Featured

Chào mừng đến với góc học thuật của chúng tôi

Tại công viên đá Vườn quốc gia Núi Chúa Ninh Thuận

❤ Chúc các bạn tìm được những thông tin thú vị và bổ ích 😉
❤ Hy vọng nhận được nhiều sự quan tâm và chia sẻ của quý độc giả.

Advertisements

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8

Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO diễn ra tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Adamello Brenta, tỉnh Trentino, Ý, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 năm 2018.

Hội nghị, với chủ đề chính: “Công viên địa chất và phát triển bền vững

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 9, đã có các cuộc họp của Hội đồng UUG, GGN ExB, và các cuộc họp Mạng lưới Khu vực: EGN AC và CC, APGN AC và CC, LACGN AC và CC.

Lễ khai mạc và các bài giảng quan trọng diễn ra vào ngày 11 tháng 9.

Ngày 11/9, 12 và 14/9 các báo cáo khoa học trình bày đồng thời tại 6 tiểu ban như sau:

  1. CVĐC, du lịch bền vững và phát triển bền vững địa phương (Geoparks, sustainable tourism and sustainable local development)
  2. Bảo tồn, Khoa học và nghiên cứu (Conservation, science and research)
  3. Giáo dục, nhận thức cộng đồng và truyền thông (Education, public awareness and communication)
  4. CVĐC, BĐKH và tai biến địa chất (Geoparks, climate change and geo-hazards)
  5. Hợp tác giữa UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO collaborations)
  6. Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Tóm tắt báo cáo khoa học có thể tham khảo tại: https://www.campigliodolomiti.it/TEMPLATE/DEFAULT_LANDING/en/pagine/dettaglio/ggn_content,188/the_abstracts_book,1336.html?GGN

Các workshop đặc biệt được tổ chức gồm:

  1. CVĐC trong khu vực núi lửa
  2. CVĐC trên đảo
  3. SDG 2030
  4. Tai biến địa chất
  5. Giáo dục kiến thức địa học (Geo-education)

Ngày 13 tháng 9, dành riêng cho các chuyến thực địa, có 6 tuyến để các đại biểu lựa chọn: nhiều nhất là tuyến leo núi Dolomiti, trái tim của Brenta Dolimites, nơi có đá vôi và đá dolomit – trầm tích từ 250 đến 40 triệu năm trước với cảnh quang thật hùng vĩ của địa mạo băng hà – karst.

Việt Nam tham dự hội nghị gồm các đoàn: Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc, Bảo tàng Địa chất, UB quốc gia UNESCO Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản; cùng các CVĐC toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, CVĐC toàn cầu Non nước Cao Bằng, CVĐC Đaknong, CVĐC Lý Sơn.

Việt Nam có tổng cộng có 13 báo cáo Oral và poster tham dự hội nghị. Bài báo cáo của tác giả “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam” trình bày tại tiểu ban Bảo tồn, Khoa học và Nghiên cứu.

Chiều ngày 14/9, Hội nghị bế mạc, trao các giải thưởng cho các CVĐC và thông báo nơi diễn ra Hội nghị lần 9, năm 2020 là CVĐC Jeju – Hàn Quốc.

Một số hình ảnh hội nghị:

Khai mạc hội nghị
Báo cáo “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam”
Cảnh quan núi Dolomiti

Phương Chi

 

Central Park giống hệt cái ‘mỏ hàn’ đe dọa sông Sài Gòn

Nhiều người đang phát cuồng về cao ốc 81 tầng Landmark và công viên Central Park (thuộc tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) đã “lung linh, chễm chệ” trên nền cảng cũ.

Dù tài sản làm cho Nhà nước, cũng không được phép

Tương tự như Đồng Nai, ông Tứ e ngại những gì đang diễn ra ở TP.HCM tiếp tục tạo tiền lệ cho việc gia tăng vi phạm và lấn chiếm hành lang thoát lũ, dòng chảy của các con sông trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo ông, không thể lập luận rằng việc xây Central Park làm công trình công cộng là đúng quy định được. “Dòng chảy sông cần được duy trì một cách tự nhiên như vốn có được quy định bởi tiến trình lịch sử mạng thoát nước tự nhiên, cũng như hệ sinh thái đặc thù riêng. Cầu cảng cũ vẫn khác với khối bê tông mặt đất như hiện nay, bởi cầu cảng vẫn thông nước. Do đó, công trình này sẽ tạo áp lực nước cho phía bờ đối diện”, ông Tứ nói.

Ông cho rằng ở Vinhomes Tân Cảng hiện tồn tại 2 vấn đề. Thứ nhất, lấn chiếm mặt nước để làm công trình, điều đó hoàn toàn sai luật, gồm các Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng chống thiên tai và Luật Giao thông đường thủy nội địa.

“Không ai có quyền lấy sông của mọi người làm tài sản, dù tài sản ấy có làm cho Nhà nước cũng không được phép. Chưa kể, trong điều kiện thiên nhiên đang thê thảm như hiện nay, phải giữ gìn dòng sông, đã không giữ được lại còn phá hoại, lại cứ nhăm nhe “chém nó”, ông Tứ bức xúc.

Một góc Central Park

Thứ hai, về mặt khoa học, khi lấp cầu cảng như vậy đã tạo nên một “mỏ hàn” rất lớn để đẩy nước sang phía bờ bên kia.

Tác động như thế nào, theo ông Tứ cần phải nghiên cứu. Nhưng nguyên tắc về chỉnh trị sông có hai hình thức. Một là kè, như ta thấy người ta thường dùng bê tông đắp lên. Dù không lấn ra sông, nhưng kè vẫn có tác động đến bờ đối diện, bởi tạo ra thế bên này cứng, bên kia vẫn là đất mềm.

Hình thức còn lại nguy hiểm hơn dùng trong trường hợp người ta muốn làm xói lở một bên sông và cho bên còn lại bồi, đó là “mỏ hàn”. Thuật ngữ chuyên môn “mỏ hàn” có thể hình dung là một khối bê tông cứng chòi ra lòng sông.

“Dù không to như Tân Cảng, nhưng “mỏ hàn” có thể lái dòng nước sang phía kia để tác động cho bờ đó lở đi, nói chi cả khu vực cầu cảng đã bị lấp. Nói cách khác, khu vực Tân Cảng như hiện nay là một “mỏ hàn” cực lớn”, ông Tứ phân tích.

Ông nói tiếp: “Họ sẽ cho rằng có ăn thua gì, sông to như thế, chúng tôi chỉ làm một tí “mỏ hàn”. Nhưng với tôi là không! Vì chắc chắn động lực của dòng chảy bị biến động khi các bờ sông bị thay đổi”.

“Dấu ấn” chiếm mặt sông

Luật sư Phùng Thanh Sơn (Đoàn Luật sư TP.HCM) đánh giá tình trạng lấn chiếm, san lấp kênh, rạch, sông để làm dự án ở TP.HCM khá phổ biến và ở nhiều mức độ khác nhau. Tình trạng này không phải mới diễn ra gần đây, nó đã xảy ra từ hàng chục năm trước.

Về nguyên tắc, theo ông Sơn, chủ đầu tư không được phép xây dựng trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch (trừ trường hợp các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các công trình quốc phòng, phòng cháy chữa cháy, công trình phục vụ công ích có thời hạn thì được phép xây dựng).

“Từ đó, có thể thấy nhiều lý do để chủ đầu tư muốn lấn sông. Do hành lang bảo vệ sông, kênh rạch có thể tính từ mép được xây dựng, cải tạo nên nếu việc xây dựng, cải tạo đó lấn sông, kênh rạch thì phần đất trong hành lang bảo vệ bờ thực tế sẽ ít đi. Hay nói cách khác, việc lấn sông, kênh rạch sẽ đem lại nhiều lợi ích cho chủ đầu tư như diện tích đất mà chủ đầu tư có thể xây dựng nhà ở, cao ốc… sẽ tăng lên mà không vượt quá mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất mà pháp luật quy định”, ông Sơn nói.

Việc biến đất vốn dĩ thuộc hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch thành đất thương mại bán cho khách hàng giúp chủ đầu tư có đủ không gian để có thể tạo ra một “dấu ấn” cho dự án của mình, để bán nhà với giá cao bằng việc xây công trình hạ tầng xã hội trong hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch đó, theo luật sư Sơn.

Tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng trước đây là khu vực cảng nên hiển nhiên phải có các công trình bến cảng, cầu cảng… để phục vụ cho việc neo đậu tàu, bốc dỡ hàng hóa.

“Đã là cầu cảng thì không thể xây dựng sát bờ mà phải cách xa bờ. Do đó cầu cảng không được xem là bờ của sông Sài Gòn nên không thể lấy cầu cảng làm cơ sở để xác định hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn và cho xây dựng công viên trên đó. Chưa kể, thiết kế cảng rất khác với việc lấp các vùng nước trong cảng để làm công viên. Bởi điều đó ảnh hưởng và thay đổi dòng chảy”, ông Sơn lập luận.

Theo ông, việc trên rất dễ kiểm chứng. Cứ lấy hồ sơ thiết kế cảng trước đây và so với thực trạng hiện nay sẽ biết ngay là Vingroup có lấn, lấp sông Sài Gòn hay không; vùng nước nào trong cảng bị lấp, vùng nước nào không. Dựa vào thiết kế cảng trước đây chúng ta cũng xác định được vị trí bờ sông Sài Gòn đang ở đâu để từ đó xác định chính xác hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn.

