Tài liệu tập huấn Thực tập Môi trường đại cương năm 2022

Sáng nay, 15/05/2022, các thầy cô BM Khoa học môi trường đã tiến hành tập huấn cho SV trước chuyến Thực tập Môi trường đại cương. Chuyến thực tập được thực hiện trên cơ sở sinh viên năm 2 ngành KHMT đã được học các môn học sau: 

  • Khoa học Trái đất
  • Sinh thái môi trường
  • Cơ sở môi trường đất
  • Cơ sở môi trường nước
  • Địa chất môi trường
  • Hóa học môi trường
  • Bản đồ học và GIS

Thông qua môn học, thầy cô sẽ hướng dẫn sinh viên thực hành các phương pháp cơ bản trong nghiên cứu thực địa, thu thập, xử lý thông tin, tổ chức thực hiện nghiên cứu một vấn đề cụ thể và trình bày kết quả nghiên cứu. Và qua hoạt động thực hành khảo sát tại từng vị trí, sinh viên có điều kiện củng cố kiến thức đã học phần lý thuyết. Chuyến thực tập sẽ giúp sinh viên hiểu thêm về thiên nhiên, đất nước, con người; bước đầu nhận biết và đánh giá được mối quan hệ tương hỗ, nhân quả phức tạp giữa các vấn đề tài nguyên môi trường trong từng vùng..

Dưới đây là các tài liệu của chuyến thực tập.

1/Phần giảng chung về giới thiệu lộ trình chuyến đi và các nhiệm vụ học tập – Thầy Lê Tự Thành

2/ Phần nội quy và kỷ luật chuyến đi – Thầy Lê Tự Thành

3/ Phần giảng về Địa chất – địa mạo – Cô Hoàng Thị Phương Chi

4/ Phần giảng về Sinh thái – Cô Dương Thị Bích Huệ

Cảm ơn người gieo hạt Địa môi trường

Trong không khí ấm áp, trang trọng vào một ngày rất đẹp, 18/01/2022 – ngày mà Khoa Môi Trường tròn 22 tuổi, buổi Lễ Tri ân PGS. TS. Hà Quang Hải đã được diễn ra. Vậy là cánh chim đầu đàn của nhóm nghiên cứu Địa môi trường – Khoa Môi trường, Trường ĐHKHTN đã đi đến một cột mốc quan trọng nữa trong cuộc đời – một “trạm dừng chân” mới.

Thầy chia sẻ về chặng đường làm việc đã qua… với nửa chặng đường tham gia điều tra địa chất – khoáng sản, nửa chặng đường làm việc trong ngành giáo dục
Trân trọng chúc mừng Thầy nhận Kỷ niệm chương 20 năm vì sự nghiệp Giáo dục.
Thầy chụp hình với BM Khoa học Môi trường
Thầy chụp hình cùng BM Quản lý và Tin học Môi trường
Thầy chụp hình cùng BM Công nghệ Môi trường
Một dấu ấn thật đẹp dành tặng Thầy ❤

Trong suốt hành trình gần 20 năm của mình, Thầy Hà Quang Hải đã xây dựng và phát triển hướng nghiên cứu địa môi trường tại Khoa, và cũng chính ngần ấy thời gian, bao lứa học trò đã được đào tạo để rồi đem lòng yêu thích và gắn bó với nghề. Mà làm sao không yêu thích cho được khi mà ở trong đó có bao nhiêu là nhánh nghiên cứu với muôn hình vạn trạng, nào là tai biến địa chất; tài nguyên địa học; địa di sản, bảo tồn địa học; địa du lịch; qui hoạch đất đai rồi cả quản lý tổng hợp đới bờ nữa.

Nếu người ta dùng câu ca dao “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài – Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” để nói về biểu tượng của người Hà Nội xưa thì chính những chuyến thực địa là chữ ký riêng để nhận dạng sinh viên Khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, mà Thầy Hải chính là người đã làm nên dấu ấn đó. Thầy đã xây dựng và hoàn thiện các tuyến thực địa, giúp sinh viên vừa rèn luyện kỹ năng học tập ngoài trời, ứng dụng các kiến thức từ sách vở và vừa tạo những kỉ niệm khó quên của một thời áo hoa trên ghế giảng đường.

Một hành trình khép lại, một giai đoạn mới mở ra, Thầy lại có thể tiếp tục rong ruổi trên con đường nghiên cứu tự do tự tại. Kính chúc Thầy và Cô luôn mạnh khoẻ để có thể thực hiện được những công việc mình yêu thích.

​Phương Chi – Quang Trà.

Hình ảnh: Thầy Trường Ngân

Cận cảnh núi lửa ở Tonga mạnh bằng cả ngàn quả bom nguyên tử

Vào tối 15-1, người dân đảo quốc Tonga ở nam Thái Bình Dương đã chứng kiến vụ núi lửa phun trào khủng khiếp chỉ vài mét trên mực nước biển ở giữa các đảo nhỏ Hunga Tonga và Hunga Ha’apai, cách thủ đô Nuku’alofa trên đảo chính Tongatapu khoảng 50km về phía bắc.

Cả thế giới đã theo dõi vụ phun trào này theo thời gian thực từ thế hệ vệ tinh thời tiết độ phân giải cao mới và đã kinh hoàng khi chứng kiến quy mô của nó.

Vụ phun trào của núi lửa Hunga Tonga-Hunga Ha’apai dưới nước đã bắn cột tro bụi và hơi nước cao đến 20km lên bầu trời.

Theo báo The Sydney Morning Herald, lúc đó vụ phun trào của núi lửa đã giải phóng năng lượng tương đương 1.000 quả bom nguyên tử ném xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản trong Thế chiến 2 vào năm 1945.

Núi lửa Hunga Tonga-Hunga Ha’apai trong ảnh chụp vệ tinh ngày 7-1 (trên, trái) và 15-1 (trên, phải) và vị trí của Tonga (ảnh dưới) – Đồ họa: AL JAZEERA

Tại đảo quốc Fiji, cách Tonga khoảng 800km, vụ phun trào dữ dội đến mức có thể nghe thấy âm thanh từ nó. Thậm chí tại Auckland (New Zealand), cách Tonga khoảng 2.000km, người dân cũng nghe được tiếng nổ.

Với phần lớn ngọn núi lửa nằm dưới nước, vụ phun trào này đã tạo ra một trận sóng thần đáng kể tàn phá Tonga. Sóng thần cũng đi xuyên Thái Bình Dương từ Úc đến bờ tây nước Mỹ.

Giáo sư Shane Cronin, nhà nghiên cứu về núi lửa tại Đại học Auckland, cho biết cảnh tượng trên mặt đất trông như ngày tận thế sau vụ phun trào: những đám mây tro bụi che khuất mặt trời và sấm sét gần núi lửa.

“Mọi người có thể thấy những đám mây ở phía xa, có tiếng động lớn vang lên và sau đó là những đợt sóng ập tới từ trận sóng thần đầu tiên. Tiếp theo, những đám mây tro bụi xuất hiện khắp Tongatapu. Đám mây tro bụi, với nhiều hạt tro mịn, dày đặc đến mức che hoàn toàn ánh nắng mặt trời, khiến bầu trời tối sầm lại” – ông Cronin mô tả.

Ông Cronin đánh giá có thể đây là vụ phun trào lớn nhất kể từ vụ phun trào của núi lửa Pinatubo ở Philippines vào năm 1991.

Theo Tuổi trẻ online.

THÔNG TIN VỀ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 9

Hội nghị sẽ diễn ra trực tuyến từ ngày 12 – 16/12/2021 tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Jeju Island, Hàn Quốc.

Triển lãm thực tế ảo về Hội nghị Quốc tế trực tuyến lần thứ 9 về Công viên Địa chất Toàn cầu của UNESCO đã bắt đầu. Xin vui lòng truy cập vào đường dẫn để tham quan khu trưng bày của Hội nghị
    https://vr.miceview.kr/ZR064

CHương trình Hội nghị bao gồm các phần chính như sau:

1.Từ 12 – 13,14,15 /12/2021, các cuộc họp của Hội đồng UGG, GGN AC, GGN GA, và cuộc họp Mạng lưới Khu vực APGN CC

2. Ngày 14/12/2021: Lễ Khai mạc 13:00 – 14:45 (GMT+7)

Opening Ceremoney Dec. 14, 06:00-07:45 GMT
https://us02web.zoom.us/j/84336930298
ID: 843 3693 0298

3. Các tiểu ban với các báo cáo sẽ diễn ra liên tục từ 14-16/12/2021

Main Session 1: Các CVĐC chia sẻ thành công và các thử thách (Mature Geoparks–sharing Successes and Challenges)

Main Session 2: Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Main Session 3: Hợp tác giữa các CVĐC UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO Global Geopark Collaborations)

Main Session 4: Phổ biến Kiến thức Khoa học cho Giáo dục Cộng đồng (Popularizing Scientific Knowledge for Public Education)

Main Session 5: Bảo tồn, Khoa học và Nghiên cứu (Conservation, Science and Research)

Main Session 6: CVĐC, Du lịch bền vững và Phát triển bền vững địa phương (Geoparks, Sustainable Tourism and Sustainable Local Development)

Main Session 7: CVĐC, BĐKH và các tai biến địa chất (Geoparks, Climate Change and Geo-hazards)

Special Session 1Geodiversity of the Korean Peninsula (North and South Korea)

Special Session 2Management of Multi Internationally Designated Areas

Chi tiết Link tham dự vui xin vui lòng xem tại đây

4. Ngày 16/12/2021: Lễ Khai mạc 18:00 – 18:45 (GMT+7)

Closing Ceremony Dec. 16, 11:00-11:45 GMT
https://us02web.zoom.us/j/89006322425
ID: 890 0632 2425

Ngày Quốc tế Đa dạng địa học – International Geodiversity Day.

