau theo giá trị của 25%, 50% và 75% là 13,69; 43,30; và 70,71. Mức độ tổn thương đường bờ sẽ được phân thành 4 cấp độ ứng với giá trị CVI như sau:

Hình 12. Tỉ lệ tổn thương bờ biển Hà Tiên – Kiên Lương tính theo phần trăm

Tổng chiều dài đường bờ khu vực nghiên cứu là 72,80 km. Trong đó, vùng tổn thương rất cao dài 16,19 km chiếm 22,24%; vùng tổn thương cao dài 28,11 km chiếm tỷ lệ cao nhất 38,61%; vùng tổn thương trung bình dài khoảng 14,97 km, chiếm 20,56%, và vùng tổn thương thấp dài 13,53 km, chiếm 18,59%. Kết quả phân vùng tổn thương được thể hiện trên bản đồ hình 13.

Bản đồ phân vùng (hình 13) cho thấy: khu vực tổn thương cao đa phần là các khu vực phân bố trầm tích bở rời; khu vực không có rừng ngập mặn che chắn; khu vực có kè bờ nhưng vị trí thường nằm trong khu vực cung lõm có hai mũi chắn, ví dụ các đoạn bờ thuộc vịnh Ba Hòn, Vịnh Cây Dương. Khu vực tổn thương rất cao là các đoạn bờ thuộc vịnh Thuận Yên, vịnh Hòn Chông.

Hình 13. Bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương

6. Kết luận

Dựa trên số liệu tính toán của tám yếu tố: địa chất, địa mạo, tốc độ bồi/xói, độ dốc bờ biển, độ cao địa hình, mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực biển dâng trung bình, nghiên cứu này xác định được các mức tổn thương do mực biển dâng trong tương lai cho 41 đoạn bờ của vùng Hà Tiên – Kiên Lương. Kết quả cho thấy: 22,24% vùng bờ có mức độ tổn thương rất cao; 38,61% vùng bờ có mức độ tổn thương cao. Phần lớn bờ và bãi cấu tạo bởi trầm tích bở rời phân bố trong cung lõm giữa 2 mũi đều có mức độ tổn thương từ cao đến rất cao.

Tham Khảo

[1]. Hà Quang Hải và nnk (2009). Nghiên cứu, đánh giá và phân loại các Geosite phục vụ công tác bảo tồn các di sản thiên nhiên (Ví Dụ: Vùng Hà Tiên – Kiên Lương). Báo cáo Giai đoạn 1. Đề tài KHCN cấp Đại Học Quốc Gia trọng điểm.

[2]. Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam (2009). Bộ tài nguyên và môi trường.

[3]. Mai Trọng Nhuận và nnk (2009). Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dư báo tai biến địa chất vùng biển Phú Quốc – Hà Tiên tỉ lệ 1:100.000.

[4]. Nguyễn Ngọc Trân (2009). Ứng phó với Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng. Tham luận tại Hội nghị Hội người Việt Nam tại Pháp. Tháng 5 và 6 năm 2009.

[5]. Trần Thục (2009). Biến đổi Khí hậu ở Việt Nam. Hội thảo Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu – Hội An – Quảng Nam.

[6]. Trần Triết (chủ biên) (2001). Kỷ yếu hội thảo Bảo tồn và sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học vùng đất ngập nước Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. ĐH KHTN, ĐH QG TPHCM.

[7]. Trương Công Đượng (chủ biên) (1998). Báo cáo đo vẽ Địa chất và tìm kiếm khoáng sản. Nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc. tỷ lệ 1:50.000. Tập III: Địa mạo, Tân kiến tạo, Địa chất thủy văn. Liên Đoàn bản đồ Địa chất Miền Nam.

[8]. IPCC Special Report. Emissions scenarios (2000). Intergovernmental Panel on Climate Change. ISBN: 92-9169-113-5

[9]. Jeremy Carew–Reid. ICEM – International Centre for Environmental Management (2008). Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet Nam.