Theo Quyết định 150/2004/QĐ-UBND trước đây về quy định quản lý, sử dụng hành lang trên bờ sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố và nay là Quyết định 22/2017/QĐ-UBND của UBND TP.HCM, thì hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch cấp kỹ thuật I, II mỗi bên là 50m; cấp kỹ thuật III, IV mỗi bên là 30m; cấp kỹ thuật V, VI mỗi bên là 20m và đối với kênh rạch chưa được phân cấp kỹ thuật mỗi bên là 10m, được tính từ mép bờ cao của sông, kênh, rạch (theo dạng tự nhiên hoặc được xây dựng, cải tạo) vào bên trong phía đất liền. Chủ đầu tư không được xây dựng các công trình nhà ở, cơ sở kinh doanh trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch… Và các công trình xây dựng phải đảm bảo độ lùi so với hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/thoi-su/central-park-giong-het-cai-mo-han-de-doa-song-sai-gon-136152/

Nam Anh

Thành lập bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang do mực nước biển dâng trong tương lai

Hoàng Thị Phương Chi, Hà Quang Hải

1.Giới thiệu

Nhiều nghiên cứu trong khuôn khổ Tổ chức Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu – IPCC đã dự báo mức biển toàn cầu sẽ tăng từ 17,8 – 54,42 cm vào cuối thế kỷ (2090 – 2099 so với giai đoạn 1980 – 1999) [8]. Dựa vào các kịch bản của IPCC [8], Bộ Tài nguyên môi trường Việt Nam cũng đưa ra kịch bản dự đoán vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 2,3oC, và mực nước biển dâng 75cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 [2].

Mực biển dâng sẽ kéo theo các tai biến đới bờ mà nghiêm trọng nhất là ngập lụt trên diện rộng [10]. Một khu vực ngập dài hạn sẽ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên cũng như làm thay đổi điều kiện kinh tế xã hội của khu vực đó. Do đó đánh giá mức độ tổn thương đới bờ do mực biển dâng trong tương lai là cơ sở cho việc xây dựng hành động ứng phó. Phương pháp đánh giá tổn thương trong bài báo này được sử dụng dựa trên các yếu tố về hải văn và địa chất, địa mạo.

Bài báo này trình bày phương pháp thành lập bản đồ phân vùng tổn thương bờ biển do mực nước biển dâng với kịch bản 75 cm vào năm 2100. Các điểm đánh giá và thể hiện mức độ tổn thương trên bản đồ sẽ là cơ sở cho việc đánh giá rủi ro ven biển và là công cụ hữu ích phục vụ cho việc Quản lý tổng hợp đối bờ (ICZM – Integrated Coastal zone Management) [10].

2.Khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu thuộc dải bờ biển từ Hà Tiên đến Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, dài 72,8 km. Khí hậu gió mùa cận xích đạo chịu ảnh hưởng của biển với đặc điểm chung là nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa nhưng ít bão. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.600 đến 2.000mm [3]. Nhiệt độ trung bình năm cao 27,3oC [3]. Chế độ nhật triều là chủ yếu.

Đây là một vùng đất giàu tài nguyên: đất, nước, biển, khoáng sản và nhất là tài nguyên du lịch. Bên cạnh đó tính đa dạng sinh học và đa dạng địa học cũng là một thế mạnh của vùng [6]. Bảo tồn tính đa dạng sinh học cũng là một vấn đề được quan tâm ở khu vực này. Nhất là các hệ sinh thái mang tính chất đặc trưng của cả vùng như thảm thực vật trên núi đá vôi, hay hệ sinh thái đồng cỏ bàng [6].

Dân cư phân bố tập trung chủ yếu tại thị xã Hà Tiên, thị trấn Kiên Lương và các vùng đất thấp ven biển, hay dọc theo quốc lộ. Nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp trồng lúa, hoa màu, kết hợp nuôi trồng thủy sản cũng như du lịch, dịch vụ, khai thác khoáng sản.

3. Dữ liệu

Ngoài việc các tài liệu tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực, nghiên cứu này chủ yếu dựa vào các dữ liệu thuộc tính và không gian của các bản đồ và ảnh viễn thám. Các dữ liệu sử dụng chính được trình bày trong Bảng 1.

4.Phương pháp

Chỉ số tổn thương đới bờ (CVI) được V. Gornitz và cộng sự [11] xây dựng như là công cụ để đánh giá khả năng thay đổi của vùng bờ biển. Chỉ số này được áp dụng cho cả khu vực quy mô vùng hoặc quốc gia trong việc quản lý tài nguyên đới bờ.

Theo V. Gornitz và cộng sự [8], CVI được tính toán như sau:

Chỉ số tổn thương đới bờ được xây dựng từ các biến mà có tác động lý học trực tiếp lên sự thay đổi đường bờ biển trong điều kiện mực nước biển dâng gồm: địa mạo bờ biển (đặc điểm hình thái các vách bờ), địa chất bờ biển (đặc điểm thạch học các đá cấu tạo bờ và bãi), độ dốc của bờ về phía biển, tốc độ bồi/ xói, độ cao địa hình, mực nước biển dâng trung bình, mực triều trung bình, độ cao sóng trung bình.

Sự định lượng tổn thương đới bờ dựa vào các biến sẽ phản ánh cụ thể vùng bị tác động lý học của nước biển dâng tùy theo mức độ. Do đó công thức tính CVI trong nghiên cứu sẽ là:

Địa mạo

Yếu tố địa mạo được phân chia làm 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa đặc điểm hình thái các vách bờ và mức độ xói lở. Thang phân chia được tính điểm từ 1 đến 5 theo mức độ gia tăng sự tổn thương đới bờ đối với hiện tượng nước biển dâng. Trong nghiên cứu này, yếu tố địa mạo chủ yếu dựa vào khảo sát thực địa. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Địa chất

Yếu tố địa chất cũng được phân thành 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa các loại đá/ trầm tích cấu tạo nên bờ biển và mức độ xói lở. Bờ có cấu tạo từ đá gốc của hệ tầng Núi Cọp (Đá tuff, ryolit xen phiến silic, cát kết, bột kết) hoặc hệ tầng Hòn Heo (Đá cát kết thạch anh, cát kết quazit, đá phiến bột kết) là các loại đá vững chắc nhất trong khu vực nghiên cứu, do đó mức độ tổn thương do biển dâng sẽ là thấp nhất (thang điểm 1). Dạng bờ có cấu tạo bởi trầm tích bở rời như cát, bột, sét kém ổn định nhất, do đó mức độ tổn thương sẽ là cao nhất (thang điểm 5). Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương cũng được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Tốc độ bồi/xói

Tốc độ bồi xói (mm/năm) được tính toán dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat năm 1979, 1992 và 2009 (30 năm). Từ các ảnh trên, dùng phần mềm ENVI 4.0 để tách ra đường bờ của hai thời kỳ bằng phương pháp chọn ngưỡng cho band 4 của ảnh Landsat TM và ETM+. Từ bản đồ đường bờ hai thời kỳ, giải đoán sự thay đổi bằng mắt, đường bờ được chia thành 41 đoạn dựa theo hiện tượng bồi, xói. Tốc độ bồi xói sẽ được tính toán bằng cách đo các khoảng cách của các đường bờ trong một đoạn và tính trung bình. Đới bờ của khu vực nghiên cứu có tất cả 10/41 đoạn xói lở (11,95/72,80 km) với tốc độ cao nhất lên đến -3,2m/năm, có 16/41 đoạn bờ bồi tụ (41,25/72,80 km) với tốc độ cao nhất khoảng +6,38 m/năm, và có 14/41 đoạn bờ ổn định (17,32 km) (bao gồm khu vực bờ nhân tạo và các vùng có kè bảo vệ). Vùng bờ càng xói thì mức độ tổn thương do mực biển dâng trong tương lai càng cao và ngược lại. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ dốc bờ biển (%)

Độ dốc vùng bờ thể hiện mối tương quan giữa mức độ tổn thương do ngập đến khả năng thay đổi của đường bờ; vùng bờ thoải có thể thay đổi (lùi về phía đất liền) nhanh hơn vùng bờ dốc [10].

Độ dốc bờ được tính toán dựa trên dữ liệu cao độ đáy biển của khu vực nghiên cứu. Đoạn bờ dùng để tính độ dốc được quy ước là phần bờ về phía biển và cách đường bờ 7,5 km. Độ dốc được tính bằng % tỷ số độ chênh cao mép bờ và vị trí cách bờ 7,5 km với khoảng cách giữa hai vị trí đó. Cứ mỗi đoạn bờ sẽ tính 3 điểm và lấy trung bình. Theo tính toán trong khu vực nghiên cứu, độ dốc lớn nhất là 0,95% và độ dốc nhỏ nhất là 0,44%. Theo phân cấp tổn thương, độ dốc càng thấp thì mức độ tổn thương càng cao. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ cao địa hình – Xây dựng kịch bản ngập 0,75 m

Nghiên cứu này sử dụng kịch bản mực biển dâng 0,75 m vào năm 2100 [2] làm cơ sở để dự báo. Phân vùng ngập do mực biển dâng được thực hiện dựa trên bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất, ảnh Landsat và dữ liệu vệ tinh Google Earth. Khu vực nghiên cứu sẽ được phân thành hai vùng: trên 0,75 m và dưới 0,75 m.

