Featured

Chào mừng đến với góc học thuật của chúng tôi

Tại công viên đá Vườn quốc gia Núi Chúa Ninh Thuận

❤ Chúc các bạn tìm được những thông tin thú vị và bổ ích 😉
❤ Hy vọng nhận được nhiều sự quan tâm và chia sẻ của quý độc giả.

Advertisements

Đầu năm Kỷ Hợi, vượt núi Chứa Chan

Cùng với Thảo, Lâm, Thành khảo sát tuyến lộ trình vượt núi Chứa Chan để thu thập thông tin phục vụ đề tài khóa luận tốt nghiệp chủ đề về Địa du lịch. Chuyến đi vượt núi cao 837 m vào đầu năm Kỷ Hợi – một kỷ niệm không thể nào quên của bốn thày trò.

Ngày 06 (10/02/2019)

7:00 sáng ngày 6 tết Kỷ Hợi, làm thủ tục khai trương năm mới tại văn phòng Bộ môn cùng với thày Lê Tự Thành.

7:45 Thảo đón thày đi thực địa núi Chứa Chan thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

8:00 hai thày trò lên xem Kim Mạnh Hùng tại đầu đường Nguyễn Thị Minh Khai.

10:00 xe đến Ngã Ba Ông Đồn, Lâm và mẹ Thảo (mang xe máy cho Thảo) đã chờ sẵn. Ba thày trò lên xe, đi khảo sát ngay khu vực Núi Le, hồ Núi le, bãi đá cảnh và làng đồng bào Chơ Ro (ấp Trung Sơn, xã Xuân Trường).

17:30 kết thúc ngày thực địa, về nghỉ tại khách sạn Hà Thi (Lâm đã đặt phòng nghỉ trước cho thày).

Ngày 07 (11/02/2019)

6:30 Thảo, Lâm và Thành (làm đề tài tốt nghiệp “Địa du lịch khu vực Núi Bà Đen” cùng tham gia vượt núi Chứa Chan).

7:30 bốn thày trò bắt đầu lộ trình vượt núi Chứa Chan theo tuyến đường cột điện. Đây là tuyến mà dân phượt thường đi.

Vượt dốc, quan sát, mô tả (địa chất, địa mạo, cảnh quan, hoạt động nhân sinh…). 11:30 tới đỉnh núi Chứa Chan (837 m).

12:30 bắt đầu xuống dốc, tiếp tục định điểm, mô tả theo lộ trình.

15:00 kết thúc lộ trình vượt núi Chứa Chan.

Dưới đây là vài nhận xét ghi nhận dọc theo lộ trình:

– Vượt sườn đông theo đường mòn dọc theo 148 cột điện. Đây là đường thoát nước vào mùa mưa, chủ yếu lộ đá gốc bóc mòn (granit) và các tảng lăn. Đường mòn theo sườn Đông có thể chia thành ba đoạn: đoạn 1 từ điểm xuất phát (quán chị Yến) đến cột điện 70, độ dốc thoải (30-40o), đường đi rộng. Đoạn 2 tiếp theo đoạn 1 tới cột điện 129, sườn dốc có chỗ tới 50 – 60o, đường đi hẹp lại. Đoạn 3 tiếp đến đỉnh, sườn có sự phân bậc, không gian mở rộng, có một số vị trí quan sát được bề mặt cao nguyên basan Xuân Lộc với vài đỉnh núi lửa.

– Núi Chứa Chan có hai đỉnh, đỉnh phía nam là vị trí trạm thông tin của quân đội; qua một yên ngựa hẹp là đỉnh phía bắc. Đỉnh phía bắc là khối đá granit trên đó có mốc tam giác sơn trắng ghi độ cao 837 m (so với mực biển). Đây là điểm nhìn (viewpoint) tuyệt vời. Tại đỉnh này quan sát được phần lớn cao nguyên Xuân Lộc (trừ phần phía nam do đỉnh Nam che khuất).

– Theo sườn phía bắc xuống núi. Sườn bắc chủ yếu lộ đất phong hóa từ granit màu vàng nhạt, lối mòn nhỏ, có đoạn qua rừng cỏ lau chỉ vừa một người đi. Đường mòn theo sườn Bắc có thể chia thành hai đoạn: đoạn 1 từ đỉnh đến ga cáp treo, sườn nhiều chỗ khá dốc, đi xuống bị chồn chân, trời mưa sẽ bị trơn trượt; gần đến ga cáp treo, đường mòn theo đồng mức đi khá thoải mái. Đoạn 2 là các bậc thềm từ chùa Bửu Quang xuống cổng chùa (gần cổng cáp treo). Các bậc thềm cao cắt ngang sườn dốc, di chuyển lên xuống bậc thềm cũng thật khó khăn nhất là những người già và lực lượng vác, gánh đồ thuê cho các chủ quán.

–  Tuyến đường mòn cắt qua núi, nhưng phần lớn là đi dưới nắng do cây cối thưa thớt, cây rừng lớn gần như không còn, thay vào đó là những loại cây trồng như điều, keo, mít. Đường mòn qua nhiều đoạn là lồ ô, lau sây và cỏ tranh, thỉnh thoảng mới có những lùm cây tạo bóng dâm để dân phượt và du khách dừng chân nghỉ.

– Rác do dân phượt để lại rải rác tại các điểm nghỉ dọc hành trình cũng là vấn đề, phần lớn là vỏ chai nước. Những diện tích tương đối bằng phẳng gần đỉnh núi là nơi dân phượt hay du khách cắm trại, nấu nướng. Đây cũng là nơi để rác như: đá kê làm bếp, than, củi cháy chưa hết, vỏ chai nước, vỏ đồ hộp. Ngay gần vườn hoa ga cáp treo cũng có một bãi tập kết rác, trông thật nhếch nhác.

– Đoạn đường từ chùa xuống cũng khá dài, dọc theo các bậc thang là hàng, quán sát nhau (bán đồ lưu niệm, đồ ăn, thức uống…) với mái tôn che kín lối đi. Có cảm tưởng như chùa chen vào hàng quán. Cây Da ba gốc cũng bị bọc bởi quán ăn, lửa, nhang khói… Có thể nói đoạn đường lên và xuống chùa là một không gian ngột ngạt.