Tại phiên họp thứ 41 của Đại hội đồng UNESCO, Ngày Quốc tế Đa dạng địa học đã được chính thức cộng nhận. Kể từ đây, ngày 6 tháng 10 hàng năm sẽ là một ngày lễ kỷ niệm trên toàn thế giới nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của thiên nhiên phi sinh vật đối với hạnh phúc và thịnh vượng của tất cả chúng ta trên hành tinh này!

Đa dạng địa học là gì?

Theo đề xuất của UNESCO về Ngày Quốc tế Đa dạng địa học: “Đa dạng địa học được định nghĩa là sự đa dạng của các yếu tố phi sinh của tự nhiên – bao gồm khoáng vật, đá, hóa thạch, đất, trầm tích, địa mạo, địa hình, các quá trình địa chất và hình thái, và các đặc điểm thủy văn như sông và hồ. Đa dạng địa học làm nền tảng cho đa dạng sinh học và là cơ sở của mọi hệ sinh thái, nhưng có những giá trị riêng độc lập với đa dạng sinh học ”.

Cùng nhìn lại chặng đường cho ngày lễ kỷ niệm này:

Ngày Quốc tế Đa dạng địa học được chính thức chấp nhận vào tháng 11/2021 bởi Phiên họp lần thứ 41 của Đại hội đồng UNESCO. (Ảnh: geodiversityday.org)

Xin chân thành cảm ơn IGD team: José Brilha, Murray Gray, Jack Matthews, Zbigniew Zwolinski và OxGVC Organising Committee Jack, Helena, Taha, Lucie, and Lubomir vì những nỗ lực cho ngày Quốc tế Đa dạng địa học được công nhận.

Biểu trưng của Ngày Quốc tế Đa dạng địa học cũng đã được công bố.

Biểu trưng Ngày Quốc tế Đa dạng địa học và tác giả Silas (Brazil)

Cùng tìm hiểu thêm về Ngày Quốc tế Đa dạng địa học và Đa dạng địa học qua website của http://geodiversityday.org/. Và hãy xem video clip để hiểu thêm về “nhân vật thầm lặng” đứng phía sau của sự đa dạng sinh học trên Trái Đất này.

Phương Chi (tổng hợp).

Bộ tem “Công viên Địa chất toàn cầu tại Việt Nam”

Công viên địa chất Toàn cầu là một khu vực tự nhiên, độc đáo, có ranh giới rõ ràng, trong đó chứa đựng một tập hợp các di sản địa chất có giá trị khoa học, phân bố trong phạm vi nhất định, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, đồng thời chứa đựng các giá trị về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa xã hội và có diện tích thích hợp để phát triển kinh tế địa phương, thông qua hình thức phát triển du lịch và các dịch vụ phụ trợ khác. Công viên địa chất quốc gia khi có đủ điều kiện sẽ được UNESCO công nhận là “Công viên địa chất Toàn cầu”.

Tại Việt Nam, UNESCO đã công nhận 03 Công viên địa chất toàn cầu là: Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), Công viên địa chất Non nước Cao Bằng và Công viên địa chất Đắk Nông.Với mục tiêu quảng bá hình ảnh, vinh danh 3 Công viên địa chất Toàn cầu tại Việt Nam đã được UNESCO công nhận, Bộ Thông tin và Truyền thông phát hành bộ tem “Công viên địa chất Toàn cầu” gồm 3 mẫu tem + 1 blốc, với giá mặt 4000đ, 4000đ, 8000đ và 15000đ do họa sĩ Nguyễn Du (Tổng công ty Bưu điện Việt Nam) thiết kế. Bộ tem được phát hành vào ngày 30/10/2021.

   1. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn (được công nhận vào năm 2010)

         CVĐC toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở cực Bắc Việt Nam, cách Hà Nội hơn 320 km, thuộc tỉnh Hà Giang và có đường biên giới dài với Trung Quốc. CVĐCTCCNĐ Đồng Văn có tổng diện tích 2356km2 bao gồm địa giới hành chính của 4 huyện (Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc). CVĐCTCCNĐ  Đồng Văn mang đặc trưng của miền núi phía Bắc, địa hình bị chia cắt mạnh có nhiều núi cao hiểm trở và nhiều thung lũng sâu, độ cao trung bình từ 1000 -1600m so với mặt nước biển.

         CVĐC toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn có đặc điểm nổi bật với những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, những vách núi dựng đứng cao vút, các chóp núi như những kim tự tháp, các trũng sâu hun hút, hang động và các vườn đá tạo nên vẻ đẹp lạ thường, có giá trị to lớn không chỉ về du lịch mà còn có giá trị rất lớn về khoa học và giáo dục.

Mẫu tem giới thiệu “Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn” 

         Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn là địa bàn cư trú của 17 dân tộc anh em. Quá trình phát triển và gắn bó lâu dài của cư dân các dân tộc trên vùng cao nguyên đá đã để lại những dấu ấn văn hóa đậm nét tạo nên sự đặc sắc và phong phú của văn hóa nơi đây. Trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử và sự phát triển về mọi mặt của xã hội, đồng bào các dân tộc vùng Cao nguyên đá vẫn luôn giữ gìn được giá trị bản sắc riêng với nhiều nét đặc trưng và quyến rũ.

         2. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng (được công nhận vào năm 2018)

         Công viên Địa chất (CVĐC) Non Nước Cao Bằng nằm ở miền đất địa đầu phía bắc Việt Nam, cách Hà Nội khoảng 300km, diện tích hơn 3000 km2, bao gồm 6 huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa và một phần diện tích các huyện Hòa An, Nguyên Bình và Thạch An. Đây là nơi sinh sống của 9 dân tộc khác nhau, như Tày, Nùng, H’Mông, Kinh, Dao, Sán Chay……
         CVĐC Non Nước Cao Bằng là một miền đất hiếm có, nơi bạn có thể tìm hiểu lịch sử trên 500 triệu năm của Trái Đất qua các dấu tích còn lại ở đây. Các hóa thạch, trầm tích biển, đá núi lửa, khoáng sản…, đặc biệt là các cảnh quan đá vôi, là những minh chứng tuyệt vời cho sự tiến hóa và thay đổi của Trái Đất. Chúng xứng đáng là những di sản địa chất đặc sắc.

Mẫu tem giới thiệu “Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng” 

         CVĐC Non Nước Cao Bằng còn chứa đựng nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, đặc biệt là các di tích lịch sử cách mạng, trong đó có Di tích Quốc gia Đặc biệt Pác Bó – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước năm 1941 lãnh đạo phong trào cách mạng sau hơn ba mươi năm bôn ba ở nước ngoài; Di tích Quốc gia Đặc biệt Rừng Trần Hưng Đạo – nơi năm 1944 Đại tướng Võ Nguyên Giáp thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay. CVĐC Non Nước Cao Bằng cũng nổi tiếng với phong phú các giá trị đa dạng sinh học cùng nhiều hệ sinh thái, giống loài động thực vật đặc hữu.

         3. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (được công nhận năm 2020)

Công viên Địa chất toàn cầu Đắk Nông có diện tích hơn 4.700km2, nằm trải dài trên địa bàn 6 huyện, thị xã gồm: Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk Glong và thị xã Gia Nghĩa của tỉnh Đắk Nông. Với 65 điểm di sản địa chất, trong đó có 7 điểm di sản địa chất tầm quốc tế, Công viên Địa chất toàn cầu Đắk Nông hội tụ tất cả các giá trị tiêu biểu cả về địa chất, địa mạo, văn hóa cũng như đa dạng sinh học đặc trưng của khu vực.

Mẫu tem giới thiệu “Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Đắk Nông” 

Trong thời gian qua, Công viên Địa chất Đắk Nông thu hút nhiều du khách đến chiêm ngưỡng, tìm hiểu không chỉ vì khung cảnh độc đáo mà còn vì các giá trị văn hóa lâu đời của các dân tộc. Đến với Công viên Địa chất toàn cầu Đắk Nông, du khách được, khám phá, trải nghiệm hệ thống hang động núi lửa trong đá bazan độc đáo, nguyên sơ vốn được xác lập kỷ lục dài nhất Đông Nam Á; Ngắm nhìn các thắng cảnh hoang sơ, hùng vĩ như núi lửa Băng Mo (huyện Cư Jút), núi lửa Nâm Gleh R’luh (huyện Đắk Mil); Tham gia hành trình về nguồn tại các buôn làng của người Ê Đê, M’Nông với nhiều nét độc đáo của văn hóa bản địa; tham quan Vườn Quốc gia Tà Đùng với thắng cảnh Hồ Tà Đùng, vốn được ví là “Vịnh Hạ Long trên cao nguyên”…

Với hệ thống hang động núi lửa dài nhất Đông Nam Á, sự đa dạng sinh học, cùng nhiều nét độc đáo về văn hóa, địa chất, Công viên Địa chất toàn cầu Đắk Nông là điểm đến lí tưởng cho những ai thích khám phá và trải nghiệm.

