Featured

Chào mừng đến với góc học thuật của chúng tôi

thay-co_full
Hướng dẫn thực tập MTĐC-2016 (trên đỉnh Langbiang)

❤ Chúc các bạn tìm được những thông tin thú vị và bổ ích 😉
❤ Hy vọng nhận được nhiều sự quan tâm và chia sẻ của quý độc giả.

Advertisements

Thế giới đang quay lưng với than đá, cớ sao Việt Nam còn vấn vương

Linh Lan

The LEADER” Đây đã là năm 2018, chúng ta không thể tiếp tục dựa vào những nguồn năng lượng truyền thống mà thế giới đang quay lưng lại như vậy được”, cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry khẳng định.

Trung Quốc, một trong những quốc gia đi đầu trong phát triển năng lượng mặt trời và đang dần từ bỏ than đá, lại chính là nước cấp nhiều vốn nhất cho Việt Nam trong các dự án xây dựng các nhà máy nhiệt điện than, với 8,3 tỷ USD.

Theo cơ cấu quy hoạch điện Việt Nam năm 2016 – 2030, nhiệt điện than chiếm tỷ trọng lớn nhất, ở mức 43% đến năm 2030, trong khi tiềm năng phát triển thủy điện không còn nhiều và không đám ứng kịp tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng của nền kinh tế.

Theo ông Hoàng Quốc Vượng, Thứ trưởng Bộ công thương, với nhu cầu năng lượng trong nước tăng nhanh, đi kèm với sự gia tăng nhanh chóng về tỷ trọng các nguồn nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là than trong cơ cấu nguồn cung năng lượng, thì thách thức về tác động môi trường của các hoạt động cung cấp năng lượng sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến 2050, đề ra ưu tiên thúc đẩy phát triển các dạng năng lượng tái tạo, bao gồm: thủy điện vừa và nhỏ, năng lượng gió, mặt trời, sinh khối, khí sinh học, nhiên liệu sinh học.

Duy trì tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung cấp năng lượng sơ cấp ở trên mức 30% đến năm 2035. Đây là một mục tiêu dường như còn khiêm tốn so với tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam.

Và phải chăng đã đến lúc Việt Nam nên đưa ra câu trả lời cho câu hỏi của Cựu ngoại trưởng Mỹ John Kerry: “Lựa chọn nào cho Việt Nam: Than đá hay Năng lượng tái tạo?”.

Quay trở lại Việt Nam lần này, ông John Kerry đã có những chia sẻ cởi mở và thẳng thắn tới những thách thức trong ngành năng lượng ở Việt Nam hiện nay.

Theo ông Kerry, vào năm 1992, các biện pháp đưa ra nhằm chống lại biến đổi khí hậu hầu hết là những chương trình mang tính chất tự nguyện. Nhiều nước chỉ muốn gắn bó với những thứ truyền thống như năng lượng hóa thạch: than đá, dầu mỏ, khí đốt.

Tuy nhiên, trong vòng 20 năm tiếp theo, những con số biết nói của khoa học đã khẳng định rằng “con người đã làm trầm trọng thêm vấn đề biến đổi khí hậu và đang đặt sinh mạng của chính chúng ta trong rủi ro”, ông nói.

Rất nhiều người đã buộc phải rời khỏi căn nhà của họ, quê hương của họ vì không có đủ thức ăn và điều kiện sống tồi tàn. Trong năm qua, nước Mỹ đã phải chi ra 350 tỷ USD, một con số kỷ lục, để phục hồi sự tàn phá do thảm họa thiên tai gây ra.

Hàng trăm nghìn tỷ đô la Mỹ khác đã phải chi để giải quyết cho những vấn đề mà lẽ ra nếu chúng ta có những giải pháp thông minh hơn thì những con số này đã không cao đến mức như vậy.

“Tôi biết rõ và đã song hành với Việt Nam kể từ khi hai nước có những hoạt động đầu tiên sau khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Sau các quan hệ hợp tác lâu dài giữa Việt Nam và Mỹ, tôi tin rằng chúng ta có cơ hội lớn để cùng nhau xây dựng, phát triển nguồn năng lượng sạch”, ông Kerry nhấn mạnh.

Hiện nay, 14000 kw điện được sử dụng có nguồn gốc từ năng lượng điện than và nhu cầu sử dụng điện than trong tương lai còn tăng lên nữa.

Tuy nhiên, ông John Kerry cho rằng than đá là nguồn nguyên liệu bẩn nhất và cũng chính là một trong những yếu tố lớn nhất gây ra hiệu ứng nhà kính.

“Khắp nơi trên thế giới, các nước đang dịch chuyển từ việc sử dụng năng lượng than đá sang các loại năng lượng sạch khác. 75% nguồn năng lượng điện của Mỹ hiện nay đến từ năng lượng mặt trời trong khi than đá chỉ chiếm 0,2% mà thôi. Tôi muốn song hành cùng các bạn, tôi tin rằng tất cả chúng ta có thể tìm ra giải pháp chính sách về năng lượng”, ông nói.

Bên cạnh đó, than đá không hề rẻ hơn so với năng lượng mặt trời khi chúng ta tính tất cả các chi phí của những ảnh hưởng tiêu cực của việc khai thác than đối với sức khỏe của người dân và môi trường. Các chi phí đó rõ ràng khiến điện than trở nên đắt hơn rất nhiều so với năng lượng mặt trời.

Việc lắp đặt các máy móc hay công nghệ liên quan đến ngành năng lượng mặt trời và năng lượng gió là những ngành có tốc độ tăng trưởng việc làm nhanh nhất ở Mỹ hiện tại, ông Kerry cho biết.

Ông tin tưởng rằng Việt Nam hoàn toàn có cơ hội và tiềm năng để phát triển năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng mặt trời… và nếu biết kết hợp các loại hình này với nhau, chi phí sẽ giảm đi đáng kể.

“Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng các chính sách cởi mở, bước đầu tạo ra những lộ trình và thực thi các quy định để các bạn có thể đạt được tạo dựng được hệ thống để biến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu trên thế giới, trở thành mô hình mẫu cho các quốc gia khác trên thế giới về phát triển năng lượng sạch”, ông nói.

Trong những năm qua, Trung Quốc là một trong những quốc gia đang phát triển năng lượng mặt trời lớn nhất và nước này cũng đã quay lưng lại với mô hình sử dụng điện than. Các quốc gia châu Á khác như Malaysia, Indonesia, Ấn Độ cũng đều đang hướng tới việc phát triển các năng lượng tái tạo.

Nếu chúng ta cam kết và nghiêm túc thực hiện quá trình chuyển đổi, thì nó có thể mang lại 500.000 việc làm trong lĩnh vực này.

Với tiềm năng cao và cam kết chắc chắn của Chính phủ với định hướng ấy, yếu tố quan trọng nhất bây giờ, theo người bạn lâu năm của Việt Nam, là làm thế nào để huy động được các nguồn đầu tư, hỗ trợ tài chính, và xây dựng các cơ chế chính sách thuận lợi, tạo điều kiện cho sự phát triển của năng lượng xanh.