Một vài hình ảnh chuyến vượt núi:

Điểm giữ xe máy 24/24 cho người vượt núi
Vượt sườn đông theo đường mòn qua 148 cột điện
Một gốc cây rừng đường kính gần 1,0 m giữa “vườn” điều
Vượt sườn dốc 50 – 60o
Thảo quan sát bề mặt cao nguyên bazan Xuân Lộc, hồ Núi Le, hồ Gia Ui từ cột điện 133
Những diện tích bằng phẳng, có bóng mát là nơi dân phượt cắm trại. Người đi rác ở lại
Tại đỉnh núi Chứa Chan lúc 11:30
Thảo, Lâm và Thành “tự sướng” tại đỉnh cao 837 m
Qua rừng cỏ lau
Cây Da ba gốc bị bọc bởi quán ăn, lửa, nhang khói nghi ngút

Phân tích chi tiết những giá trị địa du lịch, những đề xuất sản phẩm địa du lịch, đề xuất hoạt động du lịch dọc tuyến hành trình sẽ được trình bày trong khóa luận tốt nghiệp của sinh viên tới đây.

H &H

 

Kênh xáng Xà No

ĐÌNH TUYỂN

Kênh xáng Xà No dài 40 km, bắt nguồn từ ngã ba Vàm Xáng, sông Cần Thơ (nhánh lớn sông Hậu), đoạn qua huyện Phong Điền chạy dài tới ngã ba sông Ba Voi (Hậu Giang) trước khi đổ ra sông Cái Lớn (Kiên Giang) chảy ra biển Tây. Con kênh được người Pháp thi công bằng cơ giới, chỉ trong 2 năm (từ 1901 – 1903) đã hoàn thành, mặt kênh rộng 60 m, đáy 40 m; phí tổn lên tới gần 3,7 triệu quan (Franc). Đây cũng là công trình đường thủy lớn đầu tiên của Nam kỳ có thể so sánh với việc thiết lập đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho.

Cải tạo vùng “đất chết”

Ngồi quây quần cùng con cháu trong căn nhà sát bờ kênh xáng Xà No, cụ ông Nguyễn Văn Kiểu (92 tuổi, ngụ xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, Hậu Giang) không nhớ hết tên cháu chắt của mình nhưng thuộc vanh vách những câu chuyện về con kênh xáng trước nhà. Câu chuyện của ông Kiểu thường bắt đầu từ tên con kênh. Cụ bảo, người ta gọi nó là kênh Xà No là vì đọc trại từ Saint-Tanoir, tên của người Pháp chỉ huy xáng đào con kênh này. Cũng có người truyền rằng, Xà No bắt nguồn từ một tên của phum Sok Snor (phum có nhiều cây điên điển của người Khmer), nơi con kênh chảy qua. Hay từ câu chuyện vùng đất này có con mãng xà sau khi nuốt chửng một con nai, no tới mức trườn không nổi nằm dài thườn thượt. Người dân nhìn thấy sợ hãi rồi đặt tên con kênh là Xà No…

Gốc gác xứ Sóc Trăng, cụ Kiểu theo cha mẹ lưu lạc về vùng đất dọc kênh Xà No khai khẩn, lập nghiệp từ khi mới 5 tuổi. Cụ nhớ cả vùng đất từ Một Ngàn, Bảy Ngày cho tới Vị Thanh, Hỏa Lựu thuở ấy toàn là rừng trũng, đầy cỏ năn, cỏ lác. Mùa mưa ghe xuồng luồn lách đi được nhưng ít ai dám vào sâu bên trong vì toàn cá sấu, cọp beo… Còn mùa nắng, lại toàn là phèn, chẳng trồng được cây gì. “Cả chục năm sau khi Pháp đào con kênh, đưa nước ngọt từ Hậu Giang về thau chua, rửa phèn, lúa mới trúng, nhà máy xay xát của điền chủ mọc lên, ghe lúa, rồi dân thương hồ tứ xứ qua lại con kênh, chợ búa hình thành, người dân về lập nghiệp kín bờ kênh”, cụ Kiểu kể.

Người về dựng lều, nhà cửa kín bờ kênh, họ lại lấn vào trong 2 – 3 lớp nhà, dần dần hình thành xóm, thành làng. Ở các ngã ba, ngã tư sông tập trung nhiều hộ dân thì mở chợ, xây đình, cất trường học. Sống nơi sông sâu nước chảy, đất ruộng thẳng cánh cò bay, nông dân làm tá điền tuy có vất vả, nhưng “làm chơi mà ăn thiệt” sạ lúa bỏ đó, cuối mùa cũng gặt hái 5 – 7 giạ/công.

Cánh đồng lớn

Khi đã có con kênh xáng, những năm 1920 – 1930, Pháp đẩy mạnh việc khai thác đất đai. Dọc hai bên bờ kênh được quy hoạch thành những cánh đồng lúa bạt ngàn. Đó là những điền Bảy Ngàn của Tây Albert, một trong những điền chủ lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ với trên 30.000 mẫu đất, hơn 3.000 hộ tá điền. Mỗi năm Tây Albert thu lúa ruộng, lúa vay hàng triệu giạ. Nơi kho chứa lúa và nhà của Tây Albert tại thị trấn Bảy Ngàn được người dân gọi là Lầu Trắng rộng hơn 1 ha. Những cánh đồng nhỏ hơn như điền Tây Duval và điền Tây Guery cũng sở hữu 2.500 mẫu; điền do các công ty của Pháp đầu tư, quản lý, khai thác chí ít cũng 10.000 mẫu.

Đoạn đầu kênh xáng Xà No tiếp giáp với sông Cần Thơ (H.Phong Điền, TP.Cần Thơ)

Nhâm nhi ly trà bên quán nước cạnh Bảo tàng Cần Thơ, soạn giả Nhâm Hùng, người dành nhiều thời gian nghiên cứu về văn hóa Nam bộ, bảo rằng: “Tới bây giờ ta mới đẩy mạnh các mô hình cánh đồng lớn và xem đó như là hướng đi của nông nghiệp sản xuất tập trung, ứng dụng khoa học kỹ thuật. Ấy thế mà những năm đầu thế kỷ 20, bằng việc đào kênh xáng Xà No, người Pháp đã hình thành những điền trại quy mô hàng chục ngàn héc ta, máy cày đã chạy sáng đồng ở vùng đất này”.