  • Hoạ sĩ thiết kế/Designer: Nguyễn Du (VNPost)
  • Khuôn khổ tem/Stamp size: 46×31 mm
  • Khuôn khổ bloc/Bloc size: 120×80 mm
  • Khuôn khổ FDC/FDC size: 200×110 mm
  • Ngày hết hạn phát hành/Withdrawn date: 30/6/2023
Phong bì ngày phát hành đầu tiên

Theo thông tin từ: Công ty tem Việt Nam và các trang thông tin khác.

https://vietnamstamp.com.vn/thong-bao-phat-hanh-bo-tem-cong-vien-dia-chat-toan-cau.html

https://dangcongsan.vn/van-hoa-vung-sau-vung-xa-bien-gioi-hai-dao-vung-dan-toc-thieu-so/tin-tuc/gioi-thieu-bo-tem-cong-vien-dia-chat-toan-cau-595278.html

http://dongvangeopark.com/CVDC-VN

Hai khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới

Tại kỳ họp lần thứ 33 Hội đồng Điều phối Quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển diễn ra từ ngày 13 đến 17/9, tại Abuja, Nigeria, 2 khu dự trữ sinh quyển Núi Chúa và Cao nguyên Kon Hà Nừng của Việt Nam đã được tổ chức UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Khu dự trữ sinh quyển Núi Chúa

Trong phiên họp chiều 15/9/2021 (theo giờ Paris, Pháp), 2 hồ sơ đề cử của Việt Nam gồm Khu dự trữ sinh quyển Núi Chúa và Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) Cao nguyên Kon Hà Nừng đã được Hội đồng Điều phối quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển UNESCO xem xét công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới (DTSQTG). Như vậy, trong giai đoạn 2000-2020, Việt Nam đã được công nhận tổng cộng 11 khu DTSQTG, trở thành quốc gia có số lượng Khu DTSQ đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á, sau Indonesia (19 khu DTSQ).

Khu DTSQ Núi Chúa với 1 vùng lõi là vườn quốc gia Núi Chúa, tổng diện tích 106.646,45 ha, là mẫu chuẩn duy nhất về hệ sinh thái rừng khô hạn đặc trưng và độc đáo của Việt Nam và Đông Nam Á. Hệ sinh thái rừng ở khu vực đề cử có giá trị đặc biệt vì thuộc vùng sinh thái Trường Sơn (Greater Annamites- thuộc khu vực SA4), là 1 trong 200 vùng sinh thái quan trọng toàn cầu và được lựa chọn là 1 trong những vùng ưu tiên bảo tồn cao nhất của tất cả các kiểu sinh cảnh chính trên trái đất.

Khu dự trữ sinh quyển Cao nguyên Kon Hà Nừng.

Khu DTSQ Cao nguyên Kon Hà Nừng, với tổng diện tích 413.511,67ha, gồm 2 vùng lõi là Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kon Chư Răng, có hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình còn tương đối nguyên vẹn, có tính đa dạng sinh học cao đặc trưng cho hệ sinh thái rừng, hệ thực vật rừng và hệ động vật rừng của khu vực Tây Nguyên. Khu DTSQ này cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội và duy trì sự cân bằng sinh thái của khu vực Tây Nguyên và cả khu vực Trung Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Bên cạnh đó, 2 khu DTSQ Núi Chúa và Cao nguyên Kon Hà Nừng đều chứa đựng kho tàng di sản văn hóa phong phú và đặc sắc với nhiều đặc trưng nổi bật về các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của cộng đồng các dân tộc thiểu số đang sinh sống tại đây.

Các khu DTSQ khi được công nhận sẽ là mô hình phát triển kinh tế-xã hội bền vững của địa phương, kết nối hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học với giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc; giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên, nâng cao chất lượng cuộc sống, giáo dục và nghiên cứu khoa học… Đồng thời, những khu vực được công nhận bởi UNESCO này có tiềm năng to lớn trong việc cung cấp các giải pháp giải quyết 1 trong những thách thức quan trọng mà thế giới đang phải đối mặt, đó là cân bằng giữa phát triển kinh tế và xã hội và giải quyết các mối đe dọa toàn cầu đang hiện hữu như nghèo đói, dịch bệnh, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên, suy thoái môi trường và các tác động của biến đổi khí hậu.

Việc UNESCO công nhận thêm 2 Khu DTSQ của Việt Nam thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những giá trị về đa dạng sinh học cũng như nỗ lực bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững của Việt Nam; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa của Việt Nam đối với bạn bè thế giới.

Vụ Báo chí – Bộ Ngoại giao

https://baomoi.com/hai-khu-du-tru-sinh-quyen-viet-nam-duoc-unesco-cong-nhan-la-khu-du-tru-sinh-quyen-the-gioi/c/40240490.epi

Một số hình ảnh của hai KDTSQ vừa được công nhận:

Kỳ quan Thác 50 trong KDTSQ Kon Hà Nừng. (Ảnh Phương Linh)
Khu dự trữ sinh quyển Kon Hà Nừng là nơi cư trú của các loài quý hiếm như Voọc chà vá chân xám (Pygathrix cinerea). Đây là loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm của Việt Nam, được xếp vào loại cực kỳ nguy cấp, chỉ còn khoảng 1.000 cá thể trong tự nhiên. (Ảnh: Khu dự trữ sinh quyển Kon Hà Nừng).
Hang Rái. Ảnh: Thiên Thạch
Bãi nước Ngọt. Ảnh Thiên Bình
Loài Cheo lưng bạc Việt Nam (tên khoa học Tragulus versicolor) tại khu vực Vườn quốc gia Núi Chúa. Đây là loài động vật hơn 30 năm qua chưa có hình ảnh hay thông tin phát hiện tại khu vực cụ thể ở Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Như vậy, tính đến 2021, Việt Nam đã có 11 Khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận

1. Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ (2000).

2. Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai (2001).

3. Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng (2004).

4. Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà (2004).

5. Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang (2006).

6. Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An (2007).

7. Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm (2009).

8. Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau (2009).

9. Khu dự trữ sinh quyển Lang Biang (Đà Lạt) (2015).

10. Khu dự trữ sinh quyển Núi Chúa (Ninh Thuận) (2021)

11. Khu dự trữ sinh quyển Kon Hà Nừng (Gia Lai) (2021).

Nguồn ảnh:

https://baoquocte.vn/hap-dan-kon-ha-nung-dia-danh-vua-duoc-cong-nhan-la-khu-du-tru-sinh-quyen-cua-the-gioi-158816.html

https://ngoisao.net/hang-rai-ninh-thuan-mot-lan-den-mai-khong-quen-3342354.html

https://baotintuc.vn/du-lich/xay-dung-ho-so-de-cu-khu-du-tru-sinh-quyen-nui-chua-ninh-thuan-20200626224449061.htm

Nghiên cứu của Hà Lan: Nguyên nhân lớn gây xâm nhập mặn ở ĐBSCL là do xây đập

TTO – Các nhà khoa học Hà Lan cảnh báo các quốc gia dọc sông Mekong chỉ còn hạn chót đến năm 2050 để khắc phục tình trạng xâm nhập mặn vùng đồng bằng.

Cánh đồng lúa ở Việt Nam – Ảnh: Mongabay

Theo trang tin Mongabay, nghiên cứu mới của Viện nghiên cứu độc lập Deltares (Hà Lan) đánh giá nguyên nhân lớn nhất gây ra tình trạng xâm nhập mặn ở vùng châu thổ sông Mekong hiện nay là do con người (xây đập chặn dòng nước), nhưng đến năm 2050 biến đổi khí hậu sẽ đóng vai trò chính.

Nói cách khác, các quốc gia sông Mekong, đặc biệt là Việt Nam nằm ở cuối nguồn, chỉ có từ đây đến năm 2050 để áp dụng các biện pháp giảm thiểu thiệt hại, từ đó về sau mọi thứ sẽ vượt ngoài tầm kiểm soát của con người.

Theo ông Sepehr Eslami – trưởng nhóm nghiên cứu, công trình này là tổng hợp dữ liệu của 12 năm nghiên cứu thuộc dự án “Rise and Fall” hợp tác giữa Đại học Utrecht và Viện Deltares (Hà Lan), cung cấp dữ liệu cần thiết cho các nhà lãnh đạo hoạch định chính sách cũng như các nhà khoa học đang theo đuổi vấn đề này trên thế giới.

Trước đó, hai nghiên cứu khác cùng thuộc dự án “Rise and Fall” lần đầu tiên xác lập mối liên hệ giữa tình trạng “đói phù sa” do con người gây ra (xây đập chắn dòng nước) và xâm nhập mặn ở cuối nguồn. Mặc dù đầu thế kỷ 21 đã có nhiều nhà khoa học cảnh báo sớm, xâm nhập mặn lại thường bị cho là liên quan chủ yếu đến nước biển dâng và biến đổi khí hậu.

Lũ ở khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia những năm giữa thập niên 2000 – Ảnh: Mongabay

Nhóm nghiên cứu Hà Lan đánh giá trong 20 năm qua, biến đổi khí hậu chỉ gây ra chưa đến 5% thách thức mà vùng châu thổ Mekong đối mặt, hiện tượng “đói phù sa” và xâm nhập mặn gay gắt đều do các đập thủy điện trên thượng nguồn và nạn khai thác cát gây ra.

Hiện nay dòng chính sông Mekong đang gánh 11 đập thủy điện ở Trung Quốc, 2 ở Lào và ít nhất 300 đập nhỏ trên các phụ lưu. Những đập này chia dòng sông thành những hồ chứa nước, chặn phù sa chảy ra biển và thay đổi hình dạng, độ sâu của lòng sông.

Theo chuyên gia Marc Goichot – cố vấn của tổ chức WWF, các đập nước đang giữ lại phần lớn phù sa trên sông Mekong – ước tính 50-60%.

Bên cạnh đó, nạn khai thác cát phục vụ xây dựng làm mất đi 50-100 triệu m3 cát mỗi năm. Hậu quả là lòng sông sâu thêm 200-300mm mỗi năm, khiến nước biển xâm nhập sâu hơn, ở lại lâu hơn và độ mặn cao hơn ngày xưa.

Nói tóm lại, nghiên cứu đánh giá trong những thập niên tới, biến đổi khí hậu sẽ gây thêm nhiều mối nguy hiểm mới cho lưu vực sông Mekong, nhưng ngay trước mắt “nhân tai” mới là yếu tố chính gây ra khủng hoảng.