Nguồm: http://theleader.vn/the-gioi-dang-quay-lung-voi-than-da-co-sao-viet-nam-con-van-vuong-2018011201004522.htm

 

Lũ quét tan hoang, người dân oằn mình: Vì đâu nên nỗi?

Những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn.

Mấy ngày qua, cả nước đang hướng về Hà Giang, Lai Châu… nơi người dân địa phương đang phải gồng mình chống chọi với  những cơn lũ quyét đáng sợ, khó lường, sẵn sàng cướp đi tính mạng, tài sản của bất kỳ ai.

Trong những năm gần đây, lũ quét đang có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, khó lường và để lại hậu quả khốc liệt hơn. Thống kê cho thấy trong giai đoạn 2000 – 2015, trung bình hàng năm cả nước xảy ra khoảng 18 trận lũ quét và sạt lở đất, làm chết và mất tích 47 người. Riêng trong năm 2017, trận lũ quét vào rạng sáng 3/8 tại Yên Bái, Sơn La, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu làm chết và mất tích 41 người. Hai tháng sau đó, vụ sạt lở đất tại Tân Lạc, Hòa Bình rạng sáng 12/10, cũng đã khiến 18 người bị vùi lấp và thiệt mạng.

Những nguyên nhân cốt lõi khiến cho loại hình thiên tai này trở thành nỗi ám ảnh thường xuyên tại các tỉnh miền núi nước ta là hệ lụy mang nặng dấu ấn từ các hoạt động khai thác tài nguyên thái quá trong suốt thời gian dài. Trong đó không thể không nhắc tới nạn chặt phá rừng và khaithác khoáng sản bừa bãi.

Tan hoang vì lũ quét. Ảnh: VOV

Mất rừng và suy giảm chất lượng rừng

Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, hiện tại độ che phủ rừng của nước ta năm 2017 là 41,45% diện tích lãnh thổ, tương đương với 14,2 triệu ha (bao gồm 10,1 triệu ha rừng tự nhiên và 4,1 triệu ha rừng trồng).

Ngoài việc giảm sút diện tích, chất lượng rừng cũng bị suy giảm – các khu vực có trữ lượng giàu và trung bình bị giảm mạnh trong khi diện tích rừng nghèo và tái sinh lại tăng lên nhanh chóng. Năm 1990, diện tích các loại rừng nghèo và tái sinh vào khoảng 7.000.000 ha, nhưng đến năm 2005 đã tăng lên 10,2 triệu ha, chiếm 80% tổng diện tích rừng ở Việt Nam.

Mặc dù tổng diện tích rừng không giảm nhiều trong 50 năm qua, nhưng có sự suy giảm rõ rệt về diện tích rừng tự nhiên cũng như chất lượng rừng tự nhiên. Hiện nay chỉ có 8,7% diện tích rừng tự nhiên là rừng giàu. Nhiều diện tích vẫn được gọi là rừng tự nhiên, nhưng trong thực tế chỉ là cây bụi và cây gỗ tái sinh nên tán che phủ là không đáng kể, thảm thực vật không dày và khả năng giữ nước giúp ổn định dòng chảy là không đáng kể.

Sự suy giảm về diện tích và độ dày của lớp thảm thực vật đã làm (i) giảm độ kết dính của đất khi bị bão hòa nước nhanh chóng và phá vỡ sự liên kết giữa các lớp đất (do thiếu hoặc ít rễ cây) – gây sạt/ trượt lở đất/ lũ ống và (ii) giảm độ thô, nhám bề mặt (độ cản nước), gia tăng tốc độ dòng chảy, khiến một lượng lớn nước dồn về quá nhanh trong quãng thời gian ngắn, bằng mực nước các khe suối dâng cao với nguồn năng lượng lớn, cuốn phăng tất cả đất đá và vật liệu trên đường đi của nước, gây ra lũ quét.

Khai thác khoáng sản bừa bãi

Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc đã và đang xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi (cả có phép và không phép). Thiếu hay yếu kém trong quy hoạch khai thác khoáng sản ở các địa phương đã và đang khiến cho rừng bị tàn phá, đồi núi bị đào khoét nham nhở và nhiều sông suối bị bồi lấp. Nhiều đơn vị khai thác khoáng chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt nên đã liên tục đào, khoét sâu và lòng núi và để lại nhiều hang động nhân tạo với nguy cơ đổ sập rất cao.

Tại những nơi có cấu tạo địa chất yếu, những hang núi nhân tạo này có thể bị sập bất cứ khi nào trong mùa mưa lũ, tạo nên những trận lũ ống lũ quét kinh hoàng. Nghiêm trọng hơn, nhiều doanh nghiệp do muốn tiết kiếm chi phí nên sẵn sàng xả thải hay đổ chất thải rắn tại chỗ xuống sông suối gây ách tắc dòng chảy. Khi gặp lũ lớn, một lượng lớn đất đá bị dòng nước lũ cuốn phăng xuống hạ lưu làm bồi lấp nhà cửa và đất canh tác của người dân sinh sống gần sông suối.

Quy hoạch dân cư

Do sức ép về tăng trưởng dân số, hiện nay nhiều địa phương khu vực miền núi đang bị thiếu đất ở khiến nhiều hộ dân phải mạo hiểm dựng nhà tại những nơi có nguy cơ cao về sạt lở như chân núi hay sườn đồi. Một số hộ khác khi xây dựng nhà cửa đã vô tình chặn mất dòng chảy hoặc hạn chế khả năng thoát lũ tự nhiên của sông suối.

Ở hầu hết các tỉnh, chính quyền địa phương đã xác định được các rủi ro này và phần lớn đã lên được danh sách các điểm cần di dời hay tái định cư. Tuy nhiên do thiếu quỹ đất và vốn hỗ trợ (theo quy định, ngân sách nhà nước chỉ có thể hỗ trợ số tiền 20 triệu/ hộ để di dời ra khỏi vùng nguy hiểm) nên phần lớn nguy cơ vẫn còn đó cho hàng ngàn hộ dân tại mỗi tỉnh.

Cần những giải pháp căn bản, kịp thời

Trước hết là các giải pháp mang tính căn bản liên quan đến công tác bảo vệ và phát triển rừng. Bộ NN & PTNT cũng như chính quyền địa phương cần ban hành và triển khai các biện pháp kịp thời nhằm hạn chế và chấm dứt việc mất rừng hiện nay do chuyển đổi mục đích sử dụng đất thành các dự án khác. Việc này chiếm đến 67% nguyên nhân suy giảm diện tích rừng giai đoạn 2011 – 2016, bên cạnh hai nguyên nhân khác là phá rừng trái phép (11%) và cháy rừng (22%).