Theo khảo sát thực địa, người dân đã tìm những vùng đất cao và an toàn để sinh sống, hầu như cao trình của các khu dân cư và đường giao thông đều trên 0,75 m. Vùng trên 0,75 m được xác định là các vùng: đất ở nông thôn và đô thị; đường giao thông; núi, đồi và các khu vực khác cao trên 0,75 m. Phần còn lại của khu vực nghiên cứu, bao gồm các kênh rạch, đầm hoặc các vùng trũng ngập nước, các khu vực RNM ven biển, các khu nuôi trồng thủy hải sản.

Theo kết quả tính toán (hình 11), vùng cao trên 0,75m có diện tích gần 170 km2, khu vực có cao độ dưới 0,75 m là khu vực dự báo ngập vào năm 2010 có diện tích khoảng 373 km2, chiếm tỉ lệ tới 68,84% toàn bộ khu vực nghiên cứu.

Dựa theo số liệu tính toán này, vùng bờ nào có độ cao địa hình trên 0,75m sẽ được xem là vùng ít bị tổn thương trong điều kiện mực biển dâng trong tương lai, và có thang điểm là 1 trong thang phân loại mức độ tổn thương; vùng bờ nào có độ cao địa hình dưới 0,75m sẽ có điểm đánh giá là 5 và là vùng có mức độ tổn thương rất cao.

Các thông số khác

Trong nghiên cứu này, các biến mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực nước biển dâng toàn cầu được xem là đồng nhất cho tất cả 41 đoạn bờ. Điểm 3 cho ba biến này được cho theo thang phân loại nghiên cứu bờ biển Tây Ấn [10]: mực triều trung bình 0,95m [3], 5 điểm (mức độ tổn thương rất cao); chiều cao sóng trung bình 2,5m [3], mực nước biển dâng toàn cầu 3,1 mm/năm [3] đều 4 điểm (mức độ tổn thương cao).

5.Kết quả và thảo luận

Mức độ tổn thương được thể hiện trong hình 12. Giá trị CVI tính được trong khoảng 5,00 – 158,11. Giá trị trung bình là 38,63, trung vị 43,30, độ lệch chuẩn 46,83. CVI được chia thành 4 khoảng đều nhau theo giá trị của 25%, 50% và 75% là 13,69; 43,30; và 70,71. Mức độ tổn thương đường bờ sẽ được phân thành 4 cấp độ ứng với giá trị CVI như sau:

Hình 12. Tỉ lệ tổn thương bờ biển Hà Tiên – Kiên Lương tính theo phần trăm

Tổng chiều dài đường bờ khu vực nghiên cứu là 72,80 km. Trong đó, vùng tổn thương rất cao dài 16,19 km chiếm 22,24%; vùng tổn thương cao dài 28,11 km chiếm tỷ lệ cao nhất 38,61%; vùng tổn thương trung bình dài khoảng 14,97 km, chiếm 20,56%, và vùng tổn thương thấp dài 13,53 km, chiếm 18,59%. Kết quả phân vùng tổn thương được thể hiện trên bản đồ hình 13.

Bản đồ phân vùng (hình 13) cho thấy: khu vực tổn thương cao đa phần là các khu vực phân bố trầm tích bở rời; khu vực không có rừng ngập mặn che chắn; khu vực có kè bờ nhưng vị trí thường nằm trong khu vực cung lõm có hai mũi chắn, ví dụ các đoạn bờ thuộc vịnh Ba Hòn, Vịnh Cây Dương. Khu vực tổn thương rất cao là các đoạn bờ thuộc vịnh Thuận Yên, vịnh Hòn Chông.

Hình 13. Bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương

6. Kết luận

Dựa trên số liệu tính toán của tám yếu tố: địa chất, địa mạo, tốc độ bồi/xói, độ dốc bờ biển, độ cao địa hình, mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực biển dâng trung bình, nghiên cứu này xác định được các mức tổn thương do mực biển dâng trong tương lai cho 41 đoạn bờ của vùng Hà Tiên – Kiên Lương. Kết quả cho thấy: 22,24% vùng bờ có mức độ tổn thương rất cao; 38,61% vùng bờ có mức độ tổn thương cao. Phần lớn bờ và bãi cấu tạo bởi trầm tích bở rời phân bố trong cung lõm giữa 2 mũi đều có mức độ tổn thương từ cao đến rất cao.

Tham Khảo

[1]. Hà Quang Hải và nnk (2009). Nghiên cứu, đánh giá và phân loại các Geosite phục vụ công tác bảo tồn các di sản thiên nhiên (Ví Dụ: Vùng Hà Tiên – Kiên Lương). Báo cáo Giai đoạn 1. Đề tài KHCN cấp Đại Học Quốc Gia trọng điểm.

[2]. Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam (2009). Bộ tài nguyên và môi trường.

[3]. Mai Trọng Nhuận và nnk (2009). Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dư báo tai biến địa chất vùng biển Phú Quốc – Hà Tiên tỉ lệ 1:100.000.

[4]. Nguyễn Ngọc Trân (2009). Ứng phó với Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng. Tham luận tại Hội nghị Hội người Việt Nam tại Pháp. Tháng 5 và 6 năm 2009.

[5]. Trần Thục (2009). Biến đổi Khí hậu ở Việt Nam. Hội thảo Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu – Hội An – Quảng Nam.

[6]. Trần Triết (chủ biên) (2001). Kỷ yếu hội thảo Bảo tồn và sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học vùng đất ngập nước Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. ĐH KHTN, ĐH QG TPHCM.

[7]. Trương Công Đượng (chủ biên) (1998). Báo cáo đo vẽ Địa chất và tìm kiếm khoáng sản. Nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc. tỷ lệ 1:50.000. Tập III: Địa mạo, Tân kiến tạo, Địa chất thủy văn. Liên Đoàn bản đồ Địa chất Miền Nam.

[8]. IPCC Special Report. Emissions scenarios (2000). Intergovernmental Panel on Climate Change. ISBN: 92-9169-113-5

[9]. Jeremy Carew–Reid. ICEM – International Centre for Environmental Management (2008). Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet Nam.

[10]. G.S. Dwarakish, S.A. Vinay, Usha Natesan, Toshiyuki Asano, Taro Kakinuma, Katta Venkataramana, B. Jagadeesha Pai, M.K. Babita  (2009). Coastal vulnerability assessment of the future sea level rise in Udupi coastal zone of Karnataka state, west coast of India. Ocean & Coastal Management 52 (2009) 467–478

[11]. Vivien M. Gornitz, Tammy W. Beaty, Richard C. Danielst (1997). A coastal hazards data base for the US. West Coast.

[12]. Integrated coastal zone management (ICZM) Glossary (2005).

[13]. Ảnh vệ tinh http://glovis.usgs.gov/;        http://glcfapp.glcf.umd.edu:8080/esdi/index.jsp

Từ Bến Lội đến Ngã ba suối Sơn Thái, chân đèo Khánh Lê

Những năm trước, Bến Lội ở chân đèo Khánh Lê là điểm dừng chân học tập và giải trí của đoàn Thực tập môi trường đại cương, Khoa Môi trường. Tại đây – cảnh quan đẹp và hoang sơ, sinh viên được nghe giảng về tài nguyên nước đầu nguồn sông Cái Nha Trang, được lội nước, chơi trò cân bằng đá và tạo kiểu chụp hình cùng nhau, cùng với thày cô.

Năm nay, có một điểm học tập mới hấp dẫn hơn hẳn Bến Lội, đó là Ngã ba suối Sơn Thái. Ngã ba suối Sơn Thái trong một thung lũng rộng để lộ một cảnh quan y như các mô hình trong sách giáo khoa về địa mạo dòng chảy với sự đa dạng địa hình: bãi bồi lòng sông, các bậc thềm, các vết lộ đá gốc, các vách xói lở, các mặt trượt do xâm thực chân vách…

Ngã ba suối Sơn Thái – một điểm học tập hay, một điểm giải trí lý thú, một cảnh tự nhiên đẹp không thể không dừng lại mỗi khi đi qua.

Từ Bến Lội

Năm 2011, lấy lí do tuyến đường đèo Ngoạn Mục đang sửa chữa nên các bác tài đề nghị đi đèo Khánh Lê xuống Nha Trang. Thực ra các bác tài thích đi tuyến này hơn vì rút ngắn lộ trình tới 90 km.  Vậy là phải bổ sung mấy điểm mới cho tuyến hành trình thực tập, chưa có lộ trình tiền trạm nên phụ trách đoàn vừa đi vừa tìm điểm dừng để sinh viên học tập. Bến Lội là một điểm như vậy.

Xuống chân đèo Bidoup – Khánh Lê thường vào khoảng 11:00; đoàn dừng lại nghỉ ăn trưa, mấy quán lợp tole đơn giản là nơi thày cô và sinh viên lấy cơm hộp ra ăn, gọi nước uống. Cơm, nước xong; đi khảo sát loanh quanh, phát hiện một lòng suối có bãi cuội rộng khoảng 50 m, kéo dài tới 200 m, nước ngập chưa đến đầu gối, chảy nhẹ; thế là cả đoàn xuống vui chơi, giải trí cả một giờ đồng hồ.

Từ những năm sau đó, Bến Lội chính thức được đưa vào chương trình học tập. Bến Lội được xem là điểm chuyển tiếp lộ trình giữa núi – cao nguyên sang đồng bằng ven biển. Tại đây có quán Bến Lội, chủ quán làm bậc thềm xuống bãi nên rất tiện cho việc đi lại.