PHÚC LONG

https://tuoitre.vn/nghien-cuu-cua-ha-lan-nguyen-nhan-lon-gay-xam-nhap-man-o-dbscl-la-do-xay-dap-20210723112032192.htm

MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG KHÔNG ĐÁNG BÁO ĐỘNG !

Nils-Axel Mörner


Một trong khoảng 1.190 hòn đảo san hô xinh đẹp bao gồm quốc gia Maldives. Như Mörner cho thấy, Maldives không có nguy cơ bị ngập lụt

Trong một buổi phỏng vấn và một bài báo được xuất bản vào thế kỉ 21 năm 2007, tôi đã từng nói về vấn đề mực nước biển toàn cầu là mối đe dọa chính trong các kịch bản biến đổi khí hậu của IPCC nhưng lại không nằm trong chế độ cảnh báo. Nếu mực nước biển dâng lên không nằm ở mức cao, thì không có mối đe dọa hay vấn đề thật sự nghiêm trọng nào. Trong những bài báo tiếp theo, tôi tiếp tục đưa ra những dữ liệu mới về sự ổn định của mực nước biển. Cơ sở dữ liệu về những sự quan sát thực tế của chúng tôi từ quần đảo Maldive được mô tả chi tiết trong Mörner 2007b. Một nghiên cứu mới ở Bangladesh được công bố vào năm 2010 (Mörner 2010a). Dữ liệu mới về sự thay đổi mực nước biển chung được công bố ở bài báo khác (2010b). Ngoài ra, tập sách nhỏ về mực nước biển của tôi có tiêu đề “Lời nói dối vĩ đại nhất từng được kể” (The Greatest Lie EverTold) (Mörner 2007c) đã được cập nhật trong các ấn bản mới vào năm 2009 và 2010. Trong bài báo này, tôi sẽ điều tra tỷ lệ về sự thay đổi mực nước biển của IPCC và các tổ chức khác đề xuất. Hình 1 (Figure 1) minh họa sự khác nhau giữa kịch bản IPCC và thực tế. Sau năm 1965, 2 đường cong bắt đầu phân kỳ đáng kể (vùng được đánh dấu bằng dấu chấm hỏi). Bài báo này sẽ nêu bật những điểm khác biệt và tìm kiếm giải pháp về dữ liệu nào đáng tin cậy và dữ liệu nào cần loại bỏ. Hình 2 cho thấy phổ ước tính mực nước biển ngày nay. Tỷ lệ mực nước biển dâng được đề xuất là từ 0,0 đến 3,2 mm mỗi năm. Rõ ràng, tất cả những tỷ lệ này không thể chính xác. Tôi sẽ cố gắng làm thẳng dấu chấm hỏi trong Hình 1 bằng cách thực hiện một cuộc kiểm tra quan trọng về tỷ lệ được đưa ra trong Hình 2.

Hình 1. Sự thay đổi mực nước biển (1840 – 2010).
Hình 1 cho biết rằng đường cong màu hồng (kết quả từ mô hình), thể hiện sự kết hợp giữa các kết quả đo thủy triều đã chọn của IPCC và dữ liệu đo độ cao vệ tinh đã hiệu chỉnh. Đường cong màu xanh (kết quả từ quan sát), đại diện cho những thay đổi mực nước biển dâng cao quan sát được trong thực địa theo Mörner (1973) cho đến năm 1960 và (trong bài báo này), sau đó. Sau năm 1965, hai đường cong bắt đầu phân kỳ, thể hiện hai góc nhìn hoàn toàn khác nhau (cách nhau bởi vùng có dấu chấm hỏi), nơi chỉ có thể quan sát được một góc nhìn.
Hình 2. Tỉ lệ thay đổi mực nước biển (mm/năm)
Hình 2 thể hiện tỷ lệ thay đổi mực nước biển hiện nay được đề xuất dao động từ 0,0 mm/năm (theo dữ kiện quan sát từ một số địa điểm quan trọng trên toàn thế giới), đến 3,2 mm/năm (theo đo độ cao vệ tinh hiệu chỉnh).

Kết quả quan trắc (observation facts)

Những số liệu đo đạc trong nghiên cứu này cho rằng mực nước biển không dâng lên ở Maldives, Bangladesh, Tuvalu, Vanuatu, and French Guyana (Mörner, 2007a, 2007b, 2007c, 2010a, 2010b). Tất cả những nơi này là những vị trí chủ yếu trong cuộc tranh luận mực nước biển, nơi mà IPCC và các tổ chức đã dự đoán các kịch bản lũ cực đoan. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn khác với những gì IPCC tuyên bố, như đã nêu bật trong cuộc phỏng vấn và bài báo của tôi trong bài Thế kỷ 21 (21st Century).

Nhóm IPCC và Tổng thống Maldives và Tuvalu tiếp tục tuyên bố rằng lũ lụt đang diễn ra, và sẽ sớm tràn vào các hòn đảo và quét sạch các quốc đảo đó khỏi bề mặt địa cầu (hay đúng hơn là đại dương). Ở đây, chúng ta đang phải đối mặt với một hành vi có thể được gọi là hành vi “che giấu sự suy giảm mực nước biển” (sea-level-gate). Trong một bức thư ngỏ gửi cho Tổng thống Maldives (Mörner 2009), tôi đã đề cập đến sự khác biệt giữa tuyên bố của ông ấy và các quan sát thực địa của chúng tôi, nhưng không nhận được sự quan tâm.

Bangladesh là một quốc gia luôn phải hứng chịu thiên tai – lượng mưa lớn trên dãy Himalaya và lốc xoáy ven biển. Như thể điều này chưa đủ tệ, mực nước biển ở khu vực này được khẳng định rằng đang ở chế độ dâng cao nhanh chóng. Tuyên bố này đã hoàn toàn bị mất uy tín bởi nghiên cứu của tôi ở khu vực Sundarban, nơi sự thật là biển vẫn ổn định trong 40-50 năm qua (Mörner 2010a).

Sai lầm trong việc dự báo sự gia tăng mực nước biển đã được sử dụng để xây dựng các kịch bản hoang đường, với tuyên bố rằng hàng chục đến hàng trăm nghìn người có thể bị chết đuối và “hàng triệu người sẽ phải di dời trong suốt thế kỷ khi mực nước biển trỗi dậy ”(Byravana và Raja 2010). Đây thực sự là một sai lầm khủng khiếp về tình hình thực tế. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta đang phải đối mặt với một “âm mưu giả tạo mực nước biển dâng” (sea-level-gate). Tạp chí Đạo đức và Các vấn đề Quốc tế (Ethics and International Affairs) đã xuất bản tuyên bố sai lầm này, từ chối in một bình luận “tập trung vào dữ liệu thực nghiệm” (that focuses on empirical data). Với sự ngạc nhiên, chúng ta cần phải tự hỏi: Ý nghĩa của việc giải quyết mối quan tâm về mặt đạo đức, nếu toàn bộ cơ sở thực nghiệm là sai?

Tại Tuvalu, Tổng thống tiếp tục tuyên bố rằng nước họ đang trong tình trạng ngập lụt. Tuy nhiên, dữ liệu đo thủy triều cung cấp dấu hiệu rõ ràng về sự ổn định trong 30 năm qua (Mörner 2007a, 2007c, 2010b; Murphy 2007). Ở Vanuatu, thước đo thủy triều cho biết mực nước biển ổn định trong 14 năm qua (Mörner 2007c).

Từ các bờ biển vùng Guyana và Surinam nước Pháp, có một kỷ lục mực nước biển rất đáng ghi nhận bao gồm nhiều chu kỳ thủy triều kéo dài 18,6 năm (Gratiot và cộng sự 2008). Nó thể hiện các biến dao động xung quanh mức 0 ổn định trong 50 năm qua (Mörner 2010b). Đối với cùng một khu vực, phương pháp đo độ cao vệ tinh (satellite altimetry) cho thấy mực nước biển dâng là 3,0 mm/năm. Điều này dấy lên sự nghi ngờ về giá trị đo độ cao của vệ tinh, sẽ được thảo luận thêm bên dưới.

Kết quả đo mực nước biển từ Venice được sử dụng như nơi thử nghiệm về sự thay đổi mực nước biển toàn cầu (global eustasy2). Trừ đi hệ số sụt lún, nó không cho thấy sự gia tăng mực nước biển ban đầu, không nhận thấy sự gia tăng nào trong những thập kỷ qua; thay vào đó, nó cho thấy mực nước biển hạ thấp vào khoảng năm 1970 (Mörner 2007a, 2007c). Các bờ biển phía Tây Bắc Châu Âu là những nơi rất thú vị bởi vì ở đây có các vị trí đang trải qua 2 quá trình nâng lên (uplift) và sụt lún (subsidence). Máy đo thủy triều (tide-gauge) tại Korsør trong Vành đai Lớn – The Great Belt (eo biển giữa các đảo chính của Đan Mạch là Zealand và Funen), nằm ở biên của 2 quá trình nâng lên và sụt lún trong 8.000 năm qua. Máy đo thủy triều này cho thấy mực nước biển không dâng trong 50 – 60 năm qua. Máy đo thủy triều ở Amsterdam, được lắp đặt vào năm 1682, là chiếc máy đo thủy triều lâu đời nhất trên thế giới. Ghép kết quả đo sụt lún này vào kết quả đo nâng lên từ máy đo thủy triều ở Stockholm, tôi đã cô lập một yếu tố ảnh hưởng đến sự gia tăng mực nước biển đó là sụt lún trong khoảng thời gian từ 1680 đến khoảng 1970 (Mörner 1973). Điều này cho thấy sự gia tăng từ năm 1830-1840 lên đến năm 1930-1940 là 11 cm. Trong khoảng thời gian 100 năm đó, tốc độ quay của Trái đất giảm ở một giá trị tương ứng với mực nước biển dâng 10 cm (ví dụ: xem Mörner 1996). Do đó, có một sự phù hợp rất tốt giữa mực nước biển dâng và giảm tốc độ quay, dường như cung cấp một thước đo về yếu tố ảnh hưởng mực nước biển toàn cầu (đường màu xanh so với đường màu đỏ trong Hình 3).

