Ngổn ngang Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới

Thiên nhiên phải mất ba trăm ngàn năm để chạm khắc nên ngọn Núi Châu Thới. Hơn ba trăm năm trước, tổ tiên – những người mở cõi đã chọn vị trí đắc địa này để dựng Châu Thới Sơn Tự và đó chính là cơ sở để Núi Châu Thới được công nhận Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia. Nhưng ba mươi năm qua, di sản này đã bị xâm phạm nghiêm trọng, môi trường xuống cấp ở mức báo động.

Nếu áp dụng hình thức thẻ như Công viên Địa chất toàn Cầu hiện nay, Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới xứng đáng nhận THẺ ĐỎ.

Cảnh lên chùa Châu Thới như này rất hiếm. Ảnh Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)

Dưới đây là mấy dòng ghi nhận về Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới sau lần hướng dẫn lớp cao học QLMT K27 đi thực địa ngày 01/04/2018.

Tưởng vậy:

Trở thành di tích cấp Quốc gia, chùa cổ trên đỉnh núi Châu Thới với những kiến trúc đặc sắc, cảnh quan đẹp sẽ trở nên nổi tiếng hơn, hoạt động du lịch, nhất là du lịch tâm linh sẽ thu hút du khách, địa phương có thể phát triển các dịch vụ đi kèm, người dân được sống trong môi trường tĩnh lặng và xanh, sạch, đẹp.

Nhưng không phải vậy

Chỉ ít tháng nữa, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia Núi Châu Thới sẽ tròn 30 năm được công nhận, nhưng những gì diễn ra ở đây cho thấy di tích này như không người quản lý: các hố đào to, nhỏ làm biến dạng địa hình, cảnh quan; ô nhiễm bụi khủng khiếp quanh năm; moong ngưng khai thác trở thành ao nước tù và tiềm ẩn rủi ro đối người và vật nuôi; bậc thềm lên chùa thành nơi họp chợ; bãi xe, rác thải ngập ngụa; khuôn viên chùa hỗn độn với ô tô, xe máy, người đi lại, người bán hàng rong, người khấn, nhang khói ghi ngút.

Không gian xáo trộn

Núi Châu Thới bị bủa vây bởi một hệ thống các ao, hồ đào cũ mới do khai thác đá xây dựng. Trong khi diện tích phía đông thuộc tỉnh Đồng Nai, hoạt động khai thác dường như đã dừng lại thì diện tích thuộc Bình Dương những mỏ đá lớn lân cận núi Châu Thới vẫn đang đào khoét hàng ngày.

Các hố đào do khai thác bủa vây núi Châu Thới, diện tích mầu đen trên ảnh là các moong khai thác cũ nay trở thành ao, hồ nước tù đọng; diện tích màu trắng xám là các moong vẫn đang được khai thác
Khai thác đá đã làm biến dạng hình thể núi Châu Thới. Hai hồ nước tù, đọng và tiềm ẩn rủi ro: hồ phía đông nam rộng 150 m ở chân núi, hồ phía tây rộng khoảng 200 m khoét ngay vào sườn núi với vách dốc đứng chỉ cách khuôn viên chùa khoảng 30 – 40 m.
Một sườn núi với thảm phủ xanh trước đây đã trở thành hồ nước sâu có vách dốc đứng cao tới 40 m. Qua 30 năm, vách vẫn lộ đá “tươi” như thể một chứng tích tố cáo tội ác của con người đối với một di tích lịch sử văn hóa cũng là một di sản tự nhiên hiếm có của vùng Đông Nam Bộ.
Mỏ đá Tân Đông Hiệp (dài 1.100 m, rộng 800 m, độ sâu 80 – 100 m) cách núi Châu Thới khoảng 600 m về phía tây bắc. Mỏ đã hoạt động 23 năm, hình như mỏ này vẫn tiếp tục gia hạn khai thác.
Mỏ đá Núi Nhỏ (dài 800 m, rộng 400 m, sâu 80 m) cách núi Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam. Trong ảnh là một moong khai thác cũ nay là hồ nước, xa hơn (phía trên ảnh) là moong đang khai thác.

Chợ búa nhếch nhác

220 bậc thềm lên chùa trở thành nơi họp chợ, các tấm bạt to nhỏ buộc ngang thân cây làm lều, hàng quán bày lộn xộn dọc lối đi, rác đủ loại ngập tràn từ chân cổng chùa tới khuôn viên chùa.

Bậc thang lên chùa là nơi “họp chợ” với lều bạt tạm bợ
Nhếch nhác quá, lều và rác thải tràn lan
Rác ven hồ (ngay gần cổng chùa)
Rác leo theo 220 bậc thang, người ta còn lấy ống hút uống nước, túi ni lon buộc vào cành cây để cầu may
Và rác lên gần đỉnh núi

Khuôn viên hỗn độn

Khuôn viên chùa vốn là nơi thanh tịnh nay không còn, thay vào đó là cảnh tượng hỗn độn, nhốn nháo, nào là ô tô, xe máy chạy lên xuống, người đi lại, người khấn bái, người bán rong…trên một không gian trật trội.

Bãi xe ô tô, xe máy ngay tại khuôn viên chùa Châu Thới (mặc dù tại chân núi, nơi cổng chùa cũng đã có bãi xe)
Người khấn, người đi và xe cộ chen chúc cùng tượng phật
Nhìn bức hình này cũng đủ thấy Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới được ứng xử ra sao

Khi giới thiệu Núi Châu Thới, website tỉnh Bình Dương có đoạn trích dẫn dưới đây:

Sách “Gia Định Thành Thông Chí ” đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục”.

Châu Thới không thể trở lại như xưa nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn, nếu như những người có trách nhiệm biết khai thác đúng giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên của di sản quí hiếm này.

H & H

Advertisements

Núi Châu Thới – Di sản Địa tầng, Địa mạo và Điểm nhìn ba thành phố

Hà Quang Hải

Là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia, núi Châu Thới còn là một địa di sản có giá trị khoa học về Địa tầng, Địa mạo và là điểm nhìn duy nhất để chiêm ngưỡng cảnh quan tự nhiên và đô thị ba thành phố lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía nam: Bình Dương, Biên Hòa và TP. HCM.

  1. Đá Hệ tầng Châu Thới có tuổi 250 triệu năm

Châu Thới (núi Châu Thới) được nhà địa chất Bùi Phú Mỹ và cộng sự đặt tên Hệ tầng Châu Thới tuổi Trias giữa (T2 ct) trên cơ sở nghiên cứu chi tiết mặt cắt địa chất tại núi Châu Thới (Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) và Bửu Long (thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Đây là hệ tầng đá cổ nhất lộ ra dưới dạng một khối núi duy nhất vùng Đông Nam Bộ.

Theo mô tả [2], mặt cắt hệ tầng Châu Thới từ dưới lên gồm 3 tập. Tập 1: cuội kết nhiều thành phần lộ ra tại Bửu Long. Tập 2: chủ yếu là cát kết arkos lộ ở Châu Thới và Bửu Long. Tập 3: cát bột kết, sét bột, bột kết lộ ra ở Bửu Long và Châu Thới. Đá của tập 2 và 3 bị cuội kết cơ sở tuổi Jura phủ bất chỉnh hợp.

“Tập 1: Cuội kết nhiều thành phần lộ ra tại Bửu Long. Cuội gồm diorit, plagiogranit biotit, ryolit, ryodacit porphyr, đá sừng thạch anh felspat, gneis, silic, đá phiến thạch anh – mica, đá hoa.” [2]. Ảnh: H.Q.H
“Tập 2: Chủ yếu là cát kết arkos, hạt vừa màu xám lục, phân lớp dày hoặc dạng khối. Tại Bửu Long quan sát rất rõ quan hệ chuyển tiếp của tập cát kết arkos này với với tập cuội kết cơ sở (tập 1) nằm dưới.” [2]. Ảnh: H.Q.H

Cát kết arkos lộ ở vách khai thác đá sườn núi Châu Thới. Ảnh: H.Q.H

“Tập 3: cát bột kết, sét bột, bột kết màu xám đen phân lớp rõ nằm xen kẽ nhau, nằm chuyển tiếp từ tập 2 lên. Trong đá phiến và bột kết tìm được hóa thạch cúc đá (ở Bửu Long) và Chân rìu (ở Châu Thới).” Các vào hóa thạch này là cơ sở để các nhà cổ sinh xác định các đá hệ tầng Châu Thới có tuổi Trias giữa.

Cúc đá Anisi vùng đồi Bửu Long, Biên Hòa, cơ sở định tuổi cho hệ tầng Châu Thới. Nguồn [2].
  1. Các bậc thềm ở núi Châu Thới

Núi Châu Thới có các mức thềm như sau:

– Bề mặt cao 30 m phân bố ở chân núi Châu Thới. Bề mặt này có diện rộng, khá bằng phẳng. Đồi cát đỏ (nghĩa trang liệt sỹ TP.HCM) cũng thuộc mức thềm này.

– Bề mặt cao 60 m phân bố dạng vai sườn núi. Mức bề mặt này có thể nhận thấy từ các vị trí xa quanh núi.

– Bề mặt đỉnh núi Thới khá bằng phẳng, cao 90 m.

Ba bậc thềm trên có nguổn gốc mài mòn, thuộc các mức thềm phổ biến ở vùng Nam Bộ: T4 (25 – 35 m), T5 (55 – 65 m) và T6 (80-100 m). Tuổi tương ứng cho các mức thềm này là 97.000 ± 27.000 năm (tuổi OSL của hệ tầng Thủ Đức cấu tạo thềm T4), T5: 165.000-195.000 năm, và T6: 240.000-300.000 năm [1].

Các bậc thềm mài mòn ở núi Châu Thới. Ảnh: H.Q.H
  1. Núi Châu Thới – Điểm nhìn ba thành phố

Về hành chính, núi Châu Thới thuộc tỉnh Bình Dương, nhưng về không gian núi Châu Thới được xem như phân bố tại điểm kết nối giữa ba thành phố lớn của miền Đông Nam Bộ, đó là Bình Dương, Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh. Là điểm cao duy nhất nhô trên bề mặt đồng bằng giữa ba thành phố nên núi Châu Thới được nhìn thấy từ nhiều vị trí xung quanh và từ đỉnh núi Châu Thới dễ dàng quan sát cảnh quan thiên nhiên và đô thị của ba thành phố này.

– Trung tâm thành phố Thủ Dầu Một cách núi Châu Thới 18 km về phía tây bắc, theo hướng này có thể quan sát thềm Pleistocen, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và các tòa nhà cao của thành phố Thủ Dầu Một ?.

– Trung tâm thành phố Biên Hòa cách núi Châu Thới 10 km về phía đông bắc, theo hướng này có thể quan sát thung lũng sông Đồng Nai và thành phố Biên Hòa.

– Tháp Tài chính Bitexco (quận 1 Tp. Hồ Chí Minh) cách núi Châu Thới 19 km về phía Tây Nam, theo hướng này có thể quan sát được các tòa nhà cao tầng quận 1 và cảnh quan khu đô thị Đông thành phố Hồ Chí Minh.