Bến Lội 27.07.2012
Bến Lội 25.07.2913
Bến Lội 24.07.2015
Bến Lội: 22.07.2016

Thày Tự Thành (trưởng đoàn) có ý định không ăn cơm hộp buổi trưa tại Bến Lội nữa; được thày Cảnh giới thiệu quán Chân Đèo có ông chủ quán luôn vui vẻ và giá cả phục vụ phải chăng. Thế là năm 2016, qua điện thoại đoàn đặt cơm trưa tại quán Chân Đèo. Cơm nóng, đồ ăn ngon, giá tốt, chủ quán nhiệt tình (xem Nhật kí thực tập môi trường 2016). Cơm trưa xong, thày trò hành quân xuống Bến Lội khoảng 1 km.

Năm ngoái cũng vậy, cơm trưa xong, thày trò lại hành quân xuống Bến Lội nhưng chuẩn bị theo bậc thềm xuống bãi thì bị chủ quán làm khó – nguyên nhân có lẽ là đoàn đặt ăn ở quán Chân Đèo. Trưởng đoàn nói gì đó, rồi chủ quán cũng cho qua. (Thực ra thì đoàn đã liên hệ đặt ăn tại quán Bến Lội rồi, nhưng mắc nên  thôi).

Đến Ngã ba suối Sơn Thái

Năm nay chủ quán Chân Đèo (ông Nguyễn Luật) liên hệ với địa phương (lãnh đạo xã Sơn Thái) và trực tiếp dẫn đoàn đến bãi Ngã ba suối (tạm gọi Ngã ba suối Sơn Thái). Ngã ba suối đẹp đến không ngờ cả về cảnh quan địa mạo và những vết lộ địa chất, địa chất môi trường.

Ngã ba suối Sơn Thái cách Bến Lội hơn 1 km về phía thượng nguồn. Có thể sơ bộ về địa tầng, địa mạo và các vấn đề môi trường tại đây như sau:

Về địa chất: Ven suối lộ đá phiến màu đen thuộc hệ tầng La Ngà, phía trên là vỏ phong hóa có màu nâu đỏ dày tới 10 m. Giữa lòng suối, rải rác nhô lên các khối đá granit thuộc phức hệ Đèo Cả. Bãi đá cuội, tảng mài tròn kích thước từ vài cm đến 30 – 50 cm, một số tảng tới 1,0 m chủ yếu có màu xám sáng với ba loại đá cơ bản gồm ryolit, ryodacit; granit và đá phiến. Nhìn chung kích thước cuội tảng lớn hơn bãi đá Bến Lội.

Về địa mạo: các tích tụ lòng suối và bãi bồi cuội tảng, cát phân bố bên bờ lồi khúc uốn;  vách xói lở, vách trượt đất phân bố nơi lạch sâu áp sát bờ. Một hệ thống bậc thềm quan sát khá rõ: Thềm 1 nguồn gốc tích tụ, cao 3,0 – 4,0 m gồm các lớp sạn, sỏi xen các lớp cuội. Thềm 2 nguồn gốc xâm thực, cao 7,0 -8,0 m. Thềm 3 cũng là thềm xâm thực, cao 10 – 12 m. Thềm 2 và thềm 3 đều lộ vỏ phong hóa từ trầm tích La Ngà.

Về môi trường: các vách xâm thực và mặt trượt mới xảy ra lộ rất rõ, việc canh tác (chặt bỏ lớp phủ thực vật) gây xói mòn đồi thềm cao dẫn đến tích tụ trên mặt thềm thấp.

Chủ quán Chân Đèo vừa đọc thơ, vừa mời rượu các thày, cô trong bữa cơm trưa
Trước khi dẫn đoàn xuống suối, chủ quán dừng lại đọc thơ
Chân vách trượt lộ đá phiến sét màu xám đen (đá gốc) phân lớp mỏng cắm dốc 70o về lòng suối
Xâm thực để lộ các khối đá granit giữa lòng suối
Trong một khung hình có nhiều dạng địa hình: thềm 1, thềm 2, thềm 3; trầm tích cuội lòng suối, xâm thực lộ đá granit, đá phiến sét và vết trượt thềm 2 và 3
Thềm 1 xâm thực mạnh vào kỳ mưa lũ
Vách xâm thực để lộ cấu tạo thềm bậc 1
Đá phiến sét phân lớp mỏng, mặt lớp láng bóng trở thành mặt trượt. Quá trình xâm thực chân vách dẫn đến hình thành khối trượt kiểu tịnh tiến
Cuội, sỏi lòng sông là nguồn vật liệu xây dựng của người dân
Ngã ba suối là nơi “bẫy” nhưng khối gỗ lớn mà ai đó đã (khai thác) trên vùng núi cao

H & H

Vài nét về địa mạo bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận

Hà Quang Hải

Bờ biển từ mũi Cá Tiên đến cửa Đầm Nại dài khoảng 50 km, là đường biên phía đông của Vườn quốc gia Núi Chúa. Dọc theo bờ biển này, nguồn tài nguyên biển có sự đa dạng và phong phú, đặc biệt là san hô. Dọc theo bờ biển này có những điểm du lịch đẹp như Bãi biển Bình Tiên, Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, Công viên Đá, Hòn Đỏ…được nhiều du khách biết đến.

Có thể nói, nguồn tài nguyên biển phong phú, cảnh quan biển đẹp của dải bờ này được hình thành và phát triển trền nền tảng yếu tố địa chất, địa mạo với sự tương tác lâu dài của quá trình nội sinh và ngoại sinh: nội sinh với sự bóc lộ thể batholith Núi Chúa cùng với những hệ thống khe nứt dầy đặc; ngoại sinh là quá trình phong hóa và phá hủy của sóng biển vào bờ đá, vào các hệ thống khe nứt để hình thành các vách biển dốc đứng, các vịnh biển, các bậc thềm biển, hang đá, cột đá và các khối đá chồng…

Dưới đây trình bày vài nét về địa mạo bờ biển thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa ghi nhận được trong quá trình hướng dẫn sinh viên Khoa Môi trường thực tập thực tế. Hy vọng những nghiên cứu chi tiết sẽ được tỉnh Ninh Thuận, Vườn quốc gia Núi Chúa cũng như các nhà khoa học Trái đất thực hiện trong tương lai.

Các hệ thống khe nứt kiểm soát phương và hình thái địa hình bờ biển

Các đá magma xâm nhập cấu tạo Núi Chúa được các tác giả thuộc công trình lập bản đồ địa chất 1:200.000 xếp vào phức hệ Đèo cả tuổi Kreta [1]. Dọc bờ biển từ mũi Cá Tiên đến mũi Thị phần lớn lộ đá thuộc phức hệ này. Theo tầu du lịch từ cửa Vĩnh Hy về phía nam qua mũi Thủ có thể quan sát các vách đá dốc đứng cao tới 30 m để lộ những hệ khe nứt đứng dầy đặc (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống khe nứt lộ trên vách biển tại mũi Thủ

Tại mũi đá phía nam Bãi Cóc, hai hệ thống khe nứt dốc đứng rõ nét có phương 195o (á kinh tuyến) và 150o (tây bắc-đông nam). Các khe nứt dày, cách nhau từ vài cm đến 20 cm (Hình 2). Kém rõ hơn là hệ khe nứt phương đông bắc và á vĩ tuyến. Tại đây cũng quan sát một hệ khe nứt dạng lớp (Sheet fracture) cắt ngang hệ khe nứt đứng (Hình 3). Hệ khe nứt dạng lớp là cơ sở tạo nên dạng địa hình phân bậc tại các mũi đá (Hình 4) và rải rác chân các vách đá dọc bờ biển. Dọc theo vách biển quan sát khá rõ hệ thống khe nứt này (hình 5).

Hình 2. Các hệ thống khe nứt tại mũi đá Nam Bãi Cóc
Hình 3. Hệ khe nứt dạng lớp cắt ngang hệ khe nứt đứng
Hình 4. Hệ thống khe nứt dạng lớp tạo địa hình phân bậc tại các mũi đá
Hình 5. Hệ thống khe nứt dạng lớp cắt ngang các hệ thống khe nứt đứng là cơ sở hình thành các bậc địa hình chân vách biển

Dễ dàng nhận thấy các hệ thống khe nứt có vai trò kiểm soát phương và hình thái đường bờ biển đá granit. Các đoạn bờ có vách dốc đứng phương á kinh tuyến chiếm ưu thế, điển hình là mũi Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và bờ biển cửa rạch Thái An đến mũi Thị (dài 6,3 km). Bờ biển phương tây bắc – đông nam rõ nhất bao gồm các đoạn bờ khu vực Bãi Rạng (dài 2,8 km); hướng kéo dài vịnh Vĩnh Hy, suối Sâu,  rạch Thái An cũng theo phương hệ khe nứt này. Đoạn bờ từ cửa rạch Vĩnh Hy đến cửa rạch Thái An là sự xen kẽ cả bốn hệ thống khe nứt, trong đó chiếm ưu thế là phương á kinh tuyến và tây bắc – đông nam.

Hệ thống khe nứt dạng lớp là cơ sở hình thành địa hình dạng bậc trên các sườn núi, vách biển và mũi nhô. Hệ thống khe nứt này cũng là cơ sở cho sự hình thành dạng địa hình đá chồng quan sát được nhiều vị trí dọc bờ biển.

Địa hình đá rơi, đá đổ chân vách biển

Hang Rái được hình thành do các khối đá rơi từ vách biển dốc. Vách dốc này bị chia cắt bởi các hệ thống khe nứt đứng và dạng lớp; quá trình phong hóa phát triển theo các hệ khe nứt dần làm các khối đá rơi xếp chồng chất lên nhau tại chân vách (Hình 6), tác động lâu dài của sóng biển làm các khối đá được mài trơn. Những khoảng trống giữa các khối đá được gọi là “hang”, trường hợp Hang Rái được hình thành theo hình thức này (Hình 7).

