HỘI NGHỊ THÔNG TIN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN

Ngày 5-10, Ban Quản lý Công viên địa chất Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Hội nghị thông tin Công viên địa chất Lý Sơn với sự phối hợp của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ TN-MT) và các chuyên gia trong nước cũng như quốc tế có kinh nghiệm về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.

Hội nghị thông tin công viện Địa chất Lý Sơn

Nội dung chính tại hội nghị gồm: các báo cáo khoa học; việc đổi tên “Công viên Địa chất Lý Sơn” thành Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh” và những tồn tại cần tập trung giải quyết.

Các báo cáo khoa học

  1. Tổng quan về CVĐC Lý Sơn và chia sẻ về kết quả Hội nghị quốc tế lần 8 CVĐC toàn cầu UNESCO (ông Nguyễn Minh Trí, Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi)
  2. Một số khái niệm và yêu cầu của CVĐC toàn cầu UNESCO (TS. Guy Martini, Tổng thư ký Global Geoparks Network)
  3. Đặc điểm magma – biến chất trong tiến hóa địa chất khu vực CVĐC Lý Sơn (TS. Trịnh Xuân Hòa – Viện KH ĐCKS)
  4. Sự phát triển của basalt Lý Sơn – Ba Làng An (PGS.TS. Ngô Xuân Thành – ĐH Mỏ Địa chất)
  5. Giới thiệu một số di sản địa mạo điển hình ở khu vực dự kiến xây dựng CVĐC Lý Sơn (TS. Nguyễn Xuân Nam, Viện KH ĐCKS)
  6. Giá trị di sản văn hóa – lịch sử và địa văn hóa khu vực dự kiến xây dựng CVĐC Quảng Ngãi (ThS. Đỗ Thị Yến Ngọc, Viện KH ĐCKS)

Trình bày tại hội nghị, TS. Guy Martini cho biết, việc xây dựng công viên địa chất cần lưu ý đến kiểm tra các giá trị địa chất của khu vực có thể được xem là di sản địa chất có giá trị quốc tế; kiểm tra xem công viên địa chất có những giá trị di sản văn hóa nào, người dân và chính quyền địa phương có quan tâm cũng như sẵn sàng tham gia vào đề án công viên địa chất hay không?

Đổi tên thành “Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh”

Công viên địa chất Lý Sơn ban đầu dự kiến có tổng diện tích trên 100km2, dân số 70.000 người, bao gồm đảo Lý Sơn và dải ven biển thuộc các xã Bình Châu, Bình Hải (huyện Bình Sơn). Sau đó được mở rộng ra các khu vực thung lũng miền núi (Trà Bồng), đồng bằng duyên hải (Sa Huỳnh). Theo đó, Ban Quản lý Công viên Địa chất Lý Sơn đã quyết định đổi tên “Công viên Địa chất Lý Sơn” thành Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh” (tên tiếng Anh là Ly Sơn Sa Huỳnh Geopark).

Những vấn đề tồn tại

Tổng kết hội nghị, chủ tọa nêu vắn tắt những điểm nổi bật cũng như những vấn đề còn tồn tại của CVĐC: 1/ Không gian và tên gọi của CVĐC nên gắn với ý nghĩa Hòa Bình (nhận xét từ chuyên gia cùa GGN); 2/ Cần các nghiên cứu thêm về Đa dạng sinh học và bảo tồn Đa dạng sinh học trong phạm vi CVĐC; 3/ Vấn đề môi trường, nhất là rác thải đang rất cấp bách.

Ba vấn đề trên là công việc mà BQL CVĐC Lý Sơn – Sa Huỳnh cần cân nhắc và thực hiện trong lộ trình xây dựng hồ sơ tiến tới CVĐC toàn cầu UNESCO vào tháng 11/2019.

Phương Chi (Tổng hợp)

Advertisements

Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học

Đa dạng địa học (Geodiversity)

Vị trí của đa dạng địa học trong đa dạng thiên nhiên là gì?

Đa dạng địa học (ĐDĐH) là sự đa dạng của các yếu tố tự nhiên, như các khoáng vật, các loại đá, hóa thạch, dạng địa hình và cảnh quan của chúng, các kiểu đất, và các quá trình địa chất/địa mạo hoạt động.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Cùng với đa dạng sinh học, ĐDĐH tạo nên sự đa dạng tự nhiên của Trái Đất. ĐDĐH làm nền móng cho đa dạng sinh học và cung cấp cho xã hội những lợi ích bao gồm các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ, cung cấp và văn hóa.

Di sản địa học (Geoheritage)

Di sản địa học là gì ?

Di sản địa học là một phần di sản tự nhiên của một diện tích (hoặc một điểm) nào đó được cấu thành bởi các yếu tố ĐDĐH với giá trị địa chất đặc biệt và do đó xứng đáng được bảo vệ vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai. Di sản địa học có thể bao gồm cả các yếu tố tại chỗ (geosites) hoặc các yếu tố đã di chuyển (các tập hợp các mẫu vật địa chất) có sự quan trọng về  cổ sinh, địa mạo, khoáng vật, thạch học và địa tầng…

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Bảo tồn địa học (Geoconservation)

Bảo tồn địa học là gì ?

Tập hợp các hành động hướng đến thông tin quản lý các điểm địa chất bao gồm kiểm kê và đánh giá, bảo tồn, bảo vệ theo luật định, diễn giải và giám sát các điểm địa di sản.

Việc quản lý các địa di sản di chuyển (ex situ) cũng là một hoạt động bảo tồn địa học. Bảo tồn địa học được coi là một ngành mới nổi trong khoa học địa chất.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Vì sao địa di sản dễ bị rủi ro?

Di sán địa học là tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, chịu tác động bởi con người và các quá trình tự nhiên (ví dụ: phong hóa, xói mòn, biến đổi khí hậu). Điều này có thể dẫn đến sự mất mát một phần hoặc toàn bộ các điểm địa chất do phát triển đô thị, phá hoại, buôn lậu, không có sự bảo vệ hợp pháp và thỏa thuận quốc tế, thiếu chuyên môn và thiếu nhận thức của các cơ quan quốc tế, quốc gia và địa phương.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Tại sao xã hội cần bảo tồn địa học?

Việc thực hiện các chiến lược bảo tồn địa học hiệu quả sẽ mang lại lợi ích to lớn cho xã hội. Thứ nhất, nó nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải hiểu các hệ thống tự nhiên và hợp phần địa chất của các dịch vụ hệ sinh thái. Hơn nữa, các điểm địa chất được quản lý tốt có thể hỗ trợ các loại hình sử dụng bền vững khác nhau với lợi ích rõ ràng cho xã hội, như sử dụng trong khoa học, giáo dục và kinh tế. Điều này đã xuất hiện ở nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới như các Công viên địa chất Toàn cầu gần đây đã được UNESCO công nhận.

Các hoạt động địa du lịch và giải trí dựa trên các yếu tố ĐDĐH được tích hợp hoàn toàn vào mục tiêu của Năm Du lịch Bền vững Quốc tế, được Liên Hiệp Quốc công bố cho năm 2017.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Bảo tồn địa học và Chương trình nghị sự 2030 cho phát triển bền vững

Chương trình Phát triển Bền vững 2030 của Liên Hiệp Quốc định rõ 17 Mục đích Phát triển Bền vững được áp dụng rộng rãi ở tất cả các quốc gia. Nhiều mục đích trong đó sẽ yêu cầu quản lý thiên nhiên thích hợp bao gồm cả ĐDĐH và đa dạng sinh học.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Đa dạng địa học, di sản địa học và bảo tồn địa học

Những thách thức là gì?