Chỉ trong một thời gian ngắn, kênh xáng Xà No đã làm thay đổi diện mạo một vùng đất úng ngập, ứ phèn quanh năm. Diện tích ruộng đất hai bên bờ kênh lại được mở rộng hơn khi những chuyên gia thủy lợi Pháp cho đào tiếp hệ thống kênh nhỏ “xôm lươn” (như xương cá) để điều hòa dòng chảy. Cứ cách 500 m xẻ một kênh nhỏ; cách 1.000 m đào con kênh lớn hơn. Các con kênh nhỏ đào sâu và hai bên xáng Xà No 1.000 m được nối bằng những con kênh sườn, phân đất ra như những ô bàn cờ. Việc tưới tiêu nhờ đó mà ngày càng thuận lợi, giúp các chủ điền mở rộng thêm diện tích, tăng năng suất, sản lượng lúa. Từ việc Tây Albert cho đánh số các kênh thủy lợi trên diện tích đất của mình mà sau này còn hình thành nên những đơn vị hành chính, như thị trấn Một Ngàn, thị trấn Bảy Ngàn, Hai Ngàn Rưỡi… Chỉ 5 năm sau ngày đào kênh xáng Xà No, lúa gạo miền Hậu Giang đưa đi xuất cảng tăng vọt: chiếm đến 900.000 tấn, trong tổng số 1,3 triệu tấn của toàn Nam kỳ.

Di sản thủy lợi

“Nếu người Pháp thời đó không đào kênh xáng Xà No thì cho đến bây giờ, chúng ta cũng khó mà làm được”, TS Dương Văn Ni, chuyên gia về đa dạng sinh học, khẳng định. Ông phân tích: Không chỉ khơi thông vùng đất trũng nhất của ĐBSCL là Vị Thanh – Long Mỹ – Phụng Hiệp (Hậu Giang), kênh xáng Xà No giúp vùng nông nghiệp trọng điểm Thới Lai, Cờ Đỏ của Cần Thơ thoát lũ mỗi năm. “Kênh Xà No còn là đường đi tắt từ Cần Thơ xuống Kiên Giang cực kỳ dễ dàng nhờ sự giao thoa giữa chế độ bán nhật triều (ngày 2 con nước lớn – ròng) của sông Hậu và nhật triều (chỉ 1 con nước lớn – ròng) của sông Cái Lớn”.

Soạn giả Nhâm Hùng nói, cơ giới của người Pháp không chỉ cải tạo vùng đất “chết” thành vùng ngọt hóa, xanh tốt mà còn hình thành nên nền “văn minh kênh xáng”. Nó bắt đầu từ việc cơ giới hóa thủy nông, tiếp cận với sản xuất bằng cơ giới, sản xuất lớn. Sau đó, việc phát triển của công nghiệp xay xát, nghề buôn bán, dịch vụ trên sông… Nhiều khu chợ cũng hình thành từ đó như chợ Vàm Xáng (lập năm 1907), chợ Một Ngàn, chợ Bảy Ngàn, chợ Cái Nhum, chợ Hỏa Lựu. Đặc biệt hơn là chợ nổi Cái Răng, Phong Điền. Tại chợ Cái Răng, hàng chục nhà máy xay xát hình thành bên cạnh các chành lúa khổng lồ. Các ghe lúa tập nập mua gom từ Rạch Giá, Bạc Liêu và vùng lân cận kênh xáng Xà No đưa về đây xay xát, rồi chở lên Chợ Lớn xuất cảng. Kênh xáng Xà No trở thành “con đường lúa gạo” lớn sầm uất nhất Đông Dương.

Đồ họa: Duy Quang | Ảnh: Đình Tuyển

https://thanhnien.vn/doi-song/kenh-dao-huyen-thoai-mien-tay-mo-con-duong-lua-gao-tu-vung-dat-sau-loi-cop-dua-1048395.html

Ảnh thiên nhiên đẹp nhất tháng 1

Chim ó biển tranh mồi dưới nước, sư tử con cắn đuôi mẹ, bình minh trên núi tuyết là ba trong những bức ảnh ấn tượng trên National Geographic.

Hai con chim Cissopis leverianus thuộc bộ sẻ dường như đang có một cuộc trò chuyện căng thẳng trong rừng mưa Đại Tây Dương ở Brazil. Loài chim ồn ào này thường xuất hiện theo cặp hoặc nhóm.
Sông Ili mang những màu sắc khác nhau tùy theo mùa và sự hiện diện của các khoáng chất trong nước. Dòng sông dài khoảng 1.450 km, trải dài từ tây bắc Trung Quốc đến đông nam Kazakhstan.
Nhiếp ảnh gia Yaron Schmid ghi lại cảnh tượng sư tử con nô đùa với mẹ trong công viên quốc gia Serengeti, Tanzania. “Khoảnh khắc đẹp nhất là ba con sư tử nhỏ bắt đầu chơi đùa và cắn đuôi mẹ chúng, giống như lũ mèo chơi với cuộn len vậy”, Schmid chia sẻ.
Lốc xoáy quét qua bang Colorado, Mỹ. Lốc xoáy có thể hình thành và di chuyển ngoài dự đoán, tạo ra thách thức lớn cho các nhiếp ảnh gia.
Chim Tringa flavipes săn côn trùng hoặc cá nhỏ trong một bãi nước nông ở công viên Presqu’ile, Ontario, Canada. Bữa ăn sẽ cung cấp năng lượng cho nó di cư đến Nam Mỹ vào mùa đông.
Gấu Kermode, hay gấu thần linh, tìm kiếm cá hồi trong rừng mưa Gấu Lớn ở British Columbia, Canada. Hạn hán khiến mực nước sông giảm. Cá hồi, thức ăn chủ yếu của gấu Kermode, không thể di cư như bình thường.
Cá voi lưng gù nhỏ tuổi lọt vào ống kính của nhiếp ảnh gia Leighton Lum trong một chuyến lặn biển ở Tonga. “Thật tuyệt vời khi nhìn thấy sinh vật hoang dã này vô tư bơi lội và đùa nghịch. Chúng tôi ở lại với con vật hiếu kỳ hơn một tiếng. Thậm chí nó còn theo chúng tôi về thuyền vì muốn chơi nhiều hơn”, Lum kể lại.
Những ngọn cây phủ đầy tuyết trắng ở dãy núi Krkonose, Ba Lan, phía trên là bầu trời buổi sớm ửng đỏ. Dãy núi này nằm ở khu vực biên giới với Cộng hòa Czech.
Chim ó biển tranh giành con mồi dưới nước. Nhiếp ảnh gia Sally Hinton đặt máy ảnh trong vỏ chống nước rồi hạ xuống từ mạn thuyền. Hinton theo dõi lũ chim và chụp khi thấy chúng lặn xuống, hoàn toàn không biết bức ảnh cuối cùng sẽ như thế nào.
Hươu cao cổ đơn độc dừng chân dưới bóng mát của cây keo trong công viên quốc gia Serengeti, Tanzania. Đây là thức ăn yêu thích của hươu cao cổ. Với cổ dài và chiếc lưỡi linh hoạt, chúng có thể ăn lá cây ở độ cao mà không loài nào khác vươn tới được.