Nếu lắp đặt hệ thống ống nhòm trên đỉnh Châu Thới, việc quan sát cảnh quan ba thành phố sẽ rất thú vị. Đỉnh núi Châu Thới cũng là điểm thích hợp để ngắm nhìn bình minh thành phố Biên Hòa phía đông và hoàng hôn thành phố Hồ Chí Minh phía Tây.

Núi Châu Thới nhô cao trên vùng đồng bằng, điểm nhìn duy nhất để chiêm ngưỡng cảnh quan tự nhiên và đô thị ba tỉnh, thành: Bình Dương-Đồng Nai-Tp.HCM
Châu Thới nhìn từ phía bắc (Bình Dương). Ảnh: H.Q.H
Núi Châu Thới nhìn từ phía Đông (bờ sông Đồng Nai, Biên Hòa). Ảnh: Phạm Hoài Nhân (Nguồn Internet)
Từ đỉnh núi Châu Thới nhìn về thung lũng sông Đồng Nai ở phía đông. Ảnh: H.Q.H
Từ đỉnh núi Châu Thới quan sát cảnh quan đô thị, đồng bằng thấp và sông Đồng Nai ở phía đông nam. Ảnh: H.Q.H
Từ đỉnh núi Châu Thới nhìn về phía tây nam thấy Tháp Tài chính Bitexco ở quận 1, TP.HCM. Ảnh: Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)
Ngắm hoàng hôn đô thị từ đỉnh núi Châu Thới. Ảnh từ Facebook Tu Nguyễn (nguồn: Internet)

Các giá trị về địa tầng, địa mạo và điểm nhìn ba thành phố sẽ làm tăng thêm giá trị Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia núi Châu Thới. Khảo sát bổ sung để định danh và đánh dấu điểm xuất lộ các cấu trúc địa chất, các quan hệ địa tầng, các vị trí hóa thạch để có kế hoạch bảo tồn nhằm phục cho du lịch giải trí, thăm quan học tập, nghiên cứu về khoa học Trái đất của một vùng kinh tế trọng điểm là một đề tài khoa học cần được thực hiện.

Tài liệu tham khảo

1.Hà Quang Hải,  Lê  Hoài  Nam,  Nguyễn  Ngọc  Tuyến,  Nguyễn  Thị  Phương Thảo,  (2014),  “Thềm biển Nam Bộ  –  Bằng chứng về biến đổi môi trường”, Tuyển tập Hội thảo Khoa học lần IX– ĐHKHTN Tp. HCM, 21-11-2014.

2. Bùi Phú Mỹ, Vũ Khúc, Trương Công Đượng, Ma Công Cọ. 1994, Lại bàn về Hệ tầng Châu Thới. Tạp chí địa chất, số 222 (5/6)/1994. Hà Nôi.

Những sự thật thú vị về Biển Chết

Không phải là biển, là nơi có nước mặn nhất thế giới, có khả năng chữa bệnh, được nhắc tới trong Kinh Thánh… là những điều thú vị mà không phải ai cũng biết về Biển Chết.

Nằm giữa Jordan, Palestine và Israel, kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời của thế giới này thu hút hàng nghìn du khách muốn thả mình nổi trên mặt biển đọc báo, và để muối khoáng chăm sóc làn da. Dưới đây là những sự thật bất ngờ về vùng nước nổi tiếng thế giới này:

1.Có tên là Biển Chết, nhưng thực ra đây không phải một vùng biển mà là một hồ nước mặn.

2.Đây là hồ nước mặn sâu nhất hành tinh, với độ sâu lên tới 306 m.

3.Nếu so độ sâu với mực nước biển, hồ nước này còn sâu hơn thế. Bờ và mặt nước Biển Chết nằm dưới mực nước biển 427 m, khiến nơi đây trở thành vùng nước nằm thấp nhất thế giới.

4.Đây là một trong những hồ nước mặn nhất thế giới, với nồng độ muối lên tới 33,7%. Vùng nước mặn nhất là phá Garabogazköl ở biển Caspi với nồng độ muối là 35%.

5. Biển Chết là hồ nên có chiều dài và bề rộng giới hạn. Nơi rộng nhất của hồ là 15 km, và chiều dài của hồ là 50 km.

Biển Chết là điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Ảnh: Muftah.org.

6. Nước Biển Chết mặn hơn gấp 9,6 lần so với nước biển thường, với nồng độ muối NaCl và các khoáng chất khác rất cao.

7.Do độ mặn quá cao, không dạng sống nào có thể phát triển ở đây, đó là lý do hồ có tên Biển Chết. Tuy nhiên, điều này không chính xác. Trong mùa mưa, độ mặn của hồ giảm xuống, tạo điều kiện cho một số vi khuẩn sinh sôi.

8.Nước Biển Chết có khả năng chữa bệnh, do lượng bào tử vi khuẩn trong hồ cực thấp và không có chất gây dị ứng. Trong nước hồ có rất nhiều loại khoáng chất. Lượng tia UV trong ánh nắng ở Biển Chết rất thấp, cộng với áp suất không khí cao (do ở vị trí thấp) tạo nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.

9. Biển Chết có một hiện tượng bất thường: liên tục tạo ra nhựa đường. Loại nhựa đường được người Ai Cập cổ sử dụng để ướp xác lấy từ Biển Chết. Do hiện tượng này, người Hy Lạp cổ gọi nơi đây là hồ Nhựa Đường.

Du khách có thể thả người nổi trên mặt nước mà không sợ chìm. Ảnh: Nextours.wordpress.com.

10. Nước không lưu thông ở Biển Chết vì ba bên xung quanh là đất kín, chỉ có sông suối đổ nước vào hồ chứ không có đường dẫn nước ra.

11.Không như muối ăn, muối ở đây rất đắng. Loại muối đắng này giúp trị nhiều bệnh da liễu như bệnh vấy nến, bệnh sần vỏ cam,  mụn nhọt… Nước hồ cũng giúp giảm căng thẳng, tẩy da chết, giảm đau cơ, điều trị viêm khớp và viêm xoang.

12.Biển Chết là một kỳ quan thiên nhiên. Đặc biệt hơn, hồ nước này còn nằm giữa một kỳ quan thiên nhiên khác. Biển Chết nằm ở điểm thấp nhất của thung lũng giãn tách lớn (Great Rift), địa hình dạng máng dài nhất thế giới (dài khoảng 6.000 km, vắt qua 20 quốc gia).

13.Hồ nước cung cấp nguồn kali lớn cho nông nghiệp toàn thế giới.

14.Khu vực quanh có rừng chà là rộng 2.500 m2.

15.Khoảng 50% kinh tế địa phương là từ nông nghiệp gần vùng Biển Chết.

16.Khướu bụi Ả Rập và các loài chim khác sống quanh khu Biển Chết vào các thời điểm trong năm.

17. Khí hậu khô và luôn chan hòa ánh nắng, lượng mưa hàng năm chưa tới 50 mm.

Màu nước tuyệt đẹp của Biển Chết. Ảnh: Insite-israel-tour.com.

18. Đây là hồ tiền sử, hình thành cách đây 2-3,7 triệu năm.

19.Biển Chết là một trong những nơi được Cleopatra yêu thích. Bà thích nơi này đến mức cho xây dựng các khu nghỉ dưỡng và xưởng mỹ phẩm dọc bờ hồ.

20.Biển Chết từng nhiều lần xuất hiện trong Kinh Thánh, có liên hệ với chúa Jesus và tông đồ John. Trong đó có ghi một ngày, vùng nước này sẽ hồi sinh, các động vật sẽ không chỉ sống được mà còn sinh trưởng mạnh

21.Các bản ghi chép của Aristotle cũng nhắc tới Biển Chết.

22.Theo Kinh Thánh, vua David đã trú ngụ gần đây.

23.Với Herod vĩ đại, Biển Chết trở thành khu nghỉ dưỡng điều trị đầu tiên.

24.Ngày nay, khoáng chất và muối Biển Chết được dùng làm túi thơm và mỹ phẩm.

25.Nhiều thế kỷ trước, nơi đây được gọi là “Biển Bốc Mùi”.

Hoàng Linh

Nguồn: https://news.zing.vn/nhung-su-that-thu-vi-ve-bien-chet-post532537.html

Trả lại tên cho một ngọn núi

Bạch Mộc Lương Tử  – một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp ở Lào Cai, nay được trả lại tên gốc Kỳ Quan San.

Với giới đi phượt, chinh phục ngọn núi cao 3.046m với tên thường gọi là Bạch Mộc Lương Tử ở Bát Xát (Lào Cai) là một thử thách hấp dẫn. Sự hấp dẫn không chỉ nằm ở trải nghiệm vượt khó khăn, mà còn bởi quang cảnh trên đỉnh núi này cực đẹp. Nhưng Bạch Mộc Lương Tử lại chỉ là một cái tên bị gán cho ngọn núi tuyệt đẹp này, vốn nguyên gốc mang tên Kỳ Quan San. Hôm 7-4-2018, huyện Bát Xát đã trả lại tên cho ngọn núi.

Tháo dỡ cột trụ ghi tên “Bạch Mộc Lương Tử”

“Thực tế ở đây không có ngọn núi nào tên là Bạch Mộc Lương Tử cả mà theo tôi biết, phía bên Trung Quốc có ngọn núi tên Bạch Mộc Lương mà thôi. Vì vậy, vừa rồi địa phương đã quyết định đặt cột mốc ghi tên ngọn núi này lại cho chính xác là Kỳ Quan San, thay cho cột mốc do một nhóm phượt tự làm trước đây với tên gọi là Bạch Mộc Lương Tử (con của Bạch Mộc Lương!)” – anh Hoàng Công Kiều, trưởng Phòng văn hóa huyện Bát Xát, nói.

Kỳ Quan San

Chuyến đi trả lại tên cho núi là một hành trình vất vả kéo dài gần 70km đường rừng, núi cao và vách đá. Đã vậy, những ngày đầu tháng 4 lại lạnh giá, băng tuyết xuất hiện trên đỉnh Kỳ Quan San. Tuy nhiên, tất cả mệt mỏi đã tan biến với chúng tôi, những người được trực tiếp tham gia sự kiện này.

Hoàng hôn ở Kỳ Quan San
Hoa đỗ quyên rạng rỡ ở Kỳ Quan San
Bình minh núi Muối tại điểm dừng chân 2.100m
Bữa trưa vội vàng của cán bộ mặt trận xã trong lán Dê để lấy sức mang cơm cho đoàn thay cột trụ ghi tên, chỉ có cơm trắng với nước sôi và muối
Lán chăn dê của cặp vợ chồng người dân tộc Mông tại độ cao 2.800m. Đây là một điểm dừng chân rất đẹp với rừng cây khô phủ đầy băng tuyết
Đoàn cán bộ phụ trách công tác thay cột trụ ghi tên xuất phát từ điểm nghỉ 2.100 m
Đoàn cán bộ huyện Bát Xát làm công tác thay cột trụ ghi tên ngọn núi
Niềm vui bên cạnh cột trụ mới ghi tên Kỳ Quan San
Những bông hoa rừng trên hành trình tới Kỳ Quan San

VI NGỌC HÀ

Nguồn: https://tuoitre.vn/tra-lai-ten-cho-mot-ngon-nui-1437824.htm

Việt Nam có công viên địa chất toàn cầu thứ hai ở Cao Bằng

UNESCO vừa thông qua nghị quyết công nhận công viên địa chất Non nước Cao Bằng là công viên địa chất toàn cầu.