Nhìn chung, xã hội vẫn chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của di sản địa học và nhu cầu bảo vệ nó, đặc biệt khi so sánh với sự tồn tại của nhiều chính sách và chiến lược quốc tế và quốc gia cho việc bảo vệ đa dạng sinh học. Quản lý khu vực được bảo vệ cần phải hiểu rằng không chỉ là có thể, mà còn mong muốn rằng di sản thiên nhiên cần được quản lý, có tính đến cả ĐDĐH và đa dạng sinh học. Các tổ chức quốc tế cần phải hành động hơn nữa trong việc định rõ chiến lược và các mục tiêu bảo tồn địa học, từ đó ảnh hưởng đến chính sách bảo tồn thiên nhiên của từng quốc gia.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

IUCN thúc đẩy bảo tồn ĐH như thế nào?

IUCN – Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế – là cơ quan toàn cầu về tình trạng của thế giới tự nhiên và các biện pháp cần thiết để bảo vệ nó. Sự quan tâm của IUCN đối với bảo tồn ĐH đã tăng lên trong thập kỷ qua khi được thông qua bởi ba nghị quyết tập trung vào địa di sản trong năm 2008, 2012 và 2016, việc thành lập vào năm 2014 của Nhóm Chuyên gia Di sản địa học thuộc Ủy ban Thế giới IUCN về các Khu vực Được bảo vệ và sự tích hợp một chương bảo tồn địa học trong sổ tay “Quản trị và Quản lý Khu vực Được bảo vệ” công bố vào năm 2015.

IUCN cũng chịu trách nhiệm đánh giá “Giá trị Phổ quát Nổi bật” của địa di sản bao gồm trong các ứng dụng Di sản Thế giới mới của UNESCO, cùng với sự hợp tác mạnh mẽ liên quan đến các Công viên Địa chất toàn cầu của UNESCO.

ProGEO

ProGEO là gì?

ProGEO là tên của Hiệp hội Bảo tồn Di sản Địa chất châu Âu. Tổ chức phi chính phủ này bắt đầu vào năm 1993 sau khi thành lập Nhóm Công tác Châu Âu về Bảo tồn Khoa học Trái đất vào năm 1988 tại Hà Lan. Mặc dù chủ yếu tập trung vào các nước châu Âu, ProGEO ngày nay có các thành viên ở tất cả các châu lục và hoạt động trên toàn thế giới.

ProGEO là một thành viên IUCN và chi nhánh IUGS. ProGEO thúc đẩy việc bảo vệ các điểm địa chất và cảnh quan quan trọng, cũng như di sản đa dạng về các đặc điểm địa chất với sự liên quan về khoa học, giáo dục, du lịch và văn hóa. ProGEO có ý định bảo vệ di sản địa học bằng tiếng nói mạnh mẽ hơn và hoạt động như một diễn đàn thảo luận về các vấn đề bảo tồn thiên nhiên quan trọng, tư vấn và tác động đến các nhà hoạch định chính sách.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

 

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8

Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO diễn ra tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Adamello Brenta, tỉnh Trentino, Ý, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 năm 2018.

Hội nghị, với chủ đề chính: “Công viên địa chất và phát triển bền vững

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 9, đã có các cuộc họp của Hội đồng UUG, GGN ExB, và các cuộc họp Mạng lưới Khu vực: EGN AC và CC, APGN AC và CC, LACGN AC và CC.

Lễ khai mạc và các bài giảng quan trọng diễn ra vào ngày 11 tháng 9.

Ngày 11/9, 12 và 14/9 các báo cáo khoa học trình bày đồng thời tại 6 tiểu ban như sau:

  1. CVĐC, du lịch bền vững và phát triển bền vững địa phương (Geoparks, sustainable tourism and sustainable local development)
  2. Bảo tồn, Khoa học và nghiên cứu (Conservation, science and research)
  3. Giáo dục, nhận thức cộng đồng và truyền thông (Education, public awareness and communication)
  4. CVĐC, BĐKH và tai biến địa chất (Geoparks, climate change and geo-hazards)
  5. Hợp tác giữa UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO collaborations)
  6. Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Tóm tắt báo cáo khoa học có thể tham khảo tại: https://www.campigliodolomiti.it/TEMPLATE/DEFAULT_LANDING/en/pagine/dettaglio/ggn_content,188/the_abstracts_book,1336.html?GGN

Các workshop đặc biệt được tổ chức gồm:

  1. CVĐC trong khu vực núi lửa
  2. CVĐC trên đảo
  3. SDG 2030
  4. Tai biến địa chất
  5. Giáo dục kiến thức địa học (Geo-education)

Ngày 13 tháng 9, dành riêng cho các chuyến thực địa, có 6 tuyến để các đại biểu lựa chọn: nhiều nhất là tuyến leo núi Dolomiti, trái tim của Brenta Dolimites, nơi có đá vôi và đá dolomit – trầm tích từ 250 đến 40 triệu năm trước với cảnh quang thật hùng vĩ của địa mạo băng hà – karst.

Việt Nam tham dự hội nghị gồm các đoàn: Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc, Bảo tàng Địa chất, UB quốc gia UNESCO Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản; cùng các CVĐC toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, CVĐC toàn cầu Non nước Cao Bằng, CVĐC Đaknong, CVĐC Lý Sơn.

Việt Nam có tổng cộng có 13 báo cáo Oral và poster tham dự hội nghị. Bài báo cáo của tác giả “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam” trình bày tại tiểu ban Bảo tồn, Khoa học và Nghiên cứu.

Chiều ngày 14/9, Hội nghị bế mạc, trao các giải thưởng cho các CVĐC và thông báo nơi diễn ra Hội nghị lần 9, năm 2020 là CVĐC Jeju – Hàn Quốc.

Một số hình ảnh hội nghị:

Khai mạc hội nghị
Báo cáo “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam”
Cảnh quan núi Dolomiti

Phương Chi

 

Từ Bến Lội đến Ngã ba suối Sơn Thái, chân đèo Khánh Lê

Những năm trước, Bến Lội ở chân đèo Khánh Lê là điểm dừng chân học tập và giải trí của đoàn Thực tập môi trường đại cương, Khoa Môi trường. Tại đây – cảnh quan đẹp và hoang sơ, sinh viên được nghe giảng về tài nguyên nước đầu nguồn sông Cái Nha Trang, được lội nước, chơi trò cân bằng đá và tạo kiểu chụp hình cùng nhau, cùng với thày cô.

Năm nay, có một điểm học tập mới hấp dẫn hơn hẳn Bến Lội, đó là Ngã ba suối Sơn Thái. Ngã ba suối Sơn Thái trong một thung lũng rộng để lộ một cảnh quan y như các mô hình trong sách giáo khoa về địa mạo dòng chảy với sự đa dạng địa hình: bãi bồi lòng sông, các bậc thềm, các vết lộ đá gốc, các vách xói lở, các mặt trượt do xâm thực chân vách…

Ngã ba suối Sơn Thái – một điểm học tập hay, một điểm giải trí lý thú, một cảnh tự nhiên đẹp không thể không dừng lại mỗi khi đi qua.

Từ Bến Lội

Năm 2011, lấy lí do tuyến đường đèo Ngoạn Mục đang sửa chữa nên các bác tài đề nghị đi đèo Khánh Lê xuống Nha Trang. Thực ra các bác tài thích đi tuyến này hơn vì rút ngắn lộ trình tới 90 km.  Vậy là phải bổ sung mấy điểm mới cho tuyến hành trình thực tập, chưa có lộ trình tiền trạm nên phụ trách đoàn vừa đi vừa tìm điểm dừng để sinh viên học tập. Bến Lội là một điểm như vậy.

Xuống chân đèo Bidoup – Khánh Lê thường vào khoảng 11:00; đoàn dừng lại nghỉ ăn trưa, mấy quán lợp tole đơn giản là nơi thày cô và sinh viên lấy cơm hộp ra ăn, gọi nước uống. Cơm, nước xong; đi khảo sát loanh quanh, phát hiện một lòng suối có bãi cuội rộng khoảng 50 m, kéo dài tới 200 m, nước ngập chưa đến đầu gối, chảy nhẹ; thế là cả đoàn xuống vui chơi, giải trí cả một giờ đồng hồ.