Ảnh: National Geographic

https://vnexpress.net/khoa-hoc/anh-thien-nhien-dep-nhat-thang-1-3876142.html

 

 

Mỏ dầu cạn kiệt: Tình huống báo động của Việt Nam

Các mỏ dầu khí chủ lực đã chuyển sang giai đoạn suy giảm sản lượng hay có độ ngập nước cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, như mỏ Bạch Hổ, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông…

Báo động về sản lượng 

Theo báo cáo của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), sản lượng khai thác dầu trong nước năm 2018 đạt 12 triệu tấn, vượt 675 nghìn tấn, tương đương 6% so với kế hoạch Chính phủ giao đầu năm. Nhờ đó số nộp ngân sách nhà nước vượt 47,5 nghìn tỷ đồng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP cả nước 7,08%…

Doanh thu toàn tập đoàn vượt 18% kế hoạch, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2017. Nộp ngân sách vượt tới 64% kế hoạch, tăng 24% so với năm 2017. Nguyên nhân chủ yếu là giá dầu tăng mạnh so với 2017.

Các mỏ dầu khí đã vào giai đoạn suy kiệt. Ảnh: PVN

Thế nhưng, sau những thành tích ấy, người làm dầu khí còn không ít nỗi lo, trong đó nổi lên là việc tìm kiếm các mỏ dầu mới.

Năm 2018 gia tăng trữ lượng dầu khí năm 2018 vẫn đạt được 12 triệu tấn quy dầu (kế hoạch là 10-15 triệu tấn).

Gia tăng trữ lượng dầu khí tuy đạt kế hoạch đề ra năm 2018 song đây vẫn là năm thứ ba liên tiếp công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí gặp nhiều khó khăn. Nếu so với mục tiêu chiến lược phát triển mà ngành dầu khí đề ra ở trong nước là 20-30 triệu tấn/năm và ở nước ngoài là 8-12 triệu tấn/năm (tổng cộng là 28-42 triệu tấn/năm) thì không hoàn thành và đạt thấp hơn nhiều so với mục tiêu chiến lược đề ra.

Thực tế, điều kiện khai thác ở các mỏ dầu khí chủ lực đã chuyển sang giai đoạn suy giảm sản lượng hay có độ ngập nước cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, như mỏ Bạch Hổ, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông…

Theo PVN, việc gia tăng trữ lượng dầu khí, bù đắp vào sản lượng khai thác hàng năm, đảm bảo sự phát triển bền vững của tập đoàn “vẫn là thách thức vô cùng lớn”. Tiềm năng dầu khí chưa phát hiện còn lại được đánh giá tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu, xa bờ, nhạy cảm về chính trị, nhưng khu vực này cần công nghệ khoan nước sâu, đầu từ lớn, rủi ro cao, thường xuyên bị nước ngoài gây sức ép, cản trở.

Trong khi đó, PVN cho rằng sự can thiệp của nước ngoài ở cụm phát hiện Cá Rồng Đỏ lô 07/03 đã “ảnh hưởng nặng nề” đến hoạt động phát triển mỏ của tập đoàn.

PVN nhận định tình hình biển Đông diễn biến phức tạp đã có tác động nặng nề đến công tác tìm kiếm thăm dò và phát triển chung của tập đoàn.

Báo cáo của PVN cho thấy: Hệ số gia tăng trữ lượng bù trừ vào sản lượng khai thác vẫn đang ở mức báo động (0,54 lần). Trong khi giai đoạn 2011-2015 hệ số này đạt 1,5 lần – mức an toàn phát triển bền vững thì tình hình dầu xấu đi. Năm 2016 đạt 0,65 lần. Riêng năm 2017 đạt 0,17 lần – là mức báo động nghiêm trọng.

Ngành dầu khí đối mặt nhiều khó khăn trong việc gia tăng trữ lượng.

Hết thời hoành tráng

Trước đây hàng năm, PVN khoan 30-40 giếng thăm dò, chi phí tốn từ 2-2,5 tỷ USD, gia tăng được 35-40 triệu tấn quy dầu. Thế nhưng, từ 2015 trở lại đây, đầu tư của ta và nước ngoài chỉ khoảng 400-500 triệu USD cho tìm kiếm thăm dò, giảm 5 lần so với trước.

Các phát hiện dầu khí giai đoạn gần đây phần lớn có trữ lượng nhỏ, do giá dầu thấp nên hiệu quả kinh tế không cao, dẫn đến số lượng công trình khai thác mới đưa vào để bổ sung sản lượng khai thác rất ít. Trong hai năm 2017 và 2018, chỉ có 3 mỏ/công trình mới vào khai thác (năm 2017 đưa giàn Thỏ Trắng – 3 mỏ Thỏ Trắng của VSP vào khai thác; năm 2018 đưa 2 mỏ vào khai thác là Bunga Pakma và Phong Lan Dại).

Một khó khăn khác ảnh hưởng đến công tác thăm dò, theo PVN, đó là nguồn vốn để thực hiện công tác tìm kiếm thăm dò gặp khó khăn do cơ chế trích lập, quản lý, và sử dụng Quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí. PVN đã kiến nghị đề xuất trong Quy chế quản lý tài chính Công ty mẹ – Tập đoàn, đến nay vẫn chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Cụ thể hơn, những người làm công tác tìm kiếm thăm dò còn nỗi lo xử lý chi phí các mỏ thăm dò không thành công.

Năm ngoái, một lãnh đạo của PVN đã than thở: “Những năm qua ta tiêu tương đối nhiều tiền, có nơi thành công nơi chưa thành công. Đó là quy luật của tìm kiếm thăm dò. Cái này phải được đánh giá và hạch toán theo đúng thông lệ quốc tế. Số tiền này ngày càng tích lại, nếu không xử lý được thì giống như đang để một cái gông trên cổ”.