[10]. G.S. Dwarakish, S.A. Vinay, Usha Natesan, Toshiyuki Asano, Taro Kakinuma, Katta Venkataramana, B. Jagadeesha Pai, M.K. Babita  (2009). Coastal vulnerability assessment of the future sea level rise in Udupi coastal zone of Karnataka state, west coast of India. Ocean & Coastal Management 52 (2009) 467–478

[11]. Vivien M. Gornitz, Tammy W. Beaty, Richard C. Danielst (1997). A coastal hazards data base for the US. West Coast.

[12]. Integrated coastal zone management (ICZM) Glossary (2005).

[13]. Ảnh vệ tinh http://glovis.usgs.gov/;        http://glcfapp.glcf.umd.edu:8080/esdi/index.jsp

Thế giới đang quay lưng với than đá, cớ sao Việt Nam còn vấn vương

Linh Lan

The LEADER” Đây đã là năm 2018, chúng ta không thể tiếp tục dựa vào những nguồn năng lượng truyền thống mà thế giới đang quay lưng lại như vậy được”, cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry khẳng định.

Trung Quốc, một trong những quốc gia đi đầu trong phát triển năng lượng mặt trời và đang dần từ bỏ than đá, lại chính là nước cấp nhiều vốn nhất cho Việt Nam trong các dự án xây dựng các nhà máy nhiệt điện than, với 8,3 tỷ USD.

Theo cơ cấu quy hoạch điện Việt Nam năm 2016 – 2030, nhiệt điện than chiếm tỷ trọng lớn nhất, ở mức 43% đến năm 2030, trong khi tiềm năng phát triển thủy điện không còn nhiều và không đám ứng kịp tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng của nền kinh tế.

Theo ông Hoàng Quốc Vượng, Thứ trưởng Bộ công thương, với nhu cầu năng lượng trong nước tăng nhanh, đi kèm với sự gia tăng nhanh chóng về tỷ trọng các nguồn nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là than trong cơ cấu nguồn cung năng lượng, thì thách thức về tác động môi trường của các hoạt động cung cấp năng lượng sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến 2050, đề ra ưu tiên thúc đẩy phát triển các dạng năng lượng tái tạo, bao gồm: thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng gió, mặt trời, sinh khối, khí sinh học, nhiên liệu sinh học.

Duy trì tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung cấp năng lượng sơ cấp ở trên mức 30% đến năm 2035. Đây là một mục tiêu dường như còn khiêm tốn so với tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam.

Và phải chăng đã đến lúc Việt Nam nên đưa ra câu trả lời cho câu hỏi của Cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry: “Lựa chọn nào cho Việt Nam: Than đá hay Năng lượng tái tạo?”.

Quay trở lại Việt Nam lần này, ông John Kerry đã có những chia sẻ cởi mở và thẳng thắn tới những thách thức trong ngành năng lượng ở Việt Nam hiện nay.

Theo ông Kerry, vào năm 1992, các biện pháp đưa ra nhằm chống lại biến đổi khí hậu hầu hết là những chương trình mang tính chất tự nguyện. Nhiều nước chỉ muốn gắn bó với những thứ truyền thống như năng lượng hóa thạch: than đá, dầu mỏ, khí đốt.

Tuy nhiên, trong vòng 20 năm tiếp theo, những con số biết nói của khoa học đã khẳng định rằng “con người đã làm trầm trọng thêm vấn đề biến đổi khí hậu và đang đặt sinh mạng của chính chúng ta trong rủi ro”, ông nói.

Rất nhiều người đã buộc phải rời khỏi căn nhà của họ, quê hương của họ vì không có đủ thức ăn và điều kiện sống tồi tàn. Trong năm qua, nước Mỹ đã phải chi ra 350 tỷ USD, một con số kỷ lục, để phục hồi sự tàn phá do thảm họa thiên tai gây ra.

Hàng trăm nghìn tỷ đô la Mỹ khác đã phải chi để giải quyết cho những vấn đề mà lẽ ra nếu chúng ta có những giải pháp thông minh hơn thì những con số này đã không cao đến mức như vậy.

“Tôi biết rõ và đã song hành với Việt Nam kể từ khi hai nước có những hoạt động đầu tiên sau khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Sau các quan hệ hợp tác lâu dài giữa Việt Nam và Mỹ, tôi tin rằng chúng ta có cơ hội lớn để cùng nhau xây dựng, phát triển nguồn năng lượng sạch”, ông Kerry nhấn mạnh.