Nghị quyết được thông qua lúc 18h (giờ địa phương) ngày 12/4 tại kỳ họp lần thứ 204 được tổ chức tại Paris. Theo đó, công viên địa chất Non nước Cao Bằng được công nhận theo các tiêu chí: quy mô và khung cảnh, sự quản lý và tham gia của địa phương, phát triển kinh tế, giáo dục, bảo vệ và bảo tồn. Ba mục tiêu chính của công viên địa chất toàn cầu là bảo tồn, giáo dục và thúc đẩy kinh tế địa phương thông qua du lịch địa chất.

Cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 300 km, Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng nằm ở vùng đông bắc Việt Nam, với diện tích hơn 3.000 km vuông. Nằm trong công viên là 6 huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa và một phần diện tích các huyện Hòa An, Nguyên Bình và Thạch An.

Thác Bản Giốc ở Cao Bằng được mệnh danh là thác nước đẹp nhất Việt Nam, lớn nhất Đông Nam Á. Ảnh: Bùi Tuấn Hùng HPP.

Hiện đây là nơi sinh sống của của hơn 250.000 người thuộc 9 dân tộc ít người. Theo thống kê, toàn bộ địa bàn có khoảng 215 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt.

Đặt chân đến Cao Bằng, du khách không thể bỏ qua các điểm dừng chân nổi tiếng như thác Bản Giốc, hồ Thang Hen, động Ngườm Ngao, hang Pác Bó… Ngoài các di tích lịch sử, văn hoá, ẩm thực đặc trưng của tỉnh miền núi cũng là trải nghiệm khó quên trong hành trình của bạn.

Trước đó, cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu vào tháng 10/2010. Sự kiện này nâng số lượng công viên địa chất toàn cầu ở Đông Nam Á lên 5: Langkawi – Malaysia (2007), Đồng Văn – Việt Nam (2010), Batur – Indonesia (2012), Gunung Sewa – Indonesia (2015) và mới nhất là Cao Bằng – Việt Nam.

Trước kỳ họp xét công nhận này, trên thế giới có tổng cộng 127 công viên địa chất toàn cầu nằm ở 35 quốc gia được UNESCO công nhận. Đây là danh hiệu dành cho một khu vực tự nhiên có ranh giới địa lý – hành chính rõ ràng, chứa một tập hợp di sản địa chất mang tầm cỡ quốc tế được chứng minh có giá trị khoa học, giáo dục và thẩm mỹ. Bên cạnh đó là các giá trị khác về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa xã hội…

Nguồn: https://dulich.vnexpress.net/tin-tuc/viet-nam/cao-bang/viet-nam-co-cong-vien-dia-chat-toan-cau-thu-hai-o-cao-bang-3736016.html?ctr=related_news_click

Kiểm kê, phân loại và đánh giá sơ bộ geosite đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Nguyễn Hạnh Nhi, Hà Quang Hải

Bài viết này được trích (có sửa chữa và bổ sung) từ luận văn cao học với tiêu đề “Phát triển chương trình địa du lịch tại đảo Lý Sơn”, thuộc chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường. Báo cáo luận văn lưu trữ tại thư viện trường Đại học KHTN, Đại học Quốc gia TP.HCM.

1.Giới thiệu

Geosite là tiêu chí đầu tiên và cốt lõi để một khu vực có thể trở thành một Công viên địa chất. Giá trị khoa học (đặc biệt là tính quí hiếm) của geostie sẽ là cơ sở đề xuất khu vực đó đáp ứng Công viên địa chất qui mô khu vực, quốc gia hay toàn cầu.

Trong mấy năm gần đây, đảo Lý Sơn gồm cù lao Ré (đảo Lớn) và cù lao Bờ Bãi (đảo Bé) đã thu hút một lượng lớn du khách đến thăm quan cảnh quan và cấu trúc núi lửa giữa biển khơi. Những điểm đến yêu thích của du khách chủ yếu là cù lao Ré gồm: Chùa Hang, đỉnh Thới Lới, Hang Câu, Cổng Tò Vò, Chùa Đục. Trên cù lao Bờ Bãi, du khách tập trung thăm quan, giải trí tại Bãi Tiên.

Có thể nói hoạt động du lịch tại Lý Sơn hiện nay mang tính đại chúng, du khách chưa được giới thiệu sự hấp dẫn địa chất, địa mạo của địa hình núi lửa; những điểm có giá trị nổi bật về khoa học Trái đất rất hữu ích cho nghiên cứu, học tập cũng như giải trí chưa được sử dụng. Nói cách khác, loại hình du lịch tại đảo Lý Sơn còn đơn điệu, thiếu tính chuyên sâu để có thể thu hút các đối tượng du khách khác nhau.

Trong khi chưa có công trình nghiên cứu về địa chất, địa mạo một cách hệ thống, chi tiết theo một tỉ thích hợp để làm rõ cấu trúc địa chất cũng như làm nổi bật giá trị geosite đảo Lý Sơn phục vụ cho việc phát triển Công viên địa chất; chúng tôi tiến hành kiểm kê, phân loại và đánh giá sơ bộ giá trị geosite (giá trị khoa học và giá trị bổ sung) làm cơ sở bước đầu cho việc qui hoạch, mở rộng hoạt động du lịch cũng như định hướng cho công tác bảo tồn di sản tự nhiên.

2. Kiểm kê, phân loại geosite

Kết quả khảo sát, phân tích đã xác định đảo Lý Sơn có 27 geosite, trong đó cù lao Ré có 18 geosite và cù lao Bờ Bãi có 9 geosite. Các geosite được phân loại thành ba kiểu: Địa mạo – Địa tầng, Thủy văn và Cảnh quan địa mạo. Kiểu Địa mạo- Địa tầng gồm các geosite: đỉnh và miệng núi lửa, bãi biển, hang biển, vách biển, các khối đá, cầu thiên nhiên là tàn dư của quá trình xâm thực bóc mòn. Kiểu Thủy văn là các giếng nước phân bố tại vị thí địa hình thuận lợi, có lưu lượng khai thác lớn có giá trị lịch sử và kinh tế. Kiểu Cảnh quan địa mạo là các geosite điểm nhìn, nơi có địa thế thích hợp cho việc quan sát địa hình và chiêm ngưỡng cảnh quan. Các kiểu geosite được thể hiện trên hình 1 và 2.

Hình 1: Các geosite trên Cù lao Ré

Hình 2: Các geosite trên Cù lao Bờ Bãi

3.Giá trị khoa học và giá trị bổ sung của geosite

Việc đánh giá các giá trị khoa học và giá trị bổ sung geosite dựa vào các tiêu chí được Emmanuel Reynard đề xuất (Reynard 2008). Việc đánh giá sơ bộ các giá trị này dựa vào kết quả khảo sát thực địa và tham khảo ý kiến một số chuyên gia đã từng điều tra địa chất, địa mạo tại đảo Lý Sơn. Các geosite có sự hiện diện tiêu chí liên quan được cho điểm 1, nếu không có được cho điểm 0, các tiêu chí chưa đánh giá hoặc chưa rõ được đặt dấu ?. Điểm đánh giá giá trị khoa học và bổ sung geosite tại cù lao Ré và cù lao Bờ bãi được trình bày trong Bảng 1; 2; 3 và 4. Tóm tắt các giá trị khoa học và bổ sung geosite được trình bài trong bảng 5 và 6.

Bảng 1: Điểm đánh giá giá trị khoa học geosite Cù lao Ré
Bảng 2: Điểm đánh giá giá trị khoa học geosite Cù lao Bờ Bãi
Bảng 3: Điểm đánh giá giá trị bổ sung của geosite Cù lao Ré
Bảng 4: Điểm đánh giá giá trị bổ sung của geosite Cù lao Bờ Bãi
Bảng 5: Tóm tắt giá trị khoa học và bổ sung các geosite Cù lao Ré
Bảng 6: Tóm tắt giá trị khoa học và bổ sung các geosite Cù lao Bờ Bãi

4.Các geosite tiêu biểu

Dưới đây trình bày những geosite có giá trị khoa học hấp dẫn về mặt địa chất, địa mạo và những giá trị bổ sung nổi trội (có điểm giá trị cao).

4.1 Hang Câu – Chùa Hang & Thới Lới

Giá tri khoa học: Hai nón núi lửa cùng họng phun, nón Thới Lới nhỏ hơn nằm chồng trên nón Hang Câu-Chùa Hang (kiểu núi lửa lồng nhau tạo thành hai tầng). Đỉnh nón Thới Thới cao khoảng 170 m (điển cao nhất tại đảo Lý Sơn). Dựa vào đặc điểm hình thái và cấu trúc, có thể xác định geosite này thuộc núi lửa phun nổ kiểu strobolian.

Geosite này chứa các geosite dạng điểm như nấm đá, tháp đá bóc mòn và các điểm nhìn. Trong các vật liệu vụn trên sườn và trũng núi lửa Hang Câu-Chùa Hang, ngoài các khối đá, bom núi lửa còn gặp nhiều các khối, mảnh san hô; vỏ sò và cuội thạch anh.

Giá trị thẩm mỹ: Là địa hình cao nhất Cù lao Ré, nên tại đây có thể nhìn thấy được cảnh quan theo các hướng khác nhau. Gờ miệng hai núi lửa cũng là những điểm nhìn ấn tượng (viewpoint) không chỉ quan sát các dạng địa hình trong phạm vi núi lửa mà còn các cảnh quan đồng bằng thấp và địa hình biển, bờ biển bao quanh.

4.2 Vách Hang Câu – Chùa Hang

Giá trị khoa học: Vách biển hoành tráng (cliff) cao 20 – 40 m, dài 1250 m để lộ cấu trúc nón xỉ ấn tượng (geosite lộ cấu trúc núi lửa duy nhất của Việt Nam). Dọc theo geosite này quan sát được cấu trúc trầm tích phân lớp, phân dải chứa các mảnh đá, khối đá bazan kích thước từ 1 – 2 cm đến 1,0 m. Có những điểm lộ địa chất quí, làm cơ sở định tuổi hoạt động núi lửa như xương san hô nằm rải rác trong vụn núi lửa trên vách biển, nằm trong các khối đá rơi. Tại chân vách, trầm tích vụn núi lửa phủ bất chỉnh hợp trên đá rạn san hô.

Các dạng địa hình dọc chân vách Hang Câu – Chùa Hang là các hang biển; trong đó lớn nhất là Hang Câu và hang Chùa Hang – hai địa danh du lịch hấp dẫn hiện nay tại cù lao Ré. Ngoài ra có khá nhiều các khối đá rơi, các hố lõm tròn trên bãi biển do sóng bóc các khối đá bazan khỏi nền đáy ?

Giá trị văn hóa: Chùa Hang nằm trong hang geosite kiểu hang biển – hang lớn thứ hai ở cù lao Ré. Chùa Hang đã được Bộ Văn Hóa – Thể thao và Du lịch xếp hạng thắng cảnh quốc gia theo quyết định số 921 ngày 20 tháng 7 năm 1994. Các sự kiện văn hóa lớn được tổ chức tại đây vào các ngày Tết Nguyên Đán, Lễ Vu Lan, Phật Đản, ngày giỗ các vị tiền hiền. Hàng năm Chùa Hang thu hút một lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước tới hành lễ, niệm phật, chiêm bái.