Việc tìm kiếm thăm dò khó khăn, còn ảnh hưởng đến loạt công ty khác của PVN. Đơn cử như Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí. Do có ít chương trình khoan nên giàn khoan PV Drilling V đã được đưa vào tình trạng cold stack (dừng hoàn toàn) tại cầu cảng PV Shipyard Vũng Tàu từ tháng 11/2016. Dự kiến, giàn PV Drilling V sẽ không có việc làm trong thời gian dài. Dự kiến số lượng giếng khoan tại Việt Nam năm 2019 ít nên các giàn khoan và dịch vụ của PVDrilling tiếp tục có ít việc làm. Sang năm 2019, các khó khăn và thách thức của PV Drilling sẽ ở mức độ cao hơn và phức tạp hơn so với năm 2018.

Tổng công ty Tư vấn Thiết kế dầu khí (PVE) cũng thiếu công việc trầm trọng bởi vì hầu hết các dự án dầu khí lớn tiếp tục giãn/dừng triển khai dẫn đến nhu cầu cung cấp dịch vụ và giá dịch vụ giảm mạnh. Lĩnh vực cốt lõi của đơn vị này là tư vấn thiết kế tuy nhiên khối lượng công việc chỉ khoảng 20%, ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu kế hoạch của PVE trong các năm gần đây và những năm tiếp theo. Cụ thể, doanh thu năm 2018 của lĩnh vực này chỉ bằng khoảng 20% doanh thu năm 2015.

Lương Bằng

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/dau-mo-can-kiet-tinh-huong-bao-dong-502707.html

Sơ bộ về sản phẩm địa du lịch thứ cấp

Nguyễn Thị Quế Nam, Hà Quang Hải

(Địa môi trường giới thiệu kết quả luận văn cao học với đề tài Phát triển sản phẩm địa du lịch cho những điểm đến (lấy ví dụ một số điểm ven biển Nam Trung Bộ) do Nguyễn Thị Quế Nam thực hiện. Báo cáo đã được trình bày trước hội đồng Chuyên ngành Khoa học Môi trường, trường Đại học KHTN, Đại học QG. TPHCM ngày 25,12.2018. Nội dung giới thiệu gồm 4 phần: Phần 1-Sơ bộ về sản phẩm địa du lịch thứ cấp; Phần 2- Đặc thù địa học; Phần 3- Đặc thù văn hóa; Phần 4-Đề xuất phát triển sản phẩm địa du lịch thứ cấp. Báo cáo toàn văn được lưu trữ tại thư viện Trường Đại học KHTN, 227 Nguyễn Văn Cừ, Q.5, TP.HCM.

Tóm tắt luận văn: Dải bờ biển Nam Trung Bộ có tiềm năng phát triển địa du lịch, với nhiều geosite quý hiếm và độc đáo có thể thành lập công viên địa chất cấp quốc gia. Tuy nhiên, hầu như các sản phẩm địa du lịch nơi đây còn nghèo nàn, chưa đủ sức hấp dẫn du khách. Luận văn “Phát triển sản phẩm địa du lịch cho những điểm đến  (Lấy ví dụ một số điểm ven biển Nam Trung Bộ)” tạo ra hệ thống sản phẩm địa du lịch cho 3 công viên địa chất cấp quốc gia dự kiến:1) Công viên địa chất Đảo núi lửa Lý Sơn đặc thù địa hình núi lửa ấn tượng cùng với văn hóa Sa Huỳnh và những lễ hội biển đảo truyền thống; 2) Công viên địa chất Bờ biển Phú Yên từ sự đa dạng đá và các tác động ngoại sinh đã tạo ra sự đa dạng địa học gắn liền với nền văn hóa đá; 3) Công viên địa chất Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận với cao nguyên cát đỏ đặc trưng cùng nền văn hóa Chăm. Dựa vào những đặc thù địa học – văn hóa, các sản phẩm địa du lịch được đề xuất phát triển. Sản phẩm địa du lịch sơ cấp là các geosite tại công viên địa chất. Sản phẩm địa du lịch thứ cấp bao gồm: 1) Thông tin địa chất; 2) Đường mòn địa chất; 3) Hoạt động địa chất; 4) Nhà địa chất; 5) Nông trại địa chất; 6) Ẩm thực địa chất; 7) Quà lưu niệm địa chất; 8) Cửa hàng địa chất; 9) Lễ hội văn hóa địa chất; 10) Học viện địa chất.  Các sản phẩm địa du lịch được thực hiện sẽ góp phần quảng bá các điểm đến cũng như thúc đẩy kinh tế, nâng cao mức sống cư dân.

1. Khái niệm

Theo UNESCO (1999) [34], các sản phẩm địa dụ lịch thứ cấp (SPĐDL) là loại sản phẩm thiên về hàng thủ công nghiệp được sản xuất có ý nghĩa về địa chất.

Theo hướng dẫn của GGN (2010) [35], các SPĐDL là công cụ để bảo vệ cảnh quan địa chất trong công viên địa chất. SPĐDL cần có sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại để làm tăng nhận thức về đa dạng địa học cho du khách.

Như vậy, SPĐDL không những tạo cơ hội trải nghiệm mới cho du khách, đẩy mạnh kinh tế địa phương mà còn nâng cao kiến thức về khoa học trái đất. Việc cung cấp những việc làm mới, cơ sở hạ tầng mới và những sản phẩm mới là những sáng kiến hấp dẫn khách du lịch đến với CVĐC hơn. Hệ thống các dạng SPĐDL thứ cấp trong CVĐC được tổng hợp trong hình 1.1 [20] theo 3 mục tiêu chính của CVĐC: bảo tồn, địa du lịch và giáo dục.

Hình 1.1 Hệ thống các SPĐDL kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong CVĐC [20]

2. Phân loại

Reynard (2008) [28] phân SPDDL thành hai nhóm gồm SPĐDL sơ cấp và SPĐDL thứ cấp:

        – SPĐDL sơ cấp (Original offer) đó chính là các di sản địa chất (ví dụ như dấu vết khủng long, khu vực cổ sinh vật học, các dạng địa hình, suối nước khoáng,..)

       – SPĐDL thứ cấp (Derived offer) (Hình 1.2): phát triển cơ sở hạ tầng, phương tiện di chuyển, sản phẩm khoa học thứ cấp (sách, quà lưu niệm, tài liệu điện tử, trò chơi…), hệ thống thuyết minh tại điểm đến (bảo tàng, trung tâm du khách, triển lãm, hướng dẫn tham quan, các bảng chỉ dẫn, thuyết minh, trang web).