Từ những năm sau đó, Bến Lội chính thức được đưa vào chương trình học tập. Bến Lội được xem là điểm chuyển tiếp lộ trình giữa núi – cao nguyên sang đồng bằng ven biển. Tại đây có quán Bến Lội, chủ quán làm bậc thềm xuống bãi nên rất tiện cho việc đi lại.

Bến Lội 27.07.2012
Bến Lội 25.07.2913
Bến Lội 24.07.2015
Bến Lội: 22.07.2016

Thày Tự Thành (trưởng đoàn) có ý định không ăn cơm hộp buổi trưa tại Bến Lội nữa; được thày Cảnh giới thiệu quán Chân Đèo có ông chủ quán luôn vui vẻ và giá cả phục vụ phải chăng. Thế là năm 2016, qua điện thoại đoàn đặt cơm trưa tại quán Chân Đèo. Cơm nóng, đồ ăn ngon, giá tốt, chủ quán nhiệt tình (xem Nhật kí thực tập môi trường 2016). Cơm trưa xong, thày trò hành quân xuống Bến Lội khoảng 1 km.

Năm ngoái cũng vậy, cơm trưa xong, thày trò lại hành quân xuống Bến Lội nhưng chuẩn bị theo bậc thềm xuống bãi thì bị chủ quán làm khó – nguyên nhân có lẽ là đoàn đặt ăn ở quán Chân Đèo. Trưởng đoàn nói gì đó, rồi chủ quán cũng cho qua. (Thực ra thì đoàn đã liên hệ đặt ăn tại quán Bến Lội rồi, nhưng mắc nên  thôi).

Đến Ngã ba suối Sơn Thái

Năm nay chủ quán Chân Đèo (ông Nguyễn Luật) liên hệ với địa phương (lãnh đạo xã Sơn Thái) và trực tiếp dẫn đoàn đến bãi Ngã ba suối (tạm gọi Ngã ba suối Sơn Thái). Ngã ba suối đẹp đến không ngờ cả về cảnh quan địa mạo và những vết lộ địa chất, địa chất môi trường.

Ngã ba suối Sơn Thái cách Bến Lội hơn 1 km về phía thượng nguồn. Có thể sơ bộ về địa tầng, địa mạo và các vấn đề môi trường tại đây như sau:

Về địa chất: Ven suối lộ đá phiến màu đen thuộc hệ tầng La Ngà, phía trên là vỏ phong hóa có màu nâu đỏ dày tới 10 m. Giữa lòng suối, rải rác nhô lên các khối đá granit thuộc phức hệ Đèo Cả. Bãi đá cuội, tảng mài tròn kích thước từ vài cm đến 30 – 50 cm, một số tảng tới 1,0 m chủ yếu có màu xám sáng với ba loại đá cơ bản gồm ryolit, ryodacit; granit và đá phiến. Nhìn chung kích thước cuội tảng lớn hơn bãi đá Bến Lội.

Về địa mạo: các tích tụ lòng suối và bãi bồi cuội tảng, cát phân bố bên bờ lồi khúc uốn;  vách xói lở, vách trượt đất phân bố nơi lạch sâu áp sát bờ. Một hệ thống bậc thềm quan sát khá rõ: Thềm 1 nguồn gốc tích tụ, cao 3,0 – 4,0 m gồm các lớp sạn, sỏi xen các lớp cuội. Thềm 2 nguồn gốc xâm thực, cao 7,0 -8,0 m. Thềm 3 cũng là thềm xâm thực, cao 10 – 12 m. Thềm 2 và thềm 3 đều lộ vỏ phong hóa từ trầm tích La Ngà.

Về môi trường: các vách xâm thực và mặt trượt mới xảy ra lộ rất rõ, việc canh tác (chặt bỏ lớp phủ thực vật) gây xói mòn đồi thềm cao dẫn đến tích tụ trên mặt thềm thấp.

Chủ quán Chân Đèo vừa đọc thơ, vừa mời rượu các thày, cô trong bữa cơm trưa
Trước khi dẫn đoàn xuống suối, chủ quán dừng lại đọc thơ
Chân vách trượt lộ đá phiến sét màu xám đen (đá gốc) phân lớp mỏng cắm dốc 70o về lòng suối
Xâm thực để lộ các khối đá granit giữa lòng suối
Trong một khung hình có nhiều dạng địa hình: thềm 1, thềm 2, thềm 3; trầm tích cuội lòng suối, xâm thực lộ đá granit, đá phiến sét và vết trượt thềm 2 và 3
Thềm 1 xâm thực mạnh vào kỳ mưa lũ
Vách xâm thực để lộ cấu tạo thềm bậc 1
Đá phiến sét phân lớp mỏng, mặt lớp láng bóng trở thành mặt trượt. Quá trình xâm thực chân vách dẫn đến hình thành khối trượt kiểu tịnh tiến
Cuội, sỏi lòng sông là nguồn vật liệu xây dựng của người dân
Ngã ba suối là nơi “bẫy” nhưng khối gỗ lớn mà ai đó đã (khai thác) trên vùng núi cao

H & H

Vài nét về địa mạo bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận

Hà Quang Hải

Bờ biển từ mũi Cá Tiên đến cửa Đầm Nại dài khoảng 50 km, là đường biên phía đông của Vườn quốc gia Núi Chúa. Dọc theo bờ biển này, nguồn tài nguyên biển có sự đa dạng và phong phú, đặc biệt là san hô. Dọc theo bờ biển này có những điểm du lịch đẹp như Bãi biển Bình Tiên, Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, Công viên Đá, Hòn Đỏ…được nhiều du khách biết đến.

Có thể nói, nguồn tài nguyên biển phong phú, cảnh quan biển đẹp của dải bờ này được hình thành và phát triển trền nền tảng yếu tố địa chất, địa mạo với sự tương tác lâu dài của quá trình nội sinh và ngoại sinh: nội sinh với sự bóc lộ thể batholith Núi Chúa cùng với những hệ thống khe nứt dầy đặc; ngoại sinh là quá trình phong hóa và phá hủy của sóng biển vào bờ đá, vào các hệ thống khe nứt để hình thành các vách biển dốc đứng, các vịnh biển, các bậc thềm biển, hang đá, cột đá và các khối đá chồng…

Dưới đây trình bày vài nét về địa mạo bờ biển thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa ghi nhận được trong quá trình hướng dẫn sinh viên Khoa Môi trường thực tập thực tế. Hy vọng những nghiên cứu chi tiết sẽ được tỉnh Ninh Thuận, Vườn quốc gia Núi Chúa cũng như các nhà khoa học Trái đất thực hiện trong tương lai.

Các hệ thống khe nứt kiểm soát phương và hình thái địa hình bờ biển

Các đá magma xâm nhập cấu tạo Núi Chúa được các tác giả thuộc công trình lập bản đồ địa chất 1:200.000 xếp vào phức hệ Đèo cả tuổi Kreta [1]. Dọc bờ biển từ mũi Cá Tiên đến mũi Thị phần lớn lộ đá thuộc phức hệ này. Theo tầu du lịch từ cửa Vĩnh Hy về phía nam qua mũi Thủ có thể quan sát các vách đá dốc đứng cao tới 30 m để lộ những hệ khe nứt đứng dầy đặc (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống khe nứt lộ trên vách biển tại mũi Thủ

Tại mũi đá phía nam Bãi Cóc, hai hệ thống khe nứt dốc đứng rõ nét có phương 195o (á kinh tuyến) và 150o (tây bắc-đông nam). Các khe nứt dày, cách nhau từ vài cm đến 20 cm (Hình 2). Kém rõ hơn là hệ khe nứt phương đông bắc và á vĩ tuyến. Tại đây cũng quan sát một hệ khe nứt dạng lớp (Sheet fracture) cắt ngang hệ khe nứt đứng (Hình 3). Hệ khe nứt dạng lớp là cơ sở tạo nên dạng địa hình phân bậc tại các mũi đá (Hình 4) và rải rác chân các vách đá dọc bờ biển. Dọc theo vách biển quan sát khá rõ hệ thống khe nứt này (hình 5).