Hiện nay, 14000 kw điện được sử dụng có nguồn gốc từ năng lượng điện than và nhu cầu sử dụng điện than trong tương lai còn tăng lên nữa.

Tuy nhiên, ông John Kerry cho rằng than đá là nguồn nguyên liệu bẩn nhất và cũng chính là một trong những yếu tố lớn nhất gây ra hiệu ứng nhà kính.

“Khắp nơi trên thế giới, các nước đang dịch chuyển từ việc sử dụng năng lượng than đá sang các loại năng lượng sạch khác. 75% nguồn năng lượng điện của Mỹ hiện nay đến từ năng lượng mặt trời trong khi than đá chỉ chiếm 0,2% mà thôi. Tôi muốn song hành cùng các bạn, tôi tin rằng tất cả chúng ta có thể tìm ra giải pháp chính sách về năng lượng”, ông nói.

Bên cạnh đó, than đá không hề rẻ hơn so với năng lượng mặt trời khi chúng ta tính tất cả các chi phí của những ảnh hưởng tiêu cực của việc khai thác than đối với sức khỏe của người dân và môi trường. Các chi phí đó rõ ràng khiến điện than trở nên đắt hơn rất nhiều so với năng lượng mặt trời.

Việc lắp đặt các máy móc hay công nghệ liên quan đến ngành năng lượng mặt trời và năng lượng gió là những ngành có tốc độ tăng trưởng việc làm nhanh nhất ở Mỹ hiện tại, ông Kerry cho biết.

Ông tin tưởng rằng Việt Nam hoàn toàn có cơ hội và tiềm năng để phát triển năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời… và nếu biết kết hợp các loại hình này với nhau, chi phí sẽ giảm đi đáng kể.

“Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng các chính sách cởi mở, bước đầu tạo ra những lộ trình và thực thi các quy định để các bạn có thể đạt được tạo dựng được hệ thống để biến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu trên thế giới, trở thành mô hình mẫu cho các quốc gia khác trên thế giới về phát triển năng lượng sạch”, ông nói.

Trong những năm qua, Trung Quốc là một trong những quốc gia đang phát triển năng lượng mặt trời lớn nhất và nước này cũng đã quay lưng lại với mô hình sử dụng điện than. Các quốc gia châu Á khác như Malaysia, Indonesia, Ấn Độ cũng đều đang hướng tới việc phát triển các năng lượng tái tạo.

Nếu chúng ta cam kết và nghiêm túc thực hiện quá trình chuyển đổi, thì nó có thể mang lại 500.000 việc làm trong lĩnh vực này.

Với tiềm năng cao và cam kết chắc chắn của Chính phủ với định hướng ấy, yếu tố quan trọng nhất bây giờ, theo người bạn lâu năm của Việt Nam, là làm thế nào để huy động được các nguồn đầu tư, hỗ trợ tài chính, và xây dựng các cơ chế chính sách thuận lợi, tạo điều kiện cho sự phát triển của năng lượng xanh.

Nguồm: http://theleader.vn/the-gioi-dang-quay-lung-voi-than-da-co-sao-viet-nam-con-van-vuong-2018011201004522.htm

 

Lũ quét tan hoang, người dân oằn mình: Vì đâu nên nỗi?

Những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn.

Mấy ngày qua, cả nước đang hướng về Hà Giang, Lai Châu… nơi người dân địa phương đang phải gồng mình chống chọi với  những cơn lũ quyét đáng sợ, khó lường, sẵn sàng cướp đi tính mạng, tài sản của bất kỳ ai.

Trong những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn. Thống kê cho thấy trong giai đoạn 2000 – 2015, trung bình hàng năm cả nước xảy ra khoảng 18 trận lũ quét và sạt lở đất, làm chết và mất tích 47 người. Riêng trong năm 2017, trận lũ quét vào rạng sáng 3/8 tại Yên Bái, Sơn La, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu làm chết và mất tích 41 người. Hai tháng sau đó, vụ sạt lở đất tại Tân Lạc, Hòa Bình rạng sáng 12/10, cũng đã khiến 18 người bị vùi lấp và thiệt mạng.