Hình 1.2 Hệ thống các sản phẩm địa du lịch thứ cấp [26]

Dryglas và Miskiewicz (2014) [18] phân loại các SPĐDL thứ cấp ở Ba Lan thành bậc cơ bản và phức hợp gồm các sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể (Bảng 1.1 ).

Bảng 1.1 Cấu trúc phân loại sản phẩm địa du lịch thứ cấp [18]

3. Nguyên tắc phát triển

Các nguyên tắc cần chú ý khi phát triển SPĐDL thứ cấp như sau [20]:

  • SPĐDL phải mang đặc trưng của địa phương
  • SPĐDL phải là biểu tượng địa chất – địa mạo của vùng
  • SPĐDL là một công cụ thương mại hoặc giáo dục
  • SPĐDL phải tổng hợp được sản phẩm truyền thống địa phương và những nội dung khoa học địa chất
  • SPĐDL phải là sản phẩm thân thiện môi trường.

4. Một số ví dụ sản phẩm địa du lịch

SPĐDL ở các CVĐC trên thế giới được trình bày theo bảng 1.2

Bảng 1.2 Bảng tóm tắt SP ĐDL của một số CVĐC
Bảng 1.2 Bảng tóm tắt SP ĐDL của một số CVĐC
Hình 1.3 Một số hình ảnh minh họa về SPĐDL thứ cấp ở các CVĐC trên toàn thế giới

Địa du lịch và CVĐC ngày càng được quan tâm ở các nước trên thế giới bởi tính bền vững của loại hình này. Vì thế, phát triển SPĐDL trong các CVĐC là một công cụ tất yếu để phục vụ các hoạt động bảo tồn, giáo dục và phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

 

Về Đầm Chuồn xứ Huế

TTO – “Đầm Chuồn là chỗ mô hè? Răng không nghe nói khi mô hết ri”. Nếu có dịp đến vùng đất cố đô, du khách đừng quên ghé thăm Đầm Chuồn có phong cảnh hữu tình như tranh vẽ.

Một sớm Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Nói đến xứ Huế mộng mơ, du khách thường nghĩ ngay đến những di tích lăng tẩm Huế, sông Hương, núi Ngự hay chùa Thiên Mụ.

Ngoài các địa điểm trên, Đầm Chuồn có diện tích khoảng 100ha là điểm đến du khách không thể bỏ qua. Đây là đầm nước lợ trong hệ thống đầm phá Tam Giang, thuộc xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Đầm Chuồn vào mỗi thời khắc trong ngày mang vẻ đẹp riêng. Lúc bình minh, Đầm Chuồn có màu cam đỏ hay cam hồng, rực sáng trong nắng vàng ban trưa và nhộm màu tím hồng trong buổi chiều tà.

Toàn cảnh Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Vẻ đẹp yên bình nhìn từ trên cao – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Đối với các nhiếp ảnh gia, Đầm Chuồn là đề tài thú vị để thỏa sức đam mê sáng tác ảnh. Anh Trần Bảo Hòa (Đắk Lắk) cho biết nhiều lần ghé thăm Đầm Chuồn nhưng vẫn bị cuốn hút trước nhịp sống êm ả nơi đây.

“Tờ mờ sáng, tôi bay flycam để ghi lại các shot hình Đầm Chuồn đẹp mơ màng trong sương sớm. Bức tranh ráng hồng cam của những đám mây phiêu du lúc bình minh khiến tôi mãi ngơ ngẩn chốn phong vị nơi mô. Vẫn khung cảnh và những ngư dân cần mẫn ấy, chỉ có điều là nhịp sống sinh động hơn” – anh Bảo Hòa có chuyến trở lại Đầm Chuồn giữa tháng 12-2018 chia sẻ với Tuổi Trẻ Online.

Các thuyền của ngư dân hoạt động nhộn nhịp trên Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Trước đây, đầm phá Tam Giang là vùng đất rộng ngập sâu trong nước, nhiều sình lầy, sóng gió và thuyền bè đi lại dễ gặp nạn. Nhưng ngày nay khu vực đầm phá này dễ đi lại, có nguồn tài nguyên biển quý giá để người dân đánh bắt làm nguồn sống, trong đó Đầm Chuồn còn là nơi thú vị để du khách trải nghiệm cuộc sống mưu sinh của người dân.

Đầm Chuồn mênh mang sóng nước – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Tại Đầm Chuồn, du khách dễ dàng nhận ra những chiếc vó có màu nâu vàng, những chắn sáo (còn gọi vây ví, một hệ thống ngư cụ để ngư dân nuôi các hải sản trên đầm), đặc biệt là những “nhà chồ” tạo nên nét chấm phá cho Đầm Chuồn.

Nhà chồ, đặc thù của người dân miền sông nước, là những căn nhà lán rộng khoảng 5m2 được dựng từ tre lồ ô trên đầm.

Nhà lán vẫn có đủ điều kiện để người dân sinh hoạt. Đây còn là nơi du khách nghỉ đêm, ngắm trăng sao và được nhậu lai rai với ngư dân thì không có gì thú vị cho bằng.

Hệ thống chắn sáo để ngư dân nuôi hải sản – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Một khu vực chắn sáo và nhà chồ của ngư dân – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Cận cảnh nhà chồ – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Các loại hải sản tươi ngon tại Đầm Chuồn có thể kể đến như cua, ghẹ, cá ong, cá dìa, cá mú, cá nâu hay cá kình. Chúng được ngư dân nuôi trong những chắn sáo hay đánh bắt tự nhiên.

Sau khi trải nghiệm cùng cuộc sống ngư dân và ghi lại vẻ đẹp yên bình Đầm Chuồn, du khách trên đường về đừng quên ghé chợ làng Chuồn thưởng thức món bánh khoái cá kình nổi tiếng.

“Rời Đầm Chuồn nhưng dường như vẫn còn lưu luyến, luôn in mãi những kỷ niệm đẹp trong tim. Hẹn một ngày trở lại Đầm Chuồn thêm lần nữa” – anh Bảo Hòa cho biết.