Hình 6. Các hệ khe nứt đứng và ngang chia vách đá thành các khối tảng đủ loại kích thước và hình dạng. Quá trình phong hóa theo hệ thống khe nứt dần làm các khối đá rơi xuống chân vách. Hình ảnh này cũng cho gợi ý về sự hình thành các khối đá, cột đá chồng
Hình 7. Hang Rái là các khoảng trống được hình thành từ các khối đá rơi từ vách đá

Công viên Đá Láng Chổi

Công viên Đá phân bố khu vực núi Láng Chổi thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Từ đèo Dinh Bà đi theo đường mòn qua khu rừng khô hạn về phía nam khoảng 1 km sẽ đến Công viên Đá. Chúng tôi đề nghị đặt tên Công viên Đá này là Công viên Đá Láng Chổi.

Công viên Đá Láng Chổi là bề mặt thềm biển cao 70 – 80 m hơi nghiêng thoải từ tây sang đông (về phía biển). Các diện tích bằng phẳng có lớp cỏ mỏng và những loài cây phát triển trong điều kiện khô hạn (thấp, lá nhỏ, nhiều gai). Nhô trên mặt bằng là các dải đá, các gò đá, cột đá cao từ 1,0 – 2,0 m đến 5,0 – 7,0 m (Hình 8). Các khối đá đổ trên mặt bằng nằm chen với thực vật, vách thềm xuống mặt biển rất dốc, lộ toàn đá khối (Hình 9).

Trên mặt một số khối đá quan sát được hiện tượng phong hóa bóc vỏ (Hình 10) và các dạng địa hình tafoni (Hình 11).

Hình 8. Các dải đá, cột đá, đá chồng nhô trên mặt bằng (bãi biển cổ). Ảnh: Nguyễn Trường Ngân
Hình 9. Vách thềm biển dốc lộ toàn các khối tảng đá granit
Hình 10. Phong hóa bóc vỏ (bóc vỏ củ hành) trên đá granit
Hình 11. Tafoni do phong hóa muối trên đá granit tại Công viên đá Láng Chổi

Các khối đá chồng phân bố rải rác trong Công viên Đá và trên bề mặt thềm biển cao 80 m, điển hình là khối đá dạng cầu, đường kính khoảng 5 m (Hình 12).

Các hệ thống khe nứt và quá trình phong hóa bóc mòn là yếu tố chính trong việc hình thành khối đá chồng. Hệ khe nứt trực giao cắt nền đá granit thành các khối tảng to nhỏ, quá trình phong hóa và vận động nâng từ từ của mặt đất đã phá hủy các khối đá, mang đi các vật chất vụn bở, chỉ còn các khối lõi đá ở trạng thái cân bằng nhất tồn tại. Hình 13 là phác thảo của Geikie về các giai đoạn hình thành khối đá chồng.

Hình 12. Khối đá chồng dạng cầu có đường kính khoảng 5,0 m trên đường vào Công viên Đá. Có thể thấy các mặt khe nứt trực giao vẫn còn khá rõ trên khối đá này. Ảnh: Nguyễn Hoài Phương Duy.

Hình 13. Phác thảo thể hiện các giai đoạn hình thành đá chồng của Geikie; hình (a): (i) đá granit gốc, (ii) lõi đá trong vụn sét phong hóa, (iii) thổ nhưỡng; hình b: (i) nước thấm xuống theo hệ khe nứt, (ii) đá granit phong hóa với các lõi đá còn lại, (iii) xói mòn mang đi các vụn, sét, để lại các lõi đá. Nguồn [25]
Các mảnh thềm đá vôi san hô ven bờ biển

Từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, các mảnh thềm cấu tạo bởi cát kết vôi san hô và rạn san hô (gọi chung là đá vôi san hô) phân bố rải rác nhô trên mặt biển khi thủy triều xuống thấp. Tại một số nơi, người dân đã khai thác đá vôi san hô làm vật liệu xây dựng.

Tại Hang Rái, mảnh thềm đá vôi san hô phân bố ven theo bờ đá granite phương đông bắc –tây nam khoảng 100 m, nơi rộng nhất khoảng 40 m (Hình 14). Bề mặt thềm cao khoảng 5,0 m so với mặt biển (triều xuống thấp). Mặt thềm khá bằng phẳng, quá trình xâm thực rửa trôi đã hình thành bề mặt đá tai mèo lởm chởm, trên mặt thềm còn có những hố tròn (hố nồi), hố hình trái tim gây sự tò mò và là những câu hỏi đối với du khách (Hình 15). Chân vách thềm có hõm gặm mòn dạng hàm ếch. Hõm gặm mòn làm cho mặt thềm yếu dần và dẫn đến sự sập đổ.

Hình 14: Mảnh thềm đá rạn san hô tại Hang Rái là một trong những điểm thăm quan, thưởng ngoạn của du khách
Hình 15. Đá tai mèo và các hố nồi (vi địa hình) trên mặt thềm san hô. Các dạng vi địa hình này đang bị các bàn chân của du khách hủy hoại

Dọc bờ biển Mỹ Hòa – Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô dài tới 10 km từ  mũi Thị đến hòn Chồng. Thềm bị sóng phá hủy mạnh tạo thành bãi ngầm (chỉ lộ ra khi thủy triều xuống thấp) (Hình 16).

Hình 16. Bãi san hô ngầm tại Mỹ Hòa

Tại Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô khá giống ở Hang Rái. Các mảnh thềm sót có diện tích nhỏ, cao hơn mặt biển khoảng 4,0 m (Hình 17); phía trong bờ bề mặt bị phủ bởi lớp cát màu xám vàng. Chân khối có hõm gặm mòn và mặt thềm cũng đang bị sóng phá hủy.

Hình 17. Mảnh thềm đá vôi san hô tại Mỹ Tân

Hòn Đỏ là một mũi nhỏ nhô ra biển, được cấu tạo bởi cát kết vôi, cao khoảng 3-4 m. Chân khối cũng có hàm ếch gặm mòn sâu 1,0 m. Phủ trên cát kết vôi là cát màu đỏ nhạt (Hình 18), đó cũng là lí do mà địa danh này mang tên hòn Đỏ. Khu vực hòn Đỏ hiện là nơi bảo tồn rạn san hô của tỉnh Ninh Thuận.

Hình 18. Cát đỏ nhạt phủ trên cát kết vôi bị đang bị sóng phá hủy

Tại Khánh Nhơn, các khối đá vôi san hô lộ thành những diện tích nhỏ nhô cao trên mặt nước biển khoảng 1,5 – 2,0.

Hình 19. Mảnh thềm cát kết san hô tại Khánh Nhơn

Cho đến nay, chỉ thấy thông báo của Henri Fon Taine về thể địa chất này [2]. Theo thông báo này, đây là đá cát kết vôi (chứa vụn san hô, sò ốc, foraminifera) phân bố rải rác từ Tuy Phong đến Phan Rang tạo thành thềm cao 15 – 19 m. Dựa vào quan hệ địa chất, ông xếp đá cát kết vôi hình thành trong giai đoạn gian băng Mindel –Riss (Cách ngày nay 430.000 – 240.000 năm); cát đỏ trẻ hơn, hình thành trong giai đoạn gian băng Riss – Wurn (Cách ngày nay 180.000 – 120.000 năm).

Dựa vào không gian phân bố, độ cao các mảnh thềm đá vôi san hô từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, chúng tôi giả thiết rằng đã từng tồn tại rạn san hô riềm (fringing reef) bám theo bờ đá granit ? trong giai đoạn biển tiến Flandrian?.

Thay lời kết

Hầu hết các điểm đến của du khách dọc ven bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa đều gắn với các thuật từ của khoa học địa mạo về các dạng địa hình như Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, thềm san hô hay một quá trình địa chất như phong hóa bóc vỏ hành, đá tai mèo, tổ ong…Diễn giải sự hình thành các dạng địa hình sẽ hấp dẫn du khách hơn nữa (như giải thích sự hình thành các khối đá chồng chẳng hạn) khi họ đến thăm quan các điểm đến này.

Khi hiểu rõ đặc điểm của từng dạng địa hình, việc khai thác các giá trị (khoa học, sinh thái, thẩm mỹ, lịch sử/văn hóa…) cũng như bảo tồn chúng sẽ thực sự hiệu quả. Có thể lấy ví dụ cho trường hợp Hang Rái:

– Đó là sự hình thành vách biển, mô hình đá chồng, đá rơi chân vách (tạo Hang Rái); hay thềm đá vôi san hô có bề mặt hình thành dạng địa hình tai mèo (thường xuất hiện trên đá vôi), các hố hình tròn hoặc trái tim xen giữa tai mèo, hay hõm gặm mòn chân vách thềm do hoạt động của sinh vật và sóng biển.

– Hiểu được quá trình hình thành vách biển sẽ bố trí những tuyến thăm quan, những điểm nhìn an toàn cho du khách (tránh được những rủi ro vì đá có thể rơi bất cứ lúc nào), nghiêm cấm du khách leo trèo trên các khối đá, vách đá chênh vênh.