Hình 2. Các hệ thống khe nứt tại mũi đá Nam Bãi Cóc
Hình 3. Hệ khe nứt dạng lớp cắt ngang hệ khe nứt đứng
Hình 4. Hệ thống khe nứt dạng lớp tạo địa hình phân bậc tại các mũi đá
Hình 5. Hệ thống khe nứt dạng lớp cắt ngang các hệ thống khe nứt đứng là cơ sở hình thành các bậc địa hình chân vách biển

Dễ dàng nhận thấy các hệ thống khe nứt có vai trò kiểm soát phương và hình thái đường bờ biển đá granit. Các đoạn bờ có vách dốc đứng phương á kinh tuyến chiếm ưu thế, điển hình là mũi Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và bờ biển cửa rạch Thái An đến mũi Thị (dài 6,3 km). Bờ biển phương tây bắc – đông nam rõ nhất bao gồm các đoạn bờ khu vực Bãi Rạng (dài 2,8 km); hướng kéo dài vịnh Vĩnh Hy, suối Sâu,  rạch Thái An cũng theo phương hệ khe nứt này. Đoạn bờ từ cửa rạch Vĩnh Hy đến cửa rạch Thái An là sự xen kẽ cả bốn hệ thống khe nứt, trong đó chiếm ưu thế là phương á kinh tuyến và tây bắc – đông nam.

Hệ thống khe nứt dạng lớp là cơ sở hình thành địa hình dạng bậc trên các sườn núi, vách biển và mũi nhô. Hệ thống khe nứt này cũng là cơ sở cho sự hình thành dạng địa hình đá chồng quan sát được nhiều vị trí dọc bờ biển.

Địa hình đá rơi, đá đổ chân vách biển

Hang Rái được hình thành do các khối đá rơi từ vách biển dốc. Vách dốc này bị chia cắt bởi các hệ thống khe nứt đứng và dạng lớp; quá trình phong hóa phát triển theo các hệ khe nứt dần làm các khối đá rơi xếp chồng chất lên nhau tại chân vách (Hình 6), tác động lâu dài của sóng biển làm các khối đá được mài trơn. Những khoảng trống giữa các khối đá được gọi là “hang”, trường hợp Hang Rái được hình thành theo hình thức này (Hình 7).

Hình 6. Các hệ khe nứt đứng và ngang chia vách đá thành các khối tảng đủ loại kích thước và hình dạng. Quá trình phong hóa theo hệ thống khe nứt dần làm các khối đá rơi xuống chân vách. Hình ảnh này cũng cho gợi ý về sự hình thành các khối đá, cột đá chồng
Hình 7. Hang Rái là các khoảng trống được hình thành từ các khối đá rơi từ vách đá

Công viên Đá Láng Chổi

Công viên Đá phân bố khu vực núi Láng Chổi thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Từ đèo Dinh Bà đi theo đường mòn qua khu rừng khô hạn về phía nam khoảng 1 km sẽ đến Công viên Đá. Chúng tôi đề nghị đặt tên Công viên Đá này là Công viên Đá Láng Chổi.

Công viên Đá Láng Chổi là bề mặt thềm biển cao 70 – 80 m hơi nghiêng thoải từ tây sang đông (về phía biển). Các diện tích bằng phẳng có lớp cỏ mỏng và những loài cây phát triển trong điều kiện khô hạn (thấp, lá nhỏ, nhiều gai). Nhô trên mặt bằng là các dải đá, các gò đá, cột đá cao từ 1,0 – 2,0 m đến 5,0 – 7,0 m (Hình 8). Các khối đá đổ trên mặt bằng nằm chen với thực vật, vách thềm xuống mặt biển rất dốc, lộ toàn đá khối (Hình 9).

Trên mặt một số khối đá quan sát được hiện tượng phong hóa bóc vỏ (Hình 10) và các dạng địa hình tafoni (Hình 11).

Hình 8. Các dải đá, cột đá, đá chồng nhô trên mặt bằng (bãi biển cổ). Ảnh: Nguyễn Trường Ngân
Hình 9. Vách thềm biển dốc lộ toàn các khối tảng đá granit
Hình 10. Phong hóa bóc vỏ (bóc vỏ củ hành) trên đá granit
Hình 11. Tafoni do phong hóa muối trên đá granit tại Công viên đá Láng Chổi

Các khối đá chồng phân bố rải rác trong Công viên Đá và trên bề mặt thềm biển cao 80 m, điển hình là khối đá dạng cầu, đường kính khoảng 5 m (Hình 12).

Các hệ thống khe nứt và quá trình phong hóa bóc mòn là yếu tố chính trong việc hình thành khối đá chồng. Hệ khe nứt trực giao cắt nền đá granit thành các khối tảng to nhỏ, quá trình phong hóa và vận động nâng từ từ của mặt đất đã phá hủy các khối đá, mang đi các vật chất vụn bở, chỉ còn các khối lõi đá ở trạng thái cân bằng nhất tồn tại. Hình 13 là phác thảo của Geikie về các giai đoạn hình thành khối đá chồng.

Hình 12. Khối đá chồng dạng cầu có đường kính khoảng 5,0 m trên đường vào Công viên Đá. Có thể thấy các mặt khe nứt trực giao vẫn còn khá rõ trên khối đá này. Ảnh: Nguyễn Hoài Phương Duy.

Hình 13. Phác thảo thể hiện các giai đoạn hình thành đá chồng của Geikie; hình (a): (i) đá granit gốc, (ii) lõi đá trong vụn sét phong hóa, (iii) thổ nhưỡng; hình b: (i) nước thấm xuống theo hệ khe nứt, (ii) đá granit phong hóa với các lõi đá còn lại, (iii) xói mòn mang đi các vụn, sét, để lại các lõi đá. Nguồn [25]
Các mảnh thềm đá vôi san hô ven bờ biển

Từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, các mảnh thềm cấu tạo bởi cát kết vôi san hô và rạn san hô (gọi chung là đá vôi san hô) phân bố rải rác nhô trên mặt biển khi thủy triều xuống thấp. Tại một số nơi, người dân đã khai thác đá vôi san hô làm vật liệu xây dựng.

Tại Hang Rái, mảnh thềm đá vôi san hô phân bố ven theo bờ đá granite phương đông bắc –tây nam khoảng 100 m, nơi rộng nhất khoảng 40 m (Hình 14). Bề mặt thềm cao khoảng 5,0 m so với mặt biển (triều xuống thấp). Mặt thềm khá bằng phẳng, quá trình xâm thực rửa trôi đã hình thành bề mặt đá tai mèo lởm chởm, trên mặt thềm còn có những hố tròn (hố nồi), hố hình trái tim gây sự tò mò và là những câu hỏi đối với du khách (Hình 15). Chân vách thềm có hõm gặm mòn dạng hàm ếch. Hõm gặm mòn làm cho mặt thềm yếu dần và dẫn đến sự sập đổ.

Hình 14: Mảnh thềm đá rạn san hô tại Hang Rái là một trong những điểm thăm quan, thưởng ngoạn của du khách
Hình 15. Đá tai mèo và các hố nồi (vi địa hình) trên mặt thềm san hô. Các dạng vi địa hình này đang bị các bàn chân của du khách hủy hoại

Dọc bờ biển Mỹ Hòa – Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô dài tới 10 km từ  mũi Thị đến hòn Chồng. Thềm bị sóng phá hủy mạnh tạo thành bãi ngầm (chỉ lộ ra khi thủy triều xuống thấp) (Hình 16).