Thứ 2 là các giải pháp chuyên môn về phòng chống thiên tai. Áp dụng các biện pháp công trình như kè, gia cố những địa điểm dễ gây sạt lở, khơi thông dòng chảy, xác định và lắp đặt các biển cảnh báo tại những khu vực nhạy cảm về thiên tai, nhanh chóng hỗ trợ di dời nhà cửa cho người dân đang sống tại những khu vực có nguy cơ cao.

Song hành với đó là các biện pháp phi công trình, như nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, tăng cường nhận thức cộng đồng trong phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai & biến đổi khí hậu, và xây dựng cộng đồng chủ động chống chịu thiên tai, v.v.

Quan trọng hơn, cần thể chế hóa và quy định “đánh giá rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu” như một yêu cầu bắt buộc đối với bất kỳ dự án can thiệp nào – như cách mà chúng ta vẫn áp dụng đối với “đánh giá tác động môi trường” lâu nay.

Trần Văn Tuấn

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/lu-quet-tan-hoang-nguoi-dan-oan-minh-vi-dau-nen-noi-459228.html

Nửa ngày khảo sát xói lở bờ biển Dương Tơ đảo Phú Quốc

Ngày 10 tháng 6, Lê Hoài Nam rủ đi xem xét hiện tượng xói lở bờ biển đảo Phú Quốc theo lời mời của Sở TN và MT tỉnh Kiên Giang. 7: 30 ngày 12, hai thày trò rời sân bay Tân Sơn Nhất trên chuyến bay VN1823; khoảng 8: 30 đã có mặt tại thị trấn Dương Đông. Ngồi quán cà phê 63 Trần Hưng Đạo để Nam liên hệ công việc với cán bộ Sở TN và MT. Chờ đến 10:30, sốt ruột quá, thuê xe đi khảo sát một đoạn bờ biển Dương Tơ, phía tây sân bay Phú Quốc.

Sóng biển xâm thực tạo vách tại điểm PQ_98. Hàng dừa cao mới trồng cùng với vài cây dương cách đường mép nước khoảng 20 m
Cây dương đơn độc lộ rễ cho biết bờ biển bị xói lở

Cơm trưa xong, 14:00 xe của Công ty Cổ phần 99 Núi chở đến bờ biển Dự án Sunset Sanato để khảo sát hiện tượng xói lở bờ biển mà công ty đã báo cho Sở Tài Nguyên và Môi Trường. Ông Đoàn Thành Luân trưởng dự án cho biết bờ biển đang bị xói. Xói lở được phát hiện sau khi công ty làm cầu tạm và nhận thấy sóng biển đã „ngoạn” đi một đoạn bờ biển rộng gần 4,0 m trong khoảng 2 tháng.

Một đoạn bờ biển dài tại Dự Án Sunset Sanato (PQ_99) đang bị sóng biển „tấn công”
Trong hai tháng, bờ bị xói gần 4,0 m (tính từ điểm người đứng mặc áo xanh). Cầu tạm chính là „mốc quan trắc” báo cho Công ty 99 biết bờ biển đang bị xói
Sóng mạnh được cảnh báo du khách không được tắm biển

Xe Công ty 99 đưa nhóm khảo sát thêm một điểm nữa tại bờ biển Dự Án Bim (PQ_100). Bãi biển ở đây đang được cải tạo, những cây dừa cao mới trồng cách đường mép nước khoảng 20 m. Cát mịn trắng từ giồng cát cổ được lấy đổ ra bãi biển để trang trí. Một „cầu tầu” dài khoảng 100 m vuông góc với bờ biển giống như mỏ hàn đã xuất hiện.

Tại (PQ_100), dừa cũng được trồng không xa đường mép nước, cây dương lẻ loi với phần gốc đã được “kè tạm” bởi các khối đá cát kết
Đã xuất hiện một „cầu tàu” giống như một mỏ hàn tại PQ_100. Tại đây cát trắng mịn (khai thác từ giồng cát cổ) được trải trên bãi biển cát nâu vàng

Bãi biển Dương Tơ, thuộc tế bào bờ biển Dương Tơ, là tế bào có tốc độ xói lở lớn nhất bờ Tây đảo Phú Quốc. Xói lở xảy ra mạnh vào mùa gió tây nam (từ tháng 5 đến tháng 10). Việc Công ty 99 Núi nhận ra hiện tượng xói lở bờ biển sau khi làm cầu tạm như là một lời nhắc nhở về một tai biến địa chất đang diễn ra.

Bãi biển Dương Tơ hoang sơ với con đường đất đỏ mộng mơ ngày nào chạy giữa biển xanh và giồng cát trắng nay không còn nữa; thay vào đó là những công trình bê tông lớn nhỏ, cao thấp đang dần lấp kín. Nhưng hãy lưu ý rằng, những con sóng biển đang ngày đêm cặm cụi cào đi từng hạt cát. Để các công trình này tồn tại lâu dài, những giải pháp chống xói lở cần sớm được thực hiện.

H & H

Vì sao đường Nguyễn Hữu Cảnh vẫn ngập dù có siêu máy bơm?

Việc chống ngập bằng máy bơm được đánh giá là không khả thi, lãng phí; thiết kế của công trình này chưa đúng tiêu chuẩn thoát nước .

Đường Nguyễn Hữu Cảnh (quận Bình Thạnh) gần đây lại bị ngập, dù những lần thử nghiệm máy bơm công suất lớn trước đó đều thành công. Nghiêm trọng nhất là trận mưa đêm 1/6 khiến cả đoạn đường biến thành sông, ngập lút yên xe máy.

Công ty Quang Trung (chủ đầu tư máy bơm) cho rằng, rác đã gây nghẽn cống khiến nước không về trạm bơm và không loại trừ khả năng có hành vi “cố tình phá hoại”. Lãnh đạo TP HCM đã đề nghị chuyên gia, nhà khoa học vào cuộc tìm nguyên nhân.

Chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm thoát nước

Trao đổi với VnExpress, Kỹ sư Vũ Hải (hơn 50 năm công tác trong lĩnh vực cấp thoát nước, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa và ĐH Xây dựng Hà Nội) đánh giá, chủ đầu tư giỏi chế tạo máy bơm nhưng lại không phải là đơn vị thoát nước chuyên nghiệp. Họ đã thiết kế công trình không đúng quy phạm, tiêu chuẩn thoát nước, dẫn đến việc chống ngập đường Nguyễn Hữu Cảnh không hiệu quả.

Ông Hải phân tích, máy bơm phải hút từ bể chứa mới đủ nước để vận hành. Trong khi đó hệ thống đang hút nước trực tiếp từ đường phố, dẫn đến tình trạng thiếu nước, máy bơm không hoạt động.

Về nguyên tắc thiết kế, một trạm cần 2-3 máy bơm. Lúc mưa nhỏ dùng một cái, khi mưa to thì tăng số lượng. Hiện, chủ đầu tư dùng duy nhất một máy bơm, khi hư hỏng sẽ bị động.