– Hiểu được giá trị các dạng địa hình sẽ giúp việc bảo tồn tốt hơn như: trên mặt thềm san hô cần tạo một lối đi cho du khách để duy trì lâu dài dạng vi địa hình đá tai mèo, hố nồi, hố trái tim…

Một dải bờ biển có sự đa dạng các yếu tố địa chất địa mạo, rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế, phổ biến khoa học gắn liền với công tác bảo tồn. Vì vậy, những nghiên cứu sâu, chi tiết nên được triển khai.

Lời cảm ơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Vườn Quốc Gia Núi Chúa đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thực tập của sinh viên ngành Khoa học môi trường vừa qua; cảm ơn anh Hoàng Công Thành, anh Cao Thành Ngon, chị Nguyễn Thị Nhụ (công tác tại TT. Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường, Vườn Quốc gia Núi Chúa) đã giúp đoàn thực tập về kế hoạch học tập, nơi ăn ở và trực tiếp giảng bài cho sinh viên tại thực địa.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Xuân Bao và nnk. Bản đồ địa chất khoáng sản tờ tỷ lệ 1:200000 tờ Đà Lạt-Cam Ranh (C-49-I & C-49-II) do Cục Địa Chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản năm 1999.

[2]. Henri Fon Taine. Nhận xét về các thành tạo duyên hải Đệ tứ ở Nam Trung Bộ. Arch Geol Vietnam. No 15, 1972 (bản dịch của Nguyễn Anh Tuấn).

[3]. C.R. Twidale and J. R. Vidal-Romani. Landforms and Geology of Grani te T errains. DOI: 10.13140/RG.2.1.1595.6722.

 

 

 

 

 

Một số hình ảnh đợt thực tập Môi trường Đại cương năm 2018

Năm nay ngành Khoa học môi trường khóa 16 (KMT_16) có 109 sinh viên nên việc học tập, đi lại và ăn ở tại các cơ sở lưu trú khá thuận lợi. Công việc tập huấn trước khi đi thực địa ngoài chuyên môn, tập trung nhiều về nội qui, trang bị cá nhân và thái độ học tập…Việc nhắc nhở và kiểm tra tài liệu, nhật ký sinh viên của các thày cô phụ trách nhóm thường xuyên nên hy vọng kết quả học tập năm nay sẽ tốt hơn vài năm trước.

Lộ trình và điểm học tập năm nay có vài thay đổi so với trước đây, xuống chân đèo Khánh Lê học tập và giải trí tại điểm Ngã ba suối Sơn Thái thay cho điểm Bến Lội, học tập và thăm quan tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa Ninh Thuận thay cho Khu bảo tồn Hòn Mun (trước đây) và Đầm Môn (năm ngoái).

Điểm Ngã ba suối Sơn Thái và các điểm thuộc Vườn Quốc Gia Núi Chúa như Vịnh Vĩnh Hy, Trung tâm Giáo dục MT, Hang Rái – Thềm san hô cổ, Công viên Đá thật bổ ích, lý thú và ấn tượng.

Dưới đây là hình ảnh học tập tại một số điểm khảo sát trong đợt thực tập từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 7 năm 2018.

Nghe giảng Môi trường và Tài nguyên nước tại Chân đồi tượng đài Bắc cầu La Ngà
Khảo sát phẫu diện đất và mặt cắt vỏ phong hóa trên đá bazan cổ tại mỏ bauxite Bảo Lộc
Tìm hiểu cảnh quan thung lũng sông Đa Nhim và tác động môi trường của đập thủy điện Đại Ninh
Bắt đầu leo núi Langbian (đỉnh Rada)
Nghe giảng trên đỉnh Rada
Chuẩn bị quan trắc nước Hồ Xuân Hương bằng bộ TEST KIT
Nghe giảng tại Công ty Cổ phần Cấp nước Sài Gòn Dankia
Nghe giảng về điệu kiện môi trường và kỹ thuật nuôi cá tầm, cá hồi tại TTNC cá nước lạnh Tây Nguyên
Tại bãi bồi Ngã ba suối Sơn Thái (chân đèo Khánh Lê)
Nghe giảng đặc điểm địa chất, địa mạo môi trường tại Ngã ba suối Sơn Thái
Trên tàu đáy kinh đi ngắm san hô tại vịnh Vĩnh Hy
Nghe giảng về đa dạng sinh học tại TT Giáo dục MT, Vườn QG Núi Chúa
Tìm hiểu công tác bảo tồn rùa tại khu vực Hang Rái, vườn QG Núi Chúa
Trên thềm san hô cổ khu vực Hang Rái, Vườn QG Núi Chúa
Thăm quan và thưởng thức tại vườn nho Ngọc Nga, Thái An.
Qua hệ sinh thái rừng khô hạn Vườn QG Núi Chúa ra Công viên Đá
Tại Công viên đá Vườn QG Núi Chúa

H & H

 

 

Thế giới đang quay lưng với than đá, cớ sao Việt Nam còn vấn vương

Linh Lan

The LEADER” Đây đã là năm 2018, chúng ta không thể tiếp tục dựa vào những nguồn năng lượng truyền thống mà thế giới đang quay lưng lại như vậy được”, cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry khẳng định.

Trung Quốc, một trong những quốc gia đi đầu trong phát triển năng lượng mặt trời và đang dần từ bỏ than đá, lại chính là nước cấp nhiều vốn nhất cho Việt Nam trong các dự án xây dựng các nhà máy nhiệt điện than, với 8,3 tỷ USD.

Theo cơ cấu quy hoạch điện Việt Nam năm 2016 – 2030, nhiệt điện than chiếm tỷ trọng lớn nhất, ở mức 43% đến năm 2030, trong khi tiềm năng phát triển thủy điện không còn nhiều và không đám ứng kịp tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng của nền kinh tế.

Theo ông Hoàng Quốc Vượng, Thứ trưởng Bộ công thương, với nhu cầu năng lượng trong nước tăng nhanh, đi kèm với sự gia tăng nhanh chóng về tỷ trọng các nguồn nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là than trong cơ cấu nguồn cung năng lượng, thì thách thức về tác động môi trường của các hoạt động cung cấp năng lượng sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến 2050, đề ra ưu tiên thúc đẩy phát triển các dạng năng lượng tái tạo, bao gồm: thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng gió, mặt trời, sinh khối, khí sinh học, nhiên liệu sinh học.

Duy trì tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung cấp năng lượng sơ cấp ở trên mức 30% đến năm 2035. Đây là một mục tiêu dường như còn khiêm tốn so với tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam.

Và phải chăng đã đến lúc Việt Nam nên đưa ra câu trả lời cho câu hỏi của Cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry: “Lựa chọn nào cho Việt Nam: Than đá hay Năng lượng tái tạo?”.

Quay trở lại Việt Nam lần này, ông John Kerry đã có những chia sẻ cởi mở và thẳng thắn tới những thách thức trong ngành năng lượng ở Việt Nam hiện nay.

Theo ông Kerry, vào năm 1992, các biện pháp đưa ra nhằm chống lại biến đổi khí hậu hầu hết là những chương trình mang tính chất tự nguyện. Nhiều nước chỉ muốn gắn bó với những thứ truyền thống như năng lượng hóa thạch: than đá, dầu mỏ, khí đốt.

Tuy nhiên, trong vòng 20 năm tiếp theo, những con số biết nói của khoa học đã khẳng định rằng “con người đã làm trầm trọng thêm vấn đề biến đổi khí hậu và đang đặt sinh mạng của chính chúng ta trong rủi ro”, ông nói.

Rất nhiều người đã buộc phải rời khỏi căn nhà của họ, quê hương của họ vì không có đủ thức ăn và điều kiện sống tồi tàn. Trong năm qua, nước Mỹ đã phải chi ra 350 tỷ USD, một con số kỷ lục, để phục hồi sự tàn phá do thảm họa thiên tai gây ra.

Hàng trăm nghìn tỷ đô la Mỹ khác đã phải chi để giải quyết cho những vấn đề mà lẽ ra nếu chúng ta có những giải pháp thông minh hơn thì những con số này đã không cao đến mức như vậy.

“Tôi biết rõ và đã song hành với Việt Nam kể từ khi hai nước có những hoạt động đầu tiên sau khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Sau các quan hệ hợp tác lâu dài giữa Việt Nam và Mỹ, tôi tin rằng chúng ta có cơ hội lớn để cùng nhau xây dựng, phát triển nguồn năng lượng sạch”, ông Kerry nhấn mạnh.

Hiện nay, 14000 kw điện được sử dụng có nguồn gốc từ năng lượng điện than và nhu cầu sử dụng điện than trong tương lai còn tăng lên nữa.

Tuy nhiên, ông John Kerry cho rằng than đá là nguồn nguyên liệu bẩn nhất và cũng chính là một trong những yếu tố lớn nhất gây ra hiệu ứng nhà kính.

“Khắp nơi trên thế giới, các nước đang dịch chuyển từ việc sử dụng năng lượng than đá sang các loại năng lượng sạch khác. 75% nguồn năng lượng điện của Mỹ hiện nay đến từ năng lượng mặt trời trong khi than đá chỉ chiếm 0,2% mà thôi. Tôi muốn song hành cùng các bạn, tôi tin rằng tất cả chúng ta có thể tìm ra giải pháp chính sách về năng lượng”, ông nói.

Bên cạnh đó, than đá không hề rẻ hơn so với năng lượng mặt trời khi chúng ta tính tất cả các chi phí của những ảnh hưởng tiêu cực của việc khai thác than đối với sức khỏe của người dân và môi trường. Các chi phí đó rõ ràng khiến điện than trở nên đắt hơn rất nhiều so với năng lượng mặt trời.

