Nổi bật

Chào mừng đến với góc học thuật của chúng tôi

Tại công viên đá Vườn quốc gia Núi Chúa Ninh Thuận

❤ Chúc các bạn tìm được những thông tin thú vị và bổ ích 😉
❤ Hy vọng nhận được nhiều sự quan tâm và chia sẻ của quý độc giả.

Advertisements

Kè mềm tiền tỉ bị hư hại sau 2 năm sử dụng

TTO – Sau hơn 2 năm đưa vào sử dụng (từ tháng 12-2016 đến nay), hệ thống kè mềm chắn sóng, gây bồi tạo bãi được thí điểm ở biển Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã bị hư hỏng, bục rách.

Nhiều người dân thắc mắc tại sao mới đưa vào sử dụng mà hệ thống kè chắn đã hư hỏng?

Theo ghi nhận, thời điểm nước biển rút, kè mềm nhô lên khỏi mặt nước không đều nhau. Có những chỗ kè còn nguyên vẹn thì nhô cao nhưng cũng có những chỗ bị lún sâu, rách nát.

Kè mềm dọc theo biển Gò Công Đông thuộc dự án thí điểm “Gây bồi tạo bãi, trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển Gò Công Đông” bằng kết cấu vật liệu túi Geotube (sản xuất bằng vải dệt polypropylen) được may tại nhà máy thành các ống, sau đó bơm cát vào trong ống tạo thành các con đê mềm, hay còn gọi là đê ngầm.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online về việc này, ông Nguyễn Thiện Pháp – chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và phòng chống lụt bão tỉnh Tiền Giang – cho biết về cơ bản, tuyến đê mềm đã phát huy được công năng khi giữ được phù sa, tạo bãi bồi. Dự án được khởi công từ tháng 3-2016 và đến tháng 12-2016 hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Tuyến đê có chiều dài khoảng 1.400m, chiều cao 1,7m với tổng mức đầu tư hơn 56 tỉ đồng. Theo ông Pháp, nguyên nhân khiến các túi Geotube bị hỏng là do tác động của sóng đánh trực tiếp vào túi, đặc biệt khi sóng biển mang theo các vật cứng như gốc cây, vật cứng tác động vào đầu túi khiến túi bị rách. Một nguyên nhân khác nữa là do túi Geotube có xu hướng bị giảm chất lượng theo thời gian sử dụng.

Một đoạn kè mềm bị hư hỏng sau hơn 2 năm sử dụng – Ảnh: MẬU TRƯỜNG

Trước tình trạng tuyến đê bị hư hại như hiện nay, ông Pháp cho biết để khắc phục tạm thời, ngành chức năng tỉnh Tiền Giang thường xuyên tăng cường kiểm tra, kiểm soát đoạn kè, khi thấy có dấu hiệu hư hỏng ở đâu thì lập tức sửa chữa bằng cách may lại điểm bị rách tại đó.

“Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã có văn bản kiến nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn xem xét, nghiên cứu lại chất liệu làm túi Geotube cho phù hợp hơn” – ông Pháp nói.

MẬU TRƯỜNG – THANH TÚ

https://tuoitre.vn/ke-mem-tien-ti-bi-hu-hai-sau-2-nam-su-dung-20190615101052364.htm

Lên đỉnh đèo Ngang khám phá ‘cổng trời’ bị lãng quên

TTO – Từ “cổng trời” Hoành Sơn Quan trên đỉnh đèo Ngang, phóng tầm mắt là cả một vùng đất Kỳ Nam, Kỳ Anh, Hà Tĩnh rộng lớn nhưng đáng tiếc, đường lên di tích này dường như bị lãng quên với những dấu tích hoang phế.

Di tích Hoành Sơn Quan tọa lạc trên đỉnh đèo Ngang – Ảnh: NAM TRẦN

Di tích Hoành Sơn Quan hay còn thường được gọi “cổng trời”, xây dựng dưới thời Minh Mạng vào năm 1833, nằm trên đỉnh đèo Ngang (ranh giới của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình), cao hơn 4m với hai bên là cả ngàn bậc thang được đào vào núi.

Vượt ngàn bậc đá uốn lượn, du khách bước đến “cổng trời” phóng tầm mắt về phía trước là cả một vùng đất Kỳ Nam, Kỳ Anh, Hà Tĩnh rộng lớn.

Hoành Sơn Quan là di tích cổ, khi xưa vốn để kiểm soát việc qua lại đèo và mang trong mình vẻ trầm mặc, cổ kính, rêu phong theo thời gian.

Nhưng dường như đã bị lãng quên với nhiều người bởi giờ đã lựa chọn qua hầm đèo Ngang thay vì vượt đèo để rút ngắn lộ trình.

Có chăng chỉ thi thoảng mới thấy từng nhóm bạn trẻ “phượt” bằng xe máy dừng chân đứng lại bên khu di tích này.

Quê ở Quảng Bình, Nguyễn Thị Kim Oanh (22 tuổi, Trường ĐH Y dược Đà Nẵng) cùng bạn đến khu di tích Hoành Sơn Quan trên đỉnh đèo Ngang thăm thú, chụp hình lưu lại những khoảnh khắc bên nhau trước khi dời giảng đường đại học.

Hoành Sơn Quan nằm trên đỉnh đèo Ngang được cả tỉnh Quảng Bình lẫn Hà Tĩnh xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa thuộc tỉnh mình. Cả hai tỉnh cũng đều lập hồ sơ trình công nhận là di tích quốc gia nhưng đều không được chấp nhận.

Việc tranh chấp dai dẳng làm cho cả khu vực đèo Ngang được đánh giá có giá trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử nhưng vẫn bị lãng quên và hiện nay ”cổng trời” Hoành Sơn Quan đang bị xuống cấp cùng sự xâm hại đáng tiếc.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, Hoành Sơn có độ dài 81 dặm, đông tây cách nhau 57 dặm, tây đến địa giới Hương Khê 40 dặm, nam đến Quan ải Quảng Bình 49 dặm, bắc đến Cẩm Xuyên 32 dặm – Ảnh: NAM TRẦN
Tấm biển Hoành Sơn Quan bằng chữ Hán trên cổng vòm đá hướng ra phía bắc nay vẫn còn nhưng cũng đã bị vỡ – Ảnh: NAM TRẦN
Hoành Sơn Quan trên đỉnh đèo Ngang được Hà Tĩnh và Quảng Bình xếp hạng di tích lịch sử văn hoá thuộc tỉnh năm 2005 và từng lập hồ sơ xin di tích quốc gia nhưng chưa được công nhận – Ảnh: NAM TRẦN
Theo một vài sách cổ có ghi rằng ở đỉnh Đèo Ngang, hai phía đều có đắp các cấp đá, qua một quãng đường dốc ngắn khoảng 50m, trước cổng phía bắc Hoành Sơn Quan đã thấy gần 100 bậc đá, mỗi bậc dài khoảng 6m, rộng 0,4m – Ảnh: NAM TRẦN
Một nhóm bạn trẻ đi xe máy qua Đèo Ngang và ghé thăm Hoành Sơn Quan – Ảnh: NAM TRẦN
Theo thời gian, Hoành Sơn Quan bị lãng quên, phủ trên mình sự cổ kính, rêu phong và… sự cả xuống cấp – Ảnh: NAM TRẦN
Cùng với những mảng bong tróc, những dòng chữ của du khách thiếu ý thức đã viết, vẽ bậy trên di tích cũng khiến nơi này càng lúc bị xuống cấp – Ảnh: NAM TRẦN
Hoành Sơn Quan nhìn từ phía sau, nhiều mảng tường đã bị bong tróc, rong rêu thậm chí cây cối còn mọc cả trên nóc – Ảnh: NAM TRẦN
Từ trên Hoành Sơn Quan phóng tầm mắt phía trước là cả một vùng đất Kỳ Nam, Kỳ Anh, Hà Tĩnh – Ảnh: NAM TRẦN
Do lối lên di tích này nhỏ và cũ, nhiều người qua đây ít ai nhận biết được di tích nên tỉnh Hà Tĩnh đã đặt một tấm biển lớn bên đường Đèo Ngang để có thể dễ dàng thấy – Ảnh: NAM TRẦN

NAM TRẦN – HÀ THANH

Nguồn: https://dulich.tuoitre.vn/len-dinh-deo-ngang-kham-pha-cong-troi-bi-lang-quen-20190525130650252.htm

Cánh đồng lúa ở Tam Cốc vào mùa đẹp nhất trong năm

Nhiều du khách thăm Tam Cốc, Ninh Bình vào mùa lúa chín đều ngỡ ngàng trước cảnh sắc núi đồi, đồng ruộng đẹp như tranh vẽ.

Ninh Bình đang là tâm điểm thu hút du khách trong mùa hè này khi tổ chức Tuần Du lịch với chủ đề “Sắc vàng Tam Cốc – Tràng An”, diễn ra từ ngày 18 đến 25/5.
Tuần Du lịch Ninh Bình còn là “đại hội nhiếp ảnh” khi thu hút hàng trăm tay máy từ khắp vùng miền đến, ghi lại cảnh đẹp mùa lúa chín Tam Cốc. Người chụp đứng trên những khối núi đá vôi để lấy góc chụp từ trên cao.
Mùa vàng Tam Cốc bắt đầu từ tháng 5 đến trung tuần tháng 6 hàng năm. Với cảnh núi non hùng vĩ, Tam Cốc – Tràng An còn được mệnh danh là “Hạ Long cạn”.
Từ bến thuyền Văn Lâm, du khách ngao du phong cảnh quanh Tam Cốc, ngắm nhìn các ngôi nhà nhỏ nằm dọc theo tuyến sông và hang động, như hang Cả, hang Hai hay hang Ba.
Để có được bức ảnh ưng ý về mùa vàng Tam Cốc, nhiều người leo núi đá vôi từ lúc 3h sáng và mất vài tiếng mới lên đến đỉnh.

“Trên núi đá vôi, dưới cái nắng đến 40 độ C, chúng tôi chờ đợi đoàn thuyền rước rồng (ảnh) theo dòng Ngô Đồng xuất hiện giữa hai miền lúa chín để chụp những bức ảnh đẹp nhất”, nhiếp ảnh gia Phạm Ngọc Thạch, Hà Nội, chia sẻ. Đây là đoàn rước trên quãng đường 2 km vào ngày khai mạc Tuần Du lịch Ninh Bình.

Vé tham quan 120.000 đồng một người, vé đi đò 150.000 đồng chở tối đa 4 người. Hành trình đi đò qua ba hang đá kéo dài khoảng 2 tiếng. Ngoài ngồi đò xuôi dòng Ngô Đồng, du khách còn có thể tham quan chùa Bích Động và đền Thái Vi
So với khu du lịch Tràng An, Tam Cốc không quá đông đúc, mang đến du khách không gian yên bình của một miền quê đồng bằng Bắc bộ.
Các nhiếp ảnh gia nữ chọn ngồi thuyền trên dòng Ngô Đồng và chụp quang cảnh mùa lúa chín thanh bình xung quanh. Nhiếp ảnh gia Khánh Phan (từ TP HCM) cho biết, chị bị cuốn hút với vẻ đẹp mùa vàng khi trải nghiệm trên thuyền.
Qua đoạn sông nắng chiếu, du khách sẽ tận hưởng cảm giác mát lạnh khi thuyền tiến vào các hang. Trong đó, hang Cả dài 127 m, cách đó gần một km là hang Hai dài 60 m. Hang Ba gần đó, dài 50 m.

Huỳnh Phương

Ảnh: Khánh Phan, Phạm Ngọc Thạch

https://vnexpress.net/du-lich/canh-dong-lua-o-tam-coc-vao-mua-dep-nhat-trong-nam-3927996.html

 

Dự án 10.000 tỉ chưa chắc giúp TP.HCM thoát ngập

Hà Mai

Dự án chống ngập 10.000 tỉ đang gấp rút về đích kịp tiến độ vào quý 1/2020. Vì thế ngay từ lúc này, hiệu quả của dự án là vấn đề được người dân cũng như lãnh đạo TP.HCM đặc biệt quan tâm.

Dự án chống ngập 10.000 tỉ đã hoàn thành 76% tiến độ thi công. H.Mai

Hoàn thành chưa chắc hết ngập?

Sáng nay (14.5), Đoàn giám sát HĐND TP.HCM có buổi thực địa một số hạng mục thuộc dự án Giải quyết ngập do triều cường khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu giai đoạn 1 (dự án chống ngập 10.000 tỉ).

Dự án chống ngập 10.000 tỉ cam kết ‘về đích’ trong năm 2019 Ông Nguyễn Tâm Tiến, Giám đốc Công ty TNHH Trung Nam thông tin toàn bộ dự án hiện đã đạt khoảng 76% tiến độ thi công. Hiện khó khăn lớn nhất của dự án là công tác giải phóng mặt bằng. Tuy phần đê kè đã được điều chỉnh dịch chuyển, giảm số hộ phải đền bù xuống khoảng 50% (giảm 97 hộ so với 238 hộ theo dự kiến ban đầu) nhưng vẫn còn vướng một số tổ chức, hộ dân tại khu vực quận 4, quận 7, huyện Nhà Bè.