Đường Nguyễn Hữu Cảnh sau trận mưa đêm 1/6 dù có siêu máy bơm. Ảnh: Duy Trần.

Máy bơm công suất lớn, tốc độ nước chảy vượt quá tiêu chuẩn có thể làm vỡ ống. Nhất là phải bơm nước nhiều lần nên khả năng bục vỡ ống là rất cao. Lực hút của máy rất mạnh khiến bùn rác luôn bị cuốn vào trong, làm tắc ống.

“Theo tôi không có ai phá hoại máy bơm. Ống bơm có lực chảy nhất định nhưng đang bị cưỡng bức phải chảy nhanh, khiến hệ thống ống rơi vào tình trạng không an toàn. Thực tế là sau một thời gian sử dụng ống bơm đã xuất hiện hàng tấn rác và đơn vị thoát nước đô thị phải vào cuộc dọn dẹp, khơi thông”, ông Hải nói.

Tuy nhiên, theo ông Hải, chống ngập bằng máy bơm chỉ giải quyết bề nổi, không phải giải pháp lâu dài. Trong khi ngập đang là vấn đề lớn của thành phố, nếu vẫn giữ lối tư duy cứng nhắc sẽ khó giải quyết triệt để.

Đường ngập nhưng máy bơm thiếu nước hút

Tương tự, TS Hồ Long Phi (chuyên gia thoát nước) cho rằng, việc dùng máy bơm công suất lớn chống ngập cấp bách cho đường Nguyễn Hữu Cảnh cần tính toán khoa học hơn.

Hệ thống thoát nước tại tuyến đường không đồng bộ, trong khi máy bơm chưa được áp dụng kiến thức về thủy lực, khiến lượng nước về không đủ cho máy hoạt động. Nếu dùng máy bơm công suất nhỏ nhưng chia thành nhiều lưu vực sẽ hiệu quả, hợp lý hơn.

“Giải pháp dùng máy bơm chống ngập là cần thiết cho những khu trũng. Nhưng nó chỉ mang tính tình thế, không thể áp dụng ngày này qua tháng kia. Thành phố phải có những giải quyết căn cơ hơn, đặc biệt là đối với đường Nguyễn Hữu Cảnh và những khu ngập nặng khác phải có hệ thống thoát và ngăn nước”, ông Phi nói.

Siêu máy bơm được đánh giá chống ngập thành công sau hơn chục lần chạy thử nghiệm. Ảnh: Thành Nguyễn.

Lãng phí mà không hiệu quả

Đứng ở góc độ nhà quy hoạch kiến trúc, TS.KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng, việc lắp máy bơm chống ngập là xử lý phần ngọn, trong khi cốt lõi vấn đề là vì sao nước chỉ tập trung ở đó.

Hiện, đường Nguyễn Hữu Cảnh có dãy cao ốc nối dài từ Tân Cảng đến Ba Son – giống như một tuyến đê ngăn nước từ thành phố thoát ra sông Sài Gòn. Khi con đường liên tục bị ngập, người dân sống hai bên đường phải nâng nền cục bộ.

“Như vậy là biến con đường thành sông bị kẹp giữa hai tuyến đê, cứ mưa là ngập. Việc này có thể giải quyết triệt để nếu xác định đúng phương pháp”, ông Sơn nói.

Theo ông, thành phố phải tổ chức lại không gian xanh và không gian nước cho các khu vực ngập, vừa ít tốn kém lại hiệu quả lâu dài. Chú ý việc cân đối độ bêtông hóa, độ dốc và độ nền của khu vực xung quanh; đồng thời phải làm những không gian chứa nước tạm thời như: hồ điều tiết, hồ chứa nước ngầm, hệ thống thoát nước từ những hồ này ra sông, để đối phó với những trận mưa lớn.

“Có như thế thì vấn đề mới được giải quyết. Còn việc thấy ngập ở đâu thì lắp máy bơm ở đó sẽ lãng phí tiền tỷ mà không hiệu quả”, ông Sơn nói.

Hữu Nguyên – Minh Ngọc

Nguồn: http://daubao.com/vi-sao-duong-nguyen-huu-canh-van-ngap-du-co-sieu-may-bom/xa-hoi/1728281.html

Báo cáo của Mỹ về dự án đập Sambor ở Campuchia bị giấu nhẹm?

TTO – Đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện Sambor do Trung Quốc chống lưng tại Campuchia cho thấy con đập lớn nhất nước này sẽ giết chết sông Mekong theo đúng nghĩa đen.

Đập Hạ Sesan 2 ở Campuchia khi còn trong quá trình xây dựng. Đập này hiện đã vận hành – Ảnh: GUARDIAN

Theo báo Guardian của Anh, tác động khủng khiếp trên được cảnh báo trong một báo cáo mật do Chính phủ Campuchia thuê tư vấn thực hiện.

Phnom Penh đã được bàn giao toàn bộ tài liệu nghiên cứu 3 năm từ Viện Di sản quốc gia – một tổ chức nghiên cứu và tư vấn của Mỹ hồi năm ngoái, nhưng vì lý do nào đó đến nay chưa công bố dù nhiều tổ chức dân sự đã lên tiếng kêu gọi.

Theo những tài liệu tờ báo Anh tiếp cận được, các chuyên gia Mỹ nhận định dự án Sambor ở tỉnh Kratie thuộc Campuchia là một vị trí “tồi tệ nhất để xây thủy điện” vì tác động của nó đối với môi trường hoang dã quá lớn.

Đập Sambor sẽ chặn luồng cá từ hồ Tonle Sap (Biển Hồ), một chi lưu quan trọng của sông Mekong, trong khi dòng sông này đảm bảo an ninh lương thực cho khoảng 60 triệu người Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam.

Việc Phnom Penh “ém” báo cáo làm dấy lên lo ngại Campuchia vẫn sẽ tiến hành xây đập Sambor mặc cho dự báo ảm đạm đối với số phận loài cá heo nước ngọt sông Mekong và một trong những luồng di cư cá nước ngọt lớn nhất thế giới.

Để hoàn thành dự án thủy điện này, người Trung Quốc đề xuất xây một con đập bê tông rộng đến 18km, cao 33m chắn ngang sông Mekong đoạn chảy qua tỉnh Kratie để tạo thành một hồ chứa nước khổng lồ dài 82km.

“Bên cạnh mối đe dọa đối với cá heo Irrawaddy và nghề cá, sinh kế và dinh dưỡng của các cộng đồng nông thôn sẽ bị ảnh hưởng, đẩy nhanh hơn tình trạng sụt lún tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt nam” – ông Marc Goichot, chuyên gia về nguồn nước của tổ chức WWF, nhận định về đập Sambor.

An ninh lương thực của 60 triệu người sống dọc sông Mekong bị đập Sambor đe dọa – Ảnh: GUARDIAN

Trong phần kết luận, báo cáo của Mỹ viết: “Một con đập tại vị trí này có thể giết chết dòng sông, trừ khi được định vị lại, thiết kế và vận hành một cách bền vững. Sambor là vị trí tồi tệ nhất để xây một đập nước lớn”.