Những nguyên nhân cốt lõi khiến cho loại hình thiên tai này trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên tại các tỉnh miền núi nước ta là hệ lụy mang nặng dấu ấn từ các hoạt động khai thác tài nguyên thái quá trong suốt thời gian dài. Trong đó không thể không nhắc tới nạn chặt phá rừng và khaithác khoáng sản bừa bãi.

Tan hoang vì lũ quét. Ảnh: VOV

Mất rừng và suy giảm chất lượng rừng

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, hiện tại độ che phủ rừng của nước ta năm 2017 là 41,45% diện tích lãnh thổ, tương đương với 14,2 triệu ha (bao gồm 10,1 triệu ha rừng tự nhiên và 4,1 triệu ha rừng trồng).

Ngoài việc giảm sút diện tích, chất lượng rừng cũng bị suy giảm – các khu vực có trữ lượng giàu và trung bình bị giảm mạnh trong khi diện tích rừng nghèo và tái sinh lại tăng lên nhanh chóng. Năm 1990, diện tích các loại rừng nghèo và tái sinh vào khoảng 7.000.000 ha, nhưng đến năm 2005 đã tăng lên 10,2 triệu ha, chiếm 80% tổng diện tích rừng ở Việt Nam.

Mặc dù tổng diện tích rừng không giảm nhiều trong 50 năm qua, nhưng có sự suy giảm rõ rệt về diện tích rừng tự nhiên cũng như chất lượng rừng tự nhiên. Hiện nay chỉ có 8,7% diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu. Nhiều diện tích vẫn được gọi là rừng tự nhiên, nhưng trong thực tế chỉ là cây bụi và cây gỗ tái sinh nên tán che phủ là không đáng kể, thảm thực vật không dày và khả năng giữ nước giúp ổn định dòng chảy là không đáng kể.

Sự suy giảm về diện tích và độ dày của lớp thảm thực vật đã làm (i) giảm độ kết dính của đất khi bị bão hòa nước nhanh chóng và phá vỡ sự liên kết giữa các lớp đất (do thiếu hoặc ít rễ cây) – gây sạt/ trượt lở đất/ lũ ống và (ii) giảm độ thô, nhám bề mặt (độ cản nước), gia tăng tốc độ dòng chảy, khiến một lượng lớn nước dồn về quá nhanh trong quãng thời gian ngắn, bằng mực nước các khe suối dâng cao với nguồn năng lượng lớn, cuốn phăng tất cả đất đá và vật liệu trên đường đi của nước, gây ra lũ quét.

Khai thác khoáng sản bừa bãi

Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc đã và đang xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi (cả có phép và không phép). Thiếu hay yếu kém trong quy hoạch khai thác khoáng sản ở các địa phương đã và đang khiến cho rừng bị tàn phá, đồi núi bị đào khoét nham nhở và nhiều sông suối bị bồi lấp. Nhiều đơn vị khai thác khoáng chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt nên đã liên tục đào, khoét sâu và lòng núi và để lại nhiều hang động nhân tạo với nguy cơ đổ sập rất cao.

Tại những nơi có cấu tạo địa chất yếu, những hang núi nhân tạo này có thể bị sập bất cứ khi nào trong mùa mưa lũ, tạo nên những trận lũ ống lũ quét kinh hoàng. Nghiêm trọng hơn, nhiều doanh nghiệp do muốn tiết kiếm chi phí nên sẵn sàng xả thải hay đổ chất thải rắn tại chỗ xuống sông suối gây ách tắc dòng chảy. Khi gặp lũ lớn, một lượng lớn đất đá bị dòng nước lũ cuốn phăng xuống hạ lưu làm bồi lấp nhà cửa và đất canh tác của người dân sinh sống gần sông suối.

Quy hoạch dân cư

Do sức ép về tăng trưởng dân số, hiện nay nhiều địa phương khu vực miền núi đang bị thiếu đất ở khiến nhiều hộ dân phải mạo hiểm dựng nhà tại những nơi có nguy cơ cao về sạt lở như chân núi hay sườn đồi. Một số hộ khác khi xây dựng nhà cửa đã vô tình chặn mất dòng chảy hoặc hạn chế khả năng thoát lũ tự nhiên của sông suối.