Hình 16. Bãi san hô ngầm tại Mỹ Hòa

Tại Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô khá giống ở Hang Rái. Các mảnh thềm sót có diện tích nhỏ, cao hơn mặt biển khoảng 4,0 m (Hình 17); phía trong bờ bề mặt bị phủ bởi lớp cát màu xám vàng. Chân khối có hõm gặm mòn và mặt thềm cũng đang bị sóng phá hủy.

Hình 17. Mảnh thềm đá vôi san hô tại Mỹ Tân

Hòn Đỏ là một mũi nhỏ nhô ra biển, được cấu tạo bởi cát kết vôi, cao khoảng 3-4 m. Chân khối cũng có hàm ếch gặm mòn sâu 1,0 m. Phủ trên cát kết vôi là cát màu đỏ nhạt (Hình 18), đó cũng là lí do mà địa danh này mang tên hòn Đỏ. Khu vực hòn Đỏ hiện là nơi bảo tồn rạn san hô của tỉnh Ninh Thuận.

Hình 18. Cát đỏ nhạt phủ trên cát kết vôi bị đang bị sóng phá hủy

Tại Khánh Nhơn, các khối đá vôi san hô lộ thành những diện tích nhỏ nhô cao trên mặt nước biển khoảng 1,5 – 2,0.

Hình 19. Mảnh thềm cát kết san hô tại Khánh Nhơn

Cho đến nay, chỉ thấy thông báo của Henri Fon Taine về thể địa chất này [2]. Theo thông báo này, đây là đá cát kết vôi (chứa vụn san hô, sò ốc, foraminifera) phân bố rải rác từ Tuy Phong đến Phan Rang tạo thành thềm cao 15 – 19 m. Dựa vào quan hệ địa chất, ông xếp đá cát kết vôi hình thành trong giai đoạn gian băng Mindel –Riss (Cách ngày nay 430.000 – 240.000 năm); cát đỏ trẻ hơn, hình thành trong giai đoạn gian băng Riss – Wurn (Cách ngày nay 180.000 – 120.000 năm).

Dựa vào không gian phân bố, độ cao các mảnh thềm đá vôi san hô từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, chúng tôi giả thiết rằng đã từng tồn tại rạn san hô riềm (fringing reef) bám theo bờ đá granit ? trong giai đoạn biển tiến Flandrian?.

Thay lời kết

Hầu hết các điểm đến của du khách dọc ven bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa đều gắn với các thuật từ của khoa học địa mạo về các dạng địa hình như Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, thềm san hô hay một quá trình địa chất như phong hóa bóc vỏ hành, đá tai mèo, tổ ong…Diễn giải sự hình thành các dạng địa hình sẽ hấp dẫn du khách hơn nữa (như giải thích sự hình thành các khối đá chồng chẳng hạn) khi họ đến thăm quan các điểm đến này.

Khi hiểu rõ đặc điểm của từng dạng địa hình, việc khai thác các giá trị (khoa học, sinh thái, thẩm mỹ, lịch sử/văn hóa…) cũng như bảo tồn chúng sẽ thực sự hiệu quả. Có thể lấy ví dụ cho trường hợp Hang Rái:

– Đó là sự hình thành vách biển, mô hình đá chồng, đá rơi chân vách (tạo Hang Rái); hay thềm đá vôi san hô có bề mặt hình thành dạng địa hình tai mèo (thường xuất hiện trên đá vôi), các hố hình tròn hoặc trái tim xen giữa tai mèo, hay hõm gặm mòn chân vách thềm do hoạt động của sinh vật và sóng biển.

– Hiểu được quá trình hình thành vách biển sẽ bố trí những tuyến thăm quan, những điểm nhìn an toàn cho du khách (tránh được những rủi ro vì đá có thể rơi bất cứ lúc nào), nghiêm cấm du khách leo trèo trên các khối đá, vách đá chênh vênh.

– Hiểu được giá trị các dạng địa hình sẽ giúp việc bảo tồn tốt hơn như: trên mặt thềm san hô cần tạo một lối đi cho du khách để duy trì lâu dài dạng vi địa hình đá tai mèo, hố nồi, hố trái tim…

Một dải bờ biển có sự đa dạng các yếu tố địa chất địa mạo, rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế, phổ biến khoa học gắn liền với công tác bảo tồn. Vì vậy, những nghiên cứu sâu, chi tiết nên được triển khai.

Lời cảm ơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Vườn Quốc Gia Núi Chúa đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thực tập của sinh viên ngành Khoa học môi trường vừa qua; cảm ơn anh Hoàng Công Thành, anh Cao Thành Ngon, chị Nguyễn Thị Nhụ (công tác tại TT. Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường, Vườn Quốc gia Núi Chúa) đã giúp đoàn thực tập về kế hoạch học tập, nơi ăn ở và trực tiếp giảng bài cho sinh viên tại thực địa.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Xuân Bao và nnk. Bản đồ địa chất khoáng sản tờ tỷ lệ 1:200000 tờ Đà Lạt-Cam Ranh (C-49-I & C-49-II) do Cục Địa Chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản năm 1999.

[2]. Henri Fon Taine. Nhận xét về các thành tạo duyên hải Đệ tứ ở Nam Trung Bộ. Arch Geol Vietnam. No 15, 1972 (bản dịch của Nguyễn Anh Tuấn).

[3]. C.R. Twidale and J. R. Vidal-Romani. Landforms and Geology of Grani te T errains. DOI: 10.13140/RG.2.1.1595.6722.

 

 

 

 

 

Ngổn ngang Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới

Thiên nhiên phải mất ba trăm ngàn năm để chạm khắc nên ngọn Núi Châu Thới. Hơn ba trăm năm trước, tổ tiên – những người mở cõi đã chọn vị trí đắc địa này để dựng Châu Thới Sơn Tự và đó chính là cơ sở để Núi Châu Thới được công nhận Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia. Nhưng ba mươi năm qua, di sản này đã bị xâm phạm nghiêm trọng, môi trường xuống cấp ở mức báo động.

Nếu áp dụng hình thức thẻ như Công viên Địa chất toàn Cầu hiện nay, Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới xứng đáng nhận THẺ ĐỎ.

Cảnh lên chùa Châu Thới như này rất hiếm. Ảnh Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)

Dưới đây là mấy dòng ghi nhận về Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới sau lần hướng dẫn lớp cao học QLMT K27 đi thực địa ngày 01/04/2018.

Tưởng vậy:

Trở thành di tích cấp Quốc gia, chùa cổ trên đỉnh núi Châu Thới với những kiến trúc đặc sắc, cảnh quan đẹp sẽ trở nên nổi tiếng hơn, hoạt động du lịch, nhất là du lịch tâm linh sẽ thu hút du khách, địa phương có thể phát triển các dịch vụ đi kèm, người dân được sống trong môi trường tĩnh lặng và xanh, sạch, đẹp.

Nhưng không phải vậy

Chỉ ít tháng nữa, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia Núi Châu Thới sẽ tròn 30 năm được công nhận, nhưng những gì diễn ra ở đây cho thấy di tích này như không người quản lý: các hố đào to, nhỏ làm biến dạng địa hình, cảnh quan; ô nhiễm bụi khủng khiếp quanh năm; moong ngưng khai thác trở thành ao nước tù và tiềm ẩn rủi ro đối người và vật nuôi; bậc thềm lên chùa thành nơi họp chợ; bãi xe, rác thải ngập ngụa; khuôn viên chùa hỗn độn với ô tô, xe máy, người đi lại, người bán hàng rong, người khấn, nhang khói ghi ngút.