Việc lắp đặt các máy móc hay công nghệ liên quan đến ngành năng lượng mặt trời và năng lượng gió là những ngành có tốc độ tăng trưởng việc làm nhanh nhất ở Mỹ hiện tại, ông Kerry cho biết.

Ông tin tưởng rằng Việt Nam hoàn toàn có cơ hội và tiềm năng để phát triển năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời… và nếu biết kết hợp các loại hình này với nhau, chi phí sẽ giảm đi đáng kể.

“Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng các chính sách cởi mở, bước đầu tạo ra những lộ trình và thực thi các quy định để các bạn có thể đạt được tạo dựng được hệ thống để biến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu trên thế giới, trở thành mô hình mẫu cho các quốc gia khác trên thế giới về phát triển năng lượng sạch”, ông nói.

Trong những năm qua, Trung Quốc là một trong những quốc gia đang phát triển năng lượng mặt trời lớn nhất và nước này cũng đã quay lưng lại với mô hình sử dụng điện than. Các quốc gia châu Á khác như Malaysia, Indonesia, Ấn Độ cũng đều đang hướng tới việc phát triển các năng lượng tái tạo.

Nếu chúng ta cam kết và nghiêm túc thực hiện quá trình chuyển đổi, thì nó có thể mang lại 500.000 việc làm trong lĩnh vực này.

Với tiềm năng cao và cam kết chắc chắn của Chính phủ với định hướng ấy, yếu tố quan trọng nhất bây giờ, theo người bạn lâu năm của Việt Nam, là làm thế nào để huy động được các nguồn đầu tư, hỗ trợ tài chính, và xây dựng các cơ chế chính sách thuận lợi, tạo điều kiện cho sự phát triển của năng lượng xanh.

Nguồm: http://theleader.vn/the-gioi-dang-quay-lung-voi-than-da-co-sao-viet-nam-con-van-vuong-2018011201004522.htm

 

Lũ quét tan hoang, người dân oằn mình: Vì đâu nên nỗi?

Những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn.

Mấy ngày qua, cả nước đang hướng về Hà Giang, Lai Châu… nơi người dân địa phương đang phải gồng mình chống chọi với  những cơn lũ quyét đáng sợ, khó lường, sẵn sàng cướp đi tính mạng, tài sản của bất kỳ ai.

Trong những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn. Thống kê cho thấy trong giai đoạn 2000 – 2015, trung bình hàng năm cả nước xảy ra khoảng 18 trận lũ quét và sạt lở đất, làm chết và mất tích 47 người. Riêng trong năm 2017, trận lũ quét vào rạng sáng 3/8 tại Yên Bái, Sơn La, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu làm chết và mất tích 41 người. Hai tháng sau đó, vụ sạt lở đất tại Tân Lạc, Hòa Bình rạng sáng 12/10, cũng đã khiến 18 người bị vùi lấp và thiệt mạng.

Những nguyên nhân cốt lõi khiến cho loại hình thiên tai này trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên tại các tỉnh miền núi nước ta là hệ lụy mang nặng dấu ấn từ các hoạt động khai thác tài nguyên thái quá trong suốt thời gian dài. Trong đó không thể không nhắc tới nạn chặt phá rừng và khaithác khoáng sản bừa bãi.

Tan hoang vì lũ quét. Ảnh: VOV

Mất rừng và suy giảm chất lượng rừng

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, hiện tại độ che phủ rừng của nước ta năm 2017 là 41,45% diện tích lãnh thổ, tương đương với 14,2 triệu ha (bao gồm 10,1 triệu ha rừng tự nhiên và 4,1 triệu ha rừng trồng).

Ngoài việc giảm sút diện tích, chất lượng rừng cũng bị suy giảm – các khu vực có trữ lượng giàu và trung bình bị giảm mạnh trong khi diện tích rừng nghèo và tái sinh lại tăng lên nhanh chóng. Năm 1990, diện tích các loại rừng nghèo và tái sinh vào khoảng 7.000.000 ha, nhưng đến năm 2005 đã tăng lên 10,2 triệu ha, chiếm 80% tổng diện tích rừng ở Việt Nam.

Mặc dù tổng diện tích rừng không giảm nhiều trong 50 năm qua, nhưng có sự suy giảm rõ rệt về diện tích rừng tự nhiên cũng như chất lượng rừng tự nhiên. Hiện nay chỉ có 8,7% diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu. Nhiều diện tích vẫn được gọi là rừng tự nhiên, nhưng trong thực tế chỉ là cây bụi và cây gỗ tái sinh nên tán che phủ là không đáng kể, thảm thực vật không dày và khả năng giữ nước giúp ổn định dòng chảy là không đáng kể.

Sự suy giảm về diện tích và độ dày của lớp thảm thực vật đã làm (i) giảm độ kết dính của đất khi bị bão hòa nước nhanh chóng và phá vỡ sự liên kết giữa các lớp đất (do thiếu hoặc ít rễ cây) – gây sạt/ trượt lở đất/ lũ ống và (ii) giảm độ thô, nhám bề mặt (độ cản nước), gia tăng tốc độ dòng chảy, khiến một lượng lớn nước dồn về quá nhanh trong quãng thời gian ngắn, bằng mực nước các khe suối dâng cao với nguồn năng lượng lớn, cuốn phăng tất cả đất đá và vật liệu trên đường đi của nước, gây ra lũ quét.

Khai thác khoáng sản bừa bãi

Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc đã và đang xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi (cả có phép và không phép). Thiếu hay yếu kém trong quy hoạch khai thác khoáng sản ở các địa phương đã và đang khiến cho rừng bị tàn phá, đồi núi bị đào khoét nham nhở và nhiều sông suối bị bồi lấp. Nhiều đơn vị khai thác khoáng chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt nên đã liên tục đào, khoét sâu và lòng núi và để lại nhiều hang động nhân tạo với nguy cơ đổ sập rất cao.

Tại những nơi có cấu tạo địa chất yếu, những hang núi nhân tạo này có thể bị sập bất cứ khi nào trong mùa mưa lũ, tạo nên những trận lũ ống lũ quét kinh hoàng. Nghiêm trọng hơn, nhiều doanh nghiệp do muốn tiết kiếm chi phí nên sẵn sàng xả thải hay đổ chất thải rắn tại chỗ xuống sông suối gây ách tắc dòng chảy. Khi gặp lũ lớn, một lượng lớn đất đá bị dòng nước lũ cuốn phăng xuống hạ lưu làm bồi lấp nhà cửa và đất canh tác của người dân sinh sống gần sông suối.

Quy hoạch dân cư

Do sức ép về tăng trưởng dân số, hiện nay nhiều địa phương khu vực miền núi đang bị thiếu đất ở khiến nhiều hộ dân phải mạo hiểm dựng nhà tại những nơi có nguy cơ cao về sạt lở như chân núi hay sườn đồi. Một số hộ khác khi xây dựng nhà cửa đã vô tình chặn mất dòng chảy hoặc hạn chế khả năng thoát lũ tự nhiên của sông suối.

Ở hầu hết các tỉnh, chính quyền địa phương đã xác định được các rủi ro này và phần lớn đã lên được danh sách các điểm cần di dời hay tái định cư. Tuy nhiên do thiếu quỹ đất và vốn hỗ trợ (theo quy định, ngân sách nhà nước chỉ có thể hỗ trợ số tiền 20 triệu/ hộ để di dời ra khỏi vùng nguy hiểm) nên phần lớn nguy cơ vẫn còn đó cho hàng ngàn hộ dân tại mỗi tỉnh.

Cần những giải pháp căn bản, kịp thời

Trước hết là các giải pháp mang tính căn bản liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng. Bộ NN & PTNT cũng như chính quyền địa phương cần ban hành và triển khai các biện pháp kịp thời nhằm hạn chế và chấm dứt việc mất rừng hiện nay do chuyển đổi mục đích sử dụng đất thành các dự án khác. Việc này chiếm đến 67% nguyên nhân suy giảm diện tích rừng giai đoạn 2011 – 2016, bên cạnh hai nguyên nhân khác là phá rừng trái phép (11%) và cháy rừng (22%).

Thứ 2 là các giải pháp chuyên môn về phòng chống thiên tai. Áp dụng các biện pháp công trình như kè, gia cố những địa điểm dễ gây sạt lở, khơi thông dòng chảy, xác định và lắp đặt các biển cảnh báo tại những khu vực nhạy cảm về thiên tai, nhanh chóng hỗ trợ di dời nhà cửa cho người dân đang sống tại những khu vực có nguy cơ cao.

Song hành với đó là các biện pháp phi công trình, như nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, tăng cường nhận thức cộng đồng trong phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai & biến đổi khí hậu, và xây dựng cộng đồng chủ động chống chịu thiên tai, v.v.

Quan trọng hơn, cần thể chế hóa và quy định “đánh giá rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu” như một yêu cầu bắt buộc đối với bất kỳ dự án can thiệp nào – như cách mà chúng ta vẫn áp dụng đối với “đánh giá tác động môi trường” lâu nay.

Trần Văn Tuấn

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/lu-quet-tan-hoang-nguoi-dan-oan-minh-vi-dau-nen-noi-459228.html

Nửa ngày khảo sát xói lở bờ biển Dương Tơ đảo Phú Quốc

Ngày 10 tháng 6, Lê Hoài Nam rủ đi xem xét hiện tượng xói lở bờ biển đảo Phú Quốc theo lời mời của Sở TN và MT tỉnh Kiên Giang. 7: 30 ngày 12, hai thày trò rời sân bay Tân Sơn Nhất trên chuyến bay VN1823; khoảng 8: 30 đã có mặt tại thị trấn Dương Đông. Ngồi quán cà phê 63 Trần Hưng Đạo để Nam liên hệ công việc với cán bộ Sở TN và MT. Chờ đến 10:30, sốt ruột quá, thuê xe đi khảo sát một đoạn bờ biển Dương Tơ, phía tây sân bay Phú Quốc.