Cuxhaven, nằm ven biển nước Đức, đặt máy đo thủy triều từ năm 1843 trong một khu vực đại diện cho phân đoạn sụt lún của các bờ biển Bắc Hải. Hình 3 cho thấy các giá trị trung bình hàng năm trong 160 năm, với một đa thức xu hướng dài hạn (Herold unubl.). Đường cong (màu xanh) này thể hiện một xu hướng tăng nhẹ giống hình sin về sự thay đổi tương đối mực nước biển trung bình trong khu vực. Bổ sung vào thành phần thay đổi mực nước biển ở khu vực Tây Bắc Châu Âu (Mörner 1973), chúng tôi có được một phần tốc độ lún cục bộ (đường cong màu đỏ), và một phần là thành phần xói mòn, được mở rộng cho đến nay và được kiểm tra lại cho phần trước năm 1970 (sự khác biệt giữa đường cong màu xanh và màu đỏ). Sự thay đổi mực nước biển trong khu vực giảm sau năm 1930-1940, giữ nguyên giá trị vào khoảng năm 1950-1970 và giảm từ năm 1970 đến nay. Điều này cung cấp bằng chứng chắc chắn rằng mực nước biển hoàn toàn không ở trong chế độ dâng cao như ngày nay; đúng hơn là có một xu hướng ngược lại: một chế độ giảm chậm. Những dữ liệu này được kết hợp trong đường cong của các dữ kiện quan sát trong Hình 1.

Hình 3. Số liệu ghi nhận của máy đo thủy triều tại Cuxhaven
Hình 3 cho thấy khu vực màu xám cung cấp kết quả đo thủy triều thực tế cho cảng Cuxhaven ở Biển Bắc Đức trong năm 1843-2003 – nghĩa là trong 160 năm. Một đa thức đã được gắn (bởi Jörn Herold) vào kết quả đo thủy triều này. Thêm thành phần thay đổi (eustatic) của Mörner (1973) cho giai đoạn 1840-1970, cho đường thẳng sụt lún (màu đỏ) với tốc độ 1,4 mm/năm. Sự khác biệt giữa đường cong màu xanh và màu đỏ hiện có thể được mở rộng đến năm 2003, và nó cho thấy sự gia tăng dừng lại vào khoảng năm 1960, sau đó là sự hạ thấp liên tục cho đến năm 2003; nghĩa là, một xu hướng hoàn toàn khác với xu hướng được đề xuất bởi các mô hình IPCC nhưng hoàn toàn phù hợp với các dữ kiện quan sát trong Hình 1.

Số liệu thu thập từ máy đo thủy triều (Tide-gauge Records)

Máy đo thủy triều được lắp đặt tại các công trình bến cảng để đo lường sự thay đổi của mực nước thủy triều và sự thay đổi mực nước biển trong thời gian dài. Máy đo thủy triều ở Amsterdam là loại lâu đời nhất, được lắp đặt vào năm 1682; máy đo thủy triều Stockholm là lâu đời thứ hai, được lắp đặt vào năm 1724/1774); và máy đo thủy triều Liverpool là chiếc lâu đời thứ ba, được lắp đặt vào năm 1768. Hầu hết các máy đo thủy triều được lắp đặt trên các công trình bến cảng hoặc cầu tàu không ổn định. Do đó, các dữ liệu đo thủy triều chắc chắn sẽ phóng đại mực nước biển dâng. Cơ sở dữ liệu đo thủy triều của Cơ quan Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) bao gồm 159 trạm (Hình 4). Các nhà chức trách của IPCC có quyền tự do lựa chọn những gì họ gọi là số liệu “đại diện” cho việc tái lập xu hướng mực nước biển trăm năm của họ. Tất nhiên, điều này ngụ ý rằng quan điểm cá nhân của họ – nghĩa là, kịch bản IPCC đã đặt ra từ đầu dự án – được áp dụng trong việc lựa chọn và xác định số liệu “đại diện” của họ. Chúng tôi bắt đầu cảm thấy có một “âm mưu” khác. Với phương pháp lựa chọn này, Douglas (1991) đã chọn 25 máy đo thủy triều và có tốc độ mực nước biển dâng là 1,8 mm/năm; Church et al. (2006) đã chọn 6 máy đo thủy triều và đạt tốc độ 1,4 mm/năm; và Holgate (2007) đã chọn 9 máy đo thủy triều và có tốc độ là 1,45 mm/ năm (Hình 2). Giá trị trung bình của tất cả 159 vị trí NOAA cho tốc độ từ 0,5 mm/năm đến 0,6 mm/năm (Burton 2010). Tuy nhiên, một cách tiếp cận tốt hơn là loại trừ những vị trí đại diện cho các khu vực được nâng lên và bị lún (Hình 4). Điều này để lại 68 vị trí ổn định hợp lý (vẫn có khả năng tăng tốc độ thay đổi, như đã thảo luận ở trên). Các địa điểm này đưa ra tốc độ mực nước biển dâng hiện tại là 1,0 (± 1,0) mm/năm. Con số này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ được đưa ra bởi máy đo độ cao vệ tinh và có vẻ “thuyết âm mưu về giả tạo số liệu mực nước biển” (sea-level gate) ngày càng khống chế sự thật.

Hình 4. Phổ thể hiện tốc độ gia tăng mực nước biển của
159 trạm đo thủy triều NOAA
Hình 4 cho thấy các giá trị của 159 trạm đo thủy triều của NOAA chỉ ra rằng chúng nằm trong khoảng từ khu vực nâng lên đến khu vực sụt lún (khu vực xanh). Nếu loại trừ các vị trí nâng lên và sụt lún (khu vực xanh), chúng ta chỉ còn lại một số địa điểm (khu vực màu đỏ) nơi mực nước biển dâng trong khoảng 0,0 đến 2,0 mm / năm. Con số này thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ do IPCC đưa ra (vùng màu hồng) và đo độ cao vệ tinh (như thảo luận bên dưới).

Đo độ cao bằng vệ tinh (Satellite Altimetry)

Đo độ cao vệ tinh là một kỹ thuật mới tuyệt vời giúp tái lập sự thay đổi của mực nước biển trên khắp bề mặt đại dương. Điều này rất quan trọng, vì mực nước biển không chỉ thay đổi theo chiều dọc mà còn thay đổi theo chiều ngang. Sự phân bố lại theo chiều ngang của các khối nước lần đầu tiên được quan sát đối với sự thay đổi mực nước biển cuối Holocen từ trăm năm đến thập niên (xem, ví dụ, Mörner 1995 và 1996) và được thể hiện rõ ràng trong dữ liệu đo vệ tinh từ năm 1992-2010 (ví dụ, xem Nicholls và Casenave 2010; Casenave và Llovel 2010). Tuy nhiên, các vấn đề lớn vẫn liên quan đến mức 0 đã được chọn và có xu hướng dài hạn (Mörner 2004, 2007c, 2008).

Hình 5. Sự thay đổi mực nước biển quan sát từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON vào năm 2000.

Đây là những thay đổi mực nước biển trung bình hàng năm từ các quan sát vệ tinh TOPEX/POSEIDON, sau khi áp dụng “hiệu chỉnh” kỹ thuật (từ Menard 2000). Đã xác định được xu hướng tăng chậm và dài hạn 1,0 mm/năm, nhưng cách tiếp cận tuyến tính này bỏ qua sự kiện ENSO trong chu kỳ 175-200.

Các nhiệm vụ Topex/Poseidon và sau này của Jason đã ghi lại những biến đổi của bề mặt đại dương với độ phân giải cao. Sau khi áp dụng tất cả các hiệu chỉnh kỹ thuật cần thiết, Menard (2000 và cả Aviso 2000) đã trình bày một biểu đồ mực nước biển đầu tiên từ năm 1992 đến năm 2000 (Hình 5). Xu hướng 1,0 mm/năm trong hình 5 được thiết lập theo phương pháp tuyến tính, bỏ qua thực tế rằng mức cao khủng trong chu kỳ 175-200 đại diện cho một sự kiện ENSO. (ENSO là El Niño / La Niña-Southern Oscillation, một kiểu khí hậu bán định kỳ xảy ra trên vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương vài năm một lần). Do đó, một cách tiếp cận thực tế hơn nhiều là coi tín hiệu ENSO đó như một sự kiện riêng biệt, chồng lên xu hướng dài hạn, như trong Hình 6 (Mörner 2004). Hình 6 cho thấy sự biến thiên (± 10 mm) xung quanh mức 0 ổn định (đường màu xanh) và sự kiện ENSO mạnh (đường màu vàng) vào năm 1997. Xu hướng sau đó ít rõ ràng hơn (đường màu xám). Biểu đồ này không cho thấy dấu hiệu về bất kỳ sự gia tăng nào trong khoảng thời gian được đề cập (Mörner 2004, 2007a, 2007c).

Hình 6. Sự thay đổi mực nước biển từ hình 5 và có xét đến đỉnh ENSO.
Hình 6 cho thấy sự thay đổi mực nước biển từ Hình 5 được trình bày ở đây với một phân tích xu hướng thực tế hơn coi đỉnh ENSO 1997 (màu vàng) là một sự kiện riêng biệt chồng lên xu hướng dài hạn. Điều này cho thấy sự ổn định trong 5 năm đầu tiên (màu xanh lam) và có thể trong toàn thời gian (từ Mörner 2004, 2007c).