Không gian xáo trộn

Núi Châu Thới bị bủa vây bởi một hệ thống các ao, hồ đào cũ mới do khai thác đá xây dựng. Trong khi diện tích phía đông thuộc tỉnh Đồng Nai, hoạt động khai thác dường như đã dừng lại thì diện tích thuộc Bình Dương những mỏ đá lớn lân cận núi Châu Thới vẫn đang đào khoét hàng ngày.

Các hố đào do khai thác bủa vây núi Châu Thới, diện tích mầu đen trên ảnh là các moong khai thác cũ nay trở thành ao, hồ nước tù đọng; diện tích màu trắng xám là các moong vẫn đang được khai thác
Khai thác đá đã làm biến dạng hình thể núi Châu Thới. Hai hồ nước tù, đọng và tiềm ẩn rủi ro: hồ phía đông nam rộng 150 m ở chân núi, hồ phía tây rộng khoảng 200 m khoét ngay vào sườn núi với vách dốc đứng chỉ cách khuôn viên chùa khoảng 30 – 40 m.
Một sườn núi với thảm phủ xanh trước đây đã trở thành hồ nước sâu có vách dốc đứng cao tới 40 m. Qua 30 năm, vách vẫn lộ đá “tươi” như thể một chứng tích tố cáo tội ác của con người đối với một di tích lịch sử văn hóa cũng là một di sản tự nhiên hiếm có của vùng Đông Nam Bộ.
Mỏ đá Tân Đông Hiệp (dài 1.100 m, rộng 800 m, độ sâu 80 – 100 m) cách núi Châu Thới khoảng 600 m về phía tây bắc. Mỏ đã hoạt động 23 năm, hình như mỏ này vẫn tiếp tục gia hạn khai thác.
Mỏ đá Núi Nhỏ (dài 800 m, rộng 400 m, sâu 80 m) cách núi Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam. Trong ảnh là một moong khai thác cũ nay là hồ nước, xa hơn (phía trên ảnh) là moong đang khai thác.

Chợ búa nhếch nhác

220 bậc thềm lên chùa trở thành nơi họp chợ, các tấm bạt to nhỏ buộc ngang thân cây làm lều, hàng quán bày lộn xộn dọc lối đi, rác đủ loại ngập tràn từ chân cổng chùa tới khuôn viên chùa.

Bậc thang lên chùa là nơi “họp chợ” với lều bạt tạm bợ
Nhếch nhác quá, lều và rác thải tràn lan
Rác ven hồ (ngay gần cổng chùa)
Rác leo theo 220 bậc thang, người ta còn lấy ống hút uống nước, túi ni lon buộc vào cành cây để cầu may
Và rác lên gần đỉnh núi

Khuôn viên hỗn độn

Khuôn viên chùa vốn là nơi thanh tịnh nay không còn, thay vào đó là cảnh tượng hỗn độn, nhốn nháo, nào là ô tô, xe máy chạy lên xuống, người đi lại, người khấn bái, người bán rong…trên một không gian trật trội.

Bãi xe ô tô, xe máy ngay tại khuôn viên chùa Châu Thới (mặc dù tại chân núi, nơi cổng chùa cũng đã có bãi xe)
Người khấn, người đi và xe cộ chen chúc cùng tượng phật
Nhìn bức hình này cũng đủ thấy Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới được ứng xử ra sao

Khi giới thiệu Núi Châu Thới, website tỉnh Bình Dương có đoạn trích dẫn dưới đây:

Sách “Gia Định Thành Thông Chí ” đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục”.

Châu Thới không thể trở lại như xưa nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn, nếu như những người có trách nhiệm biết khai thác đúng giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên của di sản quí hiếm này.

H & H

Núi Châu Thới – Di sản Địa tầng, Địa mạo và Điểm nhìn ba thành phố

Hà Quang Hải

Là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia, núi Châu Thới còn là một địa di sản có giá trị khoa học về Địa tầng, Địa mạo và là điểm nhìn duy nhất để chiêm ngưỡng cảnh quan tự nhiên và đô thị ba thành phố lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía nam: Bình Dương, Biên Hòa và TP. HCM.

  1. Đá Hệ tầng Châu Thới có tuổi 250 triệu năm

Châu Thới (núi Châu Thới) được nhà địa chất Bùi Phú Mỹ và cộng sự đặt tên Hệ tầng Châu Thới tuổi Trias giữa (T2 ct) trên cơ sở nghiên cứu chi tiết mặt cắt địa chất tại núi Châu Thới (Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) và Bửu Long (thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Đây là hệ tầng đá cổ nhất lộ ra dưới dạng một khối núi duy nhất vùng Đông Nam Bộ.

Theo mô tả [2], mặt cắt hệ tầng Châu Thới từ dưới lên gồm 3 tập. Tập 1: cuội kết nhiều thành phần lộ ra tại Bửu Long. Tập 2: chủ yếu là cát kết arkos lộ ở Châu Thới và Bửu Long. Tập 3: cát bột kết, sét bột, bột kết lộ ra ở Bửu Long và Châu Thới. Đá của tập 2 và 3 bị cuội kết cơ sở tuổi Jura phủ bất chỉnh hợp.

“Tập 1: Cuội kết nhiều thành phần lộ ra tại Bửu Long. Cuội gồm diorit, plagiogranit biotit, ryolit, ryodacit porphyr, đá sừng thạch anh felspat, gneis, silic, đá phiến thạch anh – mica, đá hoa.” [2]. Ảnh: H.Q.H
“Tập 2: Chủ yếu là cát kết arkos, hạt vừa màu xám lục, phân lớp dày hoặc dạng khối. Tại Bửu Long quan sát rất rõ quan hệ chuyển tiếp của tập cát kết arkos này với với tập cuội kết cơ sở (tập 1) nằm dưới.” [2]. Ảnh: H.Q.H

Cát kết arkos lộ ở vách khai thác đá sườn núi Châu Thới. Ảnh: H.Q.H

“Tập 3: cát bột kết, sét bột, bột kết màu xám đen phân lớp rõ nằm xen kẽ nhau, nằm chuyển tiếp từ tập 2 lên. Trong đá phiến và bột kết tìm được hóa thạch cúc đá (ở Bửu Long) và Chân rìu (ở Châu Thới).” Các vào hóa thạch này là cơ sở để các nhà cổ sinh xác định các đá hệ tầng Châu Thới có tuổi Trias giữa.

Cúc đá Anisi vùng đồi Bửu Long, Biên Hòa, cơ sở định tuổi cho hệ tầng Châu Thới. Nguồn [2].
  1. Các bậc thềm ở núi Châu Thới

Núi Châu Thới có các mức thềm như sau:

– Bề mặt cao 30 m phân bố ở chân núi Châu Thới. Bề mặt này có diện rộng, khá bằng phẳng. Đồi cát đỏ (nghĩa trang liệt sỹ TP.HCM) cũng thuộc mức thềm này.

– Bề mặt cao 60 m phân bố dạng vai sườn núi. Mức bề mặt này có thể nhận thấy từ các vị trí xa quanh núi.

– Bề mặt đỉnh núi Thới khá bằng phẳng, cao 90 m.

Ba bậc thềm trên có nguổn gốc mài mòn, thuộc các mức thềm phổ biến ở vùng Nam Bộ: T4 (25 – 35 m), T5 (55 – 65 m) và T6 (80-100 m). Tuổi tương ứng cho các mức thềm này là 97.000 ± 27.000 năm (tuổi OSL của hệ tầng Thủ Đức cấu tạo thềm T4), T5: 165.000-195.000 năm, và T6: 240.000-300.000 năm [1].