Tờ Guardian dẫn lời Thứ trưởng Bộ Năng lượng Campuchia Ith Praing: “Đây là một vấn đề nhạy cảm và còn quá sớm để công bố thông tin về dự án Sambor”.

Ông Praing cho biết sẽ không có quyết định nào được đưa ra trước cuộc bầu cử tháng 7 tới. Nếu dự được thông qua, nhà thầu Trung Quốc Hydrolancang International Energy Company có khả năng được chọn thực hiện dự án Sambor.

Hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác, hành động để sông Mekong mãi là dòng chảy của hòa bình, là kết nối sinh tồn bền vững, thịnh vượng đến muôn đời của các quốc gia, người dân trong khu vực”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3

Tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3 tổ chức tại Campuchia với chủ đề “Một Mekong, một tinh thần chung” vào đầu tháng 4 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng hiện nay, lưu vực sông Mekong phải đối mặt với những thách thức lớn với hậu quả là nguồn tài nguyên nước Mekong đang bị suy kiệt cả về số lượng và chất lượng, lượng phù sa và chất dinh dưỡng bị suy giảm, hệ sinh thái và môi trường bị suy thoái nghiêm trọng.

Các dấu hiệu tiêu cực đó thể hiện rõ rệt và trầm trọng hơn ở các quốc gia hạ lưu Mekong, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đang thường xuyên phải đối mặt với các đợt hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông bờ biển và sụt lún đất… đe dọa sinh kế của hơn 20 triệu người dân.

“Cần phải có những hành động thiết thực, kịp thời để Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, vựa cá của cả khu vực trong hàng trăm năm qua tiếp tục phát triển và là nguồn cung gạo lớn cho bảo đảm an ninh lương thực khu vực”, Thủ tướng nhấn mạnh và đề nghị Ủy hội MRC tập trung cho sử dụng công bằng, hợp lý và bền vững tài nguyên nước Mekong và các tài nguyên liên quan.

PHÚC LONG

Nguồn: https://tuoitre.vn/bao-cao-cua-my-ve-du-an-dap-sambor-o-campuchia-bi-giau-nhem-20180517142846061.htm

Cái chết của biển Aral

Biển Aral, nằm giữa Kazakhstan và Uzbekistan, trước đây là một phần của Liên bang nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết, là một điểm du lịch thịnh vượng trong năm 1960. Việc làm trệch dòng sông để lấy nước phục vụ nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển Aral chỉ trong 30 năm. Giờ đây, biển đã chết với sự bao quanh bởi hàng ngàn km2 muối, và sự biến đổi này đã phá hủy vĩnh viễn nền tảng kinh tế của khu vực.

Năm 1960, diện tích biển Aral vào khoảng 67.000 km2. Sự chuyển hướng chảy hai sông chính dẫn vào biển đã làm giảm độ cao bề mặt hơn 20 m và mất khoảng 28.000 km2 diện tích bề mặt (hình 1.B). Các thị trấn đã từng là những trung tâm hải sản nay đã lùi sâu vào nội địa khoảng 30 km. Mất đi tác động điều tiết của biển đối với thời tiết đang làm biến đổi khí hậu khu vực; ngày nay mùa đông lạnh hơn và mùa hè ấm hơn. Gió bão mang theo bụi, cát mặn và lan tỏa trên diện rộng, làm hư hại đất và ô nhiễm không khí.

Bài học học được từ biển Aral là sự hủy hoại môi trường có thể dẫn đến sự biến đổi khu vực nhanh chóng. Các nhà môi trường, bao gồm các nhà địa chất học, lo lắng rằng những gì mà con người đã làm cho vùng Aral là triệu chứng của những gì mà chúng ta đang thực hiện trên nhiều khía cạch có quy mô toàn cầu.

Hiện nay một dự án khôi phục đầy tham vọng đang được tiến hành để cứu phần phía bắc, phần hồ nhỏ hơn. Một con đập thấp dài 13 km dài đã được xây dựng ngang hồ ngay phía nam nơi sông Syr Darya chảy vào hồ (xem hình 1.B). Với việc bảo tồn nước của dòng sông, lượng nước nhiều hơn đang chảy vào hồ và đập giữ nước ở phía bắc của lòng hồ. Mực nước đang gia tăng, và một số hoạt động đánh bắt cá đã trở lại. Đây là một dấu hiệu đầy hứa hẹn, nhưng cần phải làm nhiều hơn nữa.

Hình 1. Biển chết (a) Biển Aral là biển chết, được bao quanh bởi diện tích hàng ngàn km vuông muối. (b) Sự làm chệch dòng chảy lấy nước cho nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển này. Hai con tàu trong ảnh bị mắc cạn trên bãi biển rộng lớn đầy muối do sự bốc hơi của nước biển Aral.

H & H

Nguồn: Edward A. Keller. Introduction to Environmental Geology. University of California, Santa Barbara. Fifth Edition.

 

Ngổn ngang Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới

Thiên nhiên phải mất ba trăm ngàn năm để chạm khắc nên ngọn Núi Châu Thới. Hơn ba trăm năm trước, tổ tiên – những người mở cõi đã chọn vị trí đắc địa này để dựng Châu Thới Sơn Tự và đó chính là cơ sở để Núi Châu Thới được công nhận Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia. Nhưng ba mươi năm qua, di sản này đã bị xâm phạm nghiêm trọng, môi trường xuống cấp ở mức báo động.

Nếu áp dụng hình thức thẻ như Công viên Địa chất toàn Cầu hiện nay, Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới xứng đáng nhận THẺ ĐỎ.

Cảnh lên chùa Châu Thới như này rất hiếm. Ảnh Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)

Dưới đây là mấy dòng ghi nhận về Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới sau lần hướng dẫn lớp cao học QLMT K27 đi thực địa ngày 01/04/2018.

Tưởng vậy:

Trở thành di tích cấp Quốc gia, chùa cổ trên đỉnh núi Châu Thới với những kiến trúc đặc sắc, cảnh quan đẹp sẽ trở nên nổi tiếng hơn, hoạt động du lịch, nhất là du lịch tâm linh sẽ thu hút du khách, địa phương có thể phát triển các dịch vụ đi kèm, người dân được sống trong môi trường tĩnh lặng và xanh, sạch, đẹp.

Nhưng không phải vậy

Chỉ ít tháng nữa, Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia Núi Châu Thới sẽ tròn 30 năm được công nhận, nhưng những gì diễn ra ở đây cho thấy di tích này như không người quản lý: các hố đào to, nhỏ làm biến dạng địa hình, cảnh quan; ô nhiễm bụi khủng khiếp quanh năm; moong ngưng khai thác trở thành ao nước tù và tiềm ẩn rủi ro đối người và vật nuôi; bậc thềm lên chùa thành nơi họp chợ; bãi xe, rác thải ngập ngụa; khuôn viên chùa hỗn độn với ô tô, xe máy, người đi lại, người bán hàng rong, người khấn, nhang khói ghi ngút.