Khi nhóm thực hiện kỹ thuật đo độ cao vệ tinh nhận ra rằng sự gia tăng năm 1997 là một tín hiệu ENSO, và họ đã mở rộng xu hướng này đến năm 2003, họ dường như đã phải đối mặt với một vấn đề: Không thể nhìn thấy mực nước biển dâng, và do đó cần phải tiến hành “diễn giải lại” . (Điều này đã công bố tại cuộc họp Sự nóng lên toàn cầu do Viện Hàn lâm Khoa học Nga tổ chức tại Moscow năm 2005 mà tôi đã tham dự). Chính xác những gì đã được thực hiện vẫn chưa rõ ràng, vì các nhóm đo độ cao vệ tinh không chỉ ra các kỹ thuật “hiệu chỉnh” bổ sung mà họ thực hiện.

Năm 2003, dữ liệu đo độ cao của vệ tinh (Aviso 2003) đột nhiên có một độ nghiêng mới – khác với dữ liệu khi chưa có độ nghiêng của năm 1992-2000, được thấy trong Hình 5 và 6 – là 2,3 (± 0,1) mm / năm (Hình 7). Độ nghiêng xuất phát từ đâu? Những gì nằm bằng phẳng trong Hình 5 năm 2000 giờ đã bị nghiêng lên trong Hình 7 năm 2003 (Aviso 2000, 2003). Rõ ràng, có sự “hiệu chỉnh” đã được thực hiện, mà không xác định điều này theo cách cho phép đánh giá (xem Mörner 2007c, 2008). Trong hầu hết các biểu đồ đại diện cho dữ liệu mực nước biển đo độ cao của vệ tinh (trên Internet và trong các bài báo), người ta thậm chí còn không lưu ý rằng các biểu đồ không trình bày xu hướng khi đọc từ vệ tinh, mà là xu hướng sau khi “hiệu chỉnh”.

Ban đầu, có vẻ như việc “hiệu chỉnh” bổ sung và không xác định này đề cập đến điều chỉnh đẳng tĩnh toàn cầu (global isostatic adjustment – GIA) là 2,4 mm/năm (xem, ví dụ, Peltier 1998) hoặc 1,8 mm/năm (IPCC 2001). Đường đẳng 0 của GIA theo Peltier (1998) đi qua Hồng Kông, nơi máy đo thủy triều cho kết quả mực nước biển dâng tương đối là 2,3 mm/năm. Đây chính xác là giá trị xuất hiện trong Hình 7. Kết quả đo thủy triều này mâu thuẫn với bốn kết quả khác hiện có ở Hồng Kông, và rõ ràng là đại diện cho sự sụt lún cụ thể của một vị trí, một thực tế được các nhà địa chất địa phương biết đến. Tuy nhiên, một hệ số hiệu chuẩn mới đã được giới thiệu trong đồ thị Hình 7. Tại cuộc họp về sự nóng lên toàn cầu ở Mátxcơva năm 2005, trước những lời chỉ trích của tôi về “sự điều chỉnh” này, một trong những người trong phái đoàn IPCC của Anh đã nói, “Chúng tôi phải làm như vậy, nếu không sẽ không có bất kỳ xu hướng nào.” Tôi trả lời: “Anh có biết mình đang nói gì không? Tôi đang buộc tội anh đấy”. Do đó, trong tập sách năm 2007 của tôi (Mörner 2007c), biểu đồ Hình 7 đã bị nghiêng trở lại vị trí ban đầu của nó (Hình 5).

Hình 7. Sự thay đổi mực nước biển sau khi hiệu chỉnh năm 2003.
Hình 7 cho thấy kết quả đo độ cao từ vệ tinh được thể hiện với màu đen là TOPEX/POSEIDON và Jason là màu đỏ. Như được trình bày vào năm 2003 (Aviso 2003), đột nhiên có một xu hướng mới thể hiện tốc độ gia tăng mực nước biển là 2,3 (± 0,1) mm/năm. Điều này có nghĩa là các kết quả đo ban đầu được trình bày trong Hình 5 và 6 hiện đã bị nghiêng đi 2,3 mm/năm. Bây giờ chúng ta phải hỏi: Sự nghiêng này đến từ đâu?

Việc hiệu chuẩn được áp dụng cho kỹ thuật đo độ cao vệ tinh đã được thảo luận trong Mitchum (2000 – cf. Casenave và Nerem 2004; Leuliette và Scharroo 2010). Các kết quả đo thủy triều đóng vai trò trung tâm trong việc này, hàm ý rằng có sử dụng lý luận vòng tròn (circular reasoning) trong hiệu chỉnh. Các yếu tố quan trọng khác là sự điều chỉnh đẳng tĩnh toàn cầu (GIA) và chuyển động thẳng đứng của các vị trí đo thủy triều. Mitchum (2000) nói rằng “Chúng tôi đã áp dụng tốc độ tăng MNB của Douglas (1991, 1995) đưa ra là 1,8 ± 0,1 mm/năm” và “các máy đo thủy triều giả định là ổn định theo chiều dọc.” Cả hai giả định này đều sai. Tốc độ 1,8 mm/năm không được thiết lập tốt mà ngược lại (xem Hình 2). Các kết quả đo thủy triều, đặc biệt là các kết quả được chọn, không ổn định theo phương thẳng đứng mà ngược lại (điều này áp dụng cho 6 địa điểm được Church và cộng sự sử dụng cũng như 25 địa điểm được Douglas sử dụng). Mitchum (2000) đã cung cấp các mối quan hệ sau (như được biểu thị trong phương trình  bên dưới):

Mỗi ô trong số ba ô (A, B và C) bao gồm nhiều biến cần xử lý cẩn thận và khéo léo, điều này chắc chắn chưa được thực hiện bởi các nhóm xử lý kết quả từ kỹ thuật đo độ cao vệ tinh và IPCC.

Để thiết lập một xu hướng đo thủy triều cục bộ (hộp A), không đơn giản và trực tiếp. Các xu hướng tuần hoàn, tín hiệu sự kiện và phân đoạn phải được xác định và loại trừ. Nhiều biến số khác nhau ảnh hưởng và can thiệp vào xu hướng dài hạn. Thông thường, không có xu hướng dài hạn, chỉ là các phân đoạn cần được xử lý riêng lẻ (như trường hợp kết quả đo thủy triều Bombay, được thảo luận bởi Mörner, 2010a). Các sự kiện ENSO (như sự kiện Super-ENSO) phải được loại trừ, như minh họa trong Hình 6 và được trình bày cho kết quả ở Tuvalu của Mörner (2007c, 2010b).

“Yếu tố mực nước biển toàn cầu” được đề xuất (hộp B) không bao giờ rõ ràng và tin cậy; thay vào đó, đó là vấn đề quan điểm cá nhân, như được thấy trong Hình 2. Tốc độ 1,8 mm/năm chắc chắn là một ước tính quá cao bị ảnh hưởng mạnh bởi sự sụt lún tại các cột đo thủy triều được chọn (Hình 2). Theo tôi, giá trị tốt hơn sẽ là 0,0 mm/năm (hoặc cao hơn một chút). Vấn đề di chuyển khối (land motion) cục bộ tại các vị trí đo thủy triều (hộp C) là một vấn đề phức tạp khác đòi hỏi sự hiểu biết địa chất của địa điểm được đề cập. Những thay đổi cục bộ của đất trầm tích (chẳng hạn như nén chặt, rút nước, v.v.) là một yếu tố chính để đánh giá (Mörner 2004, 2010b). Những thay đổi này không thể được ghi lại bằng các phép đo vệ tinh, mà chỉ bằng kiến thức thực địa về địa điểm. Nhiều thiết bị đo thủy triều được lắp đặt trên các công trình xây dựng bến cảng và cầu tàu chưa ổn định. Các chuyển động của lớp vỏ và địa chấn là những yếu tố khác. Trong trường hợp của bến cảng ở thủ đô Malé của Maldives, hòn đảo này bị quá tải bởi việc xây dựng đến mức làm cho các công trình xây dựng ở bến cảng bị đổ và bị lệch theo cách làm kết quả đo thủy triều không còn đủ độ tin cậy. Một điều chắc chắn là: kỹ thuật đo độ cao vệ tinh không cung cấp những gì thường được khẳng định, một “thước đo độc lập về sự thay đổi mực nước biển” trái ngược với thiết bị đo thủy triều và điều chỉnh đẳng tĩnh toàn cầu. Thay vào đó, nó là một bản ghi phụ thuộc chủ yếu vào các biến đó. Với các quan sát trọng trường không gian từ GRACE, có thể ghi lại những thay đổi trọng lượng nước trong đại dương (Casenave et al. 2009), gần đúng với sự thay đổi mực nước biển toàn cầu trung bình (Hình 8). Khái niệm điều chỉnh đẳng tĩnh toàn cầu, hay GIA, là một mô hình, trong đó một số dữ liệu được hỗ trợ (ví dụ, xem Peltier 1998) và một số dữ liệu khác thì có mâu thuẫn trực tiếp (ví dụ, Mörner 2005).

Hình 8. Sự thay đổi trọng lượng nước trên đại dương từ
dữ liệu vệ tinh GRACE.