Bên cạnh đó, thời gian vay của hợp đồng đã ký liên quan đến nguồn vốn vay ưu đãi chỉ kéo dài đến hết tháng 6. Do một số vướng mắc về thủ tục trong thời gian qua, dự án đã chậm hơn so với tiến độ đề ra ban đầu.

Đáng chú ý, khi các thành viên Đoàn giám sát đặt câu hỏi về tác động của dự án sau khi hoàn thành, có thể giúp TP.HCM hết ngập không, ông Tiến trả lời “có thể có, có thể không”. Giám đốc Công ty Trung Nam giải thích, năm 2001, Chính phủ đã ban hành Quyết định 752 phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước TP.HCM đến năm 2020. Trong đó chủ yếu là các công trình, dự án nạo vét cống, kênh rạch, khơi thông dòng chảy, tiêu thoát nước đô thị. Tuy nhiên do nhiều sự thay đổi khách quan từ biến đổi tự nhiên, đến năm 2008, quy hoạch thủy lợi 1547 chống ngập úng khu vực TP.HCM lại được phê duyệt với mục tiêu giải quyết tình trạng ngập lụt của TP trong phạm vi diện tích vùng trung tâm 209.500 ha và một số vùng phụ cận.

“Dự án chúng tôi đang làm thuộc quy hoạch 1547, nhiệm vụ chính là ngăn triều, hỗ trợ tiêu thoát nước. Nếu trước đây thủy triều đạt mức 1,5 m – >1,7 m TP sẽ ngập thì sau khi dự án đi vào hoạt động, có thể ngăn triều lên tới mức 3 m. Có thể hình dung dự án như lực lượng biên phòng bao quanh vùng diện tích 570 km² khu vực bờ hữu sông Sài Gòn và trung tâm TP.HCM. Nếu các dự án theo quy hoạch 752 chưa hoàn thiện, hệ thống cống, kênh rạch không được khơi thông thì hệ thống cống ngăn triều cũng không thể hoạt động hiệu quả. Do đó, người dân không nên hiểu nhầm dự án hoàn thành là TP.HCM sẽ hết ngập. Đây là công trình quan trọng nhằm bổ trợ cho loạt hệ thống công trình chống ngập của TP” – ông Tiến lý giải.

TP.HCM vẫn khó thoát mùa ngập năm nay. Phạm Hữu

Cần đồng bộ thoát trong, bơm ngoài

8.000 tỉ đồng có giúp TP.HCM giảm ngập? Cung cấp thêm thông tin cho Đoàn giám sát, ông Nguyễn Hoàng Anh Dũng, Phó ban Quản lý khai thác hạ tầng kỹ thuật (Sở Xây dựng TP.HCM) cho biết đơn vị này đang tham mưu cho TP từng bước thực hiện hoàn thiện các dự án nạo vét kênh rạch, cống thoát nước, xây dựng các khu vực trữ nước nhằm giải quyết bài toán thoát nước mưa, nước mặt, đồng bộ cùng công trình kiểm soát ngập do triều. Các dự án thuộc quy hoạch 1547 và quy hoạch 752 đang được triển khai song song, đồng bộ, đảm bảo tương hỗ, bổ trợ cho nhau

“Ngoài nhiệm vụ kiểm soát triều, dự án chống ngập 10.000 tỉ còn giúp giảm mực nước, hỗ trợ thoát nước phía trong TP. Tuy nhiên vẫn cần kết hợp với hệ thống thoát nước đô thị tốt, đồng bộ thoát trong, bơm ngoài mới có thể giải quyết bài toán ngập cho TP.HCM” – ông Dũng nói.

Sau khi nghe báo cáo từ phía chủ đầu tư và các Sở, Ban ngành, bà Nguyễn Thị Lệ, Chủ tịch HĐND TP.HCM ghi nhận sự cố gắng của tất cả các đơn vị trong quá trình triển khai đã sốt sắng, chủ động để dự án “chạy” nhanh nhất trong khả năng có thể. Tuy nhiên bà Lệ vẫn e ngại quá trình giải quyết các kiến nghị liên quan thủ tục giải phóng mặt bằng, gia hạn vốn đầu tư có thể không đảm bảo đúng tiến độ đã cam kết, khiến dự án kéo dài, tăng chi phí. Do đó, bà yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước không chỉ báo cáo, đề xuất trên giấy mà phải trực tiếp đeo bám, sát sao, làm sao đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để chủ đầu tư đảm bảo dự án “về đích đúng hẹn”.

“Trong lần thị sát dự án mới nhất do UBND TP tổ chức, các quận, huyện đã cam kết đến 30.6 sẽ bàn giao toàn bộ mặt bằng để nhà đầu tư thực hiện cam kết dự án về đích vào cuối 2019, đưa vào hoạt động trong quý 1/2020 nhưng với tốc độ thực hiện như hiện nay, tôi e rằng khó. Các quận, huyện cần đeo bám, sốt sắng hơn nữa, thực hiện theo đúng cam kết vì đây là dự án quy mô lớn, tác động mạnh tới đời sống nhân dân. UBND sẽ sớm tổ chức buổi làm việc với các quận, huyện để trực tiếp lắng nghe khó khăn, tháo gỡ, tiếp sức cùng địa phương giúp đẩy nhanh tốc độ dự án” – Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Thị Lệ khẳng định.

https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/du-an-10000-ti-chua-chac-giup-tphcm-thoat-ngap-1081527.html

Đê chắn Cửa Đại cổ và trẻ

Hà Quang Hải

Gần đây một số tờ báo đưa tin về sự xuất hiện ‘đảo cát’ ở vùng biển Hội An. Đã có những đợt khảo sát, có hội thảo về nguyên nhân hình thành ‘đảo cát’ nhưng dường như chưa có sự thống nhất. Thực ra việc hình thành ‘đảo cát’ không phải là câu chuyện mới mẻ. Trong quá khứ, ở Cửa Đại đã từng tồn tại ‘đảo cát’ dài hơn 3 km, rộng 250 m. ‘Đảo cát’ chính là đê cát chắn cửa sông, một dạng địa hình đặc trưng thuộc cấu trúc cửa sông Liman (cửa sông tạo đê chắn), là một trong bốn kiểu cửa sông phổ biến trên thế giới. Bài viết này trình bày sơ lược về cửa sông Liman; đặc điểm hình thái, sự phá hủy đê chắn Cửa Đại cổ và quá trình hình thành đê chắn trẻ, cái được gọi là ‘đảo cát’ vùng biển Hội An hiện nay.

  1. Cửa sông Liman

Liman mượn từ tiếng Nga (Лиман), từ này lại có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là vịnh hoặc bến cảng. Liman hình thành ở cửa sông mở rộng, nông nơi dòng chảy bị chặn bởi đê cát chắn cửa sông (gọi chung là đê chắn). Đê chắn có thể là trầm tích biển (được tạo ra bởi dòng chảy ven biển) hoặc dòng chảy sông (đê cát được tạo ra bởi dòng chảy của một sông lớn tại điểm hợp lưu) [1].

Một thuật ngữ khác đồng nghĩa với Liman là Guba (губа) được sử dụng trong các văn liệu của Nga cho các cửa sông bờ biển ở phía bắc Nga [1]. Trong chuyên khảo về địa mạo, địa chất biển ở các nước Tây Âu, Hoa Kỳ, kiểu cửa sông như Cửa Đại được phân loại cửa sông tao đê chắn (bar built estuary) [2; 3].

Nhiều cửa sông ở Trung Bộ thuộc kiểu Liman với các đê chắn được hình thành do tích tụ trầm tích của dòng chảy ven bờ. Phía trong đê chắn là vũng cửa sông thường rộng và nông. Các đê chắn bịt kín cửa sông khi động lực biển chiếm ưu thế và bị xuyên thủng khi dòng chảy sông trở lên mạnh mẽ vào mùa lũ. Những chỗ đê chắn bị xuyên thủy gọi là ‘phá’ như trường hợp phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế.

Dòng chảy ven bờ (long shore drift) di chuyển cát từ bãi biển, bờ biển để tạo nên các đê chắn cửa sông (Hình 1). Tùy thuộc vào hướng gió thịnh hành mà các đê chắn có hình thái và mức độ phát triển khác nhau (Hình 2).

Hình 1. Dòng ven bờ di chuyển cát (trái); đê chắn hình thành tại các cửa sông (phải). Nguồn: internet
Hình 2. Đê chắn cửa sông Ba từ 2 phía (trái); đê chắn cửa sông Ray từ 1 phía kéo dài tới Lộc An (phải). Nguồn ảnh: Google Earth
  1. Giải đoán tư liệu viễn thám khu vực Cửa Đại

Giải đoán ảnh vệ tinh và ảnh hàng không theo thời gian là cơ sở đánh giá sự tồn tại hay phá hủy đê chắn cổ cũng như quá trình hình thành đê chắn trẻ.

1984 – 1989: ảnh 1984 (Hình 3) cho thấy Cửa Đại có hai đê chắn: Đê chắn Bắc (Đê Bắc) tiếp giáp bờ biển Hội An có dạng hơi vòng cung, dài 2,6 km, rông  trung bình 250 m; Đê chắn Nam (Đê Nam) dạng mũi cát gắn vào bờ biển Duy Hải, dài 600 m. Lạch nước sâu (cửa mở) chay giữa Đê Nam và đầu phía đông Đê Bắc, rộng khoảng 200 m. Năm 1989, phần giữa Đê Bắc nhô cao hơn, cửa mở rộng hơn (Hình 3).

Hình 3: Đê chắn Cửa Đại trên ảnh vệ tinh năm 1984 và 1989. Nguồn ảnh: Google Earth

Ảnh hàng không năm 1988 cho thấy rõ các dạng địa hình Cửa Đại gồm: Đê Bắc với phần phía tây bắc đang được dòng ven bờ bổ sung trầm tích. Bãi bồi Hội An và Đê Nam bồi tụ khá rõ. Cửa mở (cửa thoát) phân bố đầu phía đông nam của Đê Bắc (Hình 4).

Hình 4: Đê chắn Cửa Đại trên ảnh hàng không năm 1988

1990 – 1999: hình thái đê chắn cửa sông biến đổi nhanh (Hình 5). Trên ảnh 1991, Đê Bắc đã gắn vào bờ biển Hội An, duỗi thẳng, dài  2,0 km; phần phía đông Đê Bắc và mũi Đê Nam bị phá hủy, cửa thoát hướng về phía đông. Trên ảnh 1995, hình dạng Đê bắc và Nam như hai mỏ neo, xuất hiện một gờ ngầm cửa sông. Trên ảnh 1997, Đê Bắc nhập vào bãi bồi, Đê Nam biến mất; trên ảnh năm 1999, trầm tích cửa sông bị đẩy ra xa, biểu hiện bãi ngầm cách cửa sông khoảng 1,3 km.

Hình 5: Biến động đê chắn Cửa Đại thời đoạn 1990 -2009. Nguồn ảnh: Google Earth

2000 -2009: Đê chắn không còn tồn tại, cửa sông hình thành thùy trầm tích nhưng chưa rõ nét (ảnh 2009). Mũi cát Duy Hải biểu hiện bồi tụ về phía đông (Hình 6).

Hình 6: Đê chắn hoàn toàn biến mất, dòng chảy sông đẩy trầm tích ra xa. Nguồn ảnh: Google Earth

2010 – 2019:  hình dạng bãi bồi mũi Hội An và mũi Duy Hải biến đổi nhanh do xâm thực. Trầm tích Cửa Đại dạng thùy thấy rõ hơn trên ảnh 2015, 2017; đầu thùy xuất hiện đê ngầm. Cuối năm 2018, đê ngầm nổi lên tạo thành ‘đảo cát’ (Hình 7).

Hình 7: Đê ngầm Cửa Đại hình thành tại đầu thùy trầm tích; theo thời gian, đê ngầm phát triển và nhô trên mặt nước thành ‘đảo cát’. Nguồn ảnh: Google Earth
  1. Thảo luận

Đê chắn cổ: từ 1984 (có thể sớm hơn) đến 1989, gió đông bắc tạo dòng chảy ven bờ vận chuyển trầm tích về Cửa Đại hình thành Đê Bắc. Dòng ven bờ nam Cửa Đại yếu hơn chỉ hình thành đê chắn nhỏ dạng mũi cát. Hai đê chắn có tổng chiều dài hơn 3 km, bít gần kín Cửa Đại, tàu bè có lẽ chỉ di chuyển qua cửa mở khoảng 200 m (Hình 3, 4).

Phá hủy đê chắn cổ: Từ 1990 – 2009, dòng chảy sông mạnh hơn đã phá hủy hoàn toàn hai đê chắn. Trầm tích bị đẩy ra xa cửa sông (Hình 5, 6).

Hình thành đê chắn trẻ: từ 2010 đến 2017, một đê ngầm bao quanh đầu thùy trầm tích dần hình thành và ngày càng rõ nét. Năm 2018 một phần đê ngầm đã nhô lên mặt biển, tới đầu năm 2019 lộ thành ‘đảo cát’ với chiều dài khoảng 850 m, rộng 200 m (Hình 7).