Các bậc thềm mài mòn ở núi Châu Thới. Ảnh: H.Q.H
  1. Núi Châu Thới – Điểm nhìn ba thành phố

Về hành chính, núi Châu Thới thuộc tỉnh Bình Dương, nhưng về không gian núi Châu Thới được xem như phân bố tại điểm kết nối giữa ba thành phố lớn của miền Đông Nam Bộ, đó là Bình Dương, Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh. Là điểm cao duy nhất nhô trên bề mặt đồng bằng giữa ba thành phố nên núi Châu Thới được nhìn thấy từ nhiều vị trí xung quanh và từ đỉnh núi Châu Thới dễ dàng quan sát cảnh quan thiên nhiên và đô thị của ba thành phố này.

– Trung tâm thành phố Thủ Dầu Một cách núi Châu Thới 18 km về phía tây bắc, theo hướng này có thể quan sát thềm Pleistocen, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và các tòa nhà cao của thành phố Thủ Dầu Một ?.

– Trung tâm thành phố Biên Hòa cách núi Châu Thới 10 km về phía đông bắc, theo hướng này có thể quan sát thung lũng sông Đồng Nai và thành phố Biên Hòa.

– Tháp Tài chính Bitexco (quận 1 Tp. Hồ Chí Minh) cách núi Châu Thới 19 km về phía Tây Nam, theo hướng này có thể quan sát được các tòa nhà cao tầng quận 1 và cảnh quan khu đô thị Đông thành phố Hồ Chí Minh.

Nếu lắp đặt hệ thống ống nhòm trên đỉnh Châu Thới, việc quan sát cảnh quan ba thành phố sẽ rất thú vị. Đỉnh núi Châu Thới cũng là điểm thích hợp để ngắm nhìn bình minh thành phố Biên Hòa phía đông và hoàng hôn thành phố Hồ Chí Minh phía Tây.

Núi Châu Thới nhô cao trên vùng đồng bằng, điểm nhìn duy nhất để chiêm ngưỡng cảnh quan tự nhiên và đô thị ba tỉnh, thành: Bình Dương-Đồng Nai-Tp.HCM
Châu Thới nhìn từ phía bắc (Bình Dương). Ảnh: H.Q.H
Núi Châu Thới nhìn từ phía Đông (bờ sông Đồng Nai, Biên Hòa). Ảnh: Phạm Hoài Nhân (Nguồn Internet)
Từ đỉnh núi Châu Thới nhìn về thung lũng sông Đồng Nai ở phía đông. Ảnh: H.Q.H
Từ đỉnh núi Châu Thới quan sát cảnh quan đô thị, đồng bằng thấp và sông Đồng Nai ở phía đông nam. Ảnh: H.Q.H
Từ đỉnh núi Châu Thới nhìn về phía tây nam thấy Tháp Tài chính Bitexco ở quận 1, TP.HCM. Ảnh: Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)
Ngắm hoàng hôn đô thị từ đỉnh núi Châu Thới. Ảnh từ Facebook Tu Nguyễn (nguồn: Internet)

Các giá trị về địa tầng, địa mạo và điểm nhìn ba thành phố sẽ làm tăng thêm giá trị Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia núi Châu Thới. Khảo sát bổ sung để định danh và đánh dấu điểm xuất lộ các cấu trúc địa chất, các quan hệ địa tầng, các vị trí hóa thạch để có kế hoạch bảo tồn nhằm phục cho du lịch giải trí, thăm quan học tập, nghiên cứu về khoa học Trái đất của một vùng kinh tế trọng điểm là một đề tài khoa học cần được thực hiện.

Tài liệu tham khảo

1.Hà Quang Hải,  Lê  Hoài  Nam,  Nguyễn  Ngọc  Tuyến,  Nguyễn  Thị  Phương Thảo,  (2014),  “Thềm biển Nam Bộ  –  Bằng chứng về biến đổi môi trường”, Tuyển tập Hội thảo Khoa học lần IX– ĐHKHTN Tp. HCM, 21-11-2014.

2. Bùi Phú Mỹ, Vũ Khúc, Trương Công Đượng, Ma Công Cọ. 1994, Lại bàn về Hệ tầng Châu Thới. Tạp chí địa chất, số 222 (5/6)/1994. Hà Nôi.

Những sự thật thú vị về Biển Chết

Không phải là biển, là nơi có nước mặn nhất thế giới, có khả năng chữa bệnh, được nhắc tới trong Kinh Thánh… là những điều thú vị mà không phải ai cũng biết về Biển Chết.

Nằm giữa Jordan, Palestine và Israel, kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời của thế giới này thu hút hàng nghìn du khách muốn thả mình nổi trên mặt biển đọc báo, và để muối khoáng chăm sóc làn da. Dưới đây là những sự thật bất ngờ về vùng nước nổi tiếng thế giới này:

1.Có tên là Biển Chết, nhưng thực ra đây không phải một vùng biển mà là một hồ nước mặn.

2.Đây là hồ nước mặn sâu nhất hành tinh, với độ sâu lên tới 306 m.

3.Nếu so độ sâu với mực nước biển, hồ nước này còn sâu hơn thế. Bờ và mặt nước Biển Chết nằm dưới mực nước biển 427 m, khiến nơi đây trở thành vùng nước nằm thấp nhất thế giới.

4.Đây là một trong những hồ nước mặn nhất thế giới, với nồng độ muối lên tới 33,7%. Vùng nước mặn nhất là phá Garabogazköl ở biển Caspi với nồng độ muối là 35%.

5. Biển Chết là hồ nên có chiều dài và bề rộng giới hạn. Nơi rộng nhất của hồ là 15 km, và chiều dài của hồ là 50 km.

Biển Chết là điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Ảnh: Muftah.org.

6. Nước Biển Chết mặn hơn gấp 9,6 lần so với nước biển thường, với nồng độ muối NaCl và các khoáng chất khác rất cao.

7.Do độ mặn quá cao, không dạng sống nào có thể phát triển ở đây, đó là lý do hồ có tên Biển Chết. Tuy nhiên, điều này không chính xác. Trong mùa mưa, độ mặn của hồ giảm xuống, tạo điều kiện cho một số vi khuẩn sinh sôi.

8.Nước Biển Chết có khả năng chữa bệnh, do lượng bào tử vi khuẩn trong hồ cực thấp và không có chất gây dị ứng. Trong nước hồ có rất nhiều loại khoáng chất. Lượng tia UV trong ánh nắng ở Biển Chết rất thấp, cộng với áp suất không khí cao (do ở vị trí thấp) tạo nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.

9. Biển Chết có một hiện tượng bất thường: liên tục tạo ra nhựa đường. Loại nhựa đường được người Ai Cập cổ sử dụng để ướp xác lấy từ Biển Chết. Do hiện tượng này, người Hy Lạp cổ gọi nơi đây là hồ Nhựa Đường.

Du khách có thể thả người nổi trên mặt nước mà không sợ chìm. Ảnh: Nextours.wordpress.com.

10. Nước không lưu thông ở Biển Chết vì ba bên xung quanh là đất kín, chỉ có sông suối đổ nước vào hồ chứ không có đường dẫn nước ra.

11.Không như muối ăn, muối ở đây rất đắng. Loại muối đắng này giúp trị nhiều bệnh da liễu như bệnh vấy nến, bệnh sần vỏ cam,  mụn nhọt… Nước hồ cũng giúp giảm căng thẳng, tẩy da chết, giảm đau cơ, điều trị viêm khớp và viêm xoang.

12.Biển Chết là một kỳ quan thiên nhiên. Đặc biệt hơn, hồ nước này còn nằm giữa một kỳ quan thiên nhiên khác. Biển Chết nằm ở điểm thấp nhất của thung lũng giãn tách lớn (Great Rift), địa hình dạng máng dài nhất thế giới (dài khoảng 6.000 km, vắt qua 20 quốc gia).