Ở hầu hết các tỉnh, chính quyền địa phương đã xác định được các rủi ro này và phần lớn đã lên được danh sách các điểm cần di dời hay tái định cư. Tuy nhiên do thiếu quỹ đất và vốn hỗ trợ (theo quy định, ngân sách nhà nước chỉ có thể hỗ trợ số tiền 20 triệu/ hộ để di dời ra khỏi vùng nguy hiểm) nên phần lớn nguy cơ vẫn còn đó cho hàng ngàn hộ dân tại mỗi tỉnh.

Cần những giải pháp căn bản, kịp thời

Trước hết là các giải pháp mang tính căn bản liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng. Bộ NN & PTNT cũng như chính quyền địa phương cần ban hành và triển khai các biện pháp kịp thời nhằm hạn chế và chấm dứt việc mất rừng hiện nay do chuyển đổi mục đích sử dụng đất thành các dự án khác. Việc này chiếm đến 67% nguyên nhân suy giảm diện tích rừng giai đoạn 2011 – 2016, bên cạnh hai nguyên nhân khác là phá rừng trái phép (11%) và cháy rừng (22%).

Thứ 2 là các giải pháp chuyên môn về phòng chống thiên tai. Áp dụng các biện pháp công trình như kè, gia cố những địa điểm dễ gây sạt lở, khơi thông dòng chảy, xác định và lắp đặt các biển cảnh báo tại những khu vực nhạy cảm về thiên tai, nhanh chóng hỗ trợ di dời nhà cửa cho người dân đang sống tại những khu vực có nguy cơ cao.

Song hành với đó là các biện pháp phi công trình, như nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, tăng cường nhận thức cộng đồng trong phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai & biến đổi khí hậu, và xây dựng cộng đồng chủ động chống chịu thiên tai, v.v.

Quan trọng hơn, cần thể chế hóa và quy định “đánh giá rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu” như một yêu cầu bắt buộc đối với bất kỳ dự án can thiệp nào – như cách mà chúng ta vẫn áp dụng đối với “đánh giá tác động môi trường” lâu nay.

Trần Văn Tuấn

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/lu-quet-tan-hoang-nguoi-dan-oan-minh-vi-dau-nen-noi-459228.html

Vì sao đường Nguyễn Hữu Cảnh vẫn ngập dù có siêu máy bơm?

Việc chống ngập bằng máy bơm được đánh giá là không khả thi, lãng phí; thiết kế của công trình này chưa đúng tiêu chuẩn thoát nước .

Đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) gần đây lại bị ngập, dù những lần thử nghiệm máy bơm công suất lớn trước đó đều thành công. Nghiêm trọng nhất là trận mưa đêm 1/6 khiến cả đoạn đường biến thành sông, ngập lút yên xe máy.

Công ty Quang Trung (chủ đầu tư máy bơm) cho rằng, rác đã gây nghẽn cống khiến nước không về trạm bơm và không loại trừ khả năng có hành vi “cố tình phá hoại”. Lãnh đạo TP HCM đã đề nghị chuyên gia, nhà khoa học vào cuộc tìm nguyên nhân.

Chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm thoát nước

Trao đổi với VnExpress, Kỹ sư Vũ Hải (hơn 50 năm công tác trong lĩnh vực cấp thoát nước, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa và ĐH Xây dựng Hà Nội) đánh giá, chủ đầu tư giỏi chế tạo máy bơm nhưng lại không phải là đơn vị thoát nước chuyên nghiệp. Họ đã thiết kế công trình không đúng quy phạm, tiêu chuẩn thoát nước, dẫn đến việc chống ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh không hiệu quả.

Ông Hải phân tích, máy bơm phải hút từ bể chứa mới đủ nước để vận hành. Trong khi đó hệ thống đang hút nước trực tiếp từ đường phố, dẫn đến tình trạng thiếu nước, máy bơm không hoạt động.

Về nguyên tắc thiết kế, một trạm cần 2-3 máy bơm. Lúc mưa nhỏ dùng một cái, khi mưa to thì tăng số lượng. Hiện, chủ đầu tư dùng duy nhất một máy bơm, khi hư hỏng sẽ bị động.