Không gian xáo trộn

Núi Châu Thới bị bủa vây bởi một hệ thống các ao, hồ đào cũ mới do khai thác đá xây dựng. Trong khi diện tích phía đông thuộc tỉnh Đồng Nai, hoạt động khai thác dường như đã dừng lại thì diện tích thuộc Bình Dương những mỏ đá lớn lân cận núi Châu Thới vẫn đang đào khoét hàng ngày.

Các hố đào do khai thác bủa vây núi Châu Thới, diện tích mầu đen trên ảnh là các moong khai thác cũ nay trở thành ao, hồ nước tù đọng; diện tích màu trắng xám là các moong vẫn đang được khai thác
Khai thác đá đã làm biến dạng hình thể núi Châu Thới. Hai hồ nước tù, đọng và tiềm ẩn rủi ro: hồ phía đông nam rộng 150 m ở chân núi, hồ phía tây rộng khoảng 200 m khoét ngay vào sườn núi với vách dốc đứng chỉ cách khuôn viên chùa khoảng 30 – 40 m.
Một sườn núi với thảm phủ xanh trước đây đã trở thành hồ nước sâu có vách dốc đứng cao tới 40 m. Qua 30 năm, vách vẫn lộ đá “tươi” như thể một chứng tích tố cáo tội ác của con người đối với một di tích lịch sử văn hóa cũng là một di sản tự nhiên hiếm có của vùng Đông Nam Bộ.
Mỏ đá Tân Đông Hiệp (dài 1.100 m, rộng 800 m, độ sâu 80 – 100 m) cách núi Châu Thới khoảng 600 m về phía tây bắc. Mỏ đã hoạt động 23 năm, hình như mỏ này vẫn tiếp tục gia hạn khai thác.
Mỏ đá Núi Nhỏ (dài 800 m, rộng 400 m, sâu 80 m) cách núi Châu Thới khoảng 500 m về phía đông nam. Trong ảnh là một moong khai thác cũ nay là hồ nước, xa hơn (phía trên ảnh) là moong đang khai thác.

Chợ búa nhếch nhác

220 bậc thềm lên chùa trở thành nơi họp chợ, các tấm bạt to nhỏ buộc ngang thân cây làm lều, hàng quán bày lộn xộn dọc lối đi, rác đủ loại ngập tràn từ chân cổng chùa tới khuôn viên chùa.

Bậc thang lên chùa là nơi “họp chợ” với lều bạt tạm bợ
Nhếch nhác quá, lều và rác thải tràn lan
Rác ven hồ (ngay gần cổng chùa)
Rác leo theo 220 bậc thang, người ta còn lấy ống hút uống nước, túi ni lon buộc vào cành cây để cầu may
Và rác lên gần đỉnh núi

Khuôn viên hỗn độn

Khuôn viên chùa vốn là nơi thanh tịnh nay không còn, thay vào đó là cảnh tượng hỗn độn, nhốn nháo, nào là ô tô, xe máy chạy lên xuống, người đi lại, người khấn bái, người bán rong…trên một không gian trật trội.

Bãi xe ô tô, xe máy ngay tại khuôn viên chùa Châu Thới (mặc dù tại chân núi, nơi cổng chùa cũng đã có bãi xe)
Người khấn, người đi và xe cộ chen chúc cùng tượng phật
Nhìn bức hình này cũng đủ thấy Di tích Lịch sử – Văn hóa Núi Châu Thới được ứng xử ra sao

Khi giới thiệu Núi Châu Thới, website tỉnh Bình Dương có đoạn trích dẫn dưới đây:

Sách “Gia Định Thành Thông Chí ” đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành. Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục”.

Châu Thới không thể trở lại như xưa nhưng chắc chắn sẽ tốt hơn, hiệu quả hơn, nếu như những người có trách nhiệm biết khai thác đúng giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên của di sản quí hiếm này.

H & H

Núi Châu Thới – Di sản Địa tầng, Địa mạo và Điểm nhìn ba thành phố

Hà Quang Hải

Là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia, núi Châu Thới còn là một địa di sản có giá trị khoa học về Địa tầng, Địa mạo và là điểm nhìn duy nhất để chiêm ngưỡng cảnh quan tự nhiên và đô thị ba thành phố lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía nam: Bình Dương, Biên Hòa và TP. HCM.

  1. Đá Hệ tầng Châu Thới có tuổi 250 triệu năm

Châu Thới (núi Châu Thới) được nhà địa chất Bùi Phú Mỹ và cộng sự đặt tên Hệ tầng Châu Thới tuổi Trias giữa (T2 ct) trên cơ sở nghiên cứu chi tiết mặt cắt địa chất tại núi Châu Thới (Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) và Bửu Long (thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Đây là hệ tầng đá cổ nhất lộ ra dưới dạng một khối núi duy nhất vùng Đông Nam Bộ.

Theo mô tả [2], mặt cắt hệ tầng Châu Thới từ dưới lên gồm 3 tập. Tập 1: cuội kết nhiều thành phần lộ ra tại Bửu Long. Tập 2: chủ yếu là cát kết arkos lộ ở Châu Thới và Bửu Long. Tập 3: cát bột kết, sét bột, bột kết lộ ra ở Bửu Long và Châu Thới. Đá của tập 2 và 3 bị cuội kết cơ sở tuổi Jura phủ bất chỉnh hợp.

“Tập 1: Cuội kết nhiều thành phần lộ ra tại Bửu Long. Cuội gồm diorit, plagiogranit biotit, ryolit, ryodacit porphyr, đá sừng thạch anh felspat, gneis, silic, đá phiến thạch anh – mica, đá hoa.” [2]. Ảnh: H.Q.H
“Tập 2: Chủ yếu là cát kết arkos, hạt vừa màu xám lục, phân lớp dày hoặc dạng khối. Tại Bửu Long quan sát rất rõ quan hệ chuyển tiếp của tập cát kết arkos này với với tập cuội kết cơ sở (tập 1) nằm dưới.” [2]. Ảnh: H.Q.H

Cát kết arkos lộ ở vách khai thác đá sườn núi Châu Thới. Ảnh: H.Q.H

“Tập 3: cát bột kết, sét bột, bột kết màu xám đen phân lớp rõ nằm xen kẽ nhau, nằm chuyển tiếp từ tập 2 lên. Trong đá phiến và bột kết tìm được hóa thạch cúc đá (ở Bửu Long) và Chân rìu (ở Châu Thới).” Các vào hóa thạch này là cơ sở để các nhà cổ sinh xác định các đá hệ tầng Châu Thới có tuổi Trias giữa.