4.3 Cổng Tò Vò Lý Sơn

Cổng Tò Vò Lý Sơn là dải đá dài 41,5 m, cao 3,5 m so với bề mặt mài mòn biển. Mặt cầu rộng nhất là 8,1 m, hẹp nhất là 1,6m.

Giá trị khoa học: Cổng Tò Vò (cầu thiên nhiên), là dạng địa hình do quá trình xói mòn của biển vào đá bazan phân lớp ngang.

Bazan cấu tạo Cổng Tò Vò phủ trên cát kết san hô (calcarenite). Đá calcarenite hình thành bãi biển mài mòn lộ dọc bờ biển về phía tây với chiều dài hơn 1 km. So sánh với tài liệu của A.M. Karoky, đá calcarenite có tuổi tuyệt đối trong khoảng 1077 ± 98 – 2472 ± 104 năm.

Giá trị thẩm mỹ và kinh tế: Cổng Tò Vò có hình dạng khá đặc biệt, dải đá màu đen nổi bật trên bãi biển cát, đá san hô màu trắng và nước biển màu xanh tạo nên một cảnh quan biển ấn tượng trước núi lửa Giếng Tiền. Cổng Tò Vò là một trong những điểm nhấn cảnh quan biển tại đảo Lý Sơn, thu hút một số lượng đông đảo du khác đến thăm quan, chụp ảnh, nhất là vào thời khắc bình minh và hoàng hôn.

4.4 Bãi Tiên

Giá trị khoa học: Bãi Tiên là kiểu bãi biển dạng túi nằm giữa hai mũi đá bazan. Trầm tích trong bãi là cát san hô, nguồn vật liệu di chuyển từ ngoài khơi vào. Bãi Tiên và các bãi biển dạng túi khác phân bố ở bờ bắc, tây và đông là dạng địa hình bờ biển xâm thực đặc trưng của cù lao Bờ Bãi.

Vách biển xuống bãi Tiên có sự hiện diện các hang biển và Tafoni – một dạng vi địa hình trên vách đá có nguồn gốc phong hóa muối.

Giá trị thẩm mỹ và sinh thái: Bãi Tiên là điểm nhấn cảnh quan biển của cù lao Bờ Bãi, đây thường là điểm thăm quan và tắm biển của du khách. Tại đây du khách được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của bãi biển với sự phối hợp hài hòa các sắc màu tự nhiên như bãi cát trắng chen giữa bờ đá đen trên nền biển màu ngọc bích. Du khách còn được ngắm san hô trên các thuyền thúng bồng bềnh trên mặt biển – một loại hình du lịch rất hấp dẫn.

4.5. Miệng núi lửa Đồng Truông

Giá trị khoa học: Geosite Đồng Truông là miệng núi lửa âm có đường kính khoảng 200 m. Đây là một gờ vành núi lửa gần như khép kín giống như tường thành của một pháo đài, rõ nhất là đoạn gờ phía đông kéo dài khoảng 150 m, cao 7 – 10 m (geosite Hòn Đụn). Đá bazan gồm hai loại: 1) bazan đặc xít màu xám đen, ít lỗ rỗng; phần ven biển bề mặt đá có tafoni. Bazan này phủ lên cát kết san hô lộ ra khi thủy triều xuống thấp và 2) bazan dạng mảnh vụn, dạng xỉ (dung nham kiểu aa?) có màu nâu đỏ do phong hóa mạnh (màu oxit sắt). Theo quan hệ địa tầng, bazan cù lao Bờ Bãi có cùng tuổi với bazan cù lao Ré (Holocen muộn).

Giá trị văn hóa, kinh tế: Gờ miệng núi lửa Đồng Truông tạo thành một con rồng cuộn tròn có đầu và đuôi nằm trên bãi Nam. Người dân trên cù lao Bờ Bãi có thể hướng dẫn du khách thăm quan bãi biển nơi có đầu rồng (chính là Hòn Đụn) hay đuôi rồng. Một truyền thuyết về con rồng cù lao Bờ Bãi sẽ thật sự hấp dẫn du khách. Bề mặt địa hình trũng miệng núi lửa được người dân cấu trúc thành các ruộng bậc thang trồng tỏi, hành – một hoạt động nông nghiệp chính tại cù lao Bờ Bãi.

5.Kết luận

Geosite dạng đường Vách Hang Câu – Chùa Hang (vách xâm thực biển) để lộ một cấu trúc núi lửa phun nổ tuyệt đẹp. Dọc theo geosite này còn có thể quan sát các geosite (dạng điểm) như hang biển, các khối đá lở, và đặc biệt quan sát vật liệu vụn núi lửa chứa các mảnh, khối san hô hay phủ trên cát kết san hô làm cơ sở cho việc xác định giai đoạn hoạt động bazan.

Vách Hang Câu – Chùa Hang là geosite quí hiếm và duy nhất tại Việt Nam. Với sự hiện diện của geosite này, Lý Sơn xứng đáng trở thành Công viên địa chất quốc gia.

 

 

Núi Taranaki ở New Zealand sắp được trao quyền hợp pháp của một con người

Núi Taranaki ở New Zealand sắp được trao quyền hợp pháp của một con người, trở thành thực thể địa lý thứ ba tại nước này được công nhận “tư cách pháp nhân”.

 

Núi lửa Taranaki

Núi Taranaki (hay Egmont), là kiểu núi lửa phân tầng (stratovolcano) phân bố tại khu vực Taranaki thuộc bờ biển phía tây Đảo Bắc New Zealand. Núi cao 2.518 mét, là một trong số những nón núi lửa đối xứng nhất thế giới. Núi còn có một nón thứ cấp là đỉnh Fanthams (Māori: Panitahi) cao 1.966 mét, ở phía nam. Núi Taranaki khá giống Núi Phú Sĩ (Mount Fuji) nên đã được dùng làm bối cảnh cho bộ phim The Last Samurai.

Taranaki có tuổi địa chất trẻ, bắt đầu hoạt động khoảng 135.000 năm trước. Vụ phún xuất lớn cuối cùng xảy ra vào khoảng năm 1655. Các nghiên cứu gần đây cho thấy trong 9000 năm qua, các đợt phún xuất nhỏ xảy ra trung bình khoảng 90 năm một lần, các đợt phún xuất lớn cách nhau khoảng 500 năm.

Năm 1881, một khu vực hình tròn với bán kính 9,6 km bao quanh đỉnh núi được bảo vệ như một Khu bảo tồn Rừng. Sau đó, các khu vực bao gồm các tàn tích núi lửa cổ của Pouakai và Kaitake đã được bổ sung vào khu Bảo tồn này. Năm 1900 Công viên Quốc gia Egmont đã được thành lập, đây là công viên quốc gia thứ hai ở New Zealand.

Ảnh: stokedforsaturday.com.

Hoạt động giải trí

Các hoạt động trượt tuyết, leo núi đã được tổ chức trên núi Taranaki như Khu trượt tuyết Manganui ở sườn phía đông. Các cuộc leo núi công cộng tới đỉnh Taranaki tổ chức vào những tháng mùa hè trên sườn núi phía bắc.

Taranaki sẽ được coi là một ngọn núi vừa phải để trèo. Người có thể lực tốt phải mất một ngày để lên và xuống núi. Thời tiết trên núi có thể thay đổi nhanh, gây rủi ro cho những người trèo núi. Tính đến ngày 27 tháng 6 năm 2017, có 84 người đã chết trên núi kể từ năm 1891 do sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Taranaki là ngọn núi nguy hiểm thứ hai ở New Zealand sau núi  Aoraki/Cook.

Trao quyền hợp pháp

Theo Guardian, 8 bộ tộc Maori địa phương và chính phủ sẽ chia quyền giám sát ngọn núi thiêng ở bờ tây Đảo Bắc của New Zealand. Từ lâu, người bản địa ở đây đã coi ngọn núi như tổ tiên và gia đình của họ. Quyền mới cấp của ngọn núi có nghĩa là nếu có ai làm hại đến nó, hành động này sẽ tương đương với làm hại các bộ tộc bản địa về mặt pháp lý.

Trong bản ghi nhớ ký kết mới đây giữa chính phủ và 8 bộ tộc, núi Taranaki sẽ trở thành “pháp nhân với quyền lợi riêng”. Bộ trưởng về đàm phán thỏa thuận Andrew Little cho hay ngọn núi giờ có quyền tương tự con sông Whanganui, được công nhận hồi tháng 1 năm nay là một cá nhân hợp pháp.

“Là người dân sống ở New Plymouth, tôi lớn lên dưới bóng ngọn núi ấy, vì thế mà tôi rất vui mừng với sự công nhận này”, ông Little bày tỏ.

Ông cho hay thỏa thuận sẽ giúp cho ngọn núi có được sự bảo vệ tốt nhất có thể, đặc biệt là khi nơi đây đang ngày càng thu hút nhiều khách du lịch từ sau khi Lonely Planet xếp hạng vùng Taranaki là địa điểm đáng đến thứ hai trên thế giới vào năm ngoái. Taranaki cũng được cho là ngọn núi được leo nhiều nhất ở New Zealand.

Nguồn: 1. Mountain Taranaki. Wikipedia

2. Núi thiêng 120 nghìn tuổi ở New Zealand được trao quyền con người. https://news.zing.vn/nui-thieng-120-nghin-tuoi-o-new-zealand-duoc-trao-quyen-con-nguoi-post806231.html

UNESCO đề nghị huỷ bỏ vĩnh viễn dự án cáp treo vào Sơn Đoòng

Tháng 7/2017, Trung tâm Di sản Thế giới và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã tái khẳng định mối quan tâm về đề xuất xây dựng cáp treo vào hang động Sơn Đoòng trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và những tác động tiềm tàng của dự án đến tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, kêu gọi hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch xây dựng cáp treo.

(ảnh: John Spies)

UNESCO khẳng định cáp treo sẽ gây tác động tiêu cực đến Sơn Đoòng

Trong Báo cáo thẩm định và bảo tồn 99 di sản thế giới tại các quốc gia thành viên vào tháng 7/2017, trong đó có hang Sơn Đoòng thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng tại Việt Nam, Ủy ban Di sản Thế giới cho biết có một số yếu tố tác động tiêu cực đến di sản như các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, các hành vi xâm phạm rừng và hoạt động khai thác gỗ trái phép, sự giảm sút và biến mất của một số động thực vật…

Bên cạnh đó, chính quyền địa phương và trung ương đều thiếu các kế hoạch quản lý khách du lịch. Kế hoạch Phát triển Du lịch Bền vững đưa ra không đầy đủ, thiếu những cảnh báo về tác động của khách du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí, trong đó có dự án làm cáp treo vào hang động Sơn Đoòng.

Báo cáo cũng lưu ý rằng, việc làm cáp treo đồng nghĩa với khả năng số lượng khách tham quan vào hang tăng mạnh. Điều đó đi kèm các tác động tiêu cực tiềm ẩn đối với môi trường nhạy cảm của hang động. Các hoạt động bất hợp pháp khác cũng có khả năng gia tăng.