Các hình 8, 9 và 10 cho thấy đê chắn trẻ phát triển khá nhanh. Khi nhô lên mặt biển, sóng tác động vào đê chắn tạo một dòng chảy ven bờ mới tiếp tục di chuyển trầm tích về phía nam. Cả phần nhô cao và phần ngầm đã định hình một đê chắn bọc quanh Cửa Đại rõ rệt (Hình 10).

Hình 8: Ảnh ngày 26/4/2017 cho thấy đê chắn ngầm phát triển nhanh, một vài diện tích đã nhô trên mặt biển (đốm trắng trong vòng tròn đỏ). Nguồn ảnh: Google Earth
Hình 9. Ảnh ngày 7/3/2018. Bãi bồi cửa sông tiếp tục bị phá, đê chắn nhô trên mặt biển tại đầu thùy trầm tích. Nguồn ảnh: Google Earth
Hình 10. Ảnh ngày 2/3/1019 cho thấy một đê chắn bao quanh Cửa Đại đã được định hình rõ nét. Các đốm trắng nhỏ bao quanh thùy trầm tích là biểu hiện tác động của sóng vào đê chắn. Nguồn ảnh: Google Earth

Như vậy việc phá hủy đê chắn cổ và hình thành đê chắn mới cách xa cửa sông cho thấy động lực dòng sông đã trở lên mạnh hơn. Dòng chảy sông mạnh hơn là do tác động nhân sinh như mất diện tích rừng đầu nguồn, dòng chảy mùa lũ cộng hưởng với việc xã lũ từ các nhà máy thủy điện.

Thời gian tới, đê chắn sẽ tiếp tục mở rộng và nhô cao. Đê chắn Cửa Đại sẽ tạo thành vòng cung dài khoảng 5 km, khi đó việc di chuyển tàu bè sẽ thật sự khó khăn. Đê chắn phát triển sẽ đẩy dòng chảy về bờ biển Duy Hải, gây xói lở bờ biển này.

  1. Giải pháp

Nghiên cứu xây dựng kè luồng để cố định Cửa Đại. Kè luồng sẽ tạo điều kiện cho tàu bè qua cửa sông dễ dàng, đồng thời ngăn chặn sự phát triển đê chắn lấn về phía nam.

Tiến hành xây dựng một số mỏ hàn dọc bờ biển Hội An (bờ biển phía bắc Cửa Đại) để hạn chế sự phá hủy của sóng vào bờ biển và sự di chuyển cát của dòng chảy ven bờ.

  1. Kết luận

Khoảng 40 năm trước, Cửa Đại đã từng có hai đê chắn. Sự gia tăng động lực dòng chảy sông do hoạt động của con người từ những năm 1990 trở lại đây đã phá hủy hai đê chắn này để hình thành một đê chắn trẻ cách xa cửa sông hơn. Do được bổ sung bởi một lượng trầm tích đáng kể từ dòng ven bờ, đê chắn trẻ phát triển nhanh chóng trở thành ‘đảo cát’ ngày càng nhô cao và mở rộng.

Đê chắn cổ và trẻ phản ảnh sự tương tác sông biển vùng cửa sông Liman hay cửa sông tạo đê chắn, là loại cửa sông khá phổ biến trên thế giới. Có thể nói vị trí hình thành đê chắn trẻ phản ánh sự cân bằng động lực sông biển hiện nay ở Cửa Đại.

Xây dựng kè luồng Cửa Đại và một số mỏ hàn bờ biển Hội An là cách tốt nhất để tàu bè qua cửa sông thuận tiện, đồng thời giảm thiểu xói lở bờ biển. Kè luồng được xây dựng sẽ trở thành một điểm mới thu hút khách du lịch đến thăm quan, tìm hiểu sự tiến hóa Liman Cửa Đại và lịch sử đô thị cổ Hội An ở cửa sông này.

Tài liệu tham khảo

[1]. Liman (landform): https://www.revolvy.com/main/index.php?s=Liman%20(landform)&item_type=topic

[2]. Estuaries. https://www.niwa.co.nz/education-and-training/schools/students/estuaries

[3]. Robin Davidson-Arnott. 2010. An Introduction to Coastal Processes and Geomorphology. Cambridge University Press.

Ý kiến trái chiều về dự án lấn sông xây biệt thự ở Đà Nẵng

“Điều này trái ngược với xu thế hiện nay trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đó là chuyển từ khống chế dòng chảy theo ý muốn của con người sang dành không gian cho sông (rooms for rivers), dành không gian cho giao tiếp giữa con Người với Thiên nhiên”. (1)

Chuyên gia lo ngại việc Đà Nẵng cho triển khai các dự án bất động sản bằng việc đổ đất đá xuống sông Hàn sẽ gây ách tắc dòng chảy.

Những ngày này người dân Đà Nẵng đi qua cầu Thuận Phước nhìn sang sẽ thấy ở cửa sông khu đất nhô hẳn ra mặt nước, đã được làm bờ kè bê tông kiên cố dài 731 m. Đây là diện tích thuộc dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng. Cạnh đó là một dự án khác cũng nằm ở bờ Đông sông Hàn (quận Sơn Trà).

Hai dự án này đều đã được thành phố cấp phép cho xây dựng khu biệt thự nghỉ dưỡng, căn hộ cao cấp, toà nhà cao tầng (phía đường Trần Hưng Đạo và Lê Văn Duyệt).

Năm năm trước

Khu vực dự án bất động sản và bến du thuyền sau 5 năm. Ảnh: Nguyễn Đông

Dự án bất động sản và bến du thuyền Đà Nẵng được phê duyệt từ năm 2009 và 10 năm qua đã nhiều lần điều chỉnh quy hoạch. Cụ thể, năm 2017, thành phố điều chỉnh quy hoạch theo hướng giảm diện tích từ hơn 17 ha xuống còn gần 12 ha, trong đó giữ nguyên diện tích đất và giảm diện tích mặt nước từ trên 6 ha xuống một ha.

Ngoài ra, khu vực bờ sông điều chỉnh từ 13 khối tháp cao tầng còn hai khối tháp (từ 16 – 33 tầng) và 57 căn biệt thự; duy trì lối đi công cộng ven sông rộng 8 m.

Từ năm 2016, người dân Đà Nẵng đã gửi phản ánh trên hệ thống chính quyền điện tử thành phố, với lo lắng dự án đổ đất lấn sông ở vị trí cửa sông Hàn sẽ gây ảnh hưởng đến dòng chảy, đặc biệt là mùa mưa lũ. Sở Xây dựng sau đó có văn bản trả lời, khẳng định không ảnh hưởng.

Theo Sở này, trước khi đồng ý cho nhà đầu tư xây dựng bờ kè và làm dự án, thành phố đã khảo sát điều kiện địa chất, nghiên cứu dòng chảy và lấy ý kiến các đơn vị liên quan. Việc làm tuyến đê, kè này nhằm mục đích “đảm bảo an toàn cho khoảng 500.000 người dân tại các khu đô thị Mân Quang, khu dân cư làng cá Nại Hiên Đông, chống sạt lở bờ sông, bảo vệ các công trình kiến trúc…”.

Ông Thái Ngọc Trung – Phó Giám đốc Sở Xây dựng cũng nhấn mạnh hai khu đất trên “không phải là dự án lấn sông”.

“Bờ kè quy hoạch từ năm 2008, còn các dự án được cấp phép sau. Chủ đầu tư đổ đất trên diện tích quy hoạch bờ kè nên không phải là lấn sông”, ông Trung cho biết.

Chuyên gia thuỷ lợi Huỳnh Vạn Thắng – nguyên Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đà Nẵng cho biết, ông là người trực tiếp thẩm định dự án bất động sản và bến du thuyền và đưa ra ý kiến tham mưu cho thành phố triển khai.

Lý giải việc dự án không ảnh hưởng đến dòng chảy sông Hàn, ông Thắng nói từ thời Pháp thuộc đã cho xây dựng một bờ kè dẫn dòng từ sông Hàn ra đến cảng Tiên Sa (dưới bán đảo Sơn Trà), nhờ đó dòng sông không bị bồi lấp hay thay đổi dòng chảy trong hơn 100 năm qua.

“Dự án đang triển khai nằm trong tuyến đê kè phía trong giúp chống sạt lở bờ sông, không lấn ra lòng sông vì không vượt qua bờ kè dẫn dòng thời Pháp, nghĩa là không cản trở dòng chảy. Ở đây có chăng vấn đề là mất mỹ quan nơi cửa sông”, ông Thắng nói.

KTS Hồ Duy Diệm nêu quan điểm “Đà Nẵng nên dừng dự án ở cửa sông”. Ảnh: Nguyễn Đông.

Nhiều chuyên gia đã phản bác lại lập luận của ông Thắng và Sở Xây dựng. “Dự án rõ ràng đã thu hẹp dòng chảy tự nhiên của sông Hàn, gây ra xung đột khi nước từ thượng nguồn thoát ra biển”, KTS Hồ Duy Diệm – Chủ tịch Hội bảo vệ lưu vực và dải biển Việt Nam nói.

Theo chuyên gia này, lòng sông Hàn bị nhồi đất và các trụ kè bê tông cứng thì sau này sẽ xảy ra hệ lụy; khi hai bên bờ bê tông hóa dĩ nhiên lòng sông sẽ bị bào sâu lớp cát để nước kịp chảy; nếu nước không thoát kịp thì gây ngập úng. Hơn nữa, theo thời gian, đoạn cửa sông bị thắt lại, nước sẽ khoét sâu đáy hai bên bờ khiến bờ có thể đổ sập.

“Sở và các đơn vị đã tham mưu cho thành phố cấp phép, dĩ nhiên họ khẳng định là đúng. Nhưng ngay khi dự án chưa triển khai, dư luận phản ứng thì thành phố nên cho tạm dừng để tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia. Tôi đề nghị dừng dự án và hoàn trả lại nguyên trạng cho dòng sông”, ông Diệm nói thêm.

PGS, TS Vũ Trọng Hồng – nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội Thuỷ lợi Việt Nam cho rằng, chính quyền Đà Nẵng không nên để doanh nghiệp đổ đất xuống sông Hàn làm dự án bất động sản, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu rõ rệt như hiện nay.

“Trên thế giới không ai đi lấn sông cả, trong khi đó sông Hàn lại rất nhỏ”, ông Hồng nói và cho rằng dòng sông hình thành từ tự nhiên, trải qua những trận mưa, lũ từ thượng nguồn đổ về xói dần và tạo thành dòng ổn định. Do đó phải giữ đủ diện tích để tiêu nước mưa và thoát lũ. Nếu lấn sông sẽ gây ra ngập úng, chưa kể còn ảnh hưởng đến tiêu nước ngầm.

Hai dự án ven sông đang đồng loạt triển khai hạ tầng trước khi xây dựng nhà cửa. Ảnh: Nguyễn Đông.

TS Hồng đề xuất Đà Nẵng giao cơ quan chuyên môn tính toán, với lượng nước mưa dự báo trong bao nhiêu năm thì dòng sông có thể dâng nước lên bờ và gây ngập. Nhiều nước ở châu Phi và Nhật Bản đã gặp tình cảnh khi lũ tràn lên thì dân chạy không kịp. Trong khi đó mật độ dân cư ven sông Hàn đang ngày càng đông lên.

Vẫn theo ông Vũ Trọng Hồng, ngành nông nghiệp Đà Nẵng dựa vào những số liệu trước đây để tham mưu cho thành phố cấp phép dự án cũng cần phải xem lại. Vì đang trong thời kỳ biến đổi khí hậu nên tất cả những số liệu cũ không còn phù hợp nữa.

“Các nước đang chung tay chống biến đổi khí hậu. Đà Nẵng lại cho đổ đất đá xuống sông, rồi xây dựng bê tông hóa là không nên. Sông Hàn cần được mở rộng ra nữa mới giúp tiêu nước cho khu đô thị trong tương lai, chứ không nên lấn và không được lấn”, ông Hồng nhấn mạnh.

Nguyễn Đông

Nguồn: https://vnexpress.net/thoi-su/y-kien-trai-chieu-ve-du-an-lan-song-xay-biet-thu-o-da-nang-3910750.html

(1) Trích từ “Dự án Cái Lớn-Cái Bé: Lý do không thế phê duyệt của GS. TSKH, Nguyễn Ngọc Trân; Nguồn: https://www.thiennhien.net/2018/09/14/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet/

 

Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu

Giữa tháng 3, cô Phương Chi mời đi đảo Phú Quí để tìm hiểu những giá trị địa chất – địa mạo phục vụ cho luận án sắp tới. Phương Chi thông báo có Quế Nam (mới bảo vệ luận văn thạc sỹ) và bạn Ngọc Nhiên làm khóa luận về địa du lịch cùng đi; vậy thì đi thôi.

Từ năm 1995 khi tham gia lập bản đồ địa chất Bình Thuận đã rất muốn ra đảo Phú Quí, những năm gần đây khi nghiên cứu về di sản địa chất, địa mạo phục vụ bảo tồn giá trị tự nhiên và phát triển du lịch lại thôi thúc người viết bài này ra đảo.

1.Hành trình tới đảo

14:00 ngày 03/04 bốn thày trò trên xe du lịch The Sing Tourist tại 273 Đề Thám bắt đầu hành trình. 18:30 đến Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Đường Hiền Vương. Homestay nhỏ, bài trí đơn giản nhưng mọi người đều cảm nhận được sự thân thiện: một sơ đồ kiểu mindmap giới thiệu các điểm du lịch, một không gian nhỏ gắn ảnh các du khách để lại, một kệ sách nhỏ, một bàn ăn nhỏ, mấy ghế đu và võng, mấy chậu hoa. Đêm đó, những trận mưa đầu mùa làm cho Phan Thiết có vẻ dịu hơn.

Homestay Cô Tư tại 160 Hiền Vương, Phan Thiết
Homestay Cô Tư Phan Thiết tại 160 Hiền Vương
Một góc Homestay Cô Tư Phan Thiết

Sáng 04/04 cô My (chủ quán) gọi xe đưa bốn thày trò ra bến tàu. Tàu Superdong mới hoạt động, thời gian đi Phú Quí là 2,5 giờ, giá vé 350.000 đ/người, vé cho người cao tuối (trên 60) là 295.999 đ, lần đầu tiên trong đời được giảm vé. Tàu khởi hành lúc 9:30, đến bến tàu đảo Phú Quí lúc 12:00. Giỏi ‘Phú Quí’ và Sang đã chờ nhóm ở bến tàu. Đưa 2 xe máy cho thày trò, Sang dẫn mọi người về Homestay Chú Tư nghỉ vì Homestay Cô Sang (mẹ Giỏi) nơi mà nhóm đặt trước chưa bố trí được chỗ do du khách muốn ở lại thêm trên đảo.

2. Khảo sát

15:00 chiều 04/04 điểm khảo sát đầu tiên là Núi Cấm, chùa Linh Bửu, đuốc Bác Hồ và Hải đăng cao 18 m. từ Hải Đăng có thể quan sát, chụp ảnh núi Cao Cát phía đông, địa hình phía nam đảo, các thôn thuộc xã Ngũ Phụng phía tây nam, bờ biển tây và bờ biển bắc. Điểm khảo sát thứ hai là bờ biển mũi Bà Giàng, bờ biển Mũi Mom và ngắm hoàng hôn từ Mũi Mom.

Đảo xanh Phú Quí nhìn từ Đèn biển trên Núi Cấm. Tại đây có thể thấy đảo Hòn Tranh ở phía nam

7:00 ngày 05/05 khảo sát núi Cao Cát, chùa Linh Sơn. Tại đây hướng dẫn các bạn quan sát địa hình, địa mạo, đo thế nằm các lớp trầm tích núi lửa. Tại đỉnh núi Cao Cát (cao 89 m) có thể quan sát bờ biển phía đông với mũi Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ có dạng vòng cung, địa hình phía nam đảo, núi Cấm phía Tây.

Lên chùa Linh Sơn trên núi Cao Cát

Buổi trưa ra nhà bè ở Lạch Dù thưởng thưc mấy món hải sản tươi sống. 14:30 sang đảo nhỏ Hòn Tranh. Các điểm khảo sát gồm Vũng Phật, bãi Nam, hang Đú. 17:00 về lại đảo lớn và chạy đến bờ kè Ngũ Phụng đón hoàng hôn.

Ngày 06/04 khảo sát các đồi cát đỏ đường Lý Thường kiệt, đồi bazan đường Ngô Quyền, Đường hầm xẻ đôi, gành Hang, cột cờ Phú Quí, dốc Phượt, đồi Ông Đụn. Nhiều cấu trúc địa chất đẹp, quan hệ địa tầng xuất lộ như đơn nghiêng của trầm tích núi lửa, bazan lỗ rỗng xen bazan đặc xít, mặt cắt vỏ phong hóa trên bazan… địa mạo cũng khá đa dạng: vách biển, thềm biển, mũi nhô, bãi cát…

Buổi chiều thăm quan Vạn An Thạnh, chùa Linh Quang, đền thờ công chúa Bàn Tranh và ra đón hoàng hôn tại bờ biển Long Hải.

Chuẩn bị đón hoàng hôn
Hoàng hôn trên biển Long Hải

3. Vài nét về tài nguyên địa chất – địa mạo

Núi Cấm cao 108 m là núi lửa kiểu vòm, lộ bazan màu xám đen đặc xít, vỏ phong hóa trên bazan kết tảng, rắn chắc, những khối lăn kích thước tới 1 m3. Hai khối laterit đặt tại cổng chùa Linh Bửu là laterit trên đá bazan Núi Cấm.

Cảnh quan Núi Cấm nhìn từ núi Cao Cát

Núi Cao Cát cao 89 m, quan sát hình thái tại thực địa, thế nằm các lớp cát kết tuf, bột kết tuf, dăm sạn chứa nhiều mảnh và khối đá bazan cho thấy đây là cấu trúc phun nổ. Giới hạn núi lửa là chân phía tây nam núi Cao Cát và một đường gờ dạng vòng cung từ Doi Thày qua Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ đến mũi Long Hải ở phía đông.

Phía sau Phương Chi là di tích vòng cung núi lửa Doi thày – Hòn Đen – Hòn Giữa – Hòn Đỏ
Đo thế nằm các trầm tích núi lửa trên đỉnh núi Cao Cát

Gò Gành Hang cao 45 m, hình thái và thế nằm các lớp đá cho phép dự đoán đây là núi lửa kiểu trung tâm. Khoảng hơn nửa khối lượng phía đông núi lửa bị biển xâm thực tạo nên các dạng địa hình bờ biển ấn tượng như các gành đá, thềm biển, vách biển, bãi cát…

Các lớp cát kết tuf và bazan lỗ rỗng tại Gành Hang

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Bề mặt cát đỏ cao 30 – 40 m phân bố khá rộng ở trung tâm đảo, thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt mịn, gắn kết yếu. Nhìn chung màu sắc, thành phần và cấp hạt khá giống với cát đỏ Phan Thiết.

Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí
Cát đỏ Phan Thiết trên đảo Phú Quí

Các bãi biển cát trắng mịn

Bãi cát vịnh Triều Dương, bãi Nhỏ và bãi Nam (đảo Hòn Tranh) đều là những bãi tắm đẹp, hoang sơ, cát trắng mịn ven chân vách đá núi lửa và chìm dần xuống nước biển trong xanh.

Đi bè xốp từ tàu vào bãi Nam đảo Hòn Tranh

Đa dạng địa hình bờ biển xâm thực

Sự phá hủy của sóng biển vào nền đá bazan dòng chảy, đá vụn núi lửa hay đá cát kết đã tạo nên sự đa dạng địa hình bờ biển xâm thực. Vô số dạng địa hình được đặt tên dựa vào hình dạng như: mũi Gò Cao, bàu Mực Khô (tảng đá giống con mực khô), mũi Xương Cá, gò Móng Tay; dựa vào màu sắc như: mũi Đá Đen, bãi đá bàn Than, bàu đá Đỏ; đặt theo tên người như mũi Doi Thày, mũi Bà Giàng, bàu Ông Giao, hay đặt tên theo truyền thuyết như Vũng Phật.

Vũng Phật phía nam đảo Hòn Tranh

4. Người dân đảo

Những người dân mà chúng tôi gặp đều rất thân thiện, luôn sẵn sàng và nhiệt tình trao đổi những thông tin mà nhóm quan tâm.

Giỏi ‘Phú Quí’ và các bạn trẻ làm du lịch

Giỏi ‘Phú Quí’ tận tình chỉ dẫn những điểm du lịch hấp dẫn trên đảo mà nhóm cần khảo sát, cung cấp số điện thoại những nhân vật am hiểu về danh thắng và lịch sử để nhóm tìm gặp. Sang (chủ homestay Chú Tư) chỉ dẫn cho nhóm đường đi, những nơi thưởng thức món ăn như nhà Bè ở Rạch Dù, quán Ông Già, các quán ăn sáng ở đường Võ Văn Kiệt. Huấn và My dẫn nhóm qua Hòn Tranh thăm quan Vũng Phật, Hang Đú và bãi Nam. Giỏi, Sang, Huấn, My thuộc nhóm tám bạn trẻ làm du lịch đảo Phú Quí.

Giỏi ‘Phú Quí’ đang trao đổi với nhóm về các vị trí khảo sát

Bác Trần Trọng

Qua số điện thoại ghi ở công chùa, chúng tôi liên hệ để gặp bác Trần Trọng quản lý Vạn An Thạnh. Chỉ sau 10 phút bác đã đến mở cửa bảo tàng, giới thiệu cặn kẽ về bộ xương cá nhà táng (thuộc họ cá voi) có chiều dài trên 17 m. Bác Trọng cũng cho biết, đầu năm 2016, Ban quản lý khu di tích lịch sử Vạn An Thạnh đã tiếp nhận một ông Lụy (cá voi chết – cách gọi trang trọng trong tín ngưỡng ngư dân) lớn hơn cá voi ở bảo tàng do ngư dân Bình Định lai dắt từ vùng biển phía nam đảo Phú Quí. Nghi thức an táng ông Lụy đã được tiến hành tại vịnh Triều Dương.

Bác Trọng giới thiệu về Vạn An Thạnh

Bác Đỗ Kim Long

Qua Giỏi ‘Phú Quí’ chúng tôi có số điện thoại của bác Đỗ Kim Long quản lý chùa Linh Quang, bác chính là tác giả bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí viết trên phiến đá bazan đặt tại cổng Chùa. Tấm bản đồ mà nhóm mang theo được trải trên nền sân chùa, từng vị trí trên đảo Phú Quí, nhất là đảo nhỏ Hòn Tranh được bác chỉ dẫn chi tiết. Bác Long cũng lược kể về lịch sử Chùa Linh Quang, về một vụ cháy lớn làm hư hại các pho tượng lúc chùa còn là nhà tranh, về câu chuyện Vũng Phật. Có nhiều công việc phải giải quyết nhưng bác Long vẫn dành gần 2 giờ để chỉ cho chúng tôi về Phú Quí.

Bài thơ mô tả cảnh đẹp đảo Phú Quí. Từ bài thơ này nhóm tìm gặp bác Đỗ Kim Long (tác giả bải thơ) để xác định các địa danh trên bản đồ
Bác Đỗ Kim Long trao đổi với nhóm về các địa danh trên đảo Phú Quí

Vũng Phật, một vũng nhỏ khoét vào vách đá vụn núi lửa ở tây nam Hòn Tranh. Người dân Phú Quý nói rằng, khi chùa Linh Quang bị cháy, tượng phật bị thiêu rụi; tại vũng này có một linh thạch dáng phật nổi lên vào những ngày trời xanh, biển lặng. Ngư dân đã thỉnh tượng phật về đặt tại chùa Linh Quang để thờ cúng. Kể từ đó đảo Phú Quí thanh bình, dân đảo an lành. Vũng Phật đến giờ vẫn là chỗ dựa tinh thần của ngư dân khi ra khơi đánh bắt cá, tôm.

Bác Năm Quang

Khảo sát khu vực Gành Hang xong, chúng tôi ghé quán nước bác Năm Quang ở lối vào cột cờ Phú Quí. Các hũ rượu ngâm dứa tươi màu nâu thẫm rất bắt mắt, thế là câu chuyện về các cây thuốc trên đảo được bác Năm Quang say sưa kể: rượu dứa trị sỏi thận, hạn chế bệnh tiểu đường; cây ngũ trảo (từ bi) trị bệnh phong, đau nhức; cây chân âm có tác dụng điều hòa máu cho sản phụ; cây rau lẻ (hải sâm) trị bệnh phát ban, nấu canh. Bác năm Quang kể thời trẻ thường đi lấy cây thuốc cho mọi người, đó là việc làm từ thiện mà bác yêu thích.

Hỏi bác Năm Quang về những cây làm thuốc trên đảo Phú Quí

5. Trở về

Ba ngày trên đảo trôi qua thật nhanh, lộ trình và khối lượng đặt ra cho chuyến đi về cơ bản hoàn thành, nhưng để hiểu biết về tự nhiên, văn hóa/lịch sử của hòn đảo này cần thời gian hàng tháng, hàng năm.

Tiếc nhất trong chuyến đi tới đảo lần này là không đón được bình minh ở Gành Hang do không đặt được chỗ khách sạn tại Vịnh Triều Dương.

6:30 ngày 07, trả hai xe máy, Giỏi ‘Phú Quí’ nói mọi người cứ để xe (cả chìa khóa xe) tại bến tàu.

7:00 về Phan Thiết trên tàu Hưng Phát, tàu cũ hơn, chạy chậm hơn, trên 60 tuổi lại không được giảm vé (hình như trên 70 mới được xem là người cao tuổi). Nhưng đi tàu Hưng Phát được ngồi trên mui để ngắm biển, trời bao là và đảo Phú Quí từ khơi xa.

11:00 tàu tới cảng Phan Thiết, ăn trưa tại cảng. 12:00 lên tàu hỏa để trở về Sài Gòn – kết thúc một chuyến đi đẹp đến Phú Quí – Hòn đảo hoang sơ, con người hiền hậu.

H & H

 

 

 

Đặc thù địa học trong các công viên địa chất quốc gia dự kiến thuộc dải ven biển Nam Trung Bộ

Nguyễn Thị Quế Nam, Hà Quang Hải

Ba CVĐC cấp quốc gia dự kiến thuộc dải ven biển Nam Trung Bộ đều là những khu vực có đặc thù về địa học: 1) CVĐC Đảo núi lửa Lý Sơn được cấu thành từ những vật liệu núi lửa chủ yếu phun nổ vào Holocen muộn. 2) CVĐC Bờ biển Phú Yên có sự đa dạng về địa chất và địa mạo với sự hiện diện của đá cổ nhất từ Tiền Cambri (Precambri) cách ngày nay khoảng trên 570 triệu năm. 3) CVĐC Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận có sự đa dạng về địa hình tạo bởi cát nổi bật bởi cao nguyên cát đỏ hùng vĩ được giới hạn phía đông là bờ biển đá và những cung bờ tuyệt đẹp được định hình bởi các mũi nhô đá granit.

1. Công viên Địa chất Đảo núi lửa Lý Sơn

Lý Sơn gồm gồm 2 đảo là Cù Lao Ré (xã An Hải, xã An Vĩnh) và Cù Lao Bờ Bãi (xã An Bình). Địa mạo đặc trưng của đảo núi lửa Lý Sơn thể hiện rõ nét như sau:

– Đảo có các nón núi lửa phun nổ (trong đó núi lửa Hang Câu – chùa Hang và Thới Lới có cùng họng phun). Các nón núi lửa có hình dạng khá nguyên vẹn, nhô cao trên đảo phổ biến có miệng dạng trũng.

– Bazan dòng chảy hình thành lớp phủ thấp dưới chân các nón núi lửa.

– Trầm tích biển chủ yếu là cát kết san hô, đá rạn san hô phân bố xung quanh đảo bị ngập triều thường xuyên.

– Sự phá hủy của sóng biển vào sườn núi lửa và lớp phủ bazan đã hình thành các dạng địa hình lý thú ven đảo như: vách biển, hang biển, bờ biển đá, tháp đá…, trong đó hấp dẫn nhất là vách biển Hang Câu – Chùa Hang, nơi để lộ mặt cắt cấu trúc núi lửa và quan hệ địa tầng giữa đá vụn núi lửa phủ trên các lớp cát kết san hô.

1.1.1 Các nón núi lửa giữa biển khơi

Trên Cù lao Ré có 6 nón núi lửa nội đảo và 5 biểu hiện dưới biển, trong đó núi Thới Lới chồng trên Hang Câu – Chùa Hang là núi lửa hai tầng. Đây là núi lửa lớn nhất đảo với độ cao 175 m. Hình thái và cấu trúc phân lớp núi lửa này có thể nhận dạng dễ dàng bằng việc giải đoán ảnh vệ tinh. Các lớp cấu tạo núi lửa Hang Câu-Chùa Hang cắm thoải, trong khi đó các lớp cấu tạo núi Thới Lới dốc hơn cắm trên vành miệng núi Hang Câu – Chùa Hang.

Núi lửa Thới Lới chồng lên núi Hang Câu – Chùa Hang. Nguồn: Fly Cam của Minh Hoàng, Bùi Trung

1.1.2 Vách biển Hang Câu – Chùa Hang

Vách biển hiện đại Hang Câu – Chùa Hang cao 20 – 40 m dài 1250 m để lộ cấu trúc núi lửa cực kỳ ấn tượng. Đi dọc theo vách biển này quan sát rất rõ các trầm tích gồm sạn kết tuf, cát kết tuf, bột kết tuf phân lớp, phân dải, lượn sóng chứa các mảnh đá, khối đá bazan kích thước từ 1 – 2 cm đến 1,0 m.

Cấu trúc trầm tích núi lửa phun nổ tại Hang Câu

1.1.3 Cát trắng san hô

Các bãi cát nhỏ nhỏ, hẹp phân bố rải rác bờ bắc cù lao Ré, bờ tây và nam cù lao Bờ Bãi hoặc tích tụ trong các hố, trũng trên bãi biển mài mòn đều là cát san hô, ít hơn là các mảnh vụn sinh vật biển khác (sò, ốc). Các bãi cát trắng thường có sự thay đổi hình dạng theo mùa phụ thuộc vào chế độ sóng biển. Cát trắng – cát san hô là nguồn vật liệu quan trọng trong canh tác tỏi, hành ở Lý Sơn.

1.1.4 Đa dạng địa hình bờ biển

Các quá trình phong hóa, bóc mòn và tác động của sóng biển vào cấu trúc núi lửa đã tạo nên sự nhiều dạng địa hình có hình thù độc đáo như: nấm đá, tháp đá, hang biển; cầu đá, bãi biển dạng túi. Một số dạng địa hình tạo nên cảnh biểm hấp dẫn lượng lớn du khách đến Lý Sơn thăm quan hàng năm như Cổng Tò Vò ở cù lao Ré.

2. Công viên địa chất Bờ biển Phú Yên

Dải bờ biển Phú Yên dài 180 km bắt đầu từ Vũng Rô – Đèo Cả (huyện Đông Hòa) đến đầm Cù Mông (thị xã Sông Cầu), đi qua 4 huyện và thành phố đó là huyện Đông Hòa, thành phố Tuy Hòa, huyện Tuy An và thị xã Sông Cầu.

Sự đa dạng về cấu trúc địa chất, thạch học, địa hình, địa mạo đã tạo cho vùng ven biển Phú Yên nhiều cảnh quan hấp dẫn. Đây là nơi hội tụ của các đới kiến tạo, có lịch sử  phát triển từ tiền Cambri đến nay. Cùng với sự tham gia của hầu hết các quá trình địa chất như magma (xâm nhập, phun trào), biến chất; trầm tích (sông, hồ, biển, gió); các hoạt động kiến tạo như nén ép, tách giãn với các hệ thống đứt gãy, khe nứt theo nhiều phương khác nhau kết hợp với sự chạm khắc của quá trình ngoại sinh (phong hóa, bóc mòn, mài mòn, vận chuyển vật liêu sông suối, biển gió, …) để lộ ra sự đa dạng của các hệ tầng tạo nên tính đặc thù của cảnh quan và địa hình khu vực. Một số thắng cảnh nổi tiếng được công nhận như đầm Ô Loan, gành Đá Dĩa, vịnh Xuân Đài.

2.1 Đa dạng địa chất

Nổi bật là sự đa dạng các loại đá – sản phẩm của các quá trình địa chất với sự hiện diện 6 phân vị hệ tầng trầm tích – phun trào, 7 phức hệ đá magma xâm nhập. Các đá biến chất cổ hiện diện như hệ tầng Tắc Pỏ (Tiền Cambri), hệ tầng Phong Hanh (Ordovic). Trẻ nhất là các trầm tích Holocen có nhiều nguồn gốc khác nhau như sông, biển, đầm lầy, vũng vịnh và gió.

Địa tầng và các kiểu đá chính dọc bờ biển Phú Yên
Bazan cột Gành đá Dĩa. Ảnh: Huỳnh Lê Viễn Duy

Sự xuất lộ các cấu trúc địa chất có giá trị khoa học cũng đã được ghi nhận dọc ven biển Phú Yên, như:

– Các cột đá bazan trụ uốn cong xuống mặt biển.

– Quan hệ địa tầng: basalt Xuân Hòa phủ trên các trầm tích phân lớp mỏng, nằm ngang thuộc hệ tầng Kon Tum.

– Ranh giới giữa đá xâm nhập granit biotit thuộc phức hệ Đèo Cả 3 và basalt Xuân Hòa.

Cột đá bazan uốn cong tại Gành đá Dĩa

2.2 Đa dạng địa hình, địa mạo

Sự đa dạng địa hình, địa mạo dải bờ biển Phú Yên do tác động của sông, biển, phong hóa và quá trình sườn cắt xẻ vào các đá móng có thành phần khác nhau. Trên quy mô lớn, dải bờ biển Phú Yên bao gồm các cảnh quan địa mạo: 1) Cảnh quan Đèo Cả nơi có núi Đá Bia – một địa danh nổi tiếng; 2) Đồng bằng Tuy Hòa nơi có cửa sông Đà Diễn; 3) Bờ biển Phú Yên với những cảnh đẹp như Vịnh Xuân Đài, Gành Dĩa, Đầm Ô Loan… Các dạng địa hình mài mòn, xâm thực phổ biến là các vách biển (cliff), khối đá sót mũi nhô (stack), nền mài mòn (platform), hang biển. Các dạng địa hình tích tụ cũng khá đa dạng bao gồm các đê cát chắn cửa sông, cửa đầm, vũng, vịnh, các đê cát nối đảo (tombolos), các mũi cát, bãi biển cuội, bãi biển cát.

3. Công viên địa chất Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận

Dải bờ biển Ninh Thuận dài 105 km, với rất nhiều kiểu địa mạo đa dạng: vũng, vịnh, bờ đá, mũi nhô, bờ san hô cổ, đụn cát di động, đầm phá, đảo đá ven bờ. Trong đó, có thể kể đến một số geosite đặc trưng như: vịnh Vĩnh Hy, Hòn Đỏ, đồi cát Nam Cương, mũi Dinh.

Bình Thuận có đường bờ biển dài hơn 150 km có nhiều geosite mang giá trị khoa học và giá trị bổ sung cao. Đó là các mũi nhô đá xâm nhập, phun trào; các vịnh biển, bãi biển, thềm biển, vách biển do hoạt động mài mòn và tích tụ và cao nguyên cát đỏ rộng lớn, các đụn cát hiện đại do gió. Các geosite đặc trưng có thể kể đến là Suối Tiên, mũi Kê Gà và bãi đá Cổ Thạch, Gành Son.

3.1 Cao nguyên cát Đỏ Phan Thiết

Địa hình nổi bật dải ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận là Cao nguyên Cát đỏ, phân bố chủ yếu từ Phan Rang đến Hàm Thuận Nam. Một khối lượng cát màu đỏ ước tính 20 tỉ m3, phân bố trên diện tích khoảng 830 km2, nơi cao nhất ở bắc thành phố Phan Thiết tới 160 m so với mực nước biển. Cao nguyên Cát đỏ – một thực thể địa chất – địa mạo đới bờ kỳ vĩ, gây ấn tượng mạnh với mọi du khách mỗi khi đặt chân đến. Cao nguyên cát đỏ cũng là một phân vị địa tầng phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của các nhà địa chất trong và ngoài nước khoảng 100 năm qua.

Bề mặt cao nguyên Cát đỏ tại Hòa Thắng

Cao nguyên Cát đỏ phân bố thành ba khu vực chính: 1) Nam Phan Rang, 2) Bắc Phan Thiết và 3) Nam Phan Thiết. Lớn nhất là khu vực Bắc Phan Thiết có diện tích gần 600 km2, có vách phía đông xâm thực cao 20 – 40 m lộ cát đỏ đậm.

Chạm khắc trên cao nguyên cát đỏ là các cồn cát đỏ tái tạo, cồn cát trắng liên tục được gió tạo dáng. Diện mạo những đồi cát bay lớn như ở Nam Cương, Ninh Thuận, Đồi Hồng, Bàu Trắng (Bình Thuận) thường xuyên thay đổi.

Một không gian cát mênh mông ở Hòa Thắng với những đồi cát vàng, cát trắng được gió biển vun cao dưới nắng cháy chẳng khác gì một sa mạc. Vậy mà trecking qua sa mạc nóng bỏng đã trở thành mơ ước của nhiều người.

Chinh phục sa mạc Hòa Thắng. Ảnh: Trần Đặng Đăng Khoa

Dưới cát đỏ là cát xám trắng, sự xói mòn của biển và xâm thực của sông suối để lộ ra sự tương phản về màu sắc, thành phần vật chất và tuổi thành tạo được xem là những di sản địa chất, địa mạo có giá trị trong việc tìm hiểu điều kiện cổ địa lý của cao nguyên cát đỏ. Thung lũng Suối Tiên là một trong những di sản như vậy. Tại đây lộ một quan hệ địa chất đẹp-cát đỏ phủ bất chỉnh hợp trên cát trắng xám. Kết quả phân tích nhiệt phát quang cho thấy cát đỏ có tuổi 85000 ± 9000 năm hình thành vào giai đoạn biển tiến pleistocen muộn (MIS -5) trong khi cát trắng xám có tuổi > 204000 năm được hình thành trong giai đoạn biển tiến Pleistocen giữa (MIS – 7). Cát trắng xám giàu CaCO3 tạo địa hình giả kast dọc theo vách suối – một dạng địa hình hấp du khách.

3.2 Mũi đá, bờ biển đá và các cung bờ biển cát, bờ biển cuội

Dọc bờ biển Ninh Thuận – Bình Thuận, những dạng dạng địa hình đặc trưng khác đó là mũi đá, bờ biển đá và cung bờ biển.

Các mũi đá granit nhô ra biển như những mỏ hàn tự nhiên bảo vệ bờ biển. Tác động xâm thực của sóng biển vào hệ thống khe nứt dầy đặc chia cắt nền đá granit hình thành một phức hợp cột đủ hình dạng, kích thước, thế nằm (ngang, xiên, thẳng đứng). Một số mũi đá đã là những điểm đến nổi tiếng như Kê Gà, La Gàn, Cổ Thạch.

Bờ biển đá: tác động của sóng biển vào đá granit ở khu vực Vịnh Vĩnh Hy (Ninh Thuận) cũng tạo nên những dạng địa hình bờ biển đá mà ít thấy ở nhưng nơi khác như: các vách dốc đứng theo đường đứt gẫy như  Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và Thái An –  mũi Thị (dài 6,3 km) theo phương kinh tuyến.

Một số dạng địa hình dọc theo bờ biển đá từ Vĩnh Hy đến Láng Chổi là những hình mẫu trực quan giải thích những hiện tượng địa chất đặc biệt lý thú như sự hình thành: đá chồng, hang đá, phong hóa bóc vỏ, tafoni do phong hóa muối.

Các cung bờ biển cát, bờ biển cuội

Các mũi đá nhô ra biển có vai trong chính trong việc hình thành các đường bờ biển dạng vòng cung với các bãi biển cát hay bãi biển đá tuyệt đẹp như Ninh Chữ, Mũi Dinh, Cổ Thạch, Gành Son, Mũi Né, Phan Thiết. Cảnh quan, hình dáng, độ lớn, thành phần và màu sắc trầm tích trong các cung bờ biển cũng là đối tượng thu hút du khách cũng như các khoa học gia trong lĩnh vực địa chất, địa mạo.

Cung bờ biển cát Ninh Chữ, Ninh Thuận . Nguồn: phanrangninhthuan.com

Tóm lại: Núi lửa hai tầng Thới Lới với sự xuất lộ cấu trúc phun nổ tại vách biển Hang Câu – Chùa Hang; bờ biển xâm thực lộ đá bazan cột Gềnh đá Dĩa và cao nguyên Cát Đỏ Phan Thiết là những geosite địa chất, địa mạo có giá trị khoa học và thẩm mỹ thuộc loại quí, hiếm Việt Nam. Các geosite này đáp ứng các tiêu chí xây dựng Công viên Địa chất Quốc gia.

 

Lớp cao học Quản lý TNTN và MT – K28 khảo sát hoạt động khai thác và cải tạo mỏ

Sau khi kết thúc phần lý thuyết môn Khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường, chủ nhật 24/03 dẫn 16 bạn học viên cao học khảo sát thực tế hoạt động khai thác khoáng sản (chủ yếu là vật liệu xây dựng) tại ba khu vực: Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Châu Thới và Bửu Long. Nội dung khảo sát gồm:

– Các moong khai thác đá, khai thác đất bỏ hoang (trong khuôn viên Đại học Quốc gia)

– Các mỏ đang diễn ra hoạt động khai thác (khu vực Châu Thới)

– Các moong khai thác đá được cải tạo thành Khu du lịch Bửu Long (Phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa).

Một vài hình ảnh dưới đây phần nào nói lên việc sử dụng đất tại các khu vực này.

Hồ Đá (Đại học Quốc gia TP.HCM, trước nhà khách)

Quanh hồ Đá có một số vết lộ mà sinh viên có thể tìm hiểu về thạch học, cấu trúc và khoáng sản
Chọn một vị trí đẹp chụp ảnh kỷ niệm chuyến đi
Hàng rào mới kiên cố hơn thay thế hàng rào cũ. Tuy vậy một vài nơi song sắt đã bị phá

Hồ đất (cạnh Viện Tài nguyên và Môi trường)

Khu vực cấm vào vườn bạch đàn ven hồ đất
Năm nay ai đó có (sáng kiến) dùng xích khóa lu nhựa đựng rác vào gốc cây bạch đàn
Nhưng rác vẫn khủng khiếp
Vẫn tụ tập giải trí, buôn bán và tự xử lý rác (đốt)
Một diện tích rất rộng mặt hồ đất ken kín lục bình
Vừa câu cá vừa thư giãn bên hồ. Hàng rào quanh hồ nay chỉ còn những cột bê tông

Khu vực Châu Thới

Cúng bái tại chùa Núi Châu Thới
Mỏ Núi Nhỏ cách chùa Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam
Bãi tập kết sản phẩm tại chân núi Châu Thới
Mỏ Tân Đông Hiệp cách chùa Châu Thới khoảng 800 m về phía tây bắc. Hiện mỏ đã được khai thác tới độ sâu 100 m

Khu du lịch Bửu Long (thành phố Biên Hòa)

Trước hồ Long Ẩn (được cải tạo từ moong khai thác đá)
Yếu tố văn hóa Tây Nguyên năm nay xuất hiện trong Khu du lịch
Một điểm nhấn mới tại khu du lịch

H &H

 

 

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ LÝ DO KHÔNG THỂ PHÊ DUYỆT DỰ ÁN HỆ THỐNG THỦY LỢI CÁI LỚN – CÁI BÉ [1]

GS. Nguyễn Ngọc Trân [2]

1.Trích QĐ 498/ TTg, 14.07.2017 về Dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé

Mục tiêu đầu tư

– Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn  – Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang;

–  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định;

– Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn;

– Kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án.

Quy mô đầu tư:

Xây dựng cụm công trình giai đoạn 1, gồm các hạng mục:
– Cống Cái Lớn, cống Cái Bé;
– Đê nối hai cống Cái Lớn, Cái Bé với Quốc lộ 61;
– Kênh nối sông Cái Lớn – Cái Bé;
– Sửa chữa cống âu Tắc Thủ.

Tổng mức đầu tư dự kiến: 3.309,5 tỷ đồng

7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau: (1) Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá tác động của dự án; (2) Nghiên cứu tác động của công trình đến vùng hưởng lợi; (3) Về công tác quản lý vận hành, (4) Bổ sung đánh giá, phân tích so chọn giải pháp bao lớn và bao vừa; (5) Xác định vị trí âu thuyền Ninh Quới, (6) Đề xuất giải pháp lấy nước mặn cho vùng sản xuất lúa tôm; (7) Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Chúng tôi đã viết 4 bài báo liên quan đến dự án:

Những âu lo về dự án 3000 tỷ cống Cái Lớn-Cái Bé
http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/nhung-au-lo-ve-du-an-3000-ty-cong-cai-lon-cai-be-3335949/

Hai dự án đầu tư công ngàn tỷ cần soi kỹ

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/hai-du-an-dau-tu-cong-ngan-ty-can-soi-ky-3344861/

Làm rõ vì ngân sách và vì quản lý nhà nước

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/lam-ro-vi-ngan-sach-va-vi-quan-ly-nha-nuoc-3345231/

Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé và NQ 120

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-va-nghi-quyet-120-3363756/

vì theo chúng tôi:

(1) 7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau quyết định thành bại của Dự án. Khi chưa làm rõ triển khai giai đoạn 1, bắt tay xây dựng các cống có nguy cơ đâm lao sẽ phải tiếp tục phóng theo lao. Phải tiết kiệm từng đồng ngân sách nhà nước, nợ công đã rất cao.

(2) Cần thực hiện đúng Nghị quyết 120 của CP về phát triển bền vững ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu;

(3) Không thể họp hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM khi dự án chưa được “phản biện khoa học và khách quan”. Sau phản biện, Hội đồng sẽ có thêm cơ sở để thẩm định.

2.Môi trường vật lý của địa bàn dự án

Vùng dự án trải ra từ phía Nam của đồng lũ mở Tứ Giác Long Xuyên, đồng lũ nửa kín Tây Nam sông Hậu, trũng treo U Minh và trũng trung tâm Bán đảo Cà Mau[3]. Hình 1.

Gọi là đồng lũ mở là vì lượng nước vào, sau một thời gian ngắn thoát ra khỏi đồng lũ. Về phía Nam, việc thoát nước khó dần chuyển tiếp sang đồng lũ nửa kín, úng ngập dài ngày. Sông Cái Lớn, sông Cái Bé là cửa thoát nước duy nhất của đồng lũ ra Biển Tây.

Hình 1. Môi trường vật lý ĐBSCL và vùng dự án HTTL CL-CB

Treo là vì địa hình cao hơn xung quanh. Trũng vì là một bồn chứa than bùn dày đến hơn 5-6 mét. Trũng than bùn “ngậm” nước mùa mưa và “nhả” nước ngọt trở ra màu nước trà vào mùa khô, đặc biệt qua sông Trẹm và sông Cái Tàu.

Trũng trung tâm, địa hình rất thấp, là nơi giao thoa giữa triều Biển Đông, Biển Tây và sông Hậu. Rất khó thoát nước, vào mùa khô nước mặn trên mặt và mao dẫn từ dưới đất sắc lại, độ mặn rất cao.

Địa hình vùng dự án

Nước chảy về chỗ trũng là một quy luật. Vì vậy trong một dự án liên quan đến thủy lợi, yếu tố địa hình là quan trọng hàng đầu.

Trong các đơn vị môi trường vật lý đã hàm chứa địa hình: trũng, treo, đồng lũ, … Địa hình cụ thể của vùng của dự án được sưu tầm từ Chương trình 60-02, 60-B và gián tiếp qua bản đồ các tỉnh có nguy cơ bị ngập do BĐKH, nước biển dâng (Bộ TNvMT công bố năm 2009, và 2012).

Hình 2a là bản đồ địa hình liên quan đến một của vùng dự án mà CT 60-B đã xây dựng từ các mảnh bản đồ mộc tỷ lệ 1/50000 có cấy điểm độ cao. Sơ đồ cho thấy phía Tây Nam của đồng lũ nửa kín Tây sông Hậu là vùng trũng nhất và đường tháo của nước là cửa hai sông Cái Bé và Cái Lớn.

Địa hình còn gián tiếp được thể hiện qua bản đồ những địa bàn có nguy cơ bị ngập tĩnh khi mực nước biển dâng dâng lên 65 cm do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố [4]. Hình 2b.

Hình 2a
Hình 2b

Hoạt động kiến tạo đã qua tại châu thổ sông Mekong giúp hiểu địa hình trong vùng dự án. Đó là đứt gãy kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ dãy Cardamones (Campuchia) sang trong địa bàn Cái Lớn – Cái Bé; đứt gãy sông Hậu cũng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; đới nâng Hòn Khoai theo hướng Nam – Bắc dọc theo bờ biển Tây; và đới nâng Sóc Trăng theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Hình 3.

Hình 3: Hoạt động kiến tạo đã qua liên quan đến địa bàn dự án

Mưa và bốc hơi

Mưa được đề cập khá nhiều trong báo cáo tóm tắt: phân bố lượng mưa theo không gian, trong vùng hưởng lợi của dự án, trong mô hình mặn ngọt luân canh, chống ngập úng mùa mưa… Rất tiếc báo cáo chỉ đưa ra những con số bình quân chung chung (như “rất cao từ 2200 – 2400 mm/năm”, trang1). Báo cáo dường như không quan tâm đến diễn biến của lượng mưa trên địa bàn ra sao trong các thập niên qua, mặc dù sự diễn biến này ảnh hưởng đến việc chống ngập úng, đến mô hình luân canh mặn ngọt.

Tìm hiểu từ kho số liệu khí tượng thủy văn hết sức quý báu, chúng tôi thu nhận được một số thông tin đáng quan tâm, xin giới thiệu để hội thảo tham khảo và cùng suy nghĩ về ý nghĩa đằng sau các con số.

Hình 4. Diễn biến của lượng mưa năm tại các trạm thủy văn Xẻo Rô, Vĩnh Thuận, Cà Mau, Gành Hào.

Nếu lượng mưa ở trạm Xẻo Rô tăng (∆ = 12,8 mm/năm, trong các năm 1987-2017), ở Gành Hào tăng (∆ = 29,7 mm/năm trong các năm 1988-2008) thì ngược lại tại Cà Mau giảm (∆ = – 32,0 mm/năm) trong thời đoạn (1996-2017); ở Vĩnh Thuận giảm (∆ = -37,8 mm/năm) trong thời đoạn 1990-2013.

Việc sụt giảm lượng mưa tại Cà Mau và tại Vĩnh Thuận có liên quan đến việc chặt phá rừng tràm tại U Minh Hạ và U Minh thượng hay không? Nếu có, việc phá rừng tràm để trồng lúa tại U Minh, chẳng những làm giảm lượng nước ngọt trữ trong trũng treo U Minh, làm thiếu hụt nước ngọt vào mùa khô, mà còn làm giảm nguồn cung nước ngọt từ mưa trên địa bàn.

Việc chặt phá rừng tràm chắc chắn còn làm gia tăng độ bốc hơi. Rất tiếc chúng tôi chưa tìm được số liệu tại địa bàn cần tìm.

3.Địa bàn dự án đã được khai thác ra sao trong các thập niên đã qua

Sợi chỉ đó xuyên suốt trong khai thác vùng ĐBSCL là đưa nước ngọt về, và ngọt hóa nơi nào có thể, để sản xuất lúa gạo, mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ, tăng năng suất.

3.1. Khai thác nước ngọt của Trũng treo U Minh

Ảnh vệ tinh cho thấy sau năm 1975, diện tích rừng tràm giảm nhanh chóng, nhường chỗ cho diện tích canh tác lúa ngày càng mở rộng trong Trũng treo U Minh. Nhiều kinh đã được đào trong hai rừng tràm U Minh Thượng và U Minh Hạ. Cháy rừng tràm đã xảy ra thường xuyên. Bề dày của các tầng than bùn mỏng dần, thậm chí có nơi hầu như “chạm đáy”. Khả năng ngậm nước ngọt giảm dần cùng với nguy cơ cháy rừng tăng [5]. Hình 5.

Hình 5. Ảnh vệ tinh Landsat vùng trũng treo U Minhvào các năm 1973, 1979, 1993 và 2017

Trũng treo U Minh với hệ sinh thái rừng tràm ngập nước, một nơi cung cấp nước ngọt, với dịch vụ hệ sinh thái đa dạng, phong phú, ngày càng kiệt quệ trong nhiệm vụ cung cấp nước ngọt, ngay cả để chống cháy cho chính mình. Kênh Cán Gáo nối với sông Trẹm cung cấp nước ngọt cho mạng lưới kênh xương cá ngày càng dày về phía các huyện An Minh, An Biên và sông Cái Lớn. Điều này thể hiện rõ qua các ảnh vệ tinh dưới đây vào các thời điểm 1973, 1979, 1993 và 2017.

Việc khai thác nước ngọt quá mức trong trũng treo U Minh phục vụ canh tác lúa có ít nhất ba hậu quả nghiêm trọng.

Trước tiên đó là sự cạn kiệt dần và nhanh chóng nguồn nước ngọt trong trũng treo, kéo theo hậu quả thứ hai là sự kiệt quệ hệ sinh thái ngập nước ngọt ở đây như đã đề cập. Hậu quả thứ ba là mặn xâm nhập vào từ hai phía, theo kênh Cán Gáo và từ bờ Biển Tây, nhất là vào mùa khô.

Cần đánh giá khách quan và toàn diện các mặt việc khai thác trũng treo U Minh thay vì đỗ lỗi một cách dễ dãi cho sự thiếu đầu tư đồng bộ và từ đó dấn thêm vào việc hủy hoại hệ sinh thái tự nhiên vốn có của nơi này.

3.2. Các tác động lên các đồng lũ ở hữu ngạn sông Cái Lớn

Từ cuối thập niên 1980, sau thành công của việc chuyển nước sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây, bằng kênh Hồng Ngự – Long An (còn được gọi là “Kênh Trung ương”) đưa nước từ sông Tiền sang sông Vàm Cỏ Tây để khai thác một vùng rộng lớn của Đồng Tháp Mười còn hoang hóa, Bộ Thủy lợi đã tìm cách làm điều tương tự, dẫn nước ngọt từ sông Hậu về để tăng diện tích canh tác lúa.

Hàng chục kênh các cấp đã được đào trong vùng Tây sông Hậu là minh chứng cho nỗ lực này. Tuy nhiên kết quả không như mong đợi, thậm chí còn tạo ra rất nhiều hậu quả bất cập, mặc cho hàng trăm cống các cỡ, hàng trăm trạm bơm đã được xây dựng. Hình 6.

Có ít nhất ba hậu quả.

Hậu quả trước tiên là tăng cường úng ngập trong lưu vực sông Cái Bé, Cái Lớn với lượng nước từ sông Hậu cuối cùng đổ về đây mà bây giờ mục tiêu thứ ba của dự án HTTL Cái Lớn Cái Bé là phải tiêu úng giảm ngập.

Hình 6. Mang lưới kênh các cấp và các cống trong đồng lũ Tây sông Hậu. Có thể nhận thấy trong mạng lưới kênh trong hình trên đây, hầu hết các kênh trước 1975 được đào theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, song song với sông Hậu.

Hậu quả thứ hai là các kênh đào sau này tạo ra rất nhiều điểm giáp nước (nước đứng) mà các cống, rất nhiều, không tháo ra được. Môi trường nước bị ô nhiểm, trầm tích lắng đọng, lục bình sinh sôi nãy nở, giao thông thủy gặp thêm khó khăn ngoài các cống đóng mở.

Hậu quả thứ ba là lượng nước trước đây theo các kênh hướng Tây Bắc – Đông Nam chảy về lung Ngọc Hoàng, về lâm trường Phương Nam, và xa hơn nữa về trũng trung tâm rất cần nước ngọt, nay bị các điểm nước đứng ngăn chận lại.

Một lần nữa, chúng tôi nghĩ cần phải đánh giá khách quan và khoa học những bất cập này là từ đâu ra để có hướng giải quyết đúng.

3.3. Ngọt hóa BĐCM: hàng loạt cống, âu thuyền tác động lên Trũng trung tâm được xây dựng nhưng hầu hết chưa bao giờ hoạt động đúng như thiết kế

Dự án Ngọt hóa BĐCM được triển khai, một mặt bằng đào Kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp và bơm nước ngọt từ sông Hậu vào kênh này. Mặt khác bằng xây dựng 11 cống dọc theo QL 1A, và cống Bạch Ngưu, cống Cà Mau và âu thuyền Tắc Thủ để ngăn không cho mặn vào vùng ngọt hóa.

Các cống xây dựng và vận hành không đồng bộ là một lẽ, nhưng chủ yếu vì nước ngọt về không đủ vào mùa khô, nên ngoại trừ phần phía Đông Bắc (về phía Sóc Trăng) nằm ngoài Trũng trung tâm, dự án ngọt hóa không thành công. Mùa mưa phải mở cống để Trũng trung tâm không bị ngập úng. Mùa khô phải mở cống để lấy nước mặn nuôi tôm và để tránh nẻ đất, xì phèn. Chức năng “theo thiết kế” của các công trình thủy lợi của Dự án Ngọt hóa BDCM về cơ bản có thể xem là chỉ thành công về phía Sóc Trăng, thất bại ở phía Cà Mau. Ngoài ra còn có những vùng nước đứng, như ở huyện Phước Long, gây ô nhiểm nặng môi trường nước.

Đây là một bài học rất đắt giá về quy hoạch duy ý chí, không tôn trọng các quy luật, hoặc nghiên cứu khả thi làm không có chất lượng, thiếu trách nhiệm.

Hình 7. Hoạt động của các CTTL trong dự án Ngọt hóa BĐCM trên thực tế

4.Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng thực tế tại địa bàn dự án

Một trong những mục tiêu đầu tư của dự án là “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, …”

Căn cứ vào dự báo mực nước biển dâng mà Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố để chạy mô hình là chưa đủ, bởi lẽ trên thực địa, không phải MNBD mà Bộ TNvMT công bố, mà là MNBD thực tế [6].

MNBD thực tế = MNBD tương đối + Độ sụt lún tự nhiên + Độ sụt lún gia tốc

trong đó độ sụt lún tự nhiên là do quá trình nén dẽ nền đất và do canh tác; độ sụt lún gia tốc là do khai thác nước ngầm, khoáng sản trong lòng đất, do xây dựng nhà máy, sân bay, phát triển đô thị , … Độ sụt lún gia tốc càng quan trọng khi nền đất càng yếu.

Hiện nay, theo hiểu biết của chúng tôi, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang có một dự án đo đạc độ sut lún để xây dựng bản đồ sụt lún ở đồng bằng sông Cửu Long.

Trong khi chờ đợi, chúng tôi trích dẫn một nghiên cứu (mà chúng tôi cho là nghiêm túc hiện có), đánh giá tốc độ tụt của mặt nước trong các giếng khoan và tốc độ sụt lún mặt đất tại đồng bằng sông Cửu Long [7]. Hình 8.

Theo nghiên cứu này, địa bàn của dự án sụt lún với tốc độ bình quân từ 2 đến 2.75 cm/năm. Địa bàn đã thấp, lại còn bị lún khá nhanh. Điều này ảnh hưởng ra sao đến tính khả thi mục tiêu của dự án cần được đánh giá.

Hình 8. Tốc độ tụt của mực nước trong các giếng khoan (trái), Tốc độ sụt lúb mặt đất tại đồng bằng sông cửu Long (phải).

5.Diễn biến của các mực nước đặc trưng tại các trạm thủy văn ven Biển Tây và tại Gành Hào (Biển Đông)

Mực nước biển dâng thực tế tai bờ biển đồng bằng sông Cửu Long được phản ánh trong mực nước đo đạc liên tục bằng máy tự ghi tại các trạm thủy văn ven biển. Từ mực nước này, sẽ tính được mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm và biên độ triều cao nhất năm [8].

Liên quan đến địa bàn của dự án, xin trình bày kết quả đo đạc và tính toán tại các trạm thủy văn ven Biển Tây là Xẻo Rô, Rạch Giá, và ven Biển Đông là Gành Hào trong 29 năm từ 1988 đến 2016, và tại Sông Đốc từ 1993 đến 2016.

Hình 9. Diễn biến của đỉnh triều cao nhất và chân triều thấp nhất tại Gành Hào và Xẻo Rô
∆ là tốc độ gia tăng bình quân năm (xu thế tuyến tính)

Tại Xẻo Rô, mực nước trung bình năm, đỉnh triều cao nhất năm, chân triều thấp nhất năm, và biên độ triều lớn nhất năm đều tăng. Để theo dõi biến động theo thời gian, nhất là trong những năm gần đây, thời gian 29 năm được phân thành hai giai đoạn 1988 – 2016 và 2003 – 2016. Hình 9.

Tốc độ gia tăng bình quân năm tại Gành Hào khá cao, cao hơn trong giai đoạn 2003-2016. Tại Xẻo Rô và Rạch Giá tăng nhưng giá trị tuyệt đối ∆ không lớn bằng phía Biển Đông. Tuy nhiên so với biên độ triều Biển Tây (75–110 cm) ∆ có ý nghĩa không kém ở Biển Đông. Tại Sông Đốc, do chịu ảnh hưởng từ Biển Đông nên ∆ thấp hơn tại Gành Hào, nhưng cao hơn tại Xẻo Rô và Rạch Giá.

Đỉnh triều cao nhất năm tăng có nghĩa là lượng nước biển vào nội đồng qua trạm tăng. Chân triều thấp nhất năm tăng có nghĩa là lượng nước trong châu thổ tháo ra biển theo triều rút trở nên khó khăn hơn. Hệ lụy đến các mục tiêu của dự án không khó để suy ra.

6.Bốn lý do để không phê duyệt BC NCKT của dự án HTTL Cái Lớn, Cái Bé

(1) Lý do 1. Về mặt phương pháp luận, cho dù là một dự án thủy lợi, báo cáo NCKT phải xem xét dự án trong một khung khổ toàn diện các yếu tố của môi trường, với quan điểm hệ thống (tác động giữa các yếu tố) và động (nhịp điệu và biến động theo thời gian). Có như vậy giải pháp và việc khai thác tài nguyên để phát triển mới có thể bền vững.

Vì địa bàn bằng phẳng và cao trình mặt đất thấp, địa hình là hết sức quan trọng, nước chảy về chỗ trũng là quy luật. Không tìm thấy một bản đồ địa hình chi tiết nào của vùng dự án.

Báo cáo tóm tắt dự án nói nhiều đến mưa nhưng không tìm được một phân tích nào về mưa, diễn biến của lượng mưa trong vùng dự án.

Triều là nhịp thở của châu thổ. Địa bàn của dự án là nơi giao thoa giữa triều Biển Đông, triều Biển Tây và sông Hậu nên có nhiều nhịp đập. Cũng có nghĩa là địa bàn rất phong phú, đa dạng về hệ sinh thái và các dịch vụ hệ sinh thái. Với hệ thống cống các cỡ đã có và sẽ xây dựng, dự án sẽ góp thêm phần “nghèo hóa” chúng theo một hình mẫu sản xuất mà mình quen thuộc.

Báo cáo tóm tắt dự án và báo cáo đánh giá ĐTM có giới thiệu Bản đồ quy hoạch sử dụng đất (Hình 8, trang 14, báo cáo tóm tắt). Làm sao tin được ở chất lượng bản đồ khi mà thông tin về Thổ nhưỡng của dự án mà chúng tôi có được chỉ là một bản đồ “minh họa” của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam.

Đối chiếu với những gì chúng tôi đã sưu tầm làm cơ sở để phản biện, rõ ràng Báo cáo NCKT của dự án là phiến diện, tĩnh tại và quá sơ lược, hầu như chỉ tập trung vào vấn đề nước, và căn cứ vào kết quả chạy mô hình để kết luận.

Đây là kết quả tất yếu của việc Dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé được xây dựng khép kín trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, và hầu như là một sản phẩm chỉ của ngành thủy lợi [9]. Các kết quả và kết luận của Báo cáo NCKT do vậy chất lượng và độ tin cậy không cao.

Xin nói thêm vê mô hình. Sử dụng mô hình toán là cần và bổ ích để mô phỏng và tiên liệu những gì sẽ xảy ra. Tuy nhiên vì mô hình có những hạn chế bẩm sinh (từ mô hình hóa bài toán vật lý với những giả thiết đơn giản hóa), kết quả tính toán phụ thuộc vào số liệu đầu vào (ở đồng bằng thiếu rất nhiều và không được cập nhật, địa hình rất bằng phẳng) nên kết quả tính toán chỉ có giá trị tham khảo và chưa thể xem là kết luận khi chưa được đối chiếu với thực tế. Về vấn đề này, chúng tôi đã phân tích khi phản biện dự án MDS do Bộ TNvMT quản lý, ký hợp đồng với Viện Thủy Lợi Đan Mạch DHI để thực hiện [10].