Đường Nguyễn Hữu Cảnh sau trận mưa đêm 1/6 dù có siêu máy bơm. Ảnh: Duy Trần.

Máy bơm công suất lớn, tốc độ nước chảy vượt quá tiêu chuẩn có thể làm vỡ ống. Nhất là phải bơm nước nhiều lần nên khả năng bục vỡ ống là rất cao. Lực hút của máy rất mạnh khiến bùn rác luôn bị cuốn vào trong, làm tắc ống.

“Theo tôi không có ai phá hoại máy bơm. Ống bơm có lực chảy nhất định nhưng đang bị cưỡng bức phải chảy nhanh, khiến hệ thống ống rơi vào tình trạng không an toàn. Thực tế là sau một thời gian sử dụng ống bơm đã xuất hiện hàng tấn rác và đơn vị thoát nước đô thị phải vào cuộc dọn dẹp, khơi thông”, ông Hải nói.

Tuy nhiên, theo ông Hải, chống ngập bằng máy bơm chỉ giải quyết bề nổi, không phải giải pháp lâu dài. Trong khi ngập đang là vấn đề lớn của thành phố, nếu vẫn giữ lối tư duy cứng nhắc sẽ khó giải quyết triệt để.

Đường ngập nhưng máy bơm thiếu nước hút

Tương tự, TS Hồ Long Phi (chuyên gia thoát nước) cho rằng, việc dùng máy bơm công suất lớn chống ngập cấp bách cho đường Nguyễn Hữu Cảnh cần tính toán khoa học hơn.

Hệ thống thoát nước tại tuyến đường không đồng bộ, trong khi máy bơm chưa được áp dụng kiến thức về thủy lực, khiến lượng nước về không đủ cho máy hoạt động. Nếu dùng máy bơm công suất nhỏ nhưng chia thành nhiều lưu vực sẽ hiệu quả, hợp lý hơn.

“Giải pháp dùng máy bơm chống ngập là cần thiết cho những khu trũng. Nhưng nó chỉ mang tính tình thế, không thể áp dụng ngày này qua tháng kia. Thành phố phải có những giải quyết căn cơ hơn, đặc biệt là đối với đường Nguyễn Hữu Cảnh và những khu ngập nặng khác phải có hệ thống thoát và ngăn nước”, ông Phi nói.

Siêu máy bơm được đánh giá chống ngập thành công sau hơn chục lần chạy thử nghiệm. Ảnh: Thành Nguyễn.

Lãng phí mà không hiệu quả

Đứng ở góc độ nhà quy hoạch kiến trúc, TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, việc lắp máy bơm chống ngập là xử lý phần ngọn, trong khi cốt lõi vấn đề là vì sao nước chỉ tập trung ở đó.

Hiện, đường Nguyễn Hữu Cảnh có dãy cao ốc nối dài từ Tân Cảng đến Ba Son – giống như một tuyến đê ngăn nước từ thành phố thoát ra sông Sài Gòn. Khi con đường liên tục bị ngập, người dân sống hai bên đường phải nâng nền cục bộ.

“Như vậy là biến con đường thành sông bị kẹp giữa hai tuyến đê, cứ mưa là ngập. Việc này có thể giải quyết triệt để nếu xác định đúng phương pháp”, ông Sơn nói.

Theo ông, thành phố phải tổ chức lại không gian xanh và không gian nước cho các khu vực ngập, vừa ít tốn kém lại hiệu quả lâu dài. Chú ý việc cân đối độ bêtông hóa, độ dốc và độ nền của khu vực xung quanh; đồng thời phải làm những không gian chứa nước tạm thời như: hồ điều tiết, hồ chứa nước ngầm, hệ thống thoát nước từ những hồ này ra sông, để đối phó với những trận mưa lớn.

“Có như thế thì vấn đề mới được giải quyết. Còn việc thấy ngập ở đâu thì lắp máy bơm ở đó sẽ lãng phí tiền tỷ mà không hiệu quả”, ông Sơn nói.

Hữu Nguyên – Minh Ngọc

Nguồn: http://daubao.com/vi-sao-duong-nguyen-huu-canh-van-ngap-du-co-sieu-may-bom/xa-hoi/1728281.html