Vì vậy, Trung tâm Di sản Thế giới và IUCN đề nghị Ủy ban Di Sản Thế giới khẳng định lại mối quan tâm của mình đối với dự án này và các tác động tiềm tàng lên tài sản có giá trị độc đáo toàn cầu, đồng thời yêu cầu Việt Nam hủy bỏ vĩnh viễn kế hoạch phát triển cáp treo.

Đồng thời, UNESCO còn yêu cầu Việt Nam nộp bản báo cáo cập nhật về tình trạng bảo tồn di sản cho Trung tâm Di sản Thế giới vào tháng 12/2018 để Uỷ ban Di sản Thế giới kiểm tra vào năm 2019.

Thực hư chuyện xây cáp treo vào Sơn Đoòng?

Những ngày gần đây, dư luận đang đặc biệt quan tâm về dự án xây cáp treo vào hang Sơn Đoòng do tập đoàn FLC khởi xướng. Đã có một số thông tin lan truyền trên mạng về việc FLC và chính quyền tỉnh Quảng Bình đang âm thầm triển khai dự án cáp treo tới gần hang Sơn Đoòng.

Tuy vậy, ngày 26/1/2018, ông Lê Thanh Tịnh, giám đốc ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết thực chất của thông tin này là việc tập đoàn FLC thực hiện việc khảo sát làm cáp treo vào hang Én, nhưng thời điểm diễn ra vào cuối năm 2016. Hơn nữa, chủ trương làm cáp treo vào hang Én cũng đã được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý vào tháng 8/2017.

Hang Én được coi là “cửa ngõ” đến hang Sơn Đoòng, từ Hang Én đến hang Sơn Đoòng cách khoảng hơn 3km và chỉ có thể tiếp cận bằng cách lội suối và đi bộ (trekking).

Hang Én (Ảnh: Flickr)

Trong báo cáo của Việt Nam gửi cho UNESCO đầu năm 2017 liên quan đến bảo tồn và phát triển quần thể di sản này, Việt Nam cũng đã khẳng định: “Chưa cấp phép cho dự án cáp treo vào hang động Sơn Đoòng, trong khi chờ đợi Đánh giá Tác động Môi trường”, và “dự án xây dựng cáp treo sẽ chỉ được tiến hành nếu có sự tán thành của Uỷ ban Di sản Thế giới.”

Như vậy, có thể thấy hiện nay chưa có chủ trương làm cáp treo vào hang Sơn Đoòng mà chỉ có tới hang Én, kèm điều kiện “không làm ảnh hưởng đến di sản và có tham khảo ý kiến của UNESCO.” Tuy nhiên, với khoảng cách rất gần giữa hai hang, đồng thời hang Én cũng nằm trong vùng lõi của Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, nếu việc triển khai xây cáp treo dài 5,1km vào hang Én được chính thức phê duyệt, thì ảnh hưởng của nó tới sinh thái của Vườn Quốc gia nói chung và hang Sơn Đoòng nói riêng sẽ không nhỏ chút nào.

Trước khuyến nghị của UNESCO, liệu các cơ quan chức năng của Việt nam và lãnh đạo tỉnh Quảng Bình có nghiêm túc thực hiện theo để bảo tồn một quần thể di sản thiên nhiên vào loại kỳ vĩ nhất của thế giới hay không sẽ được đông đảo dư luận quan tâm và chờ câu trả lời.

Hiện tại ở Việt Nam, đang có nhiều cá nhân và tổ chức lên tiếng bảo vệ hang Sơn Đoòng bằng nhiều cách thức với mong muốn lan toả ý thức bảo vệ và giữ gìn một di sản thiên nhiên đặc biệt của Việt Nam, trong đó nổi bật là dự án #SaveSonDoong (Cứu Sơn Đoòng) của nhiều bạn trẻ.

Thanh Thuỷ (t/h)

Nguồn: http://trithucvn.net/chinh-tri-xa-hoi/de-nghi-huy-bo-vinh-vien-du-cap-treo-vao-son-doong-cua-unesco-va-cac-buoc-tiep-theo-cua-vn.html

Xem clip Hãy bảo vệ Sơn Đoòng tại https://www.youtube.com/watch?time_continue=653&v=oyYkYGG7V1A

 

 

 

ĐỊA DU LỊCH AN GIANG – TIỀM NĂNG CẦN ĐƯỢC KHAI THÁC

Hà Quang Hải*, Lê Nguyên Cẩn**

*Trường Đại học khoa học Tự nhiên, Đại học QG. TP.HCM

**Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang

Bài báo này được trích từ chuyên đề “Tiềm năng Địa du lịch Tỉnh An Giang” thuộc nhóm các “Báo cáo chuyên đề và đề xuất các định hướng nghiên cứu” do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang chủ trì.

Các tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Anh Giang đã tạo nhiều điều kiện cho việc thực hiện chuyên đề này.

Cán bộ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Đốc đã hỗ trợ trong công tác thực địa.

Lãnh đạo và các cán bộ Ban quản lý di tích văn hóa Óc Eo đã cung cấp tài liệu và hướng dẫn thăm quan một số di tích tại Óc Eo.

1.Giới thiệu

An Giang là tỉnh có tài nguyên địa chất, địa mạo đa dạng bao gồm nhiều loại đất, đá;  núi, đồi; đồng bằng, đầm lầy; sông, kênh và hồ nước. An Giang là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc Kinh – Chăm – Hoa – Khmer với một nền văn hóa độc đáo, đa sắc màu. Sự đa sắc màu văn hóa hình thành và phát triển trên nền địa chất, địa mạo đa dạng đã tạo cho An Giang một tiềm năng lớn về du lịch.

Những điểm thu hút du khách tại An Giang bao gồm: Miếu Bà Chúa xứ Núi Sam, đỉnh Núi Cấm (huyện Tịnh Biên); tham quan dâng hương tại Nhà mồ Ba Chúc, Đồi Tức Dụp (Tri Tôn). Khách đến An Giang chủ yếu là khách hành hương kết hợp tham quan du lịch [3], có thể nói du lịch tâm linh là loại hình du lịch ưu thế trong thời gian qua.

Những điểm du lịch tâm linh cũng như các danh thắng khác tại An Giang được dựa vào núi, đồi, đầm lầy, cồn bãi… như Núi Cấm, Núi Sam, Núi Két, rừng tràm Trà sư…tức là dựa vào yếu tố địa chất và địa mạo; nói cách khác tài nguyên thiên nhiên là nền tảng cho tài nguyên văn hóa (tôn giáo, lịch sử, thẩm mỹ, nghệ thuật…). Những nghiên cứu mới hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, giá trị văn hóa được xem là các giá trị bổ sung của các di sản tự nhiên (địa chất, địa mạo).

Như vậy có thể thấy du lịch hiện nay ở An Giang mới chỉ khai thác một phần của giá trị tự nhiên. Để khai thác toàn diện hơn giá trị nguồn tài nguyên này, phát triển địa du lịch đang là hướng đi mới.

2.Sơ lược về Địa Du lịch

Phần này trình bày định nghĩa, tính chất và đặc điểm cơ bản về địa du lịch dựa vào các công bố của Ross K. Dowling [5, 6].

2.1 Định nghĩa

Địa du lịch là một hình thức du lịch tự nhiên tập trung vào các cảnh quan địa chất. Nó thúc đẩy du lịch tại các di sản địa chất (Geosites) và bảo tồn đa dạng địa học (Geodiversity) cũng như sự hiểu biết về khoa học Trái đất thông qua bảo tồn và học tập. Điều này đạt được thông qua việc tham quan các đặc điểm địa chất theo các đường mòn địa chất (geotrails) các điểm nhìn (view points), hướng dẫn du lịch, các hoạt động địa chất và bảo trợ của trung tâm du khách tại các geosite”.

2.2 Tính chất địa du lịch

Nhìn chung, địa du lịch cung cấp nhiều sản phẩm như: các đặc điểm địa chất, địa mạo, cơ sở hạ tầng, quá trình giải thích (diễn giải), lập kế hoạch, và quản lý bởi vì địa du lịch không chỉ là hiện tượng địa chất; nó còn bao gồm các cơ sở và dịch vụ du lịch, quản lý du lịch, các điểm hấp dẫn địa chất, giải thích sinh động và hiệu quả, lập kế hoạch linh hoạt và các hoạt động thú vị. Mặt khác, địa du lịch phản ánh nét đặc trưng và các quá trình xảy ra tại một geosite (Hình 1).

Hình 1. Nhận thức về tính chất và phạm vi của địa du lịch [6]. Tài nguyên thiên nhiên – đó là các Dạng (FORM) thành tạo địa chất, địa mạo bao gồm: cảnh quan, các dạng địa hình, các điểm lộ đá, các loại đá, các loại trầm tích, kiểu đất và các khoáng vật, chúng là sản phẩm của các Quá trình (PROCESS) địa chất, địa mạo. Phần ‘du lịch’ trong địa du lịch là hoạt động tham quan, học tập và thưởng thức di sản địa chất (geosite). Nhìn chung, địa du lịch là sự kết hợp các yếu tố địa chất của ‘Dạng’ và ‘Quá trình’ với các thành phần của Du lịch như sự hấp dẫn, chỗ ở, chuyến thăm quan, hoạt động, diễn giải cũng như quy hoạch và quản lý.

2.3 Địa du lịch – loại hình du lịch bền vững

Địa du lịch là loại hình du lịch đặc biệt tập trung vào các giá trị địa chất và cảnh quan. Các du khách có thể thăm quan các khu vực tự nhiên hoặc các khu đô thị/xây dựng hoặc bất cứ nơi nào có sự thu hút đặc điểm địa chất. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa địa du lịch và các loại hình du lịch tự nhiên khác vì theo định nghĩa du lịch tự nhiên chỉ diễn ra ở các vùng tự nhiên.

Ngoài trọng tâm là trải nghiệm các đặc điểm địa chất của trái đất, bảo tồn địa di sản; địa du lịch giúp tăng cường sự hiểu biết môi trường và xã hội cũng như mang lại lợi ích cho địa phương, giúp xây dựng cộng đồng. Như vậy địa du lịch chính là loại hình du lịch bền vững, có thể xem địa du lịch là hình thức du lịch thân thiện với môi trường.

3.Tiềm năng địa du lịch An Giang

3.1 Địa tầng, magma

Trên diện tích tỉnh An Giang có sự hiện diện 11 phân vị địa tầng và phức hệ magma xâm nhập. Đá cổ nhất thuộc hệ tầng Tà Pạ tuổi Trias thượng – Jura hạ (T3 – J1tp), trẻ nhất là các trầm tích hiện đại tuổi Holocen muộn có nguồn gốc sông, sông đầm lầy, đầm lầy.

Hệ tầng Tà Pạ và hệ tầng Xa Lon (J3xl) là hai hệ tầng được thiết lập từ những quan hệ địa chất tại hai địa danh Tà Pạ và Xa Lôn thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang [1].