Cuộc sống mưu sinh của ngư dân trên đầm – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Quang cảnh sinh hoạt nhộn nhịp hiện lên bức tranh Đầm Chuồn đầy sức sống – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Bản đồ hướng dẫn các đường đi từ trung tâm thành phố Huế tới Đầm Chuồn – Ảnh chụp màn hình

HUỲNH PHƯƠNG

Nguồn: https://dulich.tuoitre.vn/ve-dam-chuon-xu-hue-20181227080057027.htm

Indonesia kết luận mảng núi lửa đổ sụp kích hoạt sóng thần

Một mảng lớn của sườn núi lửa Anak Krakatau trượt xuống đại dương, gây ra đợt sóng thần tấn công bờ biển Indonesia.

Khói bụi bốc lên sau khi núi lửa Anak Krakatau phun trào hôm 23/12. Ảnh: Reuters.

Dwikorita Karnawati, người đứng đầu cơ quan khí tượng Indonesia, nói rằng núi lửa Anak Krakatau đã phun tro và dung nham suốt nhiều tháng trước khi một mảng rộng 0,64 km2 ở sườn phía tây nam đổ sụp xuống biển, Reuters đưa tin. “Điều này gây ra lở đất dưới biển và cuối cùng kích hoạt sóng thần”, Dwikorita nói, nhấn mạnh thêm rằng sóng thần ập vào bờ chỉ 24 phút sau đó.

Những hình ảnh do vệ sinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu chụp lại cũng cho thấy một mảng lớn trên sườn phía nam của núi lửa trượt xuống biển. “Khi rơi xuống đại dương, khối núi đó làm dịch chuyển bề mặt đại dương, gây ra dịch chuyển theo chiều dọc và kích hoạt sóng thần”, Sam Taylor-Offord, một nhà địa chấn học tại Viện Khoa học GNS ở Wellington, New Zealand, nhận định.

Taylor-Offord cho biết vụ phun trào của núi lửa và “môi trường tiếng ồn cao” có thể là lý do vụ lở đất không được ghi nhận. Thực tế, sóng thần bị kích hoạt bởi núi lửa, không phải do động đất, có thể giải thích tại sao không có cảnh báo sóng thần nào được ban bố.

Những người dân sống ven biển khẳng định họ không nhìn thấy hoặc cảm thấy bất kỳ dấu hiệu nào cảnh báo thảm họa đang đến như động đất hay nước rút dọc bờ biển trước khi những đợt sóng cao tới 3 m ập vào bờ. Jose Borrero, chuyên gia về nguy cơ sóng thần tại Trung tâm Tư vấn Hàng hải eCoast, cho biết sóng thần do núi lửa tạo ra bí ẩn hơn sóng thần do động đất và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.

Trận sóng thần tràn vào các bãi biển ở Pandeglang, Serang và Nam Lampung thuộc eo biển Sunda khiến ít nhất 281 người thiệt mạng, 1.016 người bị thương và 57 người đang mất tích. Các chuyên gia cảnh báo nguy cơ xảy ra thêm sóng thần ở eo biển Sunda vẫn rất cao khi núi lửa Anak Krakatau đang trở nên bất ổn sau đợt phun trào mạnh và có thể tạo ra thêm nhiều trận lở đất dưới lòng biển.

Anak Krakatau (Con của Krakatao) là một trong 127 núi lửa hoạt động ở Indonesia, xuất hiện từ tàn tích của núi lửa Krakatoa và nổi lên khỏi mặt biển từ năm 1928. Núi cao khoảng 305 m, nằm ở ngoài khơi cách bờ biển phía tây đảo Java 80 km và bắt đầu hoạt động hồi tháng 6.

Núi lửa Anak Krakatau phun trào trước và sau trận sóng thần hôm 22/12.

Huyền Lê

Nguồn: https://vnexpress.net/the-gioi/indonesia-ket-luan-mang-nui-lua-do-sup-kich-hoat-song-than-3858948.html

 

Toàn bộ ĐBSCL đang sụt lún dần với tốc độ gần 2,5 cm mỗi năm

Ở khu vực biển Tây (vùng bán đảo Cà Mau) trước đây có tỷ lệ lấn ra biển cao thì nay đến 70% diện tích có diễn biến thoái lui. 

Ngày 18/12, WWF công bố kết quả dự án tăng cường năng lực của các tổ chức xã hội trong việc tham gia quản trị tài nguyên nước tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long do cơ quan này cùng Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VNR) và Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) thực hiện trong hai năm qua.

Nhóm nghiên cứu nêu thực trạng khu vực thượng nguồn đang bị tác động bởi các đập thủy điện khiến lượng phù sa, bùn cát xuống đồng bằng sông Cửu Long làm thay đổi hoàn toàn chế độ thuỷ văn của vùng hạ lưu. Tác động này làm giảm khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của toàn vùng.

Các nghiên cứu của WWF từ năm 2013 đến 2015, phân tích từ hơn 2.000 ảnh vệ tinh cho thấy ở ven biển Đông (khu vực tỉnh Bến Tre, Trà Vinh) có đến 48% khu vực bờ biển có biểu hiện thoái lui, trong khi chỉ có 22% có biểu hiện lấn ra biển.

Ở khu vực biển Tây (vùng bán đảo Cà Mau) nơi trước đây có tỷ lệ lấn ra biển cao thì nay đến 70% diện tích có diễn biến thoái lui.

“Toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang bị sụt lún dần với tốc độ từ 0,5 – 2,5 cm/năm, các khu vực lún nhanh và nhiều nhất là TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh”, báo cáo nêu.

Ngoài ra, ô nhiễm nguồn nước do thâm canh canh tác nông nghiệp, thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp và các khu đô thị ven sông cũng đáng báo động. Việc  sử dụng khoảng 2 triệu tấn phân bón hóa học, gần 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật  hàng năm có thể gây các rủi ro sự cố môi trường do sự tồn dư hóa chất độc hại trong môi trường nước.

Nhiều mô hình canh tác thủy sản khác nhau với quy lớn dẫn tới lượng chất thải đổ ra sông Tiền và sông Hậu nhiều, khiến mức độ nguy hại cho môi trường nước ngày càng trầm trọng, gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh.

Lượng nước thải của 12.700 doanh nghiệp đang hoạt động chưa được xử lý triệt để, tiếp tục thải ra nguồn tiếp nhận là sông, kênh, rạch, làm suy giảm chất lượng nước mặt, gây nên các dịch bệnh cho nuôi trồng thủy sản và đặc biệt là gây hại đến sức khỏe người dân.

Nhóm nghiên cứu đưa ra 5 khuyến nghị. Một trong số đó là cần duy trì hoạt động của mạng lưới quản trị tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long với các thành viên nòng cốt tại các tỉnh thông qua đầu mối là MekongNet tại Cần Thơ và Mạng lưới sông ngòi tại Hà Nội.