Cúc đá Anisi vùng đồi Bửu Long, Biên Hòa, cơ sở định tuổi cho hệ tầng Châu Thới. Nguồn [2].
  1. Các bậc thềm ở núi Châu Thới

Núi Châu Thới có các mức thềm như sau:

– Bề mặt cao 30 m phân bố ở chân núi Châu Thới. Bề mặt này có diện rộng, khá bằng phẳng. Đồi cát đỏ (nghĩa trang liệt sỹ TP.HCM) cũng thuộc mức thềm này.

– Bề mặt cao 60 m phân bố dạng vai sườn núi. Mức bề mặt này có thể nhận thấy từ các vị trí xa quanh núi.

– Bề mặt đỉnh núi Thới khá bằng phẳng, cao 90 m.

Ba bậc thềm trên có nguổn gốc mài mòn, thuộc các mức thềm phổ biến ở vùng Nam Bộ: T4 (25 – 35 m), T5 (55 – 65 m) và T6 (80-100 m). Tuổi tương ứng cho các mức thềm này là 97.000 ± 27.000 năm (tuổi OSL của hệ tầng Thủ Đức cấu tạo thềm T4), T5: 165.000-195.000 năm, và T6: 240.000-300.000 năm [1].

Các bậc thềm mài mòn ở núi Châu Thới. Ảnh: H.Q.H
  1. Núi Châu Thới – Điểm nhìn ba thành phố

Về hành chính, núi Châu Thới thuộc tỉnh Bình Dương, nhưng về không gian núi Châu Thới được xem như phân bố tại điểm kết nối giữa ba thành phố lớn của miền Đông Nam Bộ, đó là Bình Dương, Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh. Là điểm cao duy nhất nhô trên bề mặt đồng bằng giữa ba thành phố nên núi Châu Thới được nhìn thấy từ nhiều vị trí xung quanh và từ đỉnh núi Châu Thới dễ dàng quan sát cảnh quan thiên nhiên và đô thị của ba thành phố này.

– Trung tâm thành phố Thủ Dầu Một cách núi Châu Thới 18 km về phía tây bắc, theo hướng này có thể quan sát thềm Pleistocen, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An và các tòa nhà cao của thành phố Thủ Dầu Một ?.

– Trung tâm thành phố Biên Hòa cách núi Châu Thới 10 km về phía đông bắc, theo hướng này có thể quan sát thung lũng sông Đồng Nai và thành phố Biên Hòa.

– Tháp Tài chính Bitexco (quận 1 Tp. Hồ Chí Minh) cách núi Châu Thới 19 km về phía Tây Nam, theo hướng này có thể quan sát được các tòa nhà cao tầng quận 1 và cảnh quan khu đô thị Đông thành phố Hồ Chí Minh.

Nếu lắp đặt hệ thống ống nhòm trên đỉnh Châu Thới, việc quan sát cảnh quan ba thành phố sẽ rất thú vị. Đỉnh núi Châu Thới cũng là điểm thích hợp để ngắm nhìn bình minh thành phố Biên Hòa phía đông và hoàng hôn thành phố Hồ Chí Minh phía Tây.

Núi Châu Thới nhô cao trên vùng đồng bằng, điểm nhìn duy nhất để chiêm ngưỡng cảnh quan tự nhiên và đô thị ba tỉnh, thành: Bình Dương-Đồng Nai-Tp.HCM
Châu Thới nhìn từ phía bắc (Bình Dương). Ảnh: H.Q.H
Núi Châu Thới nhìn từ phía Đông (bờ sông Đồng Nai, Biên Hòa). Ảnh: Phạm Hoài Nhân (Nguồn Internet)
Từ đỉnh núi Châu Thới nhìn về thung lũng sông Đồng Nai ở phía đông. Ảnh: H.Q.H
Từ đỉnh núi Châu Thới quan sát cảnh quan đô thị, đồng bằng thấp và sông Đồng Nai ở phía đông nam. Ảnh: H.Q.H
Từ đỉnh núi Châu Thới nhìn về phía tây nam thấy Tháp Tài chính Bitexco ở quận 1, TP.HCM. Ảnh: Phạm Hoài Nhân (Nguồn: Internet)
Ngắm hoàng hôn đô thị từ đỉnh núi Châu Thới. Ảnh từ Facebook Tu Nguyễn (nguồn: Internet)

Các giá trị về địa tầng, địa mạo và điểm nhìn ba thành phố sẽ làm tăng thêm giá trị Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia núi Châu Thới. Khảo sát bổ sung để định danh và đánh dấu điểm xuất lộ các cấu trúc địa chất, các quan hệ địa tầng, các vị trí hóa thạch để có kế hoạch bảo tồn nhằm phục cho du lịch giải trí, thăm quan học tập, nghiên cứu về khoa học Trái đất của một vùng kinh tế trọng điểm là một đề tài khoa học cần được thực hiện.

Tài liệu tham khảo

1.Hà Quang Hải,  Lê  Hoài  Nam,  Nguyễn  Ngọc  Tuyến,  Nguyễn  Thị  Phương Thảo,  (2014),  “Thềm biển Nam Bộ  –  Bằng chứng về biến đổi môi trường”, Tuyển tập Hội thảo Khoa học lần IX– ĐHKHTN Tp. HCM, 21-11-2014.

2. Bùi Phú Mỹ, Vũ Khúc, Trương Công Đượng, Ma Công Cọ. 1994, Lại bàn về Hệ tầng Châu Thới. Tạp chí địa chất, số 222 (5/6)/1994. Hà Nôi.

Đá ruby sao cực hiếm trị giá gần 100 triệu USD

Bốn viên ruby có hình sao ở chính giữa và tổng trọng lượng 342 carat được một hướng dẫn viên người Mỹ tìm thấy khi đi dạo trên núi.

Ruby sao Appalachia (thứ hai từ trái sang) là viên lớn nhất trong bộ sưu tập của Messer. Ảnh: Guernsey’s.

Wayne Messer, hướng dẫn viên câu cá ở North Carolina, Mỹ, phát hiện dấu vết của corundum, khoáng chất kết tinh tạo ra đá ruby và sapphire khi đang đi dọc lòng suối trên dãy núi Appalachia ở phía tây của bang vào năm 1990, theo Mother Nature Network. Messer đào sâu 2,4 mét và tìm thấy tổng cộng 4 viên ruby sao cực hiếm với trọng lượng 342 carat, sau này có tên Bộ sưu tập ruby sao trên núi.

Một viên ruby tên “Ruby sao Appalachia” trong bộ sưu tập nằm trong những viên ruby sao lớn nhất từng được biết tới. Viên ruby nặng 139,43 carat và lớn hơn một chút so với viên ruby sao Rosser Reeves 138,72 carat trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Smithsonia.

“Tôi rất bất ngờ và kinh ngạc khi thiên nhiên có thể tạo ra viên đá quý lớn như vậy”, Sam Fore, thợ cắt đá quý, người gọt giũa viên ruby sao Appalachia của Messer, chia sẻ. “Khối lượng lúc đầu của nó là 377 carat. Chỉ riêng viên đá đó đã là một kỷ lục thế giới”.