Magma xâm nhập vùng Bảy Núi gồm: Phức hệ Định Quán tuổi Kreta sớm pha 1: Diorit aphibol biotit (Di/K1dq1) và pha 2: Granodiorit biotit (GDi/K1dq2). Phức hệ Đèo Cả tuổi Kreta gồm pha 2: Granit – granosyenit (G/Kđc2), pha 3: Granit granosyenit (G/Kđc3) và pha đá mạch: aplit (a/Kđc). Phức hệ Ankroet tuổi Kreta muộn chủ yếu là đá granite (G/K2ak). Phức hệ Cù Mông tuổi Paleogen chủ yếu là đá mạch gabrodiaba porphyr, andesit porphyr (Gby/Ecm).

Đá magma phun trào có sự hiện diện hệ tầng Nha Trang tuổi Kreta (Knt), đá thuộc tướng á núi lửa, thành phần chủ yếu là ryolit porphy.

Hoạt động khai thác đá đã làm mất đi địa hình nguyên thủy tại Tà Pạ và Xa Lôn cũng như một số vị trí khác, các vết lộ tự nhiên quan sát trước đây có thể không còn, nhưng lại có thể bộc lộ những điểm quan hệ địa chất mới?. Điều tra bổ sung để có giải pháp bảo tồn các điểm lộ phục vụ cho nghiên cứu và khoa học là việc làm cần thiết.

3.2 Địa hình – Địa mạo

An Giang nổi bật với địa hình núi, đồi sót và đồng bằng ngập lụt.

Núi, đồi với Thất Sơn hùng vĩ – một địa danh nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ. Vùng Thất Sơn thuộc huyện Tịnh Biên và Tri Tôn gồm bốn cụm khối núi (Phú Cường, Cấm, Dài, Tô) xếp dài theo hướng bắc nam khoảng 34 km, chiều ngang theo hướng đông tây khoảng 18 km, cao nhất là núi Cấm 705 m. Những huyện khác như An Phú, Châu Đốc và Thoại Sơn cũng có rải rác các núi thấp như núi Nổi, cụm núi Ba Thê, cụm núi Sập.

Địa hình đồng bằng thấp có độ cao phổ biến 1,0 – 2,0 m chiếm phần lớn diện tích tỉnh An Giang. Đây là đồng bằng ngập lụt do sông Tiền và sông Hậu bồi đắp, các dạng địa hình cơ bản bao gồm: Đê ven sông Tiền, sông Hậu, vùng trũng giữa sông Tiền và sông Hậu, Đồng bằng sau đê ven sông, Đồng bằng ven chân núi, các cù lao cổ và trẻ.

3.3 Thủy văn

Sông Tiền, sông Hậu là hai sông lớn đã hình thành nên địa hình dòng chảy đa dạng. Hàng năm, hai sông này mang một lượng phù sa lớn bồi đắp cho đồng bằng Tây Nam Bộ. Một hệ thống sông, rạch tự nhiên và kênh đào dày đặc trên đồng bằng tạo nên một mạng dòng chảy đa dạng.

Sự đa dạng dòng chảy An Giang là nhân tố quyết định hình thành các dạng địa hình vùng đồng bằng ngập lụt và mùa nước nổi An Giang bao phủ đồng bằng hay ven vùng núi là kiểu môi trường địa chất duy nhất của Việt Nam. Đặc điểm này nên được xem là lợi thế trong phát triển địa du lịch, một hiện tượng địa chất đặc thù của Việt Nam.

3.4 Khí hậu

Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, khoảng 26 – 28oC. Mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) nắng chói chang, mỗi ngày có tới 10 giờ nắng. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11). Lượng mưa năm trong khoảng 1.400 – 1500 mm, lượng mưa trong các tháng khá điều hòa. Trong mùa mưa, có tới 7 giờ nắng mỗi ngày [2].

Khí hậu điều hòa chính là nguồn tài nguyên thiết yếu ảnh hưởng tích cực đến phát triển du lịch. An Giang có thời tiết thích hợp cho việc phát triển loại hình địa du lịch, du lịch chữa bệnh và nghỉ dưỡng. 

3.5 Các geosite – điểm du lịch tiềm năng ở An Giang

1) Geosite Núi Sam

Geosite Núi Sam thuộc cảnh quan núi sót cao 228 m, đỉnh nhọn, cấu tạo bởi đá granit phức hệ Ankroet. Trên bình đồ Núi Sam có dạng gần như đẳng thước, chiều bắc nam 2,0 km, chiều đông tây 1,8 km. Liên quan đến tên Núi Sam có hai truyền thuyết: 1) trên bình đồ, núi có dáng dấp như con sam và 2) thời xưa ở đây nước dâng rất cao, xung quanh núi có nhiều con sam đeo.

Là núi sót nhô cao trên đồng bằng nên Núi Sam cũng là điểm nhìn ấn tượng để chiêm ngưỡng cảnh quan như: cánh đồng Châu Phú mênh mông bao quanh núi đổi màu theo thời vụ, màu xanh của mạ, màu vàng của lúa chín; các kênh đào thẳng tắp, nhất là kênh Vĩnh Tế phía tây bắc (Hình 2); thành phố Châu Đốc phía đông bắc; vào những ngày quang mây, từ chùa Hang có thể nhìn thấy tượng phật Di Lặc trên đỉnh Núi Cấm phía tây nam.

Hình 2. Cảnh quan phía tây Chùa Hang.         Hình 3. Lăng Thoại Ngọc Hầu (Sơn Lăng)

Núi Sam nổi tiếng là điểm du lịch tâm linh và lịch sử với những di tích thu hút một lượng lớn du khách hàng năm như: Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Tây An, Chùa Hang, Lăng Thoại Ngọc Hầu (Hình 3). Đó là những di tích gắn với nhiều huyền thoại và truyền thuyết từ thời khai khẩn, mở mang bờ cõi.

Tâm linh và lịch sử là những giá trị bổ sung nổi bật của geosite Núi Sam, trong khi đó giá trị khoa học địa chất, địa mạo của geosite này chưa được minh giải một cách tường tận. Nghiên cứu chi tiết cấu tạo địa chất, các dạng vi địa hình bổ sung tư liệu cho Núi Sam sẽ làm cho cụm điểm di tích này giá trị hơn nữa.

2) Geosite Bảy Núi

Geosite Bảy Núi thuộc kiểu Cảnh quan đồi, núi sót. Geosite này gồm bốn cụm (Hình 4) cấu tạo chủ yếu bởi đá magma, từ bắc xuống nam gồm: Phú Cường, Cấm, Dài và Tô. Các núi nhô cao nổi bật trên bề mặt đồng bằng, đỉnh cao nhất của cụm núi Cấm là 705 m, có thể xem là nóc nhà của Tây Nam Bộ.

Cảnh quan Bảy Núi là đối tượng thích hợp cho nghiên cứu, học tập địa mạo vùng núi cho học sinh, sinh viên các trường từ phổ thông đến đại học ở Tây Nam Bộ, nơi mà địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tích. Sơ bộ nhận thấy có mối quan hệ về mặt hình thái với nguồn gốc và thành phần thạch học như các khối núi cao, đỉnh nhọn, sườn dốc được cấu tạo bởi magma xâm nhập (thuộc phức hệ Định Quán, Đèo Cả) và magma phun trào (thuộc hệ tầng Nha Trang); các núi cấu tạo bởi các đá cát kết, bột kết thuộc hệ tầng Tà Pạ tạo nên kiểu địa hình cuesta.

Bao bọc xung quanh geosite Bảy Núi là đồng bằng, đầm lầy và kênh rạch, trong đó có những điểm đến hấp dẫn có giá trị sinh thái hay lịch sử như rừng tràm Trà Sư, kênh Vĩnh Tế…

Hình 4. Địa hình khu vực Bảy Núi

Geosite Bảy Núi rất khả thi trong việc xây dựng các tuyến địa du lịch như: đường mòn địa chất (geotraile), đi bộ thám hiểm đường dài (trecking), địa du lịch thể thao-mạo hiểm kết hợp giữa tìm hiểu giá trị khoa học trái đất và các giá trị bổ sung kèm theo (lịch sử, tâm linh, địa sử…).

3) Geosite Tà Pạ

Geosite Tà Pạ thuộc kiểu địa tầng. Tại đây lộ các đá bột kết, cát kết, đá phiến, cát kết chứa cuội (Hình 5). Ranh giới dưới chưa quan sát được, ranh giới trên trên bị xâm nhập phức hệ Định Quán (Hình 6) xuyên cắt và bị cuội kết cơ sở của hệ tầng Xa Lôn phủ lên [1]. Dựa vào mặt cắt này các tác giả thiết lập hệ tầng Tà Pạ có tuổi Trias muộn – Jura sớm (T3-J1tp).

Hình 5 (trái). Bột kết màu tím xen trong cát kết hệ tầng Tà Pạ. Hình 6 (phải). Đá xâm nhập phức hệ Định Quán xuyên cắt các đá hệ tầng Tà Pạ. Ảnh Trương Công Đượng

Đồi Tà Pạ hiện nay là khu mỏ đá bỏ hoang. Moong khai thác đá nay là hồ nước (Hình 7), những tháp đá (Hình 8) đã hình thành kiểu địa hình mới lạ thu hút một số du khách thăm quan.

Đồi Tà Pạ sẽ là điểm đến hấp dẫn của huyện Tri Tôn nếu qui hoạch khu mỏ đá bỏ hoang này cùng với chùa Tà Pạ (chùa Chơn Num)… thành điểm du lịch.

Hình 7 (trái). Một phần moong khai thác đá Tà Pạ nay là hồ nước trong xanh. 
Hình 8 (phải). Tháp đá để lộ các tầng bột kết, cát sạn kết cắm về tây bắc với góc dốc 15o.

4) Geosite Xa Lôn

Geosite Xa Lôn thuộc kiểu địa tầng. Tại đây lộ mặt cắt cuội kết, tuf tảng và phun trào andesit được nghiên cứu chi tiết. Một lỗ khoan sâu 200 m được thực hiện để nghiên cứu bổ sung cho mặt cắt này. Dựa vào tài liệu địa chất mặt cắt và lỗ khoan các tác giả đã thiết lập hệ tầng Xa Lôn tuổi Jura muộn (J3xl).

Hình 9. Cuội kết cơ sở hệ tầng Xa Lôn phủ trên cát kết chứa cuội, bột kết hệ tầng Tà Pạ. Ảnh Trương Công Đượng

Theo mô tả [1] đây là mặt cắt khá đẹp về hệ tầng Xa Lôn. Tại mặt cắt này, ranh giới dưới của hệ tầng phủ trên cát kết chứa cuội, bột kết màu tím của hệ tầng Tà Pạ (Hình 9) và ranh giới trên bị phun trào ryolit porphyr của hệ tầng Nha Trang (K2nt) phủ lên.

5) Geosite Óc Eo – Ba Thê

Geosite Óc Eo – Ba Thê thuộc kiểu cảnh quan địa mạo núi sót bao gồm cụm núi Ba Thê (Ba Thê, Nhỏ, Tượng, Trọi, Chóc) và vùng đồng bằng bao quanh, nơi có di tích văn hóa Óc Eo.