Các kết quả đo trọng lực không gian (space gravimetry) từ các vệ tinh GRACE ghi lại những thay đổi về trọng lượng đại dương, gần đúng với sự thay đổi mực nước biển toàn cầu (từ Casenave et al. 2009). Dữ liệu thô cho thấy mức giảm nhẹ –0,12 (± 0,06) mm / năm (chấm xanh lam). Như vậy, việc hiệu chỉnh mô hình điều chỉnh đẳng tĩnh toàn cầu (GIA) cần được đặt ra,  theo Casenave et al. (2009) thiết lập tỷ lệ hiệu chỉnh là 1,9 (± 0,9) mm/năm (chấm hồng). Sự khác biệt là đáng kể. Câu hỏi đặt ra là liệu sự “hiệu chỉnh” này có chính đáng hay không. Các hiệu chỉnh trong mô hình GIA đã được áp dụng cho máy đo thủy triều, kết quả đo mực nước biển, máy đo độ cao vệ tinh và bây giờ là sự thay đổi trọng lượng đại dương. Có vẻ như nếu không có việc hiệu chỉnh GIA đó, thì sẽ có rất ít hoặc không còn chỗ cho mực nước biển dâng toàn cầu. Hiệu chỉnh máy đo thủy triều cho GIA hoặc chuyển động của lớp vỏ khu vực không phải là cách chính xác để xử lý các loại kết quả này. Thay vào đó, mỗi địa điểm phải được đánh giá từ các tiêu chí riêng về độ ổn định, gió, sóng, trầm tích, nén, tải và kiến tạo. Một lần hiệu chỉnh mô hình GIA ẩn có thể cung cấp kết quả khá sai lệch; đó là một lối tắt nguy hiểm được áp dụng bởi những người không phải là chuyên gia được đào tạo về ngành biển và do đó không có kỹ năng để tự thực hiện các phân tích độ ổn định cụ thể cho từng địa điểm.

GRACE, Thí nghiệm phục hồi trọng lực và khí hậu, một sứ mệnh vệ tinh chung của Hoa Kỳ và Đức cung cấp các ước tính có độ phân giải cao về trường trọng lực của Trái đất và sự biến đổi của nó. Hai tàu vũ trụ GRACE giống hệt nhau bay cách nhau khoảng 220 km trên quỹ đạo địa cực, cách Trái đất 500 km. Họ lập bản đồ trường trọng lực của Trái đất bằng cách đo chính xác khoảng cách giữa hai vệ tinh, sử dụng GPS và hệ thống vi sóng. Điều này cung cấp thông tin về sự phân bố và lượng dòng chảy trong Trái đất và môi trường xung quanh nó, bao gồm những thay đổi do các dòng chảy bề mặt và sâu trong đại dương gây ra và sự trao đổi giữa các tảng băng và đại dương.

Hình 9 cho thấy các kết quả đo độ cao vệ tinh được trình bày bởi NOAA (2008) tăng 3,2 (± 0,4) mm/năm.


Hình 9. Kết quả đo MNB từ kỹ thuật đo độ cao vệ tinh cung cấp bởi NOAA.
Dữ liệu vệ tinh TOPEX-Jason cung cấp một kết quả cho thấy mực nước biển dâng trung bình trong giai đoạn 1993-2007 là 3,2 mm/năm. Hình 8 (GRACE) Xu hướng đã hiệu chỉnh GIA cho năm 2003-2007 (đường màu đỏ) khá phù hợp với dữ liệu Jason. Do đó, biểu đồ đo độ cao vệ tinh này có xu hướng dài hạn, không đại diện cho các phép đo dụng cụ thực tế, nhưng được tạo ra bằng thủ thuật “hiệu chỉnh”.

Trong Hình 10, kết quả đo độ cao vệ tinh của Hình 9 được nghiêng ngược lại để phù hợp với xu hướng ban đầu trong Hình 5 và 6 cho giai đoạn 1992-2000 (trường màu vàng) và dữ liệu thô của GRACE trong Hình 8, cho giai đoạn 2003- 2007 (đường vàng). Điều này cung cấp một biểu đồ đo độ cao vệ tinh chưa được điều chỉnh cho thấy không có dấu hiệu của bất kỳ sự gia tăng mực nước biển nào. Kết quả đo gốc cho giai đoạn 1992-2000 được khôi phục (xem Hình 5 và 6) và dữ liệu thô GRACE hoàn toàn phù hợp với kết quả trên. Điều này nhằm nói lên rằng kết quả đo độ cao của vệ tinh Hình 9 bị thay đổi đáng kể bởi các “hiệu chỉnh” phi kỹ thuật (bất kể chúng có chính xác không). Các nhóm chịu trách nhiệm tại CNES (Cơ quan vũ trụ của Pháp, Centre National d’Etudes Spatiales) và NOAA không chỉ rõ phương pháp “hiệu chỉnh” được áp dụng. Có thể áp dụng nhiều cách hiệu chỉnh khác nhau, nhưng chúng phải được chỉ định rõ ràng. Đây không phải là trường hợp của xu hướng mực nước biển dâng hiện nay được lưu hành từ phương pháp đo độ cao vệ tinh (ví dụ, xem Aviso 2003 và NOAA 2008). Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta đang ở đây đối mặt với một “âm mưu giả mạo dữ liệu MNB” (sea-level gate) nghiêm trọng. Nếu việc “hiệu chỉnh” được áp dụng không được chỉ định và lý luận rõ ràng thì kết quả đầu ra không thể được đánh giá một cách khách quan. Trong trường hợp này, nó dường như đã làm cho thông tin bị sai lệch. Điều tồi tệ hơn, điều này dường như được cố ý thực hiện để hỗ trợ cho kịch bản ngập lụt của IPCC. Trước đây tôi đã tuyên bố (Mörner 2008) rằng việc ghi đo độ cao vệ tinh bao gồm ba bước: (1) đọc thiết bị vệ tinh; (2) “thu thập kết quả” (sau khi hiệu chỉnh từ các điều chỉnh kỹ thuật), như được trình bày trong Hình 10; và (3) “trình diễn kết quả” (sau khi áp dụng“ hiệu chuẩn cá nhân ”), như được trình bày trong Hình 9. Điều này được minh họa trong Hình 11. Như đã báo cáo ở trên về những điều chỉnh đó, một thành viên IPCC đã nói với tôi rằng“ Chúng tôi phải làm như vậy, nếu không thì nó sẽ không phải là bất kỳ xu hướng nào, ”và điều này dường như chính xác là như vậy. Điều này có nghĩa là chúng ta đang phải đối mặt với một hành vi “giả tạo” rất nghiêm trọng, nếu không muốn nói là phi đạo đức. Do đó, “kết quả thu thập” thực tế của phép đo độ cao vệ tinh (Hình 10) cho thấy mực nước biển dâng khoảng 0,0 mm/năm. Điều này phù hợp với các dữ kiện quan sát và chúng ta dường như đạt được một bức tranh thống nhất về không, hoặc nhiều nhất là mực nước biển dâng nhỏ (theo thứ tự 0,5 mm / năm) trong 50 năm qua.

Hình 10. Kết quả đo độ cao vệ tinh quay lại trạng thái ban đầu khi chưa hiệu chỉnh.

Đo độ cao vệ tinh đã điều chỉnh của Hình 9 ở đây được khôi phục trở lại xu hướng ban đầu chưa được điều chỉnh của nó. Bản ghi gốc cho giai đoạn 1992-2000 (trường màu vàng) cho thấy sự biến thiên xung quanh đường 0 nằm ngang ổn định (Hình 5 và 6). Dữ liệu thô GRACE (Hình 8) cho thấy xu hướng giảm nhẹ trong giai đoạn 2003-2007 (đường màu vàng). Hai bộ dữ liệu này kết hợp với nhau chỉ ra rằng xu hướng mực nước biển trung bình vẫn được duy trì trong bảng trong suốt thời kỳ.

Hình 11. Quy trình kỹ thuật đo vệ tinh GRACE và 2 kiểu hiệu chỉnh được áp dụng.

Các điều chỉnh kỹ thuật phải được áp dụng cho kết quả từ thiết bị vệ tinh. Những hiệu chỉnh này được áp dụng cho đồ thị đo độ cao ban đầu trong Hình 5 (Menard 2000, Aviso 2000) và Hình 6. “Kết quả trích xuất” cho biết xu hướng mực nước biển theo thứ tự 0,0 mm/năm (như trong Hình 2, 6 và 10). Bằng cách áp dụng các “hiệu chỉnh cá nhân” bổ sung có tính chất chủ quan, các biểu đồ (“trình diễn kết quả”) đã được tạo ra (ví dụ, Aviso 2003 và NOAA 2008) cho thấy mực nước biển tăng theo thứ tự 3 mm/năm (như đã thấy trong Hình 9). Do đó, các “trình diễn kết quả” đại diện cho thông tin sai lệch, không phải là “kết quả trích xuất” thực sự (từ Mörner 2008).

Kết luận

Các dữ kiện quan sát chỉ ra rằng mực nước biển hoàn toàn không ở chế độ dâng lên nhanh chóng, mà khá ổn định. Đây là trường hợp xảy ra ở các địa điểm quan trọng như Maldives, Bangladesh, Tuvalu, Vanuatu, đảo Saint Paul, Qatar, Guyana thuộc Pháp, Venice và tây bắc châu Âu. Máy đo thủy triều có xu hướng phóng đại xu hướng tăng vì lún và nén. Sự ổn định hoàn toàn trong 30-50 năm qua được chỉ ra ở các địa điểm như Tuvalu, Ấn Độ, Maldives (và cả Laccadives ở phía bắc Maldives), Venice (sau khi trừ đi hệ số lún), Cuxhaven (sau khi trừ đi hệ số lún) , và Korsør (một bản lề ổn định trong 8.000 năm qua).