13.Hồ nước cung cấp nguồn kali lớn cho nông nghiệp toàn thế giới.

14.Khu vực quanh có rừng chà là rộng 2.500 m2.

15.Khoảng 50% kinh tế địa phương là từ nông nghiệp gần vùng Biển Chết.

16.Khướu bụi Ả Rập và các loài chim khác sống quanh khu Biển Chết vào các thời điểm trong năm.

17. Khí hậu khô và luôn chan hòa ánh nắng, lượng mưa hàng năm chưa tới 50 mm.

Màu nước tuyệt đẹp của Biển Chết. Ảnh: Insite-israel-tour.com.

18. Đây là hồ tiền sử, hình thành cách đây 2-3,7 triệu năm.

19.Biển Chết là một trong những nơi được Cleopatra yêu thích. Bà thích nơi này đến mức cho xây dựng các khu nghỉ dưỡng và xưởng mỹ phẩm dọc bờ hồ.

20.Biển Chết từng nhiều lần xuất hiện trong Kinh Thánh, có liên hệ với chúa Jesus và tông đồ John. Trong đó có ghi một ngày, vùng nước này sẽ hồi sinh, các động vật sẽ không chỉ sống được mà còn sinh trưởng mạnh

21.Các bản ghi chép của Aristotle cũng nhắc tới Biển Chết.

22.Theo Kinh Thánh, vua David đã trú ngụ gần đây.

23.Với Herod vĩ đại, Biển Chết trở thành khu nghỉ dưỡng điều trị đầu tiên.

24.Ngày nay, khoáng chất và muối Biển Chết được dùng làm túi thơm và mỹ phẩm.

25.Nhiều thế kỷ trước, nơi đây được gọi là “Biển Bốc Mùi”.

Hoàng Linh

Nguồn: https://news.zing.vn/nhung-su-that-thu-vi-ve-bien-chet-post532537.html

Trả lại tên cho một ngọn núi

Bạch Mộc Lương Tử  – một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp ở Lào Cai, nay được trả lại tên gốc Kỳ Quan San.

Với giới đi phượt, chinh phục ngọn núi cao 3.046m với tên thường gọi là Bạch Mộc Lương Tử ở Bát Xát (Lào Cai) là một thử thách hấp dẫn. Sự hấp dẫn không chỉ nằm ở trải nghiệm vượt khó khăn, mà còn bởi quang cảnh trên đỉnh núi này cực đẹp. Nhưng Bạch Mộc Lương Tử lại chỉ là một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp này, vốn nguyên gốc mang tên Kỳ Quan San. Hôm 7-4-2018, huyện Bát Xát đã trả lại tên cho ngọn núi.

Tháo dỡ cột trụ ghi tên “Bạch Mộc Lương Tử”

“Thực tế ở đây không có ngọn núi nào tên là Bạch Mộc Lương Tử cả mà theo tôi biết, phía bên Trung Quốc có ngọn núi tên Bạch Mộc Lương mà thôi. Vì vậy, vừa rồi địa phương đã quyết định đặt cột mốc ghi tên ngọn núi này lại cho chính xác là Kỳ Quan San, thay cho cột mốc do một nhóm phượt tự làm trước đây với tên gọi là Bạch Mộc Lương Tử (con của Bạch Mộc Lương!)” – anh Hoàng Công Kiều, trưởng Phòng văn hóa huyện Bát Xát, nói.

Kỳ Quan San

Chuyến đi trả lại tên cho núi là một hành trình vất vả kéo dài gần 70km đường rừng, núi cao và vách đá. Đã vậy, những ngày đầu tháng 4 lại lạnh giá, băng tuyết xuất hiện trên đỉnh Kỳ Quan San. Tuy nhiên, tất cả mệt mỏi đã tan biến với chúng tôi, những người được trực tiếp tham gia sự kiện này.

Hoàng hôn ở Kỳ Quan San
Hoa đỗ quyên rạng rỡ ở Kỳ Quan San
Bình minh núi Muối tại điểm dừng chân 2.100m
Bữa trưa vội vàng của cán bộ mặt trận xã trong lán Dê để lấy sức mang cơm cho đoàn thay cột trụ ghi tên, chỉ có cơm trắng với nước sôi và muối
Lán chăn dê của cặp vợ chồng người dân tộc Mông tại độ cao 2.800m. Đây là một điểm dừng chân rất đẹp với rừng cây khô phủ đầy băng tuyết
Đoàn cán bộ phụ trách công tác thay cột trụ ghi tên xuất phát từ điểm nghỉ 2.100 m
Đoàn cán bộ huyện Bát Xát làm công tác thay cột trụ ghi tên ngọn núi
Niềm vui bên cạnh cột trụ mới ghi tên Kỳ Quan San
Những bông hoa rừng trên hành trình tới Kỳ Quan San

VI NGỌC HÀ

Nguồn: https://tuoitre.vn/tra-lai-ten-cho-mot-ngon-nui-1437824.htm

Việt Nam có công viên địa chất toàn cầu thứ hai ở Cao Bằng

UNESCO vừa thông qua nghị quyết công nhận công viên địa chất Non nước Cao Bằng là công viên địa chất toàn cầu.

Nghị quyết được thông qua lúc 18h (giờ địa phương) ngày 12/4 tại kỳ họp lần thứ 204 được tổ chức tại Paris. Theo đó, công viên địa chất Non nước Cao Bằng được công nhận theo các tiêu chí: quy mô và khung cảnh, sự quản lý và tham gia của địa phương, phát triển kinh tế, giáo dục, bảo vệ và bảo tồn. Ba mục tiêu chính của công viên địa chất toàn cầu là bảo tồn, giáo dục và thúc đẩy kinh tế địa phương thông qua du lịch địa chất.

Cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 300 km, Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng nằm ở vùng đông bắc Việt Nam, với diện tích hơn 3.000 km vuông. Nằm trong công viên là 6 huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa và một phần diện tích các huyện Hòa An, Nguyên Bình và Thạch An.

Thác Bản Giốc ở Cao Bằng được mệnh danh là thác nước đẹp nhất Việt Nam, lớn nhất Đông Nam Á. Ảnh: Bùi Tuấn Hùng HPP.

Hiện đây là nơi sinh sống của của hơn 250.000 người thuộc 9 dân tộc ít người. Theo thống kê, toàn bộ địa bàn có khoảng 215 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt.

Đặt chân đến Cao Bằng, du khách không thể bỏ qua các điểm dừng chân nổi tiếng như thác Bản Giốc, hồ Thang Hen, động Ngườm Ngao, hang Pác Bó… Ngoài các di tích lịch sử, văn hoá, ẩm thực đặc trưng của tỉnh miền núi cũng là trải nghiệm khó quên trong hành trình của bạn.

Trước đó, cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu vào tháng 10/2010. Sự kiện này nâng số lượng công viên địa chất toàn cầu ở Đông Nam Á lên 5: Langkawi – Malaysia (2007), Đồng Văn – Việt Nam (2010), Batur – Indonesia (2012), Gunung Sewa – Indonesia (2015) và mới nhất là Cao Bằng – Việt Nam.

Trước kỳ họp xét công nhận này, trên thế giới có tổng cộng 127 công viên địa chất toàn cầu nằm ở 35 quốc gia được UNESCO công nhận. Đây là danh hiệu dành cho một khu vực tự nhiên có ranh giới địa lý – hành chính rõ ràng, chứa một tập hợp di sản địa chất mang tầm cỡ quốc tế được chứng minh có giá trị khoa học, giáo dục và thẩm mỹ. Bên cạnh đó là các giá trị khác về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa xã hội…

Nguồn: https://dulich.vnexpress.net/tin-tuc/viet-nam/cao-bang/viet-nam-co-cong-vien-dia-chat-toan-cau-thu-hai-o-cao-bang-3736016.html?ctr=related_news_click