Hình 10 (trái). Cảnh quan địa mạo núi sót Óc Eo – Ba Thê. Hình 11 (phải). Từ trên đỉnh núi Ba Thê có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Ba Thê và đồng bằng bao quanh

Hai giá trị khoa học địa chất nổi bật của geosite này gồm:

– Núi Ba Thê (Hình 10) nhô cao trên đồng bằng bằng phẳng. Đỉnh núi Ba Thê – một điểm nhìn lý tưởng. Từ đây có thể chiêm ngưỡng những ruộng lúa bằng phẳng được phân chia bởi những dòng kênh thẳng tắp cắt nhau như ô bàn cờ (Hình 11). Vào mùa nước nổi, Ba Thê trở thành hòn đảo trên những cánh đồng khi đã ngập nước mênh mông.

– Các lòng sông cổ để lại dấu vết trên bề mặt đồng bằng lân cận di tích Óc Eo, trong đó Kênh 4 là kênh dài nhất (80 km) gần như một đường thẳng từ Angkor Borei đến Óc Eo.

Kênh 4 là một trong bốn kênh rạch dẫn từ trung tâm nông nghiệp Funan của Angkor Borei lần đầu tiên được vẽ bởi nhiếp ảnh gia hàng không Pierre Paris vào những năm 1930. Các cuộc khai quật tiếp theo của Louis Malleret trong những năm 1940, cuộc khảo sát do Janice Stargardt dẫn đầu trong những năm 1970 và bản đồ không ảnh của Finnmap Oy trong những năm 1992-1993 đã bổ sung thêm thông tin[4].

Nếu được nghiên cứu khôi phục vị trí và hình dạng, các lòng sông cổ, cửa biển cổ sẽ góp phần làm sáng tỏ bối cảnh của vương quốc Phù Nam vào giai đoạn hưng thịnh cũng như giúp luận giải sự suy tàn của vương quốc này ?.

Hai giá trị bổ sung cho geosite Óc Eo – Ba Thê gồm:

– Khảo cổ: khu di tích văn hóa Óc Eo – dấu vết của vương quốc Phù Nam xưa, vốn là một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á cách nay khoảng 2000 năm. Di chỉ văn hóa Óc Eo có trung tâm là khu vực núi Ba Thê (thị trấn Óc Eo) và các xã Vọng Thê, Vọng Đông, huyện Thoại Sơn.

– Tâm linh: Trên đỉnh núi Ba Thê có ngôi chùa cổ Sơn Tiên Tự được dựng vào năm 1933. Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát cao chừng 8 m (Hình 12). Cạnh chùa có một khối đá granit mà trên đó có dấu lõm dạng bàn chân được nhà chùa ghi là “bàn chân tiên” – một điểm nhấn gắn với câu truyện thần thoại đặc biệt thu hút du khách.

Hình 12. Tượng Phật Quan Thế Âm bồ tát trên đỉnh núi Ba Thê

Ở chân núi Ba Thê có Chùa Linh Sơn còn được gọi là chùa Phật bốn tay xây dựng năm 1913. Năm 2012 chùa được xếp vào loại hình kiến trúc tiêu biểu trong quần thể Di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật Óc Eo – Ba Thê. Chùa Linh Sơn là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng của tỉnh An Giang.

Geosite Óc Eo – Ba Thê có thể trở thành điểm đến Địa du lịch – Lịch sử – Khảo cổ – Tâm linh nếu được nghiên cứu, phục dựng mô hình cổ địa lý giai đoạn phát triển vương quốc Phù Nam bổ sung cho giá trị khoa học địa chất, địa mạo và giá trị khảo cổ hiện có.

6) Geosite sông Tiền

Sông Tiền từ biên giới với Campuchia đến đuôi cù lao Giêng dài khoảng 80 km thuộc kiểu sông bện tết với hệ thống cù lao cổ gần như nối tiếp nhau bao gồm cù lao Long Khánh, cù lao Long Thuận và cù Lao Tây (thuộc tỉnh Đồng Tháp).

Các cù lao trẻ (cồn) hình thành và phát triển giữa sông Tiền (đoạn sông phía bắc Tân Châu) chính là hình ảnh quá khứ của các cù lao cổ nói trên. Có thể lấy cồn Chính Sách làm ví dụ:

– Ảnh vệ tinh năm 1985 (Hình 13) cho thấy lòng sông Tiền (phía đông xã Vĩnh Hòa) chỉ có hai cù lao nhỏ;

– Ảnh vệ tinh năm 2015 cù lao này đã phát triển thành cồn Chính Sách, mở rộng tới 1,2 km; dài tới 7,2 km (Hình 14).

Hình 13 Trên ảnh vệ tinh năm 1985, các cồn giữa lòng sông Tiền nhỏ, phân bố rải rác.Nguồn Google Earth nh năm 1985). Nguồn Google Earth
Hình 14. Trên ảnh vệ tinh năm 2015, hai cồn nhỏ phía đông xã Vĩnh Hòa phát triển thành cồn Chính Sách rất rộng.Nguồn Google Earth

Sự hình thành cồn Chính Sách là ví dụ sinh động về hiện tượng “Đảo trôi” – bài học giáo khoa trong khoa học địa mạo. Đảo trôi bồi tụ mở rộng diện tích sẽ dẫn đến hiện tượng xói lở hai bờ sông (Hình 15). Hiện tượng xói lở nhiều năm thấy rất rõ dọc bờ sông Tiền thuộc Tân Châu và Hồng Ngự. Đảo trôi là hiện tượng cù lao hình thành giữa dòng sông mà luôn bị xói lở đầu cù lao (Hình 16) và bồi tụ phần đuôi cù lao.

Có một thực tế rằng, trong nhiều năm qua, nhiều công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào hiện tượng xói lở bờ sông mà quên mất hiện tượng bồi tụ. Kết quả là các phương tiện thông tin đại chúng chỉ nói đến xói lở gây mất đất, mất nhà, mất người…mà hầu như không nói gì đến các cù lao hình thành do bồi tụ?

Hình 15 (trái). Bồi tụ cồn Chích Sách đẩy dòng chảy về phía tây gây xói lở bờ sông tại ấp Vĩnh An, xã Vĩnh Hòa, Tân Châu. Ảnh Trương Ngọc Bích
Hình 16 (phải). Đầu cồn Chích Sách đang bị xói lở – hiện tượng đảo trôi thường được giới thiệu trong giáo trình địa mạo đại cương. Ảnh Trương Ngọc Bích

Có thể xem các cù lao trẻ giữa dòng là mô hình thực tế minh họa cho kiểu geosite chủ động. Đưa mô hình này phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như thăm quan du lịch sẽ thực sự bổ ích cho du khách.

7) Geosite sông Hậu

Sông Hậu từ biên giới với Campuchia đến hết địa phận thành phố Long Xuyên dài khoảng 100 km, cũng thuộc kiểu sông bện tết với các dấu ấn thể hiện trên địa hình là các cù lao cổ bao gồm các gờ cao và trũng xen kẽ nhau.

Một hệ thống cù lao cổ từ Campuchia qua Khánh An, Phú Hữu, Phước Hưng đến Vĩnh Trường (huyện An Phú) cho thấy sự dịch chuyển phức tạp của sông Hậu trong quá khứ. Búng Bình Thiên kéo dài theo hướng tây – đông và đoạn sông dạng chữ “U”, nơi hội lưu giữa sông Bình Di, sông Tà Keo và sông Châu Đốc cho chúng ta một gợi ý về sự dịch chuyển dòng sông Hậu từ tây sang đông, cũng có thể xảy ra hiện tượng cướp dòng ở khu vực này.

Các cù lao dọc sông Hậu thường nhỏ hơn sông Tiền, mỗi cù lao đều có những nét văn hóa đặc thù. Cù lao Vĩnh Trường (huyện An Phú) có làng Chăm ở ấp La Ma; cù lao Khánh Hòa (huyện Châu Phú) có ẩm thực nổi tiếng là mắm Ba Vui), cù lao Bình Thủy còn gọi là cù lao Năng Gù (huyện Châu Phú) có di tích Đình thần Bình Thủy cổ kính (Hình 17), là một công trình kiến trúc mang giá trị nghệ thuật độc đáo. Cù lao Năng Gù còn có nhiều căn nhà to đẹp trang trí kiểu Pháp. Cù lao Ông Hổ có khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng (Hình 18).

Hình 17 (trái). Đình Thần Bình Thủy trên cù lao Năng Gù. Nguồn Internet
Hình 18 (phải). Tòa nhà chính của khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng trên cù lao Ông Hổ. Nguồn Internet

Geosite sông Tiền và sông Hậu thuộc kiểu geosite thủy văn chủ động (geosite hoạt động). Phát triển tuyến địa du lịch dọc theo geosite này sẽ nhận được những kiến thức trực quan, sinh động về hoạt động của sông hiện đại bao gồm động lực dòng chảy theo mùa (lũ và kiêt), những đảo trôi giữa dòng giải thích cho sự hình thành cù lao, các quá trình xói lở và bồi tụ đan xen phản ánh qui luật phát triển tự nhiên của sông ngòi.

Ghé thăm những thành phố, thị trấn cổ kính ven sông như Tân Châu, Châu Đốc, Long Xuyên hay những cù lao thanh bình và hấp dẫn với những giá trị văn hóa, dân tộc độc đáo sẽ là những trải nghiệm thú vị và ấn tượng của du khách.

5.Kết luận và khuyến nghị

An Giang có sự đa dạng về địa chất, địa mạo: Về địa chất có sự hiện diện 11 phân vị địa tầng và phức hệ magma, cổ nhất là các đá thuộc hệ tầng Tà Pạ được hình thành cách ngày nay khoảng 200 triệu năm, trẻ nhất là các trầm tích hiện đại nguồn gốc sông do sông Tiền, sông Hậu bồi đắp hàng năm. Về địa mạo có sự hiện diện nhiều dạng địa hình với qui mô khác nhau bao gồm núi, đồi, đồng bằng thấp trải rộng, đồng bằng cao hẹp viền quanh núi, trũng lầy, hồ nước, đê thiên nhiên, hệ thống cù lao cổ, trẻ giữa sông và các bãi bồi ven sông.

An Giang có bốn dân tộc (Kinh – Chăm – Hoa – Khmer) hội tụ và cùng chung sống. Mỗi dân tộc có riêng một tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục đã tạo nên tính đa sắc màu văn hóa của mảnh đất An Giang – tỉnh đầu tiên của Tây Nam Bộ đón nhận những hạt phù sa từ sông Tiền, sông Hậu – hai dòng chảy lớn của sông Mê Công nổi tiếng thế giới.

Đa dạng văn hóa hình thành trên một nền tự nhiên đa dạng là tiềm năng rất lớn để An Giang phát triển địa du lịch – một loại hình du lịch mới đang được một số nước trên thế giới áp dụng và đạt được kết quả tốt. Địa du lịch là giải pháp giúp địa phương bảo tồn các di sản tự nhiên, di sản văn hóa và nâng cao đời sống của cộng đồng các dân tộc.

Để có cơ sở phát triển loại hình địa du lịch, những nội dung dưới đây cần được đầu tư nghiên cứu:

– Kiểm kê, đánh giá các geosite về giá trị khoa học và các giá trị bổ sung (sinh thái, thẩm mỹ, văn hóa và kinh tế) để có kế hoạch bảo tồn, phục vụ nghiên cứu khoa học, học tập và du lịch.