Thiết bị đo độ cao vệ tinh được hiển thị để ghi lại các biến thể xung quanh mức 0 ổn định trong toàn bộ giai đoạn 1992-2010. Các xu hướng theo thứ tự 3 mm/năm thể hiện “kết quả được trình diễn”, sau khi áp dụng “hiệu chuẩn cá nhân”, không thể chứng minh bằng các dữ kiện quan sát. Do đó, bây giờ chúng ta có thể quay lại Hình 1 và tuyên bố rằng các “mô hình” (đường cong màu hồng) cung cấp một bức tranh ảo về mực nước biển dâng mạnh và các “quan sát” (đường cong màu xanh lam) tạo ra sự phản ánh tốt về những thay đổi thực tế của mực nước biển trong 170 năm qua, với sự ổn định trong 40 năm qua. Chúng ta quay trở lại với phổ tỷ lệ mực nước biển ngày nay (Hình 2) và đánh giá các giá trị khác nhau được đề xuất. Đây là minh họa trong Hình 12. Chỉ các tỷ lệ theo thứ tự từ 0,0 mm/năm đến tối đa 0,7 mm/năm là thực tế. Điều này rất phù hợp với các giá trị do INQUA (2000) và Mörner (2004) đề xuất cho năm 2100, nhưng khác nhiều so với các giá trị do IPCC đề xuất (2001, 2007).

Hình 12. Đánh giá độ tin cậy giữa các phương pháp tính toán mực nước biển dâng.

Hình 12 cho thấy phổ giá trị tốc độ của mực nước biển dâng ngày nay có thể được ước tính là hợp lệ. Chỉ các giá trị theo thứ tự từ 0,0 mm/năm (theo gợi ý của các dữ kiện quan sát) đến tối đa 0,7 mm/năm là có thể xảy ra. Giá trị dao động từ 1,3 đến 3,4 mm/năm được coi là đánh giá quá cao không thể đánh giá được. Các giá trị theo thứ tự 1 mm/năm đại diện cho sự tăng (và giảm) một phần trăm. Điều này đồng ý với các ước tính về mực nước biển có thể dâng vào năm 2100 là 5 ± 15 cm (Mörner 2004) và 10 ± 10 cm (INQUA 2000), nhưng khác đáng kể so với giá trị do IPCC đề xuất là 37 ± 19 cm (IPCC 2007). Do đó, chúng ta thấy rằng mối đe dọa mực nước biển của IPCC đã biến mất. Phát biểu về sự gia tăng mực nước biển đang diễn ra sẽ làm ngập các hòn đảo và các bờ biển trũng thấp, nhấn chìm hàng chục nghìn người và buộc hàng trăm nghìn, tới hàng triệu người phải di dời đơn giản là một sai lầm nghiêm trọng, theo đây được tiết lộ như một ảo tưởng, thông tin sai lệch khủng khiếp. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là một “hành vi che giấu sự thật về mực nước biển dâng” (sea-level gate) nghiêm trọng và tồi tệ.

Malé, thủ phủ của đảo Maldives, nơi tập trung phần lớn dân số của cả nước. Nghiên cứu của Tiến sĩ Mörner về kỷ lục mực nước biển trong 2.600 năm qua cho thấy mực nước biển giảm đáng kể trong những năm 1970 và không có dấu hiệu nào cho thấy sự gia tăng liên tục.
Một bãi biển ở đảo Tuvalu ở Thái Bình Dương, nơi trái ngược với các kịch bản của IPCC, mực nước biển đã ổn định trong ba thập kỷ.

Các sự kiện thực sự phải được tìm thấy trong tự nhiên; chắc chắn không phải ở các bảng mô hình. Một số bản ghi có tính chất diễn giải Những người khác khá rõ ràng và thẳng thắn. Tôi thường tuyên bố rằng “cây cối không nói dối” (ví dụ trong Mörner 2007c), ám chỉ những cái cây cô đơn ở Maldives, biểu thị mực nước biển ổn định trong 50-60 năm qua (và do đó đã được kéo xuống bằng tay bởi một nhóm các “nhà khoa học” người Úc và những người hướng đạo sinh IPCC). Và những cái cây trên bãi biển ở Sundarban, cho thấy sự xói mòn mạnh mẽ nhưng mực nước biển không dâng (Mörner 2007c, 2010a). Bằng cách này, tôi hy vọng, chúng ta có thể giải phóng thế giới khỏi cuộc khủng hoảng nhân tạo, vốn đã bị IPCC và các trinh sát viên của tổ chức này lên án về tình trạng ngập lụt trên diện rộng và thảm khốc trong tương lai gần. Đây là mối đe dọa chính trong kịch bản IPCC, và bây giờ nó đã biến mất.

Đôi nét về tác giả:

Chuyên gia hải dương học nổi tiếng Nils-Axel Mörner đã nghiên cứu mực nước biển và ảnh hưởng của nó đối với các khu vực ven biển trong khoảng 45 năm. Vừa mới nghỉ hưu với tư cách là giám đốc Khoa Vật lý cổ và Địa động lực học tại Đại học Stockholm, Mörner là chủ tịch (1999-2003) của Ủy ban INQUA về Thay đổi mực nước biển và Tiến hóa ven biển, và lãnh đạo Dự án mực nước biển Maldives. Giờ đây, ông có công ty riêng về Paleogeophysics & Geodynamics ở Thụy Điển, và có thể liên hệ theo địa chỉ morner@pog.nu.
Ông đưa ra nhận định: “Trong khi IPCC và các trinh sát viên của nó đưa ra các dự đoán về mực nước biển ngày càng tăng mạnh trong tương lai gần, các dữ kiện quan sát thực tế cho thấy mực nước biển hầu như vẫn ổn định trong 40-50 năm qua.”

Phương Thi dịch từ There is no alarming sea level rise!

Quảng Ngãi muốn dừng công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh

Đầu tư 20 tỷ đồng cho đề án Công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh từ 2015, Quảng Ngãi muốn kết thúc do “hiệu quả không rõ ràng”.

Chiều 7/4, ông Đặng Văn Minh, Chủ tịch UBND Quảng Ngãi cho biết đã giao Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch báo cáo UBND tỉnh để trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định kết thúc đề án Công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh. Đề án công viên địa chất được triển khai từ năm 2015 với tên gọi ban đầu là Công viên địa chất toàn cầu Bình Châu – Lý Sơn. Khi ấy, Quảng Ngãi vừa khai quật nhiều tàu cổ ở vùng biển này, đồng thời đảo Lý Sơn đã hòa điện lưới quốc gia; nổi tiếng với di sản địa chất núi lửa và bề dày lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Đảo Lý Sơn, vùng lõi của đề án Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn – Sa Huỳnh. Ảnh: Bùi Thanh Trung.

Danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu của UNESCO với vùng lõi là đảo Lý Sơn được lãnh đạo Quảng Ngãi đánh giá sẽ giúp tỉnh phát triển bền vững. Nghị quyết Đảng bộ và HĐND tỉnh năm 2015 từng xác định việc thực hiện dự án này một trong những nhiệm vụ trọng tâm để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là du lịch.

Năm 2017, UBND tỉnh thành lập Ban Quản lý Công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh, giao Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch làm cơ quan thường trực. Từ đó đến nay, đơn vị này đã phối hợp với Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản cùng các chuyên gia quốc tế tiến hành hàng chục đợt khảo sát, với khoảng 160 hành trình khảo sát địa mạo, cảnh quan, và địa văn hóa nhằm xác định tổng thể các giá trị di sản, đặc biệt là các di sản địa chất. Nhiều hội thảo, hội nghị quốc tế về công viên đã được tổ chức, thu hút hàng trăm nhà khoa học.

Năm 2019, Ban Quản lý đánh giá diện tích Lý Sơn và vùng phụ cận quá nhỏ để làm đề án nên đề nghị tỉnh mở rộng lên 4.600 km2, bao gồm nhiều diện tích trên đất liền.

Cuối 2019, hồ sơ dự thảo về Công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh đã được gửi cho UNESCO và vượt qua vòng sơ loại. Theo quy định, tổ chức này sẽ biểu quyết bằng phiếu bầu tại Hội nghị thường niên của Đại hội đồng UNESCO dự kiến ban đầu tổ chức vào cuối 2020 tại Jeju Hàn Quốc. Tuy nhiên, Covid -19 bùng phát trên toàn cầu nên việc thẩm định bị hoãn.

Theo ông Đặng Văn Minh, việc UBND tỉnh đồng ý cho mở rộng diện tích Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn – Sa Huỳnh là chưa đúng theo tinh thần nghị quyết đảng bộ lần thứ 19 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Ban Thường vụ Tỉnh ủy chưa có quyết định chính thức về việc này nên dù UBND tỉnh có gửi hồ sơ cho UNESCO thì cũng không đảm bảo đúng quy định.

“Sau khi rà soát toàn bộ đề án, UBND tỉnh cho rằng hiệu quả kinh tế – xã hội chưa rõ ràng”, Chủ tịch UBND Quảng Ngãi cho biết.

Trong 5 năm qua, UBND Quảng Ngãi đã chi cho đề án khoảng 20 tỷ đồng. “Trong quá trình thực hiện thì có thể được có thể không được, chứ không phải thực hiện bằng mọi giá, việc bố trí kinh phí hàng năm đúng quy định thì quyết toán là bình thường”, ông Minh nói.

Theo UNESCO, Công viên địa chất toàn cầu (Global Geoparks) là những khu vực có địa chất và địa mạo có ý nghĩa địa chất quốc tế. Tổ chức này bắt đầu nghiên cứu công viên địa chất từ năm 2001. Đến năm 2004, đại diện 17 công viên địa chất trên thế giới đã họp tại Paris, Pháp để thành lập Mạng lưới công viên địa chất toàn cầu. Đây là nơi các quốc gia trao đổi, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm về bảo tồn di sản địa chất.

Công viên địa chất toàn cầu đặt ra các tiêu chuẩn để bảo tồn di sản địa chất hài hòa với bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển kinh tế, du lịch. Ở Việt Nam có hai nơi đã được công nhận công viên địa chất toàn cầu là Công viên đá Đồng Văn (Hà Giang) và Công viên địa chất toàn cầu tỉnh Đăk Nông.

Phạm Linh https://vnexpress.net/quang-ngai-muon-dung-cong-vien-dia-chat-ly-son-sa-huynh-4259530.html