(2) Lý do 2. Báo cáo tóm tắt Dự án, trong 48 trang đã 11 lần đổ lỗi cho đầu tư chưa/không đồng bộ, 7 lần viện dẫn cần đầu tư hoàn chỉnh. Như vậy là không nghiêm túc.

Cần phân tích khách quan và khoa học Nêu lên hiện trạng mà không chỉ đúng nguyên nhân, rồi từ đó kết luận là cần thiết đầu tư hai cống sẽ dẫn đến nguy cơ tiếp tục vòng xoáy tiếp tục khai thác sai, bao ví đồng bằng với quá nhiều cống đập các kích cở, đối lập con người với thiên nhiên, châu thổ với biển.

Ở đồng lũ nửa kín Tây Nam sông Hậu, đặc biệt giữa Kênh Ô Môn và Kênh Xà No có dày đặc các cống các cỡ (Hình 6) là hậu quả của các dự án ODA không được nghiên cứu tới nơi tới chốn, rồi cống sau chồng lên cống trước để tìm sự “đồng bộ” hay “hoàn chỉnh”.

Điều này trái ngược với xu thế hiện nay trên thế giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đó là chuyển từ khống chế dòng chảy theo ý muốn của con người sang dành không gian cho sông (rooms for rivers) [11; 12], dành không gian cho giao tiếp giữa con Người với Thiên nhiên.

(3) Lý do 3. “7 vấn đề lưu ý ở giai đoạn sau” nêu lên trong QĐ 489, quyết định thành bại của Dự án. Khi chưa làm rõ, triển khai giai đoạn 1, bắt tay xây dựng các cống sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường về môi trường, về sản xuất và đời sống của người dân và về ngân sách nhà nước trong khi nợ công đã rất cao.

Sau 16 tháng (kể từ ngày có QĐ 489/TTg), giai đoạn 1 và “giai đoạn sau” vẫn còn là một cái bóng mờ mờ ảo ảo.

Khi nào xong giai đoạn 1? Kết quả của giai đoan 1 cụ thể là gì? Báo cáo tóm tắt viết: “Khi công trình hoàn thành” (trang 47, dòng 12 từ dưới đếm lên). Khi đó là khi nào? Còn phải đầu tư những công trình nào nữa, ở đâu, lúc nào, bao nhiêu thì mới gọi là đầu tư hoàn chỉnh, đồng bộ, công trình hoàn thành?

Không thể phê duyệt khống về nội dung như vậy. Phải làm rõ để nếu sau này hiệu quả của dự án không như báo cáo thì biết tại sao và từ đâu, trách nhiệm thuộc về khâu nào, và về ai.

(4) Lý do 4. Báo cáo đánh giá ĐTM là một tài liệu “kỳ lạ” về cấu trúc, nội dung và nhất là về vị trí.

Báo cáo có 467 trang A4. Hai chương đầu dài gần 100 trang mà nội dung có thể trình bày tối đa không đến 15 trang. Chương Hai, Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực thực hiện dự án, dài 150 trang, trong này đặc điểm thổ nhưỡng được 22 từ và một hình minh họa phân bố các loại đất của ĐBSCL do Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam thực hiện; đoạn về đặc điểm về mưa sử dụng một số bảng biểu mà nguồn là từ Báo cáo NCKT 2018. …

Chúng tôi tự hỏi sự hiện diện khá “đồ sộ” về số trang của Chương 2 có chủ đích gì sau khi đọc các chương sau. Đọc phần “Kết luận, Kiến nghị và Cam kết” ở cuối báo cáo, chúng tôi không hiểu vị trí của BC ĐG ĐTM trong “hồ sơ” dự án là gì.

Sau khi đọc phiên bản đã trình Hội đồng thẩm định và phiên bản “chưa hoàn thiện” (thật ra khó tìm được những khác biệt, cả hai đều dày 467 trang A4), chúng tôi mới ngộ ra rằng BC ĐG TĐMT được xây dựng hoàn toàn khác với chờ đợi của chúng tôi.

Nội dung của BC chủ yếu là đánh giá tác động lên môi trường của việc chuẩn bị và triển khai thực hiện dự án. Còn những chương khác hầu hết là từ “cắt và dán” (copy & paste) từ báo cáo NCKT.

Trong khi đó, chúng tôi chờ đợi báo cáo đánh giá tác động lên MT nếu dự án hoàn thành và đi vào vận hành. Bởi có như vậy việc thẩm định dự án (BC NCKT) mới mang đầy đủ ý nghĩa trước khi dự án được phê duyệt để thực hiện.

Phê duyệt BC ĐGĐTM, như nó được thực hiện, theo chúng tôi là một sai lầm.

Vì bốn lý do trên đây, chúng tôi cho rằng không thể phê duyệt báo cáo NCKT của dự án HTTL Cái Lớn, Cái Bé.

Chúng tôi rất hiểu và thông cảm với những bức xúc của các tỉnh và của người dân trong vùng dự án đang chờ đợi dự án được duyệt theo giới thiệu của chủ đầu tư.

Chúng tôi viết phản biện này xuất phát từ nhận thức rằng không thể giải quyết các bức xúc này bằng hệ thống thủy lợi Cái Lớn, Cái Bé, vì không đủ cơ sở khoa học, thậm chí có nguy cơ môi trường sẽ càng nghèo kiệt hơn, xấu hơn, sản xuất, đời sống và sinh kế của người dân không ổn định, không bền vững.

Chúng tôi cũng hiểu là nhận thức điều này không dễ vì liên quan đến tập quán, đến sự lựa chọn giữa cái trước mắt và di sản về môi trường mà chúng ta sẽ để lại cho các thế hệ mai sau.

7.Không xây hai cống Cái Lớn, Cái Bé, sắp tới làm gì?

Theo chúng tôi có mấy việc sau đây cần làm.

(1) Phải quán triệt và thực hiện nghiêm NQ 120, đặc biệt 3 ý chỉ đạo:

(1) “Mọi dự án công trình phải được tính toán thật kỹ, được phản biện khách quan, khoa học, bảo đảm không hối tiếc đầu tư”;

(2) “Trước khi chọn một giải pháp công trình, phải tính toán cán cân Được – Mất trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường”.

(3) Quy hoạch phải theo quy luật. Chú ý các giải pháp phi công trình.

Có ý kiến cho rằng để “chủ động chung sống với lũ”, “kiểm soát mặn”, phải có cống.

Hiểu như vậy là hiểu chưa đúng Nghị quyết 120. Phải dự báo tốt. Phải bố trí sản xuất và đời sống của dân cư theo đúng quy luật tự nhiên, kinh tế xã hội.

Chúng tôi không nói tất cả các cống, các kênh đào là không cần hay sai. Chúng chỉ cần và đúng khi phù hợp với quy luật.

(2) Bài toán sản xuất có hiệu quả, sinh kế và đời sống người dân ổn định, môi trường được bảo vệ trong đồng lũ nửa kín Tây nam sông Hậu, trũng treo U Minh và Trũng trung tâm Bán đảo Cà Mau phải nằm trong dự án tái cơ cấu nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ, và chủ trương liên kết vùng ở đồng bằng sông Cửu Long.

Không thể để dự án HTTL CLCB, nếu được phê duyệt “khống” và đi vào thực hiện, buộc Tái cơ cấu nông nghiệp phải “đồng bộ hóa” với nó!

(3) Hội thảo hôm nay, trừ một số ít tham luận, hầu như chỉ tập trung vào các công trình.

Xin kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (qua Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng) và lãnh đạo các tỉnh, trước tiên là Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau, sớm tổ chức một hội thảo về các biện pháp phi công trình, đặc biệt các giống cây trồng, vật nuôi thích hợp cho từng đon vị tài nguyên nông nghiệp trong địa bàn dự án. Hội thảo này sẽ bố sung hội thảo hôm nay, hướng tới một tổ hợp các giải pháp công trình không hối tiếc và phi công trình.

(4) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần rà soát lại hệ thống các kênh KH, các cống hiện có, đánh giá khách quan các mặt được và bất cập, sự phối hợp, đồng bộ hóa chế độ vận hành các cống trong các tiều vùng I, II và III (hình 3) [13]. Đặc biêt tổng kết dự án “Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau”. Trên cơ sở rà soát và điều chỉnh vận hành các công trình hiện có, sửa sai bằng các giải pháp công trình và phi công trình, xây dựng các công trình bổ sung sau khi được chứng minh là cần thiết và không hối tiếc./.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12.09.2018.

Kính tặng đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu Long bài viết này.

Lưu ý:  Khi trích dẫn toàn phần hay một phần bài phản biện này, cần tôn trọng ý kiến của tác giả. Các bảng, hình, biểu đồ, xin trích dẫn đầy đủ nguồn. Cám ơn.

CHÚ THÍCH:

[1] Nội dung đã được tác giả trình bày tại Hội thảo khao học tại Rạch Giá, ngày 07.09.2018.

Được thực hiện trong điều kiện khá không gấp rút (đọc hơn 500 trang A4 tài liệu nhận được từ Ban 10 không đầy 72 giờ trước hội thảo, cộng với 467 trang chiều ngày hôm trước hội thảo, bài góp ý này chưa được như tác giả mong muốn. Nó phản ánh công tác góp ý phản biện rất không bình thường. Mong rằng đây chỉ là một trường hợp cá biệt!

[2] Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Chủ nhiệm Chương trình 60-02, 60-B, “Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL” (1983-1990), Trưởng Ban Chỉ đạo Nghiên cứu Khai thác Bán đảo Cà Mau (1989-1992).

[3] Trần Kim Thạch, Bản đồ Môi trường vật lý đồng bằng sông Cửu Long, trong Báo cáo tổng hợp “Đồng bằng sông Cửu Long, Tài nguyên – Môi trường – Phát triển” của Chương trình 60-B. Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội, tháng 3.1991.

[4] Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012, Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội.

[5] Xem báo cáo của tỉnh Kiên Giang về vụ đám cháy rừng tràm năm 2002. Ở tỉnh Minh Hải vào những năm 1990 cũng đã có báo cáo về hậu quả của nhiều đám cháy rừng tràm nghiêm trọng trong rừng tràm U Minh Hạ.

[6] J.P. ERICSON et all, 2006, Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82.

[7] Laura E Erban, Steven M Gorelick and Howard A Zebker, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta, Vietnam. Environ. Res. Lett. 9 (2014) 084010 (6pp).

[8] Nguyễn Ngọc Trân, Evolution of water levels at coastal hydrological stations of the mekong delta, ICEC 2018, 21-23 August 2018, University of Caen.

[9] Chủ đầu tư Dự án là Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10. Cơ quan lập các báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi là một liên danh gồm Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, và Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng thủy lợi 2. Cơ quan lập Báo cáo ĐTM là Viện Kỹ thuật Biển, thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam. Và có lẽ vì vậy mà các Báo cáo NCKT, Báo cáo đánh giá ĐTM và báo cáo tóm tắt dự án “cắt” (cut) “dán” (paste) nhau khá thoải mái.

[10] Nguyễn Ngọc Trân, Nhận xét báo cáo của Dự án “Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông (MDS)”, tài liệu gửi Bộ trưởng Bộ TNvMT ngày 30.3.2016 và một số Bộ trưởng các Bộ có liên quan. Nội dung đã được trình bày tại hội thảo khoa học ngày 04.12.2015 tại Tp. Hồ Chí Minh.

[11] Nguyễn Ngọc Trân, Ghi nhận từ Hà Lan, trong Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh, 11.2011.

[12] Lương Phương Hậu, Xu thế chỉnh trị sông, Tạp chí KH&CN Thủy lợi, 2012, Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam, Hà Nội.

[13] Theo một chuyên gia đã nhiều năm công tác quy hoạch thủy lợi ở ĐBSCL: “Chỉ cần tổng kết tác dụng đích thực của một số cống điều tiết mặn và ngọt trong khu vực Tây sông Hậu nhất là vùng ven biển Tây dọc tuyến Rạch Giá-Hà Tiên và trong bán đảo Cà Mâu, sẽ thấy rất rõ là vận hành chúng rất khó khăn để cho hiệu quả cao, phần lớn là 1/3 hiệu quả, 1/3 không hiệu quả và 1/3 là phản tác dụng, cội nguồn cơ bản là do đây là khu vực nhạy cảm nhất về thủy triều hỗn tạp không những của Việt Nam mà còn là điển hình của cả thế giới, đó là “đa hướng, đa chế độ, đa độ lớn, đa pha” đeo bám nhau, đan xen nhau chằng chịt, rượt đuổi nhau theo các chiều và pha hỗn loạn theo nhịp điệu không ngưng nghỉ nằm trong một trận đồ “bát quái” không có hiệu lệnh.”. Chúng tôi xin trích nguyên văn đoạn chia sẻ trên đây của chuyên gia này.

Nguồn:

Báo Đất Việt

https://www.thiennhien.net/2018/09/14/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet/