Featured

Chào mừng đến với góc học thuật của chúng tôi

Tại công viên đá Vườn quốc gia Núi Chúa Ninh Thuận

❤ Chúc các bạn tìm được những thông tin thú vị và bổ ích 😉
❤ Hy vọng nhận được nhiều sự quan tâm và chia sẻ của quý độc giả.

Advertisements

Sơ bộ về sản phẩm địa du lịch thứ cấp

Nguyễn Thị Quế Nam, Hà Quang Hải

(Địa môi trường giới thiệu kết quả luận văn cao học với đề tài Phát triển sản phẩm địa du lịch cho những điểm đến (lấy ví dụ một số điểm ven biển Nam Trung Bộ) do Nguyễn Thị Quế Nam thực hiện. Báo cáo đã được trình bày trước hội đồng Chuyên ngành Khoa học Môi trường, trường Đại học KHTN, Đại học QG. TPHCM ngày 25,12.2018. Nội dung giới thiệu gồm 4 phần: Phần 1-Sơ bộ về sản phẩm địa du lịch thứ cấp; Phần 2- Đặc thù địa học; Phần 3- Đặc thù văn hóa; Phần 4-Đề xuất phát triển sản phẩm địa du lịch thứ cấp. Báo cáo toàn văn được lưu trữ tại thư viện Trường Đại học KHTN, 227 Nguyễn Văn Cừ, Q.5, TP.HCM.

Tóm tắt luận văn: Dải bờ biển Nam Trung Bộ có tiềm năng phát triển địa du lịch, với nhiều geosite quý hiếm và độc đáo có thể thành lập công viên địa chất cấp quốc gia. Tuy nhiên, hầu như các sản phẩm địa du lịch nơi đây còn nghèo nàn, chưa đủ sức hấp dẫn du khách. Luận văn “Phát triển sản phẩm địa du lịch cho những điểm đến  (Lấy ví dụ một số điểm ven biển Nam Trung Bộ)” tạo ra hệ thống sản phẩm địa du lịch cho 3 công viên địa chất cấp quốc gia dự kiến:1) Công viên địa chất Đảo núi lửa Lý Sơn đặc thù địa hình núi lửa ấn tượng cùng với văn hóa Sa Huỳnh và những lễ hội biển đảo truyền thống; 2) Công viên địa chất Bờ biển Phú Yên từ sự đa dạng đá và các tác động ngoại sinh đã tạo ra sự đa dạng địa học gắn liền với nền văn hóa đá; 3) Công viên địa chất Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận với cao nguyên cát đỏ đặc trưng cùng nền văn hóa Chăm. Dựa vào những đặc thù địa học – văn hóa, các sản phẩm địa du lịch được đề xuất phát triển. Sản phẩm địa du lịch sơ cấp là các geosite tại công viên địa chất. Sản phẩm địa du lịch thứ cấp bao gồm: 1) Thông tin địa chất; 2) Đường mòn địa chất; 3) Hoạt động địa chất; 4) Nhà địa chất; 5) Nông trại địa chất; 6) Ẩm thực địa chất; 7) Quà lưu niệm địa chất; 8) Cửa hàng địa chất; 9) Lễ hội văn hóa địa chất; 10) Học viện địa chất.  Các sản phẩm địa du lịch được thực hiện sẽ góp phần quảng bá các điểm đến cũng như thúc đẩy kinh tế, nâng cao mức sống cư dân.

1. Khái niệm

Theo UNESCO (1999) [34], các sản phẩm địa dụ lịch thứ cấp (SPĐDL) là loại sản phẩm thiên về hàng thủ công nghiệp được sản xuất có ý nghĩa về địa chất.

Theo hướng dẫn của GGN (2010) [35], các SPĐDL là công cụ để bảo vệ cảnh quan địa chất trong công viên địa chất. SPĐDL cần có sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại để làm tăng nhận thức về đa dạng địa học cho du khách.

Như vậy, SPĐDL không những tạo cơ hội trải nghiệm mới cho du khách, đẩy mạnh kinh tế địa phương mà còn nâng cao kiến thức về khoa học trái đất. Việc cung cấp những việc làm mới, cơ sở hạ tầng mới và những sản phẩm mới là những sáng kiến hấp dẫn khách du lịch đến với CVĐC hơn. Hệ thống các dạng SPĐDL thứ cấp trong CVĐC được tổng hợp trong hình 1.1 [20] theo 3 mục tiêu chính của CVĐC: bảo tồn, địa du lịch và giáo dục.

Hình 1.1 Hệ thống các SPĐDL kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong CVĐC [20]

2. Phân loại

Reynard (2008) [28] phân SPDDL thành hai nhóm gồm SPĐDL sơ cấp và SPĐDL thứ cấp:

        – SPĐDL sơ cấp (Original offer) đó chính là các di sản địa chất (ví dụ như dấu vết khủng long, khu vực cổ sinh vật học, các dạng địa hình, suối nước khoáng,..)

       – SPĐDL thứ cấp (Derived offer) (Hình 1.2): phát triển cơ sở hạ tầng, phương tiện di chuyển, sản phẩm khoa học thứ cấp (sách, quà lưu niệm, tài liệu điện tử, trò chơi…), hệ thống thuyết minh tại điểm đến (bảo tàng, trung tâm du khách, triển lãm, hướng dẫn tham quan, các bảng chỉ dẫn, thuyết minh, trang web).

Hình 1.2 Hệ thống các sản phẩm địa du lịch thứ cấp [26]

Dryglas và Miskiewicz (2014) [18] phân loại các SPĐDL thứ cấp ở Ba Lan thành bậc cơ bản và phức hợp gồm các sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể (Bảng 1.1 ).

Bảng 1.1 Cấu trúc phân loại sản phẩm địa du lịch thứ cấp [18]

3. Nguyên tắc phát triển

Các nguyên tắc cần chú ý khi phát triển SPĐDL thứ cấp như sau [20]:

  • SPĐDL phải mang đặc trưng của địa phương
  • SPĐDL phải là biểu tượng địa chất – địa mạo của vùng
  • SPĐDL là một công cụ thương mại hoặc giáo dục
  • SPĐDL phải tổng hợp được sản phẩm truyền thống địa phương và những nội dung khoa học địa chất
  • SPĐDL phải là sản phẩm thân thiện môi trường.

4. Một số ví dụ sản phẩm địa du lịch

SPĐDL ở các CVĐC trên thế giới được trình bày theo bảng 1.2

Bảng 1.2 Bảng tóm tắt SP ĐDL của một số CVĐC
Bảng 1.2 Bảng tóm tắt SP ĐDL của một số CVĐC
Hình 1.3 Một số hình ảnh minh họa về SPĐDL thứ cấp ở các CVĐC trên toàn thế giới

Địa du lịch và CVĐC ngày càng được quan tâm ở các nước trên thế giới bởi tính bền vững của loại hình này. Vì thế, phát triển SPĐDL trong các CVĐC là một công cụ tất yếu để phục vụ các hoạt động bảo tồn, giáo dục và phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

 

Về Đầm Chuồn xứ Huế

TTO – “Đầm Chuồn là chỗ mô hè? Răng không nghe nói khi mô hết ri”. Nếu có dịp đến vùng đất cố đô, du khách đừng quên ghé thăm Đầm Chuồn có phong cảnh hữu tình như tranh vẽ.

Một sớm Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Nói đến xứ Huế mộng mơ, du khách thường nghĩ ngay đến những di tích lăng tẩm Huế, sông Hương, núi Ngự hay chùa Thiên Mụ.

Ngoài các địa điểm trên, Đầm Chuồn có diện tích khoảng 100ha là điểm đến du khách không thể bỏ qua. Đây là đầm nước lợ trong hệ thống đầm phá Tam Giang, thuộc xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Đầm Chuồn vào mỗi thời khắc trong ngày mang vẻ đẹp riêng. Lúc bình minh, Đầm Chuồn có màu cam đỏ hay cam hồng, rực sáng trong nắng vàng ban trưa và nhộm màu tím hồng trong buổi chiều tà.

Toàn cảnh Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Vẻ đẹp yên bình nhìn từ trên cao – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Đối với các nhiếp ảnh gia, Đầm Chuồn là đề tài thú vị để thỏa sức đam mê sáng tác ảnh. Anh Trần Bảo Hòa (Đắk Lắk) cho biết nhiều lần ghé thăm Đầm Chuồn nhưng vẫn bị cuốn hút trước nhịp sống êm ả nơi đây.

“Tờ mờ sáng, tôi bay flycam để ghi lại các shot hình Đầm Chuồn đẹp mơ màng trong sương sớm. Bức tranh ráng hồng cam của những đám mây phiêu du lúc bình minh khiến tôi mãi ngơ ngẩn chốn phong vị nơi mô. Vẫn khung cảnh và những ngư dân cần mẫn ấy, chỉ có điều là nhịp sống sinh động hơn” – anh Bảo Hòa có chuyến trở lại Đầm Chuồn giữa tháng 12-2018 chia sẻ với Tuổi Trẻ Online.

Các thuyền của ngư dân hoạt động nhộn nhịp trên Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Trước đây, đầm phá Tam Giang là vùng đất rộng ngập sâu trong nước, nhiều sình lầy, sóng gió và thuyền bè đi lại dễ gặp nạn. Nhưng ngày nay khu vực đầm phá này dễ đi lại, có nguồn tài nguyên biển quý giá để người dân đánh bắt làm nguồn sống, trong đó Đầm Chuồn còn là nơi thú vị để du khách trải nghiệm cuộc sống mưu sinh của người dân.

Đầm Chuồn mênh mang sóng nước – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Tại Đầm Chuồn, du khách dễ dàng nhận ra những chiếc vó có màu nâu vàng, những chắn sáo (còn gọi vây ví, một hệ thống ngư cụ để ngư dân nuôi các hải sản trên đầm), đặc biệt là những “nhà chồ” tạo nên nét chấm phá cho Đầm Chuồn.

Nhà chồ, đặc thù của người dân miền sông nước, là những căn nhà lán rộng khoảng 5m2 được dựng từ tre lồ ô trên đầm.

Nhà lán vẫn có đủ điều kiện để người dân sinh hoạt. Đây còn là nơi du khách nghỉ đêm, ngắm trăng sao và được nhậu lai rai với ngư dân thì không có gì thú vị cho bằng.

Hệ thống chắn sáo để ngư dân nuôi hải sản – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Một khu vực chắn sáo và nhà chồ của ngư dân – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Cận cảnh nhà chồ – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Các loại hải sản tươi ngon tại Đầm Chuồn có thể kể đến như cua, ghẹ, cá ong, cá dìa, cá mú, cá nâu hay cá kình. Chúng được ngư dân nuôi trong những chắn sáo hay đánh bắt tự nhiên.

Sau khi trải nghiệm cùng cuộc sống ngư dân và ghi lại vẻ đẹp yên bình Đầm Chuồn, du khách trên đường về đừng quên ghé chợ làng Chuồn thưởng thức món bánh khoái cá kình nổi tiếng.

“Rời Đầm Chuồn nhưng dường như vẫn còn lưu luyến, luôn in mãi những kỷ niệm đẹp trong tim. Hẹn một ngày trở lại Đầm Chuồn thêm lần nữa” – anh Bảo Hòa cho biết.

Cuộc sống mưu sinh của ngư dân trên đầm – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Quang cảnh sinh hoạt nhộn nhịp hiện lên bức tranh Đầm Chuồn đầy sức sống – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Bản đồ hướng dẫn các đường đi từ trung tâm thành phố Huế tới Đầm Chuồn – Ảnh chụp màn hình

HUỲNH PHƯƠNG

Nguồn: https://dulich.tuoitre.vn/ve-dam-chuon-xu-hue-20181227080057027.htm

Indonesia kết luận mảng núi lửa đổ sụp kích hoạt sóng thần

Một mảng lớn của sườn núi lửa Anak Krakatau trượt xuống đại dương, gây ra đợt sóng thần tấn công bờ biển Indonesia.

Khói bụi bốc lên sau khi núi lửa Anak Krakatau phun trào hôm 23/12. Ảnh: Reuters.

Dwikorita Karnawati, người đứng đầu cơ quan khí tượng Indonesia, nói rằng núi lửa Anak Krakatau đã phun tro và dung nham suốt nhiều tháng trước khi một mảng rộng 0,64 km2 ở sườn phía tây nam đổ sụp xuống biển, Reuters đưa tin. “Điều này gây ra lở đất dưới biển và cuối cùng kích hoạt sóng thần”, Dwikorita nói, nhấn mạnh thêm rằng sóng thần ập vào bờ chỉ 24 phút sau đó.

Những hình ảnh do vệ sinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu chụp lại cũng cho thấy một mảng lớn trên sườn phía nam của núi lửa trượt xuống biển. “Khi rơi xuống đại dương, khối núi đó làm dịch chuyển bề mặt đại dương, gây ra dịch chuyển theo chiều dọc và kích hoạt sóng thần”, Sam Taylor-Offord, một nhà địa chấn học tại Viện Khoa học GNS ở Wellington, New Zealand, nhận định.

Taylor-Offord cho biết vụ phun trào của núi lửa và “môi trường tiếng ồn cao” có thể là lý do vụ lở đất không được ghi nhận. Thực tế, sóng thần bị kích hoạt bởi núi lửa, không phải do động đất, có thể giải thích tại sao không có cảnh báo sóng thần nào được ban bố.

Những người dân sống ven biển khẳng định họ không nhìn thấy hoặc cảm thấy bất kỳ dấu hiệu nào cảnh báo thảm họa đang đến như động đất hay nước rút dọc bờ biển trước khi những đợt sóng cao tới 3 m ập vào bờ. Jose Borrero, chuyên gia về nguy cơ sóng thần tại Trung tâm Tư vấn Hàng hải eCoast, cho biết sóng thần do núi lửa tạo ra bí ẩn hơn sóng thần do động đất và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.

Trận sóng thần tràn vào các bãi biển ở Pandeglang, Serang và Nam Lampung thuộc eo biển Sunda khiến ít nhất 281 người thiệt mạng, 1.016 người bị thương và 57 người đang mất tích. Các chuyên gia cảnh báo nguy cơ xảy ra thêm sóng thần ở eo biển Sunda vẫn rất cao khi núi lửa Anak Krakatau đang trở nên bất ổn sau đợt phun trào mạnh và có thể tạo ra thêm nhiều trận lở đất dưới lòng biển.

Anak Krakatau (Con của Krakatao) là một trong 127 núi lửa hoạt động ở Indonesia, xuất hiện từ tàn tích của núi lửa Krakatoa và nổi lên khỏi mặt biển từ năm 1928. Núi cao khoảng 305 m, nằm ở ngoài khơi cách bờ biển phía tây đảo Java 80 km và bắt đầu hoạt động hồi tháng 6.

Núi lửa Anak Krakatau phun trào trước và sau trận sóng thần hôm 22/12.

Huyền Lê

Nguồn: https://vnexpress.net/the-gioi/indonesia-ket-luan-mang-nui-lua-do-sup-kich-hoat-song-than-3858948.html

 

Toàn bộ ĐBSCL đang sụt lún dần với tốc độ gần 2,5 cm mỗi năm

Ở khu vực biển Tây (vùng bán đảo Cà Mau) trước đây có tỷ lệ lấn ra biển cao thì nay đến 70% diện tích có diễn biến thoái lui. 

Ngày 18/12, WWF công bố kết quả dự án tăng cường năng lực của các tổ chức xã hội trong việc tham gia quản trị tài nguyên nước tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long do cơ quan này cùng Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VNR) và Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) thực hiện trong hai năm qua.

Nhóm nghiên cứu nêu thực trạng khu vực thượng nguồn đang bị tác động bởi các đập thủy điện khiến lượng phù sa, bùn cát xuống đồng bằng sông Cửu Long làm thay đổi hoàn toàn chế độ thuỷ văn của vùng hạ lưu. Tác động này làm giảm khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của toàn vùng.

Các nghiên cứu của WWF từ năm 2013 đến 2015, phân tích từ hơn 2.000 ảnh vệ tinh cho thấy ở ven biển Đông (khu vực tỉnh Bến Tre, Trà Vinh) có đến 48% khu vực bờ biển có biểu hiện thoái lui, trong khi chỉ có 22% có biểu hiện lấn ra biển.

Ở khu vực biển Tây (vùng bán đảo Cà Mau) nơi trước đây có tỷ lệ lấn ra biển cao thì nay đến 70% diện tích có diễn biến thoái lui.

“Toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang bị sụt lún dần với tốc độ từ 0,5 – 2,5 cm/năm, các khu vực lún nhanh và nhiều nhất là TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh”, báo cáo nêu.

Ngoài ra, ô nhiễm nguồn nước do thâm canh canh tác nông nghiệp, thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp và các khu đô thị ven sông cũng đáng báo động. Việc  sử dụng khoảng 2 triệu tấn phân bón hóa học, gần 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật  hàng năm có thể gây các rủi ro sự cố môi trường do sự tồn dư hóa chất độc hại trong môi trường nước.

Nhiều mô hình canh tác thủy sản khác nhau với quy lớn dẫn tới lượng chất thải đổ ra sông Tiền và sông Hậu nhiều, khiến mức độ nguy hại cho môi trường nước ngày càng trầm trọng, gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh.

Lượng nước thải của 12.700 doanh nghiệp đang hoạt động chưa được xử lý triệt để, tiếp tục thải ra nguồn tiếp nhận là sông, kênh, rạch, làm suy giảm chất lượng nước mặt, gây nên các dịch bệnh cho nuôi trồng thủy sản và đặc biệt là gây hại đến sức khỏe người dân.

Nhóm nghiên cứu đưa ra 5 khuyến nghị. Một trong số đó là cần duy trì hoạt động của mạng lưới quản trị tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long với các thành viên nòng cốt tại các tỉnh thông qua đầu mối là MekongNet tại Cần Thơ và Mạng lưới sông ngòi tại Hà Nội.

Mở rộng thêm các thành viên là các cá nhân, nhóm cộng đồng địa phương, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ để tăng cường chia sẻ thông tin, nhân rộng các sáng kiến, mô hình thành công trong quản trị tài nguyên nước, phát triển sinh kế.

Bích Ngọc

https://vnexpress.net/khoa-hoc/toan-bo-dbscl-dang-sut-lun-dan-voi-toc-do-gan-2-5-cm-moi-nam-3856166.html

 

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

Một số hình ảnh chọn lọc dưới đây để các bạn sinh viên K.15 tham gia tuyến hành trình thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ  giải đoán, hãy trả lời câu hỏi: Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?, diễn giải nội dung càng chi tiết càng tốt. Đây là bài tập kiểm tra kiến thức đã học, khả năng quan sát thực tế của các bạn đấy.

Ngày 7.12

H_1 ?
H_2?
H_3?
H_4?
H_5?

Ngày 8.12

H_6?
H_7?
H_8
H_9?
H_10?

Ngày 9.12

H_11?
H_12?
H_13?
H_14?

 

GIỚI THIỆU DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI ĐỚI BỜ THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ

(Nguyễn Trường Ngân  Nguyễn Ngọc Tuyến)

1. Mở đầu

1.1. Một số khái niệm

Hệ sinh thái (Ecosystem) Trong bài viết này được hiểu là một phức hệ động giữa các quần xã động, thực vật và vi sinh vật, cùng với môi trường vô sinh, tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng (UNEP, 2004).

Như vậy, có thể hiểu hệ sinh thái là sự tích hợp giữa các quần xã với sinh cảnh.

Chức năng hệ sinh thái (Ecosystem function) là một đặc tính nội tại của HST liên quan đến một tập hợp các điều kiện và tiến trình để duy trì tính toàn vẹn của HST (như năng suất sơ cấp, chuỗi thức ăn, chu trình địa hóa). Các chức năng của HST gồm có các tiến trình như phân hủy, sản xuất, chu trình dinh dưỡng, dòng dinh dưỡng và năng lượng (UNEP, 2004)

Dịch vụ hệ sinh thái (Ecosystem services) là những lợi ích mà con người có được từ HST. DVHST bao gồm: dịch vụ cung cấp, ví dụ lương thực và nước; dịch vụ điều tiết, ví dụ kiểm soát lũ và dịch bệnh; dịch vụ văn hóa, ví dụ tinh thần, giải trí, văn hóa; và dịch vụ hỗ trợ, ví dụ chu trình dinh dưỡng giúp duy trì các điều kiện sống trên trái đất. Khái niệm “hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái (ecosystem goods and services) đồng nghĩa với khái niệm DVHST (UNEP, 2004).

Phản DVHST (Ecosystem Dis-services) là những tác động do con người gây ra làm phá hủy DVHST (Zhang, 2007)

Hệ sinh thái đới bờ (Coastal ecosystem) là một phần diện tích nơi mà đất và nước tham gia để tạo ra một môi trường có một cấu trúc, sự đa dạng và dòng năng lượng riêng biệt. HST đới bờ bao gồm các đầm muối, rừng ngập mặn, đất ngập nước, cửa sông và các vịnh, và là nơi trú ngụ của nhiều loài động thực vật khác nhau. Các HST đới bờ rất nhạy cảm với những thay đổi môi trường (The Environmental Literacy Council, 2015).

Hệ đới bờ (Coastal system) là các hệ thống bao gồm phần diện tích mặt đất bị ảnh hưởng bởi thủy triều và bãi cát, kết hợp với các vùng biển gần bờ. Hệ sinh thái đới bờ thuộc phần đất liền được xác định tối đa 100km tính từ bờ biển hoặc 100m độ cao (tùy giới hạn nào gần biển hơn), và phần biển gần bờ được giới hạn bởi độ sâu 50m tính từ bờ biển (UNEP, 2006).

1.2. Phân loại các hệ sinh thái đới bờ

Là các HST có năng suất sinh học cao nhất, đồng thời cũng là các HST bị đe dọa nhất trên thế giới. Thành phần bao gồm các HST trên cạn (ví dụ HST cồn cát), các HST nước lợ, các HST ven bờ và các HST đại dương. Cơ sở để xác định ranh giới các HST là dựa vào khái niệm hệ đới bờ theo UNEP, 2006.

Các hệ sinh thái đới bờ phân thành 10 dạng như hình 1.

hinh 1
Hình 1. Phân loại các hệ sinh thái đới bờ (Nguồn: tổng hợp từ UNEP, 2006)

  2. Chức năng và dịch vụ của các HST đới bờ

Các tác giả De Groot, Wilson và Boumans (2002) đã tổng hợp được 22 chức năng chính của các HST đới bờ chia thành 4 nhóm, gồm: Điều tiết (10 chức năng), sinh cảnh (2 chức năng), sản xuất (5 chức năng), và thông tin (5 chức năng). Từ 22 chức năng chính này, các tác giả cũng đề xuất môt số DVHST phổ biến đang được con người khai thác trên thế giới.

Các DVHST được các tác giả ghi nhận (bảng 1) là những DV có tính bền vững về mặt sinh thái vì chúng được tạo ra từ các chức năng của hệ sinh thái. Các tác giả này bỏ qua các hoạt động khai thác kém bền vững, ví dụ hoạt động khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên không tái tạo khác (tất cả đều là hàng hóa liên quan đến thị trường). Đối với các hoạt động này, chúng tôi sẽ bàn đến trong nội dung phản DVHST.

Bang 1

3. Dịch vụ của các HST điển hình theo tuyến thực tập đới bờ

3.1. Các HST điển hình

Tuyến thực tập môi trường – tài nguyên đới bờ năm 2018 của sinh viên ngành Khoa học Môi trường trường Đại học Khoa học tự nhiên có tổng chiều dài 346 km, khảo sát chi tiết tại 12 điểm (hình 2)

hinh 2
Hình 2. Bản đồ tuyến thực tập

Căn cứ vào phân loại sinh cảnh đới bờ theo UNEP (Bảng 1) và đối chiếu với thực tế khảo sát, chúng tôi ghi nhận bốn HST điển hình theo tuyến thực tập đới bờ như sau (bảng 2). Continue reading “GIỚI THIỆU DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI ĐỚI BỜ THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ”

SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ

1. Giới thiệu chung

Toàn cầu, tổng mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp hàng năm (2005) ước tính là 500.1015 Btu. Riêng nước Mỹ tiêu thụ 105.1015 Btu, tập trung trong các lĩnh vực: Công nghiệp, giao thông, thương mại và dân dụng được minh họa trong Hình 1.1. Khoảng 40% tổng mức năng lượng sơ cấp được sử dụng để sản xuất điện. Gần 70% năng lượng được sử dụng trong nhà và văn phòng dưới dạng điện năng. Nhu cầu điện trên toàn thế giới là 15 nghìn tỷ kWh (2005) và đạt 19 nghìn tỷ kWh trong 2015. Mức gia tăng trung bình hàng năm về nhu cầu điện năng trên toàn thế giới là 2,6%. Tốc độ gia tăng ở các nước đang phát triển được dự đoán khoảng 5%, gần gấp đôi mức tăng trung bình của thế giới. Điện trên thế giới được sản xuất chủ yếu bằng nhiên liệu hóa thạch trong hơn hai thế kỷ, vài nơi nhu cầu điện có thể được đáp ứng bằng các nhà máy điện hạt nhân nhưng chỉ mới hơn 5 thập kỷ qua. Những lo ngại môi trường ngày càng gia tăng trong những năm gần đây liên quan đến sự nóng lên toàn cầu và những tác động tiêu cực của phát thải carbon đã đặt ra một yêu cầu mới về các nguồn năng lượng sạch và bền vững như gió, biển, mặt trời, sinh khối và năng lượng địa nhiệt. Trong số này, năng lượng gió và mặt trời đã phát triển đáng kể trong 10 năm qua. Cả hai đều là nguồn năng lượng dồi dào và không gây ô nhiễm. Ngoài ra, với hai nguồn năng lượng này, điện có thể được sản xuất và cung cấp cho khu vực lân cận, gần các nhà máy sản xuất; do đó, giúp tiết giảm chi phí lắp đặt hệ thống đường dây điện cao thế chạy từ khu vực ngoại thành và nội thành. Việc cho phép tư nhân hoá và khuyến khích lựa chọn của người tiêu dùng đối với các nguồn năng lượng xanh (green power) ở nhiều nước đang giúp mở rộng thị trường cho điện gió (wind power) và quang điện (Photovoltaic Energy) với tốc độ ngày càng tăng.

Hinh 1.1Hình 1.1: Tỉ lệ tiêu thụ năng lượng trong 3 lĩnh vực lớn của Mỹ

Tổng nhu cầu điện ở Mỹ đã đạt gần 4 nghìn tỷ kWh trong năm 2005, với tổng giá trị đạt 300 tỷ đô la. Để đáp ứng nhu cầu này, các cơ sở với công suất hơn 800 GW được lắp đặt tại Hoa Kỳ. Nhu cầu điện trên cả nước đã tăng lên theo tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Với tốc độ đó, Mỹ cần phải bổ sung 200 GW vào 2015.

Trung Quốc hiện là nước tiêu thụ điện lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Nhu cầu điện năng của Trung Quốc tăng 15% trong năm 2003, so với dự báo của các nhà hoạch định kinh tế chỉ 5% . Hiện tại, tổng nhu cầu đã vượt quá 460 GW vào cuối 2005. Ấn Độ là một quốc gia có nhu cầu năng về lượng tăng hơn 10% mỗi năm. Tốc độ gia tăng này, cùng với số dân đông, sẽ làm cho hai quốc gia này phát triển nhanh chóng thị trường cho tất cả các nguồn năng lượng điện, bao gồm cả năng lượng tái tạo.

Ngày nay, việc xây dựng các nhà máy sản xuất điện năng đang trở nên phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới vì khó khăn trong việc tìm vị trí cho lắp đặt các cơ sở sản xuất và truyền tải điện dưới bất kỳ hình thức nào. Tại Mỹ, không có nhà máy điện hạt nhân nào được yêu cầu hoặc thiết lập từ năm 1978. Với mức chi phí cao, những đổi mới về thiết kế liên quan đến an toàn trong quá trình xây dựng và sự phản đối của cộng đồng địa phương đối với các nhà máy này, các nhà máy điện hạt nhân không phải là lựa chọn hàng đầu trong ba thập kỷ qua. Nếu không có nhà máy điện hạt nhân mới được xây dựng và các nhà máy hiện tại không được cấp phép lại khi hết thời hạn 40 năm, sản lượng điện hạt nhân dự kiến sẽ giảm mạnh sau năm 2010. Sự suy giảm này phải được thay thế bằng các nguồn năng lượng khác. Với giá khí đốt tăng dài hạn, các cơ sở sản xuất có khả năng sẽ dùng than để sản xuất điện. Mỹ có trữ lượng than khổng lồ, tương đương với hơn 250 năm sử dụng ở mức hiện tại. Tuy nhiên, điều này sẽ yêu cầu các công nghệ đốt than sạch (clean coal-burning technologies) để có được sự chấp thuận hoàn toàn từ cộng đồng.

Các giải pháp thay thế cho điện hạt nhân và nhiên liệu hóa thạch là các công nghệ năng lượng tái tạo như: thủy điện, ngoài các công nghệ đã đề cập bên trên. Các dự án thủy điện quy mô lớn ngày càng trở nên khó triển khai hơn trong những năm gần đây do cạnh tranh trong việc sử dụng đất và tài nguyên nước. Các yêu cầu tái cấp phép của các nhà máy thủy điện hiện tại thậm chí có thể dẫn đến việc yêu cầu loại bỏ một số đập nhằm bảo vệ hoặc phục hồi môi trường sống của động vật hoang dã. Ngược lại, trong số các nguồn năng lượng tái tạo khác, gió và mặt trời gần đây đã cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng trên toàn thế giới.

Hiện trạng và lợi ích của các nguồn năng lượng tái tạo được so sánh với các nguồn thông thường trong Bảng 1.1 và Bảng 1.2.

bang 1.1
Bảng 1.1: So sánh các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng truyền thống
bang 1.2
Bảng 1.2: Lợi ích của việc sử dụng điện tái tạo

Các nhà khoa học và nhà kinh tế về năng lượng tin rằng nguồn năng lượng tái tạo sẽ nhận được nhiều khuyến khích của quốc gia hơn nếu lợi ích xã hội của chúng được công nhận đầy đủ. Ví dụ, giá trị của việc không tạo ra 1 tấn CO2, SO2 và NOx, và giá trị của việc không xây dựng đường dây điện cao thế dài chạy qua khu vực nông thôn và thành thị không được phản ánh đầy đủ cho giá của năng lượng tái tạo hiện tại. Nếu năng lượng tái tạo có được chứng nhận về việc giảm ô nhiễm của phát thải 600 tấn CO2 trên mỗi một triệu kWh điện tiêu thụ, chúng sẽ có được sự thúc đẩy lớn hơn nữa cùng với những ưu đãi nhiều hơn so với hiện tại của chính phủ Mỹ. Continue reading “SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ”

Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi

TTO – “Tịnh Biên – An Giang vào mùa nước nổi đẹp như tranh vẽ với hàng cây thốt nốt huyền thoại” – nhiếp ảnh gia Minh Trung (TP. HCM) nhận xét

Mùa nước nổi Tịnh Biên yên bình, đẹp như tranh vẽ – Ảnh: MINH TRUNG

Cây thốt nốt gắn liền với vùng Thất Sơn (hay còn gọi là vùng Bảy Núi) thuộc địa phận huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên của tỉnh An Giang. Vì thế, nơi đây được xem là “xứ sở của thốt nốt”.

Mùa nước nổi Tịnh Biên từ tháng 9 tới 11 hàng năm là thời điểm các nhiếp ảnh gia về đây để sáng tác ảnh.

Du khách đến Tịnh Biên có thể dễ dàng bắt gặp những cây thốt nốt vươn thẳng lên cao 30m, có cây lại uốn cong thân và khi chúng soi bóng mặt hồ tạo nên cấu trúc đối xứng tuyệt đẹp.

Du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh cây thốt nốt khi đến Tịnh Biên, An Giang – Ảnh: MINH TRUNG

Continue reading “Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi”

Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?

Đồ nhựa (plastic) không chỉ trông giống thức ăn, nó phát ra mùi và âm thanh hệt như thức ăn. Rác thải nhựa của con người có đủ loại hình dạng, kích cỡ và màu sắc khác nhau, được đổ thẳng trực tiếp ra biển. Lượng rác này tích tụ ngày càng nhiều, xâm lấn môi trường sống của các sinh vật biển, trở thành nguồn “thực phẩm” chính cho chúng.

(ảnh: Troy Mayne/Greenpeace)

Trong chương trình Blue Planet II gần đây, David Attenborough – phát thanh viên, nhà tự nhiên học người Anh – kể về 1 con hải âu đi kiếm thức ăn cho con non. “Nó ngậm đầy trong miệng… không phải cá, cũng không phải mực, mà là nhựa.”

Attenborough mô tả, đây là 1 điều kỳ lạ và rất đáng thương. Loài hải âu Albatrosses có thể bay hàng ngàn cây số để tìm kiếm con mồi và có thể bắt cá một cách dễ dàng. Vậy vì sao chúng lại có thể bị lừa, trở về từ chuyến đi gian nan của mình, không có gì ngoài những miếng nhựa? Thật ra, hải âu không phải là trường hợp duy nhất. Theo ghi nhận gần đây, đã có ít nhất 180 loài động vật biển thường xuyên tiêu thụ nhựa, từ các sinh vật phù du (zooplankton) đến cá voi khổng lồ.

Đồ nhựa đã được tìm thấy trong ruột của 1/3 lượng cá đánh bắt được ở Anh, gồm nhiều loài cá mà chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Ngoài ra, chúng cũng được phát hiện trong ruột con trai và tôm hùm. Tóm lại, vô số các loài động vật biển đang ăn rác thải nhựa, bởi con người vẫn không ngừng đổ 12,7 triệu tấn phế thải vào đại dương mỗi năm.

Vì số lượng này ngày càng tăng qua từng năm, đến một lúc các loài sinh vật biển không còn gì để tiêu thụ ngoài nhựa. Trong đó, các loài sinh vật phù du cũng không ngoại lệ. Moira Galbraith, nhà sinh thái học tại Viện Khoa học Đại dương, Canada cho biết: “Nếu hạt nhựa rơi vào 1 phạm vi kích thước nhất định thì [đối với các loài sinh vật biển] nó được xác nhận là thức ăn.”

Đến nay, nhiều người thắc mắc rằng rác thải từ nhựa thật sự đã trôi xa đến đâu. Một nghiên cứu đã cho thấy chúng đã trầm xuống tận đáy biển. Qua 12 địa điểm thử nước biển tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương từ năm 2001 đến 2012, người ta thấy hàm lượng các vi hạt nhựa (microplastics) tăng đột biến. Kích thước của chúng chỉ dài 1mm và được tìm thấy từ độ sâu 300 mét dưới Địa Trung Hải đến trên 3.000 mét dưới đáy biển, với mật độ cao gấp 1.000 lần so với lượng rác thải nhựa tìm thấy trên bề mặt.

Nhựa đã trôi dạt tới Nam Cực (ảnh: Hội khảo sát Nam Cực của Anh Quốc)

Continue reading “Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?”