Sóng biển xâm thực tạo vách tại điểm PQ_98. Hàng dừa cao mới trồng cùng với vài cây dương cách đường mép nước khoảng 20 m
Cây dương đơn độc lộ rễ cho biết bờ biển bị xói lở

Cơm trưa xong, 14:00 xe của Công ty Cổ phần 99 Núi chở đến bờ biển Dự án Sunset Sanato để khảo sát hiện tượng xói lở bờ biển mà công ty đã báo cho Sở Tài Nguyên và Môi Trường. Ông Đoàn Thành Luân trưởng dự án cho biết bờ biển đang bị xói. Xói lở được phát hiện sau khi công ty làm cầu tạm và nhận thấy sóng biển đã „ngoạn” đi một đoạn bờ biển rộng gần 4,0 m trong khoảng 2 tháng.

Một đoạn bờ biển dài tại Dự Án Sunset Sanato (PQ_99) đang bị sóng biển „tấn công”
Trong hai tháng, bờ bị xói gần 4,0 m (tính từ điểm người đứng mặc áo xanh). Cầu tạm chính là „mốc quan trắc” báo cho Công ty 99 biết bờ biển đang bị xói
Sóng mạnh được cảnh báo du khách không được tắm biển

Xe Công ty 99 đưa nhóm khảo sát thêm một điểm nữa tại bờ biển Dự Án Bim (PQ_100). Bãi biển ở đây đang được cải tạo, những cây dừa cao mới trồng cách đường mép nước khoảng 20 m. Cát mịn trắng từ giồng cát cổ được lấy đổ ra bãi biển để trang trí. Một „cầu tầu” dài khoảng 100 m vuông góc với bờ biển giống như mỏ hàn đã xuất hiện.

Tại (PQ_100), dừa cũng được trồng không xa đường mép nước, cây dương lẻ loi với phần gốc đã được “kè tạm” bởi các khối đá cát kết
Đã xuất hiện một „cầu tàu” giống như một mỏ hàn tại PQ_100. Tại đây cát trắng mịn (khai thác từ giồng cát cổ) được trải trên bãi biển cát nâu vàng

Bãi biển Dương Tơ, thuộc tế bào bờ biển Dương Tơ, là tế bào có tốc độ xói lở lớn nhất bờ Tây đảo Phú Quốc. Xói lở xảy ra mạnh vào mùa gió tây nam (từ tháng 5 đến tháng 10). Việc Công ty 99 Núi nhận ra hiện tượng xói lở bờ biển sau khi làm cầu tạm như là một lời nhắc nhở về một tai biến địa chất đang diễn ra.

Bãi biển Dương Tơ hoang sơ với con đường đất đỏ mộng mơ ngày nào chạy giữa biển xanh và giồng cát trắng nay không còn nữa; thay vào đó là những công trình bê tông lớn nhỏ, cao thấp đang dần lấp kín. Nhưng hãy lưu ý rằng, những con sóng biển đang ngày đêm cặm cụi cào đi từng hạt cát. Để các công trình này tồn tại lâu dài, những giải pháp chống xói lở cần sớm được thực hiện.

H & H

Vì sao đường Nguyễn Hữu Cảnh vẫn ngập dù có siêu máy bơm?

Việc chống ngập bằng máy bơm được đánh giá là không khả thi, lãng phí; thiết kế của công trình này chưa đúng tiêu chuẩn thoát nước .

Đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) gần đây lại bị ngập, dù những lần thử nghiệm máy bơm công suất lớn trước đó đều thành công. Nghiêm trọng nhất là trận mưa đêm 1/6 khiến cả đoạn đường biến thành sông, ngập lút yên xe máy.

Công ty Quang Trung (chủ đầu tư máy bơm) cho rằng, rác đã gây nghẽn cống khiến nước không về trạm bơm và không loại trừ khả năng có hành vi “cố tình phá hoại”. Lãnh đạo TP HCM đã đề nghị chuyên gia, nhà khoa học vào cuộc tìm nguyên nhân.

Chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm thoát nước

Trao đổi với VnExpress, Kỹ sư Vũ Hải (hơn 50 năm công tác trong lĩnh vực cấp thoát nước, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa và ĐH Xây dựng Hà Nội) đánh giá, chủ đầu tư giỏi chế tạo máy bơm nhưng lại không phải là đơn vị thoát nước chuyên nghiệp. Họ đã thiết kế công trình không đúng quy phạm, tiêu chuẩn thoát nước, dẫn đến việc chống ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh không hiệu quả.

Ông Hải phân tích, máy bơm phải hút từ bể chứa mới đủ nước để vận hành. Trong khi đó hệ thống đang hút nước trực tiếp từ đường phố, dẫn đến tình trạng thiếu nước, máy bơm không hoạt động.

Về nguyên tắc thiết kế, một trạm cần 2-3 máy bơm. Lúc mưa nhỏ dùng một cái, khi mưa to thì tăng số lượng. Hiện, chủ đầu tư dùng duy nhất một máy bơm, khi hư hỏng sẽ bị động.

Đường Nguyễn Hữu Cảnh sau trận mưa đêm 1/6 dù có siêu máy bơm. Ảnh: Duy Trần.

Máy bơm công suất lớn, tốc độ nước chảy vượt quá tiêu chuẩn có thể làm vỡ ống. Nhất là phải bơm nước nhiều lần nên khả năng bục vỡ ống là rất cao. Lực hút của máy rất mạnh khiến bùn rác luôn bị cuốn vào trong, làm tắc ống.

“Theo tôi không có ai phá hoại máy bơm. Ống bơm có lực chảy nhất định nhưng đang bị cưỡng bức phải chảy nhanh, khiến hệ thống ống rơi vào tình trạng không an toàn. Thực tế là sau một thời gian sử dụng ống bơm đã xuất hiện hàng tấn rác và đơn vị thoát nước đô thị phải vào cuộc dọn dẹp, khơi thông”, ông Hải nói.

Tuy nhiên, theo ông Hải, chống ngập bằng máy bơm chỉ giải quyết bề nổi, không phải giải pháp lâu dài. Trong khi ngập đang là vấn đề lớn của thành phố, nếu vẫn giữ lối tư duy cứng nhắc sẽ khó giải quyết triệt để.

Đường ngập nhưng máy bơm thiếu nước hút

Tương tự, TS Hồ Long Phi (chuyên gia thoát nước) cho rằng, việc dùng máy bơm công suất lớn chống ngập cấp bách cho đường Nguyễn Hữu Cảnh cần tính toán khoa học hơn.

Hệ thống thoát nước tại tuyến đường không đồng bộ, trong khi máy bơm chưa được áp dụng kiến thức về thủy lực, khiến lượng nước về không đủ cho máy hoạt động. Nếu dùng máy bơm công suất nhỏ nhưng chia thành nhiều lưu vực sẽ hiệu quả, hợp lý hơn.

“Giải pháp dùng máy bơm chống ngập là cần thiết cho những khu trũng. Nhưng nó chỉ mang tính tình thế, không thể áp dụng ngày này qua tháng kia. Thành phố phải có những giải quyết căn cơ hơn, đặc biệt là đối với đường Nguyễn Hữu Cảnh và những khu ngập nặng khác phải có hệ thống thoát và ngăn nước”, ông Phi nói.

Siêu máy bơm được đánh giá chống ngập thành công sau hơn chục lần chạy thử nghiệm. Ảnh: Thành Nguyễn.

Lãng phí mà không hiệu quả

Đứng ở góc độ nhà quy hoạch kiến trúc, TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, việc lắp máy bơm chống ngập là xử lý phần ngọn, trong khi cốt lõi vấn đề là vì sao nước chỉ tập trung ở đó.

Hiện, đường Nguyễn Hữu Cảnh có dãy cao ốc nối dài từ Tân Cảng đến Ba Son – giống như một tuyến đê ngăn nước từ thành phố thoát ra sông Sài Gòn. Khi con đường liên tục bị ngập, người dân sống hai bên đường phải nâng nền cục bộ.

“Như vậy là biến con đường thành sông bị kẹp giữa hai tuyến đê, cứ mưa là ngập. Việc này có thể giải quyết triệt để nếu xác định đúng phương pháp”, ông Sơn nói.

Theo ông, thành phố phải tổ chức lại không gian xanh và không gian nước cho các khu vực ngập, vừa ít tốn kém lại hiệu quả lâu dài. Chú ý việc cân đối độ bêtông hóa, độ dốc và độ nền của khu vực xung quanh; đồng thời phải làm những không gian chứa nước tạm thời như: hồ điều tiết, hồ chứa nước ngầm, hệ thống thoát nước từ những hồ này ra sông, để đối phó với những trận mưa lớn.

“Có như thế thì vấn đề mới được giải quyết. Còn việc thấy ngập ở đâu thì lắp máy bơm ở đó sẽ lãng phí tiền tỷ mà không hiệu quả”, ông Sơn nói.

Hữu Nguyên – Minh Ngọc

Nguồn: http://daubao.com/vi-sao-duong-nguyen-huu-canh-van-ngap-du-co-sieu-may-bom/xa-hoi/1728281.html