Đá ruby đặc biệt hiếm so với kim cương, nhưng ruby sao còn hiếm hơn. Hình ngôi sao sáng lộ ra khi viên đá được cắt thành dạng vòm tròn, phản chiếu ánh sáng từ tinh thể titan giống chiếc kim bên trong viên đá. Mang tên dấu sao (asterism), hiện tượng quang học này cũng xuất hiện ở các loại đá quý khác như sapphire.

Tháng 10/1992, triển lãm ruby sao Appalachia ở Bảo tàng Lịch sử London thu hút ước tính 150.000 người. Theo Garden & Gun, bộ sưu tập nhiều lần được đem bán trong những năm qua với mức định giá lên tới gần 100 triệu USD. Nhiều năm sau khi Messer qua đời vì ung thư, gia đình ông quyết định bán bộ sưu tập thông qua nhà đấu giá Guernsey’s ở New York. Theo Arlan Ettinger, người sáng lập kiêm giám đốc nhà đấu giá Guernsey’s, gia đình Messer chỉ đồng ý bán cả 4 viên ruby cùng lúc.

Nguồn: https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/da-ruby-sao-cuc-hiem-tri-gia-gan-100-trieu-usd-3735547.html

Những sự thật thú vị về Biển Chết

Không phải là biển, là nơi có nước mặn nhất thế giới, có khả năng chữa bệnh, được nhắc tới trong Kinh Thánh… là những điều thú vị mà không phải ai cũng biết về Biển Chết.

Nằm giữa Jordan, Palestine và Israel, kỳ quan thiên nhiên tuyệt vời của thế giới này thu hút hàng nghìn du khách muốn thả mình nổi trên mặt biển đọc báo, và để muối khoáng chăm sóc làn da. Dưới đây là những sự thật bất ngờ về vùng nước nổi tiếng thế giới này:

1.Có tên là Biển Chết, nhưng thực ra đây không phải một vùng biển mà là một hồ nước mặn.

2.Đây là hồ nước mặn sâu nhất hành tinh, với độ sâu lên tới 306 m.

3.Nếu so độ sâu với mực nước biển, hồ nước này còn sâu hơn thế. Bờ và mặt nước Biển Chết nằm dưới mực nước biển 427 m, khiến nơi đây trở thành vùng nước nằm thấp nhất thế giới.

4.Đây là một trong những hồ nước mặn nhất thế giới, với nồng độ muối lên tới 33,7%. Vùng nước mặn nhất là phá Garabogazköl ở biển Caspi với nồng độ muối là 35%.

5. Biển Chết là hồ nên có chiều dài và bề rộng giới hạn. Nơi rộng nhất của hồ là 15 km, và chiều dài của hồ là 50 km.

Biển Chết là điểm du lịch nổi tiếng thế giới. Ảnh: Muftah.org.

6. Nước Biển Chết mặn hơn gấp 9,6 lần so với nước biển thường, với nồng độ muối NaCl và các khoáng chất khác rất cao.

7.Do độ mặn quá cao, không dạng sống nào có thể phát triển ở đây, đó là lý do hồ có tên Biển Chết. Tuy nhiên, điều này không chính xác. Trong mùa mưa, độ mặn của hồ giảm xuống, tạo điều kiện cho một số vi khuẩn sinh sôi.

8.Nước Biển Chết có khả năng chữa bệnh, do lượng bào tử vi khuẩn trong hồ cực thấp và không có chất gây dị ứng. Trong nước hồ có rất nhiều loại khoáng chất. Lượng tia UV trong ánh nắng ở Biển Chết rất thấp, cộng với áp suất không khí cao (do ở vị trí thấp) tạo nhiều ích lợi cho sức khỏe con người.

9. Biển Chết có một hiện tượng bất thường: liên tục tạo ra nhựa đường. Loại nhựa đường được người Ai Cập cổ sử dụng để ướp xác lấy từ Biển Chết. Do hiện tượng này, người Hy Lạp cổ gọi nơi đây là hồ Nhựa Đường.

Du khách có thể thả người nổi trên mặt nước mà không sợ chìm. Ảnh: Nextours.wordpress.com.

10. Nước không lưu thông ở Biển Chết vì ba bên xung quanh là đất kín, chỉ có sông suối đổ nước vào hồ chứ không có đường dẫn nước ra.

11.Không như muối ăn, muối ở đây rất đắng. Loại muối đắng này giúp trị nhiều bệnh da liễu như bệnh vấy nến, bệnh sần vỏ cam,  mụn nhọt… Nước hồ cũng giúp giảm căng thẳng, tẩy da chết, giảm đau cơ, điều trị viêm khớp và viêm xoang.

12.Biển Chết là một kỳ quan thiên nhiên. Đặc biệt hơn, hồ nước này còn nằm giữa một kỳ quan thiên nhiên khác. Biển Chết nằm ở điểm thấp nhất của thung lũng giãn tách lớn (Great Rift), địa hình dạng máng dài nhất thế giới (dài khoảng 6.000 km, vắt qua 20 quốc gia).

13.Hồ nước cung cấp nguồn kali lớn cho nông nghiệp toàn thế giới.

14.Khu vực quanh có rừng chà là rộng 2.500 m2.

15.Khoảng 50% kinh tế địa phương là từ nông nghiệp gần vùng Biển Chết.

16.Khướu bụi Ả Rập và các loài chim khác sống quanh khu Biển Chết vào các thời điểm trong năm.

17. Khí hậu khô và luôn chan hòa ánh nắng, lượng mưa hàng năm chưa tới 50 mm.

Màu nước tuyệt đẹp của Biển Chết. Ảnh: Insite-israel-tour.com.

18. Đây là hồ tiền sử, hình thành cách đây 2-3,7 triệu năm.

19.Biển Chết là một trong những nơi được Cleopatra yêu thích. Bà thích nơi này đến mức cho xây dựng các khu nghỉ dưỡng và xưởng mỹ phẩm dọc bờ hồ.

20.Biển Chết từng nhiều lần xuất hiện trong Kinh Thánh, có liên hệ với chúa Jesus và tông đồ John. Trong đó có ghi một ngày, vùng nước này sẽ hồi sinh, các động vật sẽ không chỉ sống được mà còn sinh trưởng mạnh

21.Các bản ghi chép của Aristotle cũng nhắc tới Biển Chết.

22.Theo Kinh Thánh, vua David đã trú ngụ gần đây.

23.Với Herod vĩ đại, Biển Chết trở thành khu nghỉ dưỡng điều trị đầu tiên.

24.Ngày nay, khoáng chất và muối Biển Chết được dùng làm túi thơm và mỹ phẩm.

25.Nhiều thế kỷ trước, nơi đây được gọi là “Biển Bốc Mùi”.

Hoàng Linh

Nguồn: https://news.zing.vn/nhung-su-that-thu-vi-ve-bien-chet-post532537.html