– Hiệu chỉnh bản đồ địa hình vùng Bảy Núi cùng với việc định rõ vị trí, định danh cụ thể cho bảy ngọn núi được gọi là “THẤT SƠN” cũng như các ngọn núi khác. Mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và cấu trúc của từng ngọn núi.

– Lập bản đồ hệ thống các bờ biển cổ, cảng biển cổ, lòng sông cổ; tìm hiểu hiện tượng dịch chuyển dòng hay cướp dòng của sông Hậu hiện đại đối với sông Hậu cổ?, định rõ hình thái kênh 4 từ Angkor Borei tới Óc Eo để bổ sung tư liệu cho văn hóa Óc Eo.

– Tiến hành cải tạo, qui hoạch những moong khai thác bỏ hoang thành các điểm du lịch để tránh lãng phí diện tích đất đai, ô nhiễm môi trường cũng như rủi ro đối với con người và vật nuôi.

Để kết thúc bài viết này, xin trích dẫn đoạn dưới đây từ trang web của Tổ chức Phát triển Địa du lịch [7].

Tổ chức Phát triển Địa du lịch (GDF) tin tưởng rằng, du lịch làm cho thế giới trở nên tốt hơn. Du lịch tạo ra thu nhập và việc làm cho người nghèo nhất, bảo tồn văn hoá và môi trường, thúc đẩy lòng khoan dung và hiểu biết giữa các dân tộc và mở rộng trí óc.

Tham khảo chính

[1] Trương Công Đượng và nnk. 1998. Báo cáo đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản Nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc tỷ lệ 1:50.000. Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[2] Địa chí An Giang. 2013. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang

[3] Nguyễn Văn Thanh,  Nguyễn Quang Vũ. 2016. Phát triển loại hình du lịch tâm linh tại tỉnh An Giang. SCIENCE & TECHNOLOGY DEVELOPMENT, Vol 19, No.X5-2016

[4] K. Kris Hirst. Oc Eo – Funan Culture Site in Vietnam. https://www.thoughtco.com/oc-eo-funan-culture-site-vietnam-172001

[5] Ross K. Dowling. 2013. Global Geotourism – An emerging Form of sustainable tourism. Czech Journal of Tourism, 2(2), 59-79. DOi: 10.2478/cjot-2013-0004.

[6] Ross K. Dowling. 2014. Geotourism’s Contributionto Protected Areas. IUCN World Parks Congress. Sydney.2014.

[7] GDF. http://www.geotourismfoundation.org/

 

 

Tản mạn du lịch đảo Phú Quốc đầu năm 2018

Từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 01 năm 2018 đi du lịch Phú Quốc cùng với gia đình cô con gái. Đây là lần thứ 5 đến Phú Quốc kể từ năm 2010. Đến Phú Quốc lần này chỉ thăm thú vài nơi, nhận thấy Phú Quốc đổi thay nhanh chóng. Cảm nhận vui và chẳng vui về đổi thay đan xen. Vài dòng tản mạn dưới đây về lần đến Phú Quốc này.

Đia mạo vịnh Ông Lang

Vịnh Ông Lang kéo dài theo hướng TB-ĐN khoảng 650 m, nét chính địa chất – địa mạo của vịnh như sau:

Hai mũi nhô là đá cát kết thuộc hệ tầng Phú Quốc tuổi Creta. Các lớp đá cắm thoải về phía tây và bị chia cắt bởi các hệ thống khe nứt tạo thành các cột đá nhô trên mực nước biển khoảng 1,5 m.

Bãi cát chỗ rộng nhất khoảng 15 m khi thủy triều xuống thấp và thu hẹp còn khoảng 5-10 m khi thủy triều lên cao. Một lạch nhỏ đổ ra vịnh cũng tạo đê cát chắn cửa kéo dài về phía đông nam.

Thềm 1 là các mảnh rộng khoảng 10 m, cấu tạo chủ yếu là cát, cao khoảng 2,0 m, phân bố không liên tục theo đường bờ biển. Rải rác ven thềm 1 là những cây phi lao có đường kính lớn (tới 50 cm). Xâm thực biển đã bóc lộ gốc, dễ phi lao ven biển.

Thềm 2 cao khoảng 4 – 6 m, trải rộng, khá bằng phẳng, cấu tạo bởi cát trắng xám, sườn thềm lộ các khối cát kết mài mòn. Sườn và mặt thềm 2 có nhiều thân cây lớn. Phần lớn các resort, khách sạn, khu dân cư khu vực Ông Lang đều trên thềm 2.

Tafoni cũng xuất hiện trên đá cát kết ở mũi nhô phía nam.

Mùa này khá nhiều du khách nước ngoài (có nhiều du khách Nga) đến vịnh Ông Lang. Du khách nằm phơi nắng trên bãi cát, tắm biển, nằm đọc sách trên các mặt khối đá, tập yoga.

Đây là bãi tắm công cộng, không có người quản lý; những biển cảnh báo thật đơn giản.

Sơ lược mặt cắt địa mạo bờ biển vinh Ông Lang
Đê cát chắn cửa lạch vịnh Ông Lang
Tafoni trên đá cát kết hệ tầng Phú Quốc
Một cảnh báo tại bãi biển

Một không gian bị cấm ?

Khoảng giữa vịnh có một kè đá kéo dài gần 300 m. Từ kè đá vào trong người ta đặt nhiều bảng cấm không cho du khách đi lại. Đi phía trong bờ đá để khảo sát bị “t” tây đuổi ra ngoài nhưng mình không chấp nhận. Bờ kè đá có đoạn lấn ra bãi biển. Khi thủy triều lên muốn di chuyển về doi cát cửa lạch phía đông nam vịnh du khách phải lội nước.

Phần phía bắc bãi biển là dãy Bungalow của resort Mango Bay (Vịnh Cây Xoài). Bảo vệ resort này không cho chụp ảnh về phía có Bungalow vì ông chủ ra lệnh như vậy (chẳng thấy biển cấm chụp ảnh ở đâu).

Phía trong bờ kè đá đặt nhiều biển “Private Land, No Entry – Khu vực cấm, Miễn vào”
Bờ kè đá lấn bãi biển, ôm toàn bộ hàng phi lao chắn sóng. Muốn đi khảo sát phải lội dưới biển
Và đây là biển báo bờ biển nơi có dẫy Bungalow của resort Mango Bay

Vinpearl Land Phú Quốc

Cả nhà thống nhất đi Vinpearl Land vì ở đó có nhiều trò chơi. Vinpearl Land Phú Quốc có tới 12 trò chơi, nhưng nhiều trò chỉ dành cho người lớn như: Tháp rơi tự do, Đĩa quay siêu tốc, Đu quay dây văng…Hấp dẫn nhất tại Vinpeal Land là Thủy Cung. Có nhiều cá thể sinh vật biển quí hiếm được nuôi dưỡng và trưng bày ở Thủy Cung như cá mập, cá đuối, rùa núi vàng, thằn lằn ánh sáng…

Một điểm vui chơi giải trí trong Vinpearl Land

Vé, vào cổng, ăn và uống tại Vinpearl Land

người lớn 500.000 VNĐ, vé trẻ em (chiều cao 1 m -1,4 m) 400.000 VNĐ, nếu mua trước từ các đại lý được giảm 10%. Giá vé này với một không gian giải trí như Vinpearl Land thì không cao, nhưng sẽ hợp lý hơn nêu như phân chia theo loại hình giải trí như: khu vui chơi cảm giác mạnh, khu trẻ em, khu tìm hiểu thế giới sinh vật…để có mức vé khác nhau phù hợp với sở thích và điều kiện kinh tế của nhiều đối tượng. Thực tế một số người đến Vinpearl Land cũng chỉ thỏa mãn hoặc quan tâm đến một vài loại hình nào đó.

Khám xét túi tại cổng: từng người lần lượt để bảo vệ xét túi, mới đầu tưởng kiểm tra an ninh, xong việc khám xét thật đơn giản (mở túi để bảo vệ nhìn qua); quên chưa hỏi họ khám vì mục đích gì?, một cách làm thật phản cảm.

Dịch dụ ăn, uống: Vinpearl Land không cho đem đồ ăn vào; đồ ăn ở đây khá mắc: một cây kem 35.000 VNĐ, 1 chai nước suối nhỏ 12.000 VNĐ; một xuất ăn trưa tại quán Ba Miền từ 130.000 đến 150.000 VNĐ trong đó bắt buộc kèm theo 1 lon Pepsi 11.000 VNĐ – một cách làm thật phi lý.

Khám xét túi của du khách tại cổng

Chợ đêm Phú Quốc

Chợ đêm Dinh Cậu nay chuyển về đường Bạch Đằng được đổi tên thành chợ đêm Phú Quốc. Chợ đêm Phú Quốc khá ngăn nắp, khang trang, môi trường, vệ sinh khá tốt. Du khách đến chợ đêm để thưởng thức hải sản tươi sống với giá cả xem như chấp nhận được (tuy vậy gần gấp đôi so với giá gốc). Những món ăn vặt cũng khá hấp dẫn như bánh chuối, kem dừa, kẹo chỉ, cơm cháy…rất ấn tượng với nhân viên chế biến kem cuộn.

Ốc tỏi tại bờ biển Dinh Cậu. Giá ngư dân bán cho thương lái là 120.000 VNĐ/1kg; mua từ thương lái là 150.000 VNĐ/1kg; giá tại chợ đêm Phú Quốc từ 250.000 đến 300.000/1kg.

Dinh Cậu

Dinh Cậu nay được chắn đơn giản bằng sợi dây xích, cách chân vách đá khoảng 20 m. Hàng quán được bày bán cho du khách phía ngoài sợi dây xích này. Từ Dinh Cậu nhìn thấy một Cảng tàu có chiều dài vượt quá kè luồng cửa Dương Đông.

Từ khoảng 17:00 đã thấy một tốp du khách người nước ngoài đứng trên bãi biển hướng về nơi mặt trời đang lặn để chờ chụp ảnh hoàng hôn. Vị trí đón chụp hoàng hôn của họ đã bỏ qua Dinh Cậu – một geosite có giá trị của đảo Phú Quốc.

Một Cảng tàu về cơ bản đã hoàn thành tại Dương Đông
Du khách chờ chụp ảnh hoàng hôn
Hoàng hôn Dinh Cậu lúc 18:00

Phát triển du lịch

Du lịch Phú Quốc đã khởi sắc. Chợ đêm Phú Quốc, Dinh Cậu và nhiều tour du lịch thu hút du khách như: Câu cá, Ngắm san hô Nam đảo, Ngắm hoàng hôn và Thẻ mực, Thăm quan Bắc đảo…

Du lịch phát triển, khách sạn, nhà hàng, các cơ sở dịch vụ mọc lên nhanh chóng, dọc đường ĐT 45 đã xuất hiện nhiều lô đất rộng, vuông vức thay thế dần cho diện tích đất rừng trước đó.

Du lịch phát triển, các resort đang lấp dần không gian ven biển. Những bãi biển, bờ biển đẹp và hoang sơ ngày nào của chung cộng đồng đã và đang chuyển thành của riêng của một người hoặc một nhóm người nào đó – một không gian bờ biển đang dần thu hẹp.

Hỡi các nhà quản lý các cấp! đây có phải là PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG không nhỉ?.

Khách sạn, nhà hàng trên một đoạn bờ biển Dương Đông

H & H