Mở rộng thêm các thành viên là các cá nhân, nhóm cộng đồng địa phương, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ để tăng cường chia sẻ thông tin, nhân rộng các sáng kiến, mô hình thành công trong quản trị tài nguyên nước, phát triển sinh kế.

Bích Ngọc

https://vnexpress.net/khoa-hoc/toan-bo-dbscl-dang-sut-lun-dan-voi-toc-do-gan-2-5-cm-moi-nam-3856166.html

 

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

Một số hình ảnh chọn lọc dưới đây để các bạn sinh viên K.15 tham gia tuyến hành trình thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ  giải đoán, hãy trả lời câu hỏi: Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?, diễn giải nội dung càng chi tiết càng tốt. Đây là bài tập kiểm tra kiến thức đã học, khả năng quan sát thực tế của các bạn đấy.

Ngày 7.12

H_1 ?
H_2?
H_3?
H_4?
H_5?

Ngày 8.12

H_6?
H_7?
H_8
H_9?
H_10?

Ngày 9.12

H_11?
H_12?
H_13?
H_14?

 

GIỚI THIỆU DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI ĐỚI BỜ THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ

(Nguyễn Trường Ngân  Nguyễn Ngọc Tuyến)

1. Mở đầu

1.1. Một số khái niệm

Hệ sinh thái (Ecosystem) Trong bài viết này được hiểu là một phức hệ động giữa các quần xã động, thực vật và vi sinh vật, cùng với môi trường vô sinh, tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng (UNEP, 2004).

Như vậy, có thể hiểu hệ sinh thái là sự tích hợp giữa các quần xã với sinh cảnh.

Chức năng hệ sinh thái (Ecosystem function) là một đặc tính nội tại của HST liên quan đến một tập hợp các điều kiện và tiến trình để duy trì tính toàn vẹn của HST (như năng suất sơ cấp, chuỗi thức ăn, chu trình địa hóa). Các chức năng của HST gồm có các tiến trình như phân hủy, sản xuất, chu trình dinh dưỡng, dòng dinh dưỡng và năng lượng (UNEP, 2004)

Dịch vụ hệ sinh thái (Ecosystem services) là những lợi ích mà con người có được từ HST. DVHST bao gồm: dịch vụ cung cấp, ví dụ lương thực và nước; dịch vụ điều tiết, ví dụ kiểm soát lũ và dịch bệnh; dịch vụ văn hóa, ví dụ tinh thần, giải trí, văn hóa; và dịch vụ hỗ trợ, ví dụ chu trình dinh dưỡng giúp duy trì các điều kiện sống trên trái đất. Khái niệm “hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái (ecosystem goods and services) đồng nghĩa với khái niệm DVHST (UNEP, 2004).

Phản DVHST (Ecosystem Dis-services) là những tác động do con người gây ra làm phá hủy DVHST (Zhang, 2007)

Hệ sinh thái đới bờ (Coastal ecosystem) là một phần diện tích nơi mà đất và nước tham gia để tạo ra một môi trường có một cấu trúc, sự đa dạng và dòng năng lượng riêng biệt. HST đới bờ bao gồm các đầm muối, rừng ngập mặn, đất ngập nước, cửa sông và các vịnh, và là nơi trú ngụ của nhiều loài động thực vật khác nhau. Các HST đới bờ rất nhạy cảm với những thay đổi môi trường (The Environmental Literacy Council, 2015).

Hệ đới bờ (Coastal system) là các hệ thống bao gồm phần diện tích mặt đất bị ảnh hưởng bởi thủy triều và bãi cát, kết hợp với các vùng biển gần bờ. Hệ sinh thái đới bờ thuộc phần đất liền được xác định tối đa 100km tính từ bờ biển hoặc 100m độ cao (tùy giới hạn nào gần biển hơn), và phần biển gần bờ được giới hạn bởi độ sâu 50m tính từ bờ biển (UNEP, 2006).

1.2. Phân loại các hệ sinh thái đới bờ

Là các HST có năng suất sinh học cao nhất, đồng thời cũng là các HST bị đe dọa nhất trên thế giới. Thành phần bao gồm các HST trên cạn (ví dụ HST cồn cát), các HST nước lợ, các HST ven bờ và các HST đại dương. Cơ sở để xác định ranh giới các HST là dựa vào khái niệm hệ đới bờ theo UNEP, 2006.

Các hệ sinh thái đới bờ phân thành 10 dạng như hình 1.

hinh 1
Hình 1. Phân loại các hệ sinh thái đới bờ (Nguồn: tổng hợp từ UNEP, 2006)

  2. Chức năng và dịch vụ của các HST đới bờ

Các tác giả De Groot, Wilson và Boumans (2002) đã tổng hợp được 22 chức năng chính của các HST đới bờ chia thành 4 nhóm, gồm: Điều tiết (10 chức năng), sinh cảnh (2 chức năng), sản xuất (5 chức năng), và thông tin (5 chức năng). Từ 22 chức năng chính này, các tác giả cũng đề xuất môt số DVHST phổ biến đang được con người khai thác trên thế giới.

Các DVHST được các tác giả ghi nhận (bảng 1) là những DV có tính bền vững về mặt sinh thái vì chúng được tạo ra từ các chức năng của hệ sinh thái. Các tác giả này bỏ qua các hoạt động khai thác kém bền vững, ví dụ hoạt động khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên không tái tạo khác (tất cả đều là hàng hóa liên quan đến thị trường). Đối với các hoạt động này, chúng tôi sẽ bàn đến trong nội dung phản DVHST.

Bang 1

3. Dịch vụ của các HST điển hình theo tuyến thực tập đới bờ

3.1. Các HST điển hình

Tuyến thực tập môi trường – tài nguyên đới bờ năm 2018 của sinh viên ngành Khoa học Môi trường trường Đại học Khoa học tự nhiên có tổng chiều dài 346 km, khảo sát chi tiết tại 12 điểm (hình 2)

hinh 2
Hình 2. Bản đồ tuyến thực tập

Căn cứ vào phân loại sinh cảnh đới bờ theo UNEP (Bảng 1) và đối chiếu với thực tế khảo sát, chúng tôi ghi nhận bốn HST điển hình theo tuyến thực tập đới bờ như sau (bảng 2). Continue reading “GIỚI THIỆU DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI ĐỚI BỜ THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ”