Featured

Chào mừng đến với góc học thuật của chúng tôi

Tại công viên đá Vườn quốc gia Núi Chúa Ninh Thuận

❤ Chúc các bạn tìm được những thông tin thú vị và bổ ích 😉
❤ Hy vọng nhận được nhiều sự quan tâm và chia sẻ của quý độc giả.

Advertisements

Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi

TTO – “Tịnh Biên – An Giang vào mùa nước nổi đẹp như tranh vẽ với hàng cây thốt nốt huyền thoại” – nhiếp ảnh gia Minh Trung (TP. HCM) nhận xét

Mùa nước nổi Tịnh Biên yên bình, đẹp như tranh vẽ – Ảnh: MINH TRUNG

Cây thốt nốt gắn liền với vùng Thất Sơn (hay còn gọi là vùng Bảy Núi) thuộc địa phận huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên của tỉnh An Giang. Vì thế, nơi đây được xem là “xứ sở của thốt nốt”.

Mùa nước nổi Tịnh Biên từ tháng 9 tới 11 hàng năm là thời điểm các nhiếp ảnh gia về đây để sáng tác ảnh.

Du khách đến Tịnh Biên có thể dễ dàng bắt gặp những cây thốt nốt vươn thẳng lên cao 30m, có cây lại uốn cong thân và khi chúng soi bóng mặt hồ tạo nên cấu trúc đối xứng tuyệt đẹp.

Du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh cây thốt nốt khi đến Tịnh Biên, An Giang – Ảnh: MINH TRUNG

Đặc biệt, giới nhiếp ảnh tới Tịnh Biên không thể không ghé hàng thốt nốt và cây “thốt nốt sinh đôi” nằm phía sau ngôi chùa Khmer có tên gọi “Sà-Đách-Tót”. Họ gọi đây là “hàng thốt nốt huyền thoại” vì có nhiều bức ảnh đẹp ra đời tại đây đoạt giải tại các cuộc thi ảnh.

Hàng cây thốt nốt huyền thoại trở thành đề tài sáng tác ảnh của các nhiếp ảnh gia – Ảnh: MINH TRUNG
Hàng cây thốt nốt soi bóng trên mặt hồ vào lúc bình minh – Ảnh: MINH TRUNG

Du khách còn có thể ghi lại quang cảnh cánh đồng ngập nước mênh mông, “vũ điệu” ngư dân quăng chài bắt cá, hay lúc người dân leo cây thốt nốt để thu hoạch trái.

Người dân Tịnh Biên không chỉ kiếm được tiền từ thu hoạch trái thốt nốt mà còn tăng thu nhập nhờ việc làm mẫu cho các nhiếp ảnh gia chụp ảnh.

Bạn đừng quên thưởng thức ly thốt nốt mát lạnh ngọt lịm chắc chắn sẽ xua đi những mệt nhọc trong hành trình phám phá.

“Cây thốt nốt sinh đôi” tại Tịnh Biên – Ảnh: MINH TRUNG
Người dân leo cây thu hoạch trái thốt nốt – Ảnh: MINH TRUNG

Bức tranh vùng sông nước Tịnh Biên trở nên huyền ảo hơn khi được ghi lại vào lúc bình minh hay hoàng hôn.

Mùa nước nổi ở Tịnh Biên cũng là lúc diễn ra lễ hội đua bò ở vùng Bảy Núi, An Giang vào dịp Tết Dolta của người Khmer (cuối tháng 8 đầu tháng 9 Âm lịch) nên thu hút rất đông du khách đến thưởng thức.

“Mùa nước nổi Tịnh Biên không chỉ mang lại sự trù phú cá tôm, cùng với đó là vẻ đẹp yên bình, các lễ hội mang đậm dấu ấn của người dân tộc, còn tấm lòng người dân thật thân thiện” – anh Minh Trung cho biết.

Vũ điệu ngư dân quăng chài bắt cá tại mùa nước nổi Tịnh Biên – Ảnh: MINH TRUNG
Một ngư dân đang chèo thuyền bắt cá tại cánh đồng ngập nước Tịnh Biên – Ảnh: MINH TRUNG
Mùa nước nổi bình yên – Ảnh: MINH TRUNG
Nếu có dịp, du khách hãy một lần ghé thăm Tịnh Biên – Ảnh: MINH TRUNG
Khoảnh khắc “đôi bò hôn nhau” trong lễ hội đua bò ở vùng Bảy Núi, An Giang – Ảnh: MINH TRUNG

Ngoài thăm cánh đồng thốt nốt ở Tịnh Biên, du khách có thể tham quan các địa điểm du lịch khác ở An Giang như chợ nổi Long Xuyên, miếu bà Chúa Xứ – Châu Đốc, “vương quốc mắm” ở chợ Châu Đốc, rừng tràm Trà Sư – Tịnh Biên hay cánh đồng Tà Pạ, núi Cô Tô ở huyện Tri Tôn.

Nếu du khách thích trải nghiệm bằng xe máy, tùy vào lịch trình và thời gian có thể chọn các cung đường phù hợp để tham quan Tịnh Biên, có thể chọn như sau: TP HCM – QL1A – Cầu Mỹ Thuận – Sa Đéc – Phà Vàm Cống – TP. Long Xuyên – Tri Tôn – TP. Châu Đốc – Tịnh Biên.

Nguồn: https://dulich.tuoitre.vn/den-xu-so-cay-thot-not-tinh-bien-mua-nuoc-noi-20181030153550857.htm

Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?

Đồ nhựa (plastic) không chỉ trông giống thức ăn, nó phát ra mùi và âm thanh hệt như thức ăn. Rác thải nhựa của con người có đủ loại hình dạng, kích cỡ và màu sắc khác nhau, được đổ thẳng trực tiếp ra biển. Lượng rác này tích tụ ngày càng nhiều, xâm lấn môi trường sống của các sinh vật biển, trở thành nguồn “thực phẩm” chính cho chúng.

(ảnh: Troy Mayne/Greenpeace)

Trong chương trình Blue Planet II gần đây, David Attenborough – phát thanh viên, nhà tự nhiên học người Anh – kể về 1 con hải âu đi kiếm thức ăn cho con non. “Nó ngậm đầy trong miệng… không phải cá, cũng không phải mực, mà là nhựa.”

Attenborough mô tả, đây là 1 điều kỳ lạ và rất đáng thương. Loài hải âu Albatrosses có thể bay hàng ngàn cây số để tìm kiếm con mồi và có thể bắt cá một cách dễ dàng. Vậy vì sao chúng lại có thể bị lừa, trở về từ chuyến đi gian nan của mình, không có gì ngoài những miếng nhựa? Thật ra, hải âu không phải là trường hợp duy nhất. Theo ghi nhận gần đây, đã có ít nhất 180 loài động vật biển thường xuyên tiêu thụ nhựa, từ các sinh vật phù du (zooplankton) đến cá voi khổng lồ.

Đồ nhựa đã được tìm thấy trong ruột của 1/3 lượng cá đánh bắt được ở Anh, gồm nhiều loài cá mà chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Ngoài ra, chúng cũng được phát hiện trong ruột con trai và tôm hùm. Tóm lại, vô số các loài động vật biển đang ăn rác thải nhựa, bởi con người vẫn không ngừng đổ 12,7 triệu tấn phế thải vào đại dương mỗi năm.

Vì số lượng này ngày càng tăng qua từng năm, đến một lúc các loài sinh vật biển không còn gì để tiêu thụ ngoài nhựa. Trong đó, các loài sinh vật phù du cũng không ngoại lệ. Moira Galbraith, nhà sinh thái học tại Viện Khoa học Đại dương, Canada cho biết: “Nếu hạt nhựa rơi vào 1 phạm vi kích thước nhất định thì [đối với các loài sinh vật biển] nó được xác nhận là thức ăn.”

Đến nay, nhiều người thắc mắc rằng rác thải từ nhựa thật sự đã trôi xa đến đâu. Một nghiên cứu đã cho thấy chúng đã trầm xuống tận đáy biển. Qua 12 địa điểm thử nước biển tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương từ năm 2001 đến 2012, người ta thấy hàm lượng các vi hạt nhựa (microplastics) tăng đột biến. Kích thước của chúng chỉ dài 1mm và được tìm thấy từ độ sâu 300 mét dưới Địa Trung Hải đến trên 3.000 mét dưới đáy biển, với mật độ cao gấp 1.000 lần so với lượng rác thải nhựa tìm thấy trên bề mặt.

Nhựa đã trôi dạt tới Nam Cực (ảnh: Hội khảo sát Nam Cực của Anh Quốc)

Tại đây là nơi sinh sống của loài hải sâm (sea cucumbers) – sinh vật hình trụ và có xúc tu. Loài này thường không kén chọn về thực phẩm. Chúng bò quanh đáy đại dương, xúc bùn vào miệng để chiết ra các chất ăn được. Tuy nhiên, một phân tích cho rằng chúng có thể tiêu thụ tới 138 lần lượng nhựa nhiều hơn dự đoán trước đây, nhất là khi giờ đây nhựa được rải đầy thành 1 lớp trầm tích dưới đáy biển.

Giáo sư Lucy Woodall, tại bảo tàng Lịch Sử Tự Nhiên tại London cho biết: “Đây chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Số lượng các hạt nhựa này rất lớn và giờ đây chúng đang tràn ngập trong đại dương. Đến lúc chúng ta phải tìm hiểu tác hại của chúng đối với môi trường tự nhiên.”

Vậy vì sao các loài sinh vật biển lại ăn nhựa?

Để lý giải điều này, chúng ta cần tìm hiểu về giác quan của chúng. “Khả năng nhận thức và cảm nhận (môi trường xung quanh) của động vật khác xa so với con người. Tùy trường hợp mà khả năng này có thể vượt trội hoặc tệ hơn chúng ta,” Matthew Savoca thuộc Trung tâm Khoa học Thủy sản Tây Nam NOAA ở Monterey, California cho biết.

Đầu tiên, động vật có thể nhầm lẫn nhựa với các thực phẩm quen thuộc của chúng, ví dụ một hạt nhựa nhỏ trông giống như trứng cá non. Loài rùa biển chủ yếu dựa vào tầm nhìn để tìm kiếm thức ăn. Ngoài ra, chúng cũng được cho là có khả năng nhìn thấy ánh sáng tia cực tím (ultra-violet), khiến thị giác của chúng khác xa chúng ta. Màu sắc cũng là một yếu tố quan trọng để nhận biết thực phẩm, dù mỗi loài có sở thích khác nhau. Rùa thích nhựa màu trắng, trong khi chim biển (shearwaters) lại chọn nhựa màu đỏ.

Qamar Schuyler tại Đại học Queensland, Úc, đã tìm hiểu điều này. Cô kiểm tra dạ dày những con rùa đã chết và phát hiện: trong khi ruột của rùa con có nhiều loại nhựa khác nhau, thì ruột của rùa già chủ yếu là loại nhựa mềm và trong suốt. Cô cho rằng điều này là do chúng thường nhầm lẫn các miếng nhựa với loài sứa.

(ảnh: Internet)

Thứ 2, con người thường dựa vào thị giác để nhận biết môi trường xung quanh, nhưng nhiều loài động vật biển, gồm cả hải âu, lại chủ yếu dựa vào khứu giác.

Matthew Savoca và các cộng sự đã tiến hành các thí nghiệm cho thấy 1 số loài chim biển và cá bị thu hút bởi dimethyl sulfide (DMS), 1 mùi phát ra khi loài nhuyễn thể hay moi lân (krill) ăn tảo biển (algae). Đây là loài giáp xác mềm giống như tôm, là nguồn thực phẩm chính của chim biển và cá. Tuy nhiên, khi rác thải nhựa bị phân hủy trong môi trường tự nhiên, nó cũng phát ra mùi này, giống như lưu huỳnh. Điều này khiến các loài chim biển tưởng rằng nhựa là thức ăn, và tiêu thụ chúng thay cho nhuyễn thể.

“DMS là tiếng chuông báo hiệu,” Matthew Savoca, nghiên cứu sinh tại Đại học California, Davis cho biết: “Khi ngửi thấy mùi, chúng sẽ biết có thức ăn trong nội trong khu vực này.” Trong đó, các loài chim hải âu là nhóm tiêu thụ nhựa nhiều nhất.

(ảnh: Chris Jordan)

Bên cạnh tầm nhìn và khứu giác, động vật còn dùng sóng âm (echolocation) để tìm thức ăn, như cá heo và cá voi có răng. Đến nay, xác của hàng chục con cá nhà táng và cá voi đã được phát hiện. Trong dạ dày của chúng có đầy túi nhựa, phụ tùng xe hơi và các mảnh vụn khác. Savoca nói rằng khả năng định vị của chúng đã xác định những miếng nhựa này là thức ăn.

Hiện nay, các mảnh vụn rác thải nhựa đã tích tụ nhanh chóng trong các đại dương, tăng gấp đôi qua mỗi thập kỷ. Một báo cáo cho biết quy trình chế tạo các sản phẩm nhựa đã tăng 20 lần từ năm 1964, và đạt tới 311 triệu tấn trong năm 2014. Dự đoán rằng số lượng này sẽ tăng gấp đôi trong vòng 20 năm tới, và đến năm 2050 sẽ tăng xấp xỉ gấp 4 lần.

Theo NatGeo, TheGuardian,
Thanh Sơn tổng hợp

Nguồn: https://trithucvn.net/khoa-hoc/vi-sao-cac-loai-dong-vat-bien-khong-the-ngung-an-rac-thai-nhua.html

Nhận dạng lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long

Hà Quang Hải, Trần Ngọc Lê Duy

I. Giới thiệu

Cho đến nay, những nghiên cứu về lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long rất ít. Xác định những lòng sông cổ thời kỳ Neogen – Pleistocene thực sự khó khăn. Việc này chỉ có thể thực hiện được qua tài liệu các lỗ khoan đủ dày với các kết quả phân tích tin cậy, nhất là tuổi các phân vị địa tầng.

Xác định sông cổ (các dòng đã ngừng hoạt động) trong Holocen thường dễ dàng hơn do những dấu vết còn để lại trên bề mặt đồng bằng qua tư liệu viễn thám và có thể kiểm tra bằng công trình khoan, đào bề mặt. Tư liệu viễn thám rất hữu ích trong việc nhận dạng lòng sông cổ qua đặc trưng tôn ảnh và hình thái dạng địa hình. Tuy vậy, việc nhận dạng lòng sông cổ một số khu vực gặp khó khăn khi bề mặt đồng bằng bị biến đổi nhiều bởi các hoạt động nhân sinh.

Nghiên cứu lòng sông cổ sẽ giúp hiểu biết môi trường cổ địa lý, đồng thời nhìn nhận khách quan hơn những hiện tượng xói lở hay bồi tụ xảy ra dọc theo các sông, rạch hiện nay cũng như trong tương lai. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu có thể góp phần hiểu biết thêm các nền văn hóa cổ gắn với sông nước như Văn hóa Óc Eo chẳng hạn.

Bài viết này giới thiệu dấu vết lòng sông cổ trên bề mặt đồng bằng sông Cửu Long, khu vực tây Sông Hậu từ Ankor Borei đến Rạch Giá được nhận dạng từ tư liệu viễn thám.

II. Sơ lược lịch sử nghiên cứu

Năm 1930, lần đầu tiên Pierre Paris – nhiếp ảnh gia/nhà khảo cổ học người Pháp đã chụp ảnh hàng không khu vực tây sông Hậu (Bassac River) từ Ankor Borei (Campuchia) đến Rạch Giá (Việt Nam). Paris, đã ghi nhận những kênh cổ trên đồng bằng và đường viền hình chữ nhật lớn, sau này được công nhận là tàn tích của đô thị Óc Eo [4].

Vào những năm 1940, Louis Malleret – nhà khảo cổ học người Pháp đã khai quật tại Eo Eo, xác định hệ thống kiểm soát nước rộng lớn, kiến ​​trúc đồ sộ và nhiều loại hàng hóa thương mại quốc tế [4].

Trong thập niên 1970, sau một thời gian gián đoạn kéo dài bởi Thế chiến II và Chiến tranh Việt Nam, các nhà khảo cổ Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều nghiên cứu mới ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Cuộc điều tra các kênh rạch tại Eo Eo gần đây gợi ý rằng chúng đã từng kết nối thành phố với thủ đô Angkor Borei, và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho mạng lưới thương mại đáng chú ý của vương quốc Phù Nam [4].

Sơ đồ hệ thống kênh cổ [2] của Paris cho thấy, các kênh đào thường thẳng và ngắn; dài nhất là kênh 4, kéo thành một đường khá thẳng từ Ankor Borei đến Óc Eo (khoảng 85) km. Các kênh tỏa ra từ hai trung tâm: 1) tại Ankor Borei, các kênh tỏa về phía nam; tại Óc Eo các kênh tỏa ra nhiều hướng (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống kênh đào do Pierre Paris thành lập dựa vào quan sát hàng không. Nguồn: hình 1a [2]; hình 1 b [Ban quản lí di tích Óc Eo]

Năm 1994, trên bản đồ địa mạo thuộc Công trình bản đồ địa chất – khoáng sản Nhóm tờ đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1:200.000, Nguyễn Huy Dũng và cộng sự đã thể hiện các dấu vết lòng sông cổ từ việc giải đoán ảnh hàng không loạt AF-68-15 do quân đội Mỹ chụp trong chiến tranh Việt Nam. Trên bản đồ này, dấu vết lòng sông cổ phân bố phổ biến ở khu vực Đồng Tháp Mười và khu vực An Giang – Kiên Giang (Hình 2). Sông cổ có dạng mạng, hướng chảy chủ yếu bắc – nam (từ Campuchia xuống). Ở Khu vực An Giang – Kiên Giang, lòng sông cổ dài nhất phân bố ở phía đông Bảy Núi và phía tây Óc Eo (dài khoảng 70) từ phía nam Núi Sam đến Vịnh Rạch Giá.

Hình 2. Dấu vết lòng sông cổ vùng bắc đồng bằng sông Cửu Long, biên tập từ nguồn [1]

Năm 2003, 2004 Sanderson, Bishop và cộng sự đã lập bản đồ chi tiết các kênh đào gần khu định cư cổ Ankor Borei dựa trên sơ đồ của Pierre Paris, đồng thời lấy mẫu trầm tích lấp đầy kênh để xác định tuổi bằng phương pháp OSL (Nhiệt phát quang) và carbon phóng xạ (C14) [3, 5].

Bản đồ dấu vết kênh cổ khu vực Ankor Borei được thành lập bằng giải đoán ảnh hàng không (hình 3a, 3b) và điều tra thực địa sử dụng khoan tay cho kênh 1 và kênh 2 và rãnh đào ngang kênh 2, lấy mẫu phân tích tuổi chi tiết theo mặt cắt. Bản đồ này đã xác nhận sơ đồ của Paris (Hình 2a) nhưng cũng cho thấy dấu vết khác của kênh, đó là: “các kênh đào rất thẳng thường nối kết với hệ thống sông cổ (palaeochannel) như trường hợp kênh 2 và 3 từ Kampong Youl đến Angkor Borei qua hồ “móng ngựa” uốn khúc tại Phnom Angkor Borei.“[5].

Kết quả phân tích cho thấy các trầm tích kênh 2 có tuổi từ giữa thiên niên kỷ đầu trước công nguyên đến giữa thiên niên kỷ đầu sau công nguyên. Tuổi OSL và carbon phóng xạ cho thấy kênh 2 bị chết (bị lầy hóa) vào thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 6 sau Công nguyên.

Hình 3. Kênh 1, 2, 3, 4 và 5 ở nam Ankor Borei (a); Dấu vết kênh dạng tuyến (1, 2, 3, 4 và 5) có nối kết với các tàn dư kênh cổ uốn khúc (b). Nguồn [5]

III. Nhận dạng lòng sông cổ

Dấu vết lòng sông cổ khá phổ biến ở Tây sông Hậu từ Ankor Borei (Campuchia) đến Rạch Giá, Kiên Giang. Đây là khu vực lòng sông cổ dễ nhận dạng, nhất là diện tích thuộc Campuchia nơi địa hình ít chịu tác động nhân sinh. Hai kỹ thuật nhận dạng dấu vết lòng sông cổ được thực hiện ở đây là giải đoán và xử lý ảnh.

Giải đoán ảnh: thực hiện trên ảnh Google Earth thu nhận theo thời gian. Lòng sông cổ được nhận dạng dựa vào sự phân bố các trũng có tôn ảnh thẫm (độ ẩm cao); các đê ven sông, các khúc uốn bị cắt, các hồ móng ngựa…

Trên ảnh viễn thám việc nhận dạng lòng sông cổ khá dễ, nhất là các ảnh có độ phân giải cao. Ở một số khu vực, việc nhận dạng dễ dàng hơn thường đối với những ảnh cũ do tác động của con người đối với mặt địa hình lúc đó chưa nhiều (Hình 4).

Những đoạn sông cổ uốn khúc có thể đo đạc được bán kính khúc uốn, độ rộng đai khúc uốn và bề rộng dòng chảy (hình 5).

Hình 4. Sông cổ chảy hướng bắc-nam (phía tây núi Ba Thê) thấy rõ trên ảnh 1984, mờ trên ảnh 1994 và không thể nhận dạng trên ảnh 2004. Nguồn ảnh: Google Earth
Hình 5. Hệ thống khúc uốn nằm giữa sông Châu Đốc và sông Tà Keo trên ảnh Google Earth 2007 (a); Một khúc uốn cổ của sông Tà Keo trên ảnh Google Earth 2007 và 2014 (b)

Xử lý hình ảnh: dấu vết lòng sông cổ trên ảnh Landsat được xử lý bằng cách tăng cường chất lượng hình ảnh như: tổ hợp màu nâng cao chất lượng (Hình 6) hoặc xử lý kênh nhiệt (Hình 7).

Hình 6. Xử lý ảnh Landsat 1989. Đoạn sông cổ có Kênh số 1 cắt qua ở khu vực thôn Trị Bình,(Kiên Lương (a); Mạng sông cổ phức tạp ở đông nam thôn Trị Bình, Kiên Lương (b)
Hình 7. Xử lý ảnh Landsat 1989. Dấu vết lòng sông cổ phía nam Núi Cô Tô (Tri Tôn), trước khi xử lý (a) và sau khi xử lý (b)

IV. Bản đồ dấu vết lòng sông cổ

Kết quả giải đoán và xử lý hình ảnh là cơ sở thành lập bản đồ phân bố lòng sông cổ. Dựa vào đặc điểm hình thái mạng sông cổ và khu vực phân bố, hai bản đồ dấu vết lòng sông cổ khu vực phân tích được thành lập là Nam Angkor Borei và An Giang – Kiên Giang.

IV.1 Khu vực Nam Ankor Borei: Dấu vết lòng sông cổ phân bố từ phía nam Angkor Borei đến ranh giới với Việt Nam (tây Châu Đốc) khoảng 35 km, trên dải rộng khoảng 15 km (Hình 8). Ở phía tây sông Châu Đốc, dấu vết một dòng cổ khá lớn theo hướng á kinh tuyến với những khúc uốn rộng (bán kính uốn khúc tới 1,0 km) phát triển trong đai uốn khúc khoảng 3,0 km. Từ Mõm Con Heo đến Châu Đốc mạng dòng chảy hướng tây đông về phía sông Châu Đốc. Có thể giả thiết hiện tượng cướp dòng sông Châu Đốc với sông cổ xảy ra tại Mõm Co Heo?. Một số dòng về đổ về phía nam bị chặn bởi Kênh Vĩnh Tế.

Hình 8. Dấu vết lòng sông cổ khu vực Nam Ankor Borei từ tư liệu ảnh: (a), (b) (d) – xử lý ảnh Landsat 1989; (c), (e) (g) – giải đoán ảnh Google Earth 2007.

IV.2 Khu vực An Giang – Kiên Giang

Dấu vết lòng sông cổ bao gồm mạng dòng chảy Tây Nam Bảy Núi và sông Châu Đốc – Rạch Giá phân bố phía đông Bảy Núi và tây Óc Eo.

Mạng sông cổ Tây Nam Bảy Núi (Hình 9) có hình thái tương tự như giải đoán của Nguyễn Huy Dũng (Hình 2). Các dòng hướng bắc nam (từ Campuchia xuống) rồi nối với một dòng chính hướng tây bắc đông nam có sự uốn khúc mạnh (Hình 6). Dòng này sau đó nhập vào dòng cổ Tây Óc Eo (phương bắc – nam) tại vị trí cách thành phố Rạch Giá khoảng 9 km.

Mạng sông cổ khu vực này khá dày, đan cắt phức tạp lại bị cắt xẻ bởi hệ thống kênh đào dày đặc. Ảnh vệ tinh cho thấy hầu hết các dòng chảy từ Campuchia về phía nam đã bị chặn bởi kênh Vĩnh Tế. Như vậy, các dòng chảy bắc kênh Vĩnh Tế phải chuyển dòng về phía tây, trong khi phần phía nam mất nguồn cấp trở thành các lòng cổ.

Hình 9. Dấu vết lòng sông cổ khu vực An Giang – Kiên Giang từ tư liệu viễn thám; (a) – ảnh Google Earth 1985; (b) (b1) (d) – ảnh Google Earth 1984; (c) (e) – xử lý ảnh Landsat năm 1989; (g) – ảnh Google Earth 1989.

Sông cổ Châu Đốc – Rạch Giá: dòng chảy hướng bắc – nam nhận dạng được từ  kênh Vĩnh Tế (phía tây nam Núi Sam 5,5 km) đến vịnh Rạch Giá gồm sông Đông Bảy Núi và Tây Óc Eo với điểm kết nối tại phía đông núi Cô Tô. Ảnh viễn thám từ năm 1984 đến nay rất khó nhận dạng sông Đông Bảy Núi đoạn từ đông bắc núi Bà Đội đến đông núi Cô Tô; trong khi đó trên bản đồ giải đoán (ảnh AF-68-15) của Nguyễn Huy Dũng (Hình 2), đoạn sông này được thể hiện khá rõ. Kết hợp bản đồ giải đoán hình 9 và hình 2, nhận được sông cổ Châu Đốc – Rạch Giá có đặc trưng sau:

– Sông Đông Bảy Núi: dài 41 km, trên hình 9, hộp (b), (b1) và (d) dấu vết sông cổ biểu hiện rõ ở Tây Núi Sam, rừng tràm Trà Sư và phía đông bắc núi Bà Đội. Hình 10 và 11 thể hiện chi tiết hơn các đoạn sông cổ này; đoạn Tây Núi Sam (Hình 10, hộp a và Hình 11 a) dài khoảng 8,0 km; rộng 0,4 – 0,5 km; bắt đầu từ kênh Vĩnh Tế chảy theo hướng đông nam và nối với đoạn sông cổ qua Rừng tràm Trà Sư. Đoạn sông cổ Đông Bắc núi Bà Đội gồm hai khúc uốn liên tục dài khoảng 10 km, lòng rộng trung bình 0,2 km; bán kính uốn khúc khoảng 0,8 km (Hình 10, hộp a và Hình 11 b).

Hình 10. Lòng sông cổ Châu Đốc – Rạch Giá.
Hình 11. Đoạn sông cổ phía tây núi Sam (a), thấy rõ từ kênh Vĩnh Tế về phía Việt Nam và hai khúc uốn cổ phía đông bắc núi Bà Đội (b).

– Sông Tây Óc Eo: dài 36 km, lòng mở rộng dần về Vịnh Rạch Giá, nơi rộng nhất tới 5,5 km. Có hai điểm đáng chú ý cho sông này: 1) nhận dạng được một kênh đào (cổ ?) dài 6,5 km nối kết với Óc Eo (Hình 10, hộp c và hình 12 a); và 2) khu vực vịnh Rạch Giá có mạng sông cổ thể hiện một cửa sông đã từng tồn tại? (Hình 10, hộp d và hình 12 b).

Hình 12. Kênh đào cổ từ Óc Eo nối với sông cổ Châu Đốc – Rạch Giá (12 a). Mạng sông cổ cửa vịnh Rạch Giá (12 b).

Từ kết quả giải đoán trên cho hai nhận xét:

– Có thể giả thiết sông Châu Đốc – Rạch Giá với phần thượng nguồn từ khu vực nam Ankor Borei trở thành sông cổ do sự cướp dòng của sông Châu Đốc ?.

– Khu vực Tứ giác Long Xuyên đã từng có hệ thống dòng chảy từ Campuchia đổ vào. Kênh Vĩnh Tế đã cắt ngang hệ thống này dẫn đến hàng loạt các dòng (phân bố từ Châu Đốc đến sông Giang Thành) mất nguồn cấp, biến thành các lòng sông cổ.

V. Thử tìm đường đi Kênh 4 Paris

Việc tìm đường đi kênh 4 Paris được dựa vào các sơ đồ (hình 1), kết quả nghiên cứu của Pau Bishop (hình 2) và giải đoán ảnh viễn thám bổ sung. Có thể phân chia kênh K4 thành 4 đoạn:

Đoạn 1 (Từ Ankor Borei đến giao điểm với sông Tà keo): dài 14 km bao gồm các đoạn kênh đào nối với các dòng chảy tự nhiên như được Pau Bishop thể hiện trên Hình 2 b [5].

Đoạn 2 (Từ giao điểm với sông Tà Keo đến Rừng tràm Trà Sư) dài 28 km, thể hiện rõ trên bản đồ địa hình tỉ lệ 1:250.000 tờ NC 48 – 6 do Mỹ xuất bản năm 1966 – 1967. Kết quả giải đoán ảnh Google Earth cho thấy đoạn 2 cũng bao gồm các đoạn kênh thẳng nối với các dòng chảy tự nhiên (Hình 13).

Đoạn 3 (Từ Rừng tràm Trà Sư đến Óc Eo) dài 41 km, đoạn này chưa phát hiện được dấu hiệu Kênh 4 trên những ảnh viễn thám hiện có, nhưng giải đoán đoạn 4 cho phép giả thiết điểm nối kết là giao điểm giữa kênh Núi Chóc – Năng Gù với kênh Ba Thê Mới?.

Hình 13. Đoạn 2 trên bản đồ là đường kéo dài từ giao điểm với sông Tà Keo và rừng Tràm Trà Sư (đoạn giữa hai ký hiệu hình sao trong hộp b1 và b4). Đường màu vàng đứt nét trên ảnh (b1), (b2), (b3), (b4) là đoạn kênh đào nối với dòng tự nhiên. Ảnh (b5) thể hiện dấu hiệu rất mờ của K4 Paris từ kênh Vĩnh Tế đến Rừng tràm Trà Sư.

Đoạn 4 (Từ Óc Eo đến Đá Nổi): Dài 26 km, phần đầu đoạn 4 (giao điểm giữa kênh Núi Chóc – Năng Gù với kênh Ba Thê Mới) đến sông Thoại Sơn – Giồng Riềng dài khoảng 10 km là kênh đào? với vết mờ trên ảnh (Hình 14); phần tiếp theo K4 nối vào sông Thoại Sơn – Giồng Riềng đến Đá Nổi.

Hình 14 Một đoạn kênh 4 nam Ba Thê nối với kênh Thoại Sơn – Giồng Riềng
Hình 15. Đường đi của kênh 4 Paris từ Angkor Borei tới Đá Nổi

VI. Kết luận

Bề mặt đồng bằng tây Sông Hậu đã tồn tại một hệ thống lòng sông cổ, trong đó lòng lớn nhất hướng bắc nam, phân bố ở phía tây sông Châu Đốc, đông Bảy Núi có các khúc uốn rộng nối kết với sông Tây Óc Eo ở phía đông Cô Tô rồi đổ ra vịnh Rạch Giá.

Uốn khúc và phân lưu tạo cù lao là hai hoạt động chính của sông, rạch vùng đồng bằng ngập lụt sông Cửu Long. Trong tiến trình phát triển, các hoạt động này luôn tạo nên các dòng chảy mới, các đoạn sông mới; để lại các dòng chảy cũ, đoạn sông cũ – các lòng sông cổ.

Hoạt động đào, đắp kênh cũng làm chệch hướng dòng hoặc mất nguồn cấp nước để trở thành sông cổ. Kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến sông Giang Thành là ví dụ điển hình trong việc các dòng chảy bắc – nam bị cắt đứt. Như vậy, trước kênh Vĩnh Tế đã từng có một hệ thống dòng chảy mang nước ngọt và phù sa đổ vào vùng Tứ giác Long Xuyên.

Kênh 4 Paris trong thời kỳ vương quốc Phù Nam thịnh vượng không hoàn toàn là kênh đào mà là những đoạn kênh đào kết nối các dòng chảy tự nhiên.

Tham khảo

[1] Nguyễn Huy Dũng và nnk, 1994. Bản đồ địa mạo Nhóm tờ Đồng bằng Nam Bộ tỷ lệ 1:200.000. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Hà Nội.

[2] Võ Quang Yến. Theo dõi cuộc khảo cứu văn hóa Óc Eo. https://nghiencuulichsu.com/2013/08/29/theo-doi-cuoc-khao-cuu-van-hoa-oc-eo/

[3] D.C.W. Sanderson, P. Bishop,  M.T. Stark, J.Q. Spencer. Luminescence dating of anthropogenically sediments from Angkor Borei, Mekong Delta, Cambodia. Quaternary Science Reviews 22 (2003) 1111-1121.

[4] K. Kris Hirst. Oc Eo, 2,000-Year-Old Port City in Vietnam . https://www.thoughtco.com/oc-eo-funan-culture-site-vietnam-172001.

[5] P. Bishop, D. C.W. Sanderson, M.T. Stark  MT. (2004), OSL  and  radiocarbon dating of a pre-Angkorian canal in the Mekong delta, southern Cambodia. Journal of Archaeological Science 31 (2004) 319-336.

 

Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ

Sự xuất hiện của sóng thần Indonesia cùng với sức mạnh hủy diệt mà nó mang theo hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của những nhà nghiên cứu.

Bản đồ của Cục khảo sát địa chất Mỹ

Các nhà khoa học bày tỏ sự bất ngờ trước độ mạnh của sóng thần tàn phá thành phố Palu, Indonesia, vào cuối tuần trước, theo New York Times. Họ cho rằng trận động đất xuất hiện trước đó khó có thể kéo theo những cơn sóng mang sức mạnh hủy diệt như vậy.

“Chúng tôi dự đoán động đất có thể gây sóng thần, nhưng không lớn tới mức đó”, Jason Patton, nhà địa vật lý làm việc cho công ty tư vấn Temblor kiêm giảng viên ở Đại học Humboldt, California, cho biết. “Khi những sự kiện kiểu này xảy ra, chúng tôi thường khám phá ra nhiều điều chưa từng quan sát được trước đây”.

Trận động đất 7,5 độ xuất hiện vào chiều tối hôm 28/9 gây chấn động dọc theo vùng ven biển đảo Sulawesi, cách Palu khoảng 80 km về phía bắc. Theo một số nhân chứng, trong vòng 30 phút sau, những cơn sóng cao tới 6 mét đập vào bờ, phá hủy nhiều tòa nhà, đập nát xe cộ và giết chết hàng trăm người dân trong thành phố.

Số người chết cao có thể phản ánh hiện trạng thiếu hệ thống phát hiện và cảnh báo sóng thần tân tiến của Indonesia, theo giới chuyên gia. Những cộng đồng dân cư khác trên đảo Sulawesi, bao gồm thành phố Donggala, cũng bị sóng thần tàn phá, nhưng có rất ít thông tin về mức độ thiệt hại hoặc số người chết bên ngoài Palu.

Thảm họa sóng thần thường là kết quả của siêu động đất khi những mảng lớn vỏ Trái Đất biến dạng, dịch chuyển theo chiều dọc dọc theo đứt gãy. Quá trình này chuyển chỗ đột ngột một lượng nước khổng lồ, tạo ra cơn sóng di chuyển ở tốc độ cao dọc bồn trũng đại dương và gây thiệt hại ở cách nơi hình thành động đất hàng nghìn kilomet.

Một cây cầu bị phá hủy do động đất và sóng thần ở Palu, Indonesia. Ảnh: Reuters.

Continue reading “Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ”

HỘI NGHỊ THÔNG TIN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN

Ngày 5-10, Ban Quản lý Công viên địa chất Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Hội nghị thông tin Công viên địa chất Lý Sơn với sự phối hợp của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ TN-MT) và các chuyên gia trong nước cũng như quốc tế có kinh nghiệm về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.

Hội nghị thông tin công viện Địa chất Lý Sơn

Nội dung chính tại hội nghị gồm: các báo cáo khoa học; việc đổi tên “Công viên Địa chất Lý Sơn” thành Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh” và những tồn tại cần tập trung giải quyết.

Các báo cáo khoa học

  1. Tổng quan về CVĐC Lý Sơn và chia sẻ về kết quả Hội nghị quốc tế lần 8 CVĐC toàn cầu UNESCO (ông Nguyễn Minh Trí, Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi)
  2. Một số khái niệm và yêu cầu của CVĐC toàn cầu UNESCO (TS. Guy Martini, Tổng thư ký Global Geoparks Network)
  3. Đặc điểm magma – biến chất trong tiến hóa địa chất khu vực CVĐC Lý Sơn (TS. Trịnh Xuân Hòa – Viện KH ĐCKS)
  4. Sự phát triển của basalt Lý Sơn – Ba Làng An (PGS.TS. Ngô Xuân Thành – ĐH Mỏ Địa chất)
  5. Giới thiệu một số di sản địa mạo điển hình ở khu vực dự kiến xây dựng CVĐC Lý Sơn (TS. Nguyễn Xuân Nam, Viện KH ĐCKS)
  6. Giá trị di sản văn hóa – lịch sử và địa văn hóa khu vực dự kiến xây dựng CVĐC Quảng Ngãi (ThS. Đỗ Thị Yến Ngọc, Viện KH ĐCKS)

Trình bày tại hội nghị, TS. Guy Martini cho biết, việc xây dựng công viên địa chất cần lưu ý đến kiểm tra các giá trị địa chất của khu vực có thể được xem là di sản địa chất có giá trị quốc tế; kiểm tra xem công viên địa chất có những giá trị di sản văn hóa nào, người dân và chính quyền địa phương có quan tâm cũng như sẵn sàng tham gia vào đề án công viên địa chất hay không?

Đổi tên thành “Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh”

Công viên địa chất Lý Sơn ban đầu dự kiến có tổng diện tích trên 100km2, dân số 70.000 người, bao gồm đảo Lý Sơn và dải ven biển thuộc các xã Bình Châu, Bình Hải (huyện Bình Sơn). Sau đó được mở rộng ra các khu vực thung lũng miền núi (Trà Bồng), đồng bằng duyên hải (Sa Huỳnh). Theo đó, Ban Quản lý Công viên Địa chất Lý Sơn đã quyết định đổi tên “Công viên Địa chất Lý Sơn” thành Công viên Địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh” (tên tiếng Anh là Ly Sơn Sa Huỳnh Geopark).

Những vấn đề tồn tại

Tổng kết hội nghị, chủ tọa nêu vắn tắt những điểm nổi bật cũng như những vấn đề còn tồn tại của CVĐC: 1/ Không gian và tên gọi của CVĐC nên gắn với ý nghĩa Hòa Bình (nhận xét từ chuyên gia cùa GGN); 2/ Cần các nghiên cứu thêm về Đa dạng sinh học và bảo tồn Đa dạng sinh học trong phạm vi CVĐC; 3/ Vấn đề môi trường, nhất là rác thải đang rất cấp bách.

Ba vấn đề trên là công việc mà BQL CVĐC Lý Sơn – Sa Huỳnh cần cân nhắc và thực hiện trong lộ trình xây dựng hồ sơ tiến tới CVĐC toàn cầu UNESCO vào tháng 11/2019.

Phương Chi (Tổng hợp)

Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia

Indonesia suốt nhiều năm không hoàn thiện được hệ thống cảnh báo sóng thần hiện đại, khiến nhiều người bất ngờ khi thảm họa xảy ra.

Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa lý Indonesia (BMKG) hôm qua thừa nhận việc phải dựa vào dữ liệu không chính xác được thu thập từ cảm biến ở quá xa ngoài khơi đã khiến họ dỡ bỏ cảnh báo sóng thần 34 phút sau khi ban bố, dù bức tường sóng khổng lồ cao tới 6 m ngay sau đó ập vào thành phố Palu trên đảo Sulawesi, cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.200 người.

Giới chuyên gia cho rằng thực tế này phản ánh những hạn chế và cả thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia, quốc gia nằm trên “Vành đai Lửa” của Thái Bình Dương và thường xuyên hứng chịu nguy cơ động đất, sóng thần rất cao, theo AP.

Sau khi thảm họa kép động đất, sóng thần tấn công khu vực vào năm 2004 khiến gần 250.000 người thiệt mạng, cộng đồng quốc tế đã hỗ trợ Indonesia xây dựng một mạng lưới cảm biến công nghệ cao nhằm thay thế cho hệ thống cảnh báo lạc hậu dọc bờ biển nước này, với mục tiêu giảm bớt thương vong khi thảm họa xảy ra.

Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ và Đức khi đó đã giúp Indonesia triển khai mô hình thí điểm cảnh báo trị giá 3 triệu USD, gồm mạng lưới 22 phao nổi kết nối với các cảm biến được đặt dưới đáy biển nhằm kịp thời phát hiện dấu hiệu động đất, sóng thần và đưa ra tín hiệu cảnh báo kịp thời.

Hệ thống này được triển khai ngoài khơi Padang, thành phố nằm ngay cạnh một vết đứt gãy địa chất lớn và rất dễ hứng chịu sóng thần. Các cảm biến áp suất, địa chấn chôn dưới đáy biển có thể phát tín hiệu dưới dạng sóng âm trong lòng biển và chuyển tới các cảm biến khác cách đó 20-30 km rồi tiếp tục truyền vào đất liền.

Mạng lưới này có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sóng thần trong vòng 1-3 phút, thay vì 5-45 phút như phao nổi hay những thông tin rất hạn chế từ thiết bị đo thủy triều. Tuy nhiên, dự án cần được lắp thêm vài km cáp quang để nối cảm biến cuối cùng với một trạm quan trắc trên đất liền, nơi dữ liệu có thể truyền qua vệ tinh tới cơ quan địa chất để phát cảnh báo sóng thần cũng như tới các cơ quan chức năng.

Nhưng từ khi được triển khai thí điểm cho tới tháng 1/2017, dự án vẫn chờ chính phủ Indonesia cấp ngân sách 1 tỷ rupiah (69.000 USD) để lắp đặt đoạn cáp trên và hoàn thiện hệ thống. Sau đó, tình trạng cắt giảm ngân sách khiến dự án liên tục bị đùn đẩy giữa các cơ quan chính phủ và hệ thống vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm.

Việc thiếu ngân sách để bảo trì, bảo dưỡng, cộng thêm tình trạng người dân phá hoại, trộm cắp thiết bị khiến hệ thống này gần như bị vô hiệu hóa. Khi trận động đất lớn xảy ngoài khơi đảo Sumatra năm 2016, toàn bộ các hệ thống phao nổi và cảm biến trị giá hàng trăm nghìn USD mỗi chiếc đều không hoạt động.

Nguyên lý hoạt động của hệ thống cảm biến, phao nổi khi phát hiện sóng thần. Đồ họa: ResearchGate.

Continue reading “Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia”

Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học

Đa dạng địa học (Geodiversity)

Vị trí của đa dạng địa học trong đa dạng thiên nhiên là gì?

Đa dạng địa học (ĐDĐH) là sự đa dạng của các yếu tố tự nhiên, như các khoáng vật, các loại đá, hóa thạch, dạng địa hình và cảnh quan của chúng, các kiểu đất, và các quá trình địa chất/địa mạo hoạt động.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Cùng với đa dạng sinh học, ĐDĐH tạo nên sự đa dạng tự nhiên của Trái Đất. ĐDĐH làm nền móng cho đa dạng sinh học và cung cấp cho xã hội những lợi ích bao gồm các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ, cung cấp và văn hóa.

Di sản địa học (Geoheritage)

Di sản địa học là gì ?

Di sản địa học là một phần di sản tự nhiên của một diện tích (hoặc một điểm) nào đó được cấu thành bởi các yếu tố ĐDĐH với giá trị địa chất đặc biệt và do đó xứng đáng được bảo vệ vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai. Di sản địa học có thể bao gồm cả các yếu tố tại chỗ (geosites) hoặc các yếu tố đã di chuyển (các tập hợp các mẫu vật địa chất) có sự quan trọng về  cổ sinh, địa mạo, khoáng vật, thạch học và địa tầng…

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Bảo tồn địa học (Geoconservation)

Bảo tồn địa học là gì ?

Tập hợp các hành động hướng đến thông tin quản lý các điểm địa chất bao gồm kiểm kê và đánh giá, bảo tồn, bảo vệ theo luật định, diễn giải và giám sát các điểm địa di sản.

Việc quản lý các địa di sản di chuyển (ex situ) cũng là một hoạt động bảo tồn địa học. Bảo tồn địa học được coi là một ngành mới nổi trong khoa học địa chất.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Vì sao địa di sản dễ bị rủi ro? Continue reading “Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học”

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8

Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO diễn ra tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Adamello Brenta, tỉnh Trentino, Ý, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 năm 2018.

Hội nghị, với chủ đề chính: “Công viên địa chất và phát triển bền vững

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 9, đã có các cuộc họp của Hội đồng UUG, GGN ExB, và các cuộc họp Mạng lưới Khu vực: EGN AC và CC, APGN AC và CC, LACGN AC và CC.

Lễ khai mạc và các bài giảng quan trọng diễn ra vào ngày 11 tháng 9.

Ngày 11/9, 12 và 14/9 các báo cáo khoa học trình bày đồng thời tại 6 tiểu ban như sau:

  1. CVĐC, du lịch bền vững và phát triển bền vững địa phương (Geoparks, sustainable tourism and sustainable local development)
  2. Bảo tồn, Khoa học và nghiên cứu (Conservation, science and research)
  3. Giáo dục, nhận thức cộng đồng và truyền thông (Education, public awareness and communication)
  4. CVĐC, BĐKH và tai biến địa chất (Geoparks, climate change and geo-hazards)
  5. Hợp tác giữa UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO collaborations)
  6. Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Tóm tắt báo cáo khoa học có thể tham khảo tại: https://www.campigliodolomiti.it/TEMPLATE/DEFAULT_LANDING/en/pagine/dettaglio/ggn_content,188/the_abstracts_book,1336.html?GGN

Các workshop đặc biệt được tổ chức gồm:

  1. CVĐC trong khu vực núi lửa
  2. CVĐC trên đảo
  3. SDG 2030
  4. Tai biến địa chất
  5. Giáo dục kiến thức địa học (Geo-education)

Ngày 13 tháng 9, dành riêng cho các chuyến thực địa, có 6 tuyến để các đại biểu lựa chọn: nhiều nhất là tuyến leo núi Dolomiti, trái tim của Brenta Dolimites, nơi có đá vôi và đá dolomit – trầm tích từ 250 đến 40 triệu năm trước với cảnh quang thật hùng vĩ của địa mạo băng hà – karst.

Việt Nam tham dự hội nghị gồm các đoàn: Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc, Bảo tàng Địa chất, UB quốc gia UNESCO Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản; cùng các CVĐC toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, CVĐC toàn cầu Non nước Cao Bằng, CVĐC Đaknong, CVĐC Lý Sơn.

Việt Nam có tổng cộng có 13 báo cáo Oral và poster tham dự hội nghị. Bài báo cáo của tác giả “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam” trình bày tại tiểu ban Bảo tồn, Khoa học và Nghiên cứu.

Chiều ngày 14/9, Hội nghị bế mạc, trao các giải thưởng cho các CVĐC và thông báo nơi diễn ra Hội nghị lần 9, năm 2020 là CVĐC Jeju – Hàn Quốc.

Một số hình ảnh hội nghị:

Khai mạc hội nghị
Báo cáo “Giới thiệu các geosite ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam”
Cảnh quan núi Dolomiti

Phương Chi

 

Central Park giống hệt cái ‘mỏ hàn’ đe dọa sông Sài Gòn

Nhiều người đang phát cuồng về cao ốc 81 tầng Landmark và công viên Central Park (thuộc tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng, Q.Bình Thạnh, TP.HCM) đã “lung linh, chễm chệ” trên nền cảng cũ.

Dù tài sản làm cho Nhà nước, cũng không được phép

Tương tự như Đồng Nai, ông Tứ e ngại những gì đang diễn ra ở TP.HCM tiếp tục tạo tiền lệ cho việc gia tăng vi phạm và lấn chiếm hành lang thoát lũ, dòng chảy của các con sông trên lãnh thổ Việt Nam.

Theo ông, không thể lập luận rằng việc xây Central Park làm công trình công cộng là đúng quy định được. “Dòng chảy sông cần được duy trì một cách tự nhiên như vốn có được quy định bởi tiến trình lịch sử mạng thoát nước tự nhiên, cũng như hệ sinh thái đặc thù riêng. Cầu cảng cũ vẫn khác với khối bê tông mặt đất như hiện nay, bởi cầu cảng vẫn thông nước. Do đó, công trình này sẽ tạo áp lực nước cho phía bờ đối diện”, ông Tứ nói.

Ông cho rằng ở Vinhomes Tân Cảng hiện tồn tại 2 vấn đề. Thứ nhất, lấn chiếm mặt nước để làm công trình, điều đó hoàn toàn sai luật, gồm các Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Phòng chống thiên tai và Luật Giao thông đường thủy nội địa.

“Không ai có quyền lấy sông của mọi người làm tài sản, dù tài sản ấy có làm cho Nhà nước cũng không được phép. Chưa kể, trong điều kiện thiên nhiên đang thê thảm như hiện nay, phải giữ gìn dòng sông, đã không giữ được lại còn phá hoại, lại cứ nhăm nhe “chém nó”, ông Tứ bức xúc.

Một góc Central Park

Thứ hai, về mặt khoa học, khi lấp cầu cảng như vậy đã tạo nên một “mỏ hàn” rất lớn để đẩy nước sang phía bờ bên kia.

Tác động như thế nào, theo ông Tứ cần phải nghiên cứu. Nhưng nguyên tắc về chỉnh trị sông có hai hình thức. Một là kè, như ta thấy người ta thường dùng bê tông đắp lên. Dù không lấn ra sông, nhưng kè vẫn có tác động đến bờ đối diện, bởi tạo ra thế bên này cứng, bên kia vẫn là đất mềm.

Hình thức còn lại nguy hiểm hơn dùng trong trường hợp người ta muốn làm xói lở một bên sông và cho bên còn lại bồi, đó là “mỏ hàn”. Thuật ngữ chuyên môn “mỏ hàn” có thể hình dung là một khối bê tông cứng chòi ra lòng sông.

“Dù không to như Tân Cảng, nhưng “mỏ hàn” có thể lái dòng nước sang phía kia để tác động cho bờ đó lở đi, nói chi cả khu vực cầu cảng đã bị lấp. Nói cách khác, khu vực Tân Cảng như hiện nay là một “mỏ hàn” cực lớn”, ông Tứ phân tích.

Ông nói tiếp: “Họ sẽ cho rằng có ăn thua gì, sông to như thế, chúng tôi chỉ làm một tí “mỏ hàn”. Nhưng với tôi là không! Vì chắc chắn động lực của dòng chảy bị biến động khi các bờ sông bị thay đổi”.

“Dấu ấn” chiếm mặt sông

Luật sư Phùng Thanh Sơn (Đoàn Luật sư TP.HCM) đánh giá tình trạng lấn chiếm, san lấp kênh, rạch, sông để làm dự án ở TP.HCM khá phổ biến và ở nhiều mức độ khác nhau. Tình trạng này không phải mới diễn ra gần đây, nó đã xảy ra từ hàng chục năm trước.

Về nguyên tắc, theo ông Sơn, chủ đầu tư không được phép xây dựng trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch (trừ trường hợp các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các công trình quốc phòng, phòng cháy chữa cháy, công trình phục vụ công ích có thời hạn thì được phép xây dựng).

“Từ đó, có thể thấy nhiều lý do để chủ đầu tư muốn lấn sông. Do hành lang bảo vệ sông, kênh rạch có thể tính từ mép được xây dựng, cải tạo nên nếu việc xây dựng, cải tạo đó lấn sông, kênh rạch thì phần đất trong hành lang bảo vệ bờ thực tế sẽ ít đi. Hay nói cách khác, việc lấn sông, kênh rạch sẽ đem lại nhiều lợi ích cho chủ đầu tư như diện tích đất mà chủ đầu tư có thể xây dựng nhà ở, cao ốc… sẽ tăng lên mà không vượt quá mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất mà pháp luật quy định”, ông Sơn nói.

Việc biến đất vốn dĩ thuộc hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch thành đất thương mại bán cho khách hàng giúp chủ đầu tư có đủ không gian để có thể tạo ra một “dấu ấn” cho dự án của mình, để bán nhà với giá cao bằng việc xây công trình hạ tầng xã hội trong hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch đó, theo luật sư Sơn.

Tổ hợp dự án Vinhomes Tân Cảng trước đây là khu vực cảng nên hiển nhiên phải có các công trình bến cảng, cầu cảng… để phục vụ cho việc neo đậu tàu, bốc dỡ hàng hóa.

“Đã là cầu cảng thì không thể xây dựng sát bờ mà phải cách xa bờ. Do đó cầu cảng không được xem là bờ của sông Sài Gòn nên không thể lấy cầu cảng làm cơ sở để xác định hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn và cho xây dựng công viên trên đó. Chưa kể, thiết kế cảng rất khác với việc lấp các vùng nước trong cảng để làm công viên. Bởi điều đó ảnh hưởng và thay đổi dòng chảy”, ông Sơn lập luận.

Theo ông, việc trên rất dễ kiểm chứng. Cứ lấy hồ sơ thiết kế cảng trước đây và so với thực trạng hiện nay sẽ biết ngay là Vingroup có lấn, lấp sông Sài Gòn hay không; vùng nước nào trong cảng bị lấp, vùng nước nào không. Dựa vào thiết kế cảng trước đây chúng ta cũng xác định được vị trí bờ sông Sài Gòn đang ở đâu để từ đó xác định chính xác hành lang bảo vệ bờ sông Sài Gòn.

Theo Quyết định 150/2004/QĐ-UBND trước đây về quy định quản lý, sử dụng hành lang trên bờ sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố và nay là Quyết định 22/2017/QĐ-UBND của UBND TP.HCM, thì hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch cấp kỹ thuật I, II mỗi bên là 50m; cấp kỹ thuật III, IV mỗi bên là 30m; cấp kỹ thuật V, VI mỗi bên là 20m và đối với kênh rạch chưa được phân cấp kỹ thuật mỗi bên là 10m, được tính từ mép bờ cao của sông, kênh, rạch (theo dạng tự nhiên hoặc được xây dựng, cải tạo) vào bên trong phía đất liền. Chủ đầu tư không được xây dựng các công trình nhà ở, cơ sở kinh doanh trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch… Và các công trình xây dựng phải đảm bảo độ lùi so với hành lang bảo vệ bờ sông, kênh rạch.

Nguồn: https://www.phunuonline.com.vn/thoi-su/central-park-giong-het-cai-mo-han-de-doa-song-sai-gon-136152/

Nam Anh

Thành lập bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang do mực nước biển dâng trong tương lai

Hoàng Thị Phương Chi, Hà Quang Hải

1.Giới thiệu

Nhiều nghiên cứu trong khuôn khổ Tổ chức Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu – IPCC đã dự báo mức biển toàn cầu sẽ tăng từ 17,8 – 54,42 cm vào cuối thế kỷ (2090 – 2099 so với giai đoạn 1980 – 1999) [8]. Dựa vào các kịch bản của IPCC [8], Bộ Tài nguyên môi trường Việt Nam cũng đưa ra kịch bản dự đoán vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 2,3oC, và mực nước biển dâng 75cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 [2].

Mực biển dâng sẽ kéo theo các tai biến đới bờ mà nghiêm trọng nhất là ngập lụt trên diện rộng [10]. Một khu vực ngập dài hạn sẽ ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên cũng như làm thay đổi điều kiện kinh tế xã hội của khu vực đó. Do đó đánh giá mức độ tổn thương đới bờ do mực biển dâng trong tương lai là cơ sở cho việc xây dựng hành động ứng phó. Phương pháp đánh giá tổn thương trong bài báo này được sử dụng dựa trên các yếu tố về hải văn và địa chất, địa mạo.

Bài báo này trình bày phương pháp thành lập bản đồ phân vùng tổn thương bờ biển do mực nước biển dâng với kịch bản 75 cm vào năm 2100. Các điểm đánh giá và thể hiện mức độ tổn thương trên bản đồ sẽ là cơ sở cho việc đánh giá rủi ro ven biển và là công cụ hữu ích phục vụ cho việc Quản lý tổng hợp đối bờ (ICZM – Integrated Coastal zone Management) [10].

2.Khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu thuộc dải bờ biển từ Hà Tiên đến Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, dài 72,8 km. Khí hậu gió mùa cận xích đạo chịu ảnh hưởng của biển với đặc điểm chung là nóng ẩm, mưa nhiều theo mùa nhưng ít bão. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.600 đến 2.000mm [3]. Nhiệt độ trung bình năm cao 27,3oC [3]. Chế độ nhật triều là chủ yếu.

Đây là một vùng đất giàu tài nguyên: đất, nước, biển, khoáng sản và nhất là tài nguyên du lịch. Bên cạnh đó tính đa dạng sinh học và đa dạng địa học cũng là một thế mạnh của vùng [6]. Bảo tồn tính đa dạng sinh học cũng là một vấn đề được quan tâm ở khu vực này. Nhất là các hệ sinh thái mang tính chất đặc trưng của cả vùng như thảm thực vật trên núi đá vôi, hay hệ sinh thái đồng cỏ bàng [6].

Dân cư phân bố tập trung chủ yếu tại thị xã Hà Tiên, thị trấn Kiên Lương và các vùng đất thấp ven biển, hay dọc theo quốc lộ. Nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp trồng lúa, hoa màu, kết hợp nuôi trồng thủy sản cũng như du lịch, dịch vụ, khai thác khoáng sản.

3. Dữ liệu

Ngoài việc các tài liệu tổng quan về điều kiện tự nhiên khu vực, nghiên cứu này chủ yếu dựa vào các dữ liệu thuộc tính và không gian của các bản đồ và ảnh viễn thám. Các dữ liệu sử dụng chính được trình bày trong Bảng 1.

4.Phương pháp

Chỉ số tổn thương đới bờ (CVI) được V. Gornitz và cộng sự [11] xây dựng như là công cụ để đánh giá khả năng thay đổi của vùng bờ biển. Chỉ số này được áp dụng cho cả khu vực quy mô vùng hoặc quốc gia trong việc quản lý tài nguyên đới bờ.

Theo V. Gornitz và cộng sự [8], CVI được tính toán như sau:

Chỉ số tổn thương đới bờ được xây dựng từ các biến mà có tác động lý học trực tiếp lên sự thay đổi đường bờ biển trong điều kiện mực nước biển dâng gồm: địa mạo bờ biển (đặc điểm hình thái các vách bờ), địa chất bờ biển (đặc điểm thạch học các đá cấu tạo bờ và bãi), độ dốc của bờ về phía biển, tốc độ bồi/ xói, độ cao địa hình, mực nước biển dâng trung bình, mực triều trung bình, độ cao sóng trung bình.

Sự định lượng tổn thương đới bờ dựa vào các biến sẽ phản ánh cụ thể vùng bị tác động lý học của nước biển dâng tùy theo mức độ. Do đó công thức tính CVI trong nghiên cứu sẽ là:

Địa mạo

Yếu tố địa mạo được phân chia làm 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa đặc điểm hình thái các vách bờ và mức độ xói lở. Thang phân chia được tính điểm từ 1 đến 5 theo mức độ gia tăng sự tổn thương đới bờ đối với hiện tượng nước biển dâng. Trong nghiên cứu này, yếu tố địa mạo chủ yếu dựa vào khảo sát thực địa. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Địa chất

Yếu tố địa chất cũng được phân thành 5 cấp, mô tả mối liên quan giữa các loại đá/ trầm tích cấu tạo nên bờ biển và mức độ xói lở. Bờ có cấu tạo từ đá gốc của hệ tầng Núi Cọp (Đá tuff, ryolit xen phiến silic, cát kết, bột kết) hoặc hệ tầng Hòn Heo (Đá cát kết thạch anh, cát kết quazit, đá phiến bột kết) là các loại đá vững chắc nhất trong khu vực nghiên cứu, do đó mức độ tổn thương do biển dâng sẽ là thấp nhất (thang điểm 1). Dạng bờ có cấu tạo bởi trầm tích bở rời như cát, bột, sét kém ổn định nhất, do đó mức độ tổn thương sẽ là cao nhất (thang điểm 5). Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương cũng được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Tốc độ bồi/xói

Tốc độ bồi xói (mm/năm) được tính toán dựa trên dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat năm 1979, 1992 và 2009 (30 năm). Từ các ảnh trên, dùng phần mềm ENVI 4.0 để tách ra đường bờ của hai thời kỳ bằng phương pháp chọn ngưỡng cho band 4 của ảnh Landsat TM và ETM+. Từ bản đồ đường bờ hai thời kỳ, giải đoán sự thay đổi bằng mắt, đường bờ được chia thành 41 đoạn dựa theo hiện tượng bồi, xói. Tốc độ bồi xói sẽ được tính toán bằng cách đo các khoảng cách của các đường bờ trong một đoạn và tính trung bình. Đới bờ của khu vực nghiên cứu có tất cả 10/41 đoạn xói lở (11,95/72,80 km) với tốc độ cao nhất lên đến -3,2m/năm, có 16/41 đoạn bờ bồi tụ (41,25/72,80 km) với tốc độ cao nhất khoảng +6,38 m/năm, và có 14/41 đoạn bờ ổn định (17,32 km) (bao gồm khu vực bờ nhân tạo và các vùng có kè bảo vệ). Vùng bờ càng xói thì mức độ tổn thương do mực biển dâng trong tương lai càng cao và ngược lại. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ dốc bờ biển (%)

Độ dốc vùng bờ thể hiện mối tương quan giữa mức độ tổn thương do ngập đến khả năng thay đổi của đường bờ; vùng bờ thoải có thể thay đổi (lùi về phía đất liền) nhanh hơn vùng bờ dốc [10].

Độ dốc bờ được tính toán dựa trên dữ liệu cao độ đáy biển của khu vực nghiên cứu. Đoạn bờ dùng để tính độ dốc được quy ước là phần bờ về phía biển và cách đường bờ 7,5 km. Độ dốc được tính bằng % tỷ số độ chênh cao mép bờ và vị trí cách bờ 7,5 km với khoảng cách giữa hai vị trí đó. Cứ mỗi đoạn bờ sẽ tính 3 điểm và lấy trung bình. Theo tính toán trong khu vực nghiên cứu, độ dốc lớn nhất là 0,95% và độ dốc nhỏ nhất là 0,44%. Theo phân cấp tổn thương, độ dốc càng thấp thì mức độ tổn thương càng cao. Các phân cấp trong thang phân loại tổn thương được trình bày chi tiết ở bảng 2.

Độ cao địa hình – Xây dựng kịch bản ngập 0,75 m

Nghiên cứu này sử dụng kịch bản mực biển dâng 0,75 m vào năm 2100 [2] làm cơ sở để dự báo. Phân vùng ngập do mực biển dâng được thực hiện dựa trên bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất, ảnh Landsat và dữ liệu vệ tinh Google Earth. Khu vực nghiên cứu sẽ được phân thành hai vùng: trên 0,75 m và dưới 0,75 m.

Theo khảo sát thực địa, người dân đã tìm những vùng đất cao và an toàn để sinh sống, hầu như cao trình của các khu dân cư và đường giao thông đều trên 0,75 m. Vùng trên 0,75 m được xác định là các vùng: đất ở nông thôn và đô thị; đường giao thông; núi, đồi và các khu vực khác cao trên 0,75 m. Phần còn lại của khu vực nghiên cứu, bao gồm các kênh rạch, đầm hoặc các vùng trũng ngập nước, các khu vực RNM ven biển, các khu nuôi trồng thủy hải sản.

Theo kết quả tính toán (hình 11), vùng cao trên 0,75m có diện tích gần 170 km2, khu vực có cao độ dưới 0,75 m là khu vực dự báo ngập vào năm 2010 có diện tích khoảng 373 km2, chiếm tỉ lệ tới 68,84% toàn bộ khu vực nghiên cứu.

Dựa theo số liệu tính toán này, vùng bờ nào có độ cao địa hình trên 0,75m sẽ được xem là vùng ít bị tổn thương trong điều kiện mực biển dâng trong tương lai, và có thang điểm là 1 trong thang phân loại mức độ tổn thương; vùng bờ nào có độ cao địa hình dưới 0,75m sẽ có điểm đánh giá là 5 và là vùng có mức độ tổn thương rất cao.

Các thông số khác

Trong nghiên cứu này, các biến mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực nước biển dâng toàn cầu được xem là đồng nhất cho tất cả 41 đoạn bờ. Điểm 3 cho ba biến này được cho theo thang phân loại nghiên cứu bờ biển Tây Ấn [10]: mực triều trung bình 0,95m [3], 5 điểm (mức độ tổn thương rất cao); chiều cao sóng trung bình 2,5m [3], mực nước biển dâng toàn cầu 3,1 mm/năm [3] đều 4 điểm (mức độ tổn thương cao).

5.Kết quả và thảo luận

Mức độ tổn thương được thể hiện trong hình 12. Giá trị CVI tính được trong khoảng 5,00 – 158,11. Giá trị trung bình là 38,63, trung vị 43,30, độ lệch chuẩn 46,83. CVI được chia thành 4 khoảng đều nhau theo giá trị của 25%, 50% và 75% là 13,69; 43,30; và 70,71. Mức độ tổn thương đường bờ sẽ được phân thành 4 cấp độ ứng với giá trị CVI như sau:

Hình 12. Tỉ lệ tổn thương bờ biển Hà Tiên – Kiên Lương tính theo phần trăm

Tổng chiều dài đường bờ khu vực nghiên cứu là 72,80 km. Trong đó, vùng tổn thương rất cao dài 16,19 km chiếm 22,24%; vùng tổn thương cao dài 28,11 km chiếm tỷ lệ cao nhất 38,61%; vùng tổn thương trung bình dài khoảng 14,97 km, chiếm 20,56%, và vùng tổn thương thấp dài 13,53 km, chiếm 18,59%. Kết quả phân vùng tổn thương được thể hiện trên bản đồ hình 13.

Bản đồ phân vùng (hình 13) cho thấy: khu vực tổn thương cao đa phần là các khu vực phân bố trầm tích bở rời; khu vực không có rừng ngập mặn che chắn; khu vực có kè bờ nhưng vị trí thường nằm trong khu vực cung lõm có hai mũi chắn, ví dụ các đoạn bờ thuộc vịnh Ba Hòn, Vịnh Cây Dương. Khu vực tổn thương rất cao là các đoạn bờ thuộc vịnh Thuận Yên, vịnh Hòn Chông.

Hình 13. Bản đồ phân vùng tổn thương đới bờ Hà Tiên – Kiên Lương

6. Kết luận

Dựa trên số liệu tính toán của tám yếu tố: địa chất, địa mạo, tốc độ bồi/xói, độ dốc bờ biển, độ cao địa hình, mực triều trung bình, chiều cao sóng trung bình và mực biển dâng trung bình, nghiên cứu này xác định được các mức tổn thương do mực biển dâng trong tương lai cho 41 đoạn bờ của vùng Hà Tiên – Kiên Lương. Kết quả cho thấy: 22,24% vùng bờ có mức độ tổn thương rất cao; 38,61% vùng bờ có mức độ tổn thương cao. Phần lớn bờ và bãi cấu tạo bởi trầm tích bở rời phân bố trong cung lõm giữa 2 mũi đều có mức độ tổn thương từ cao đến rất cao.

Tham Khảo

[1]. Hà Quang Hải và nnk (2009). Nghiên cứu, đánh giá và phân loại các Geosite phục vụ công tác bảo tồn các di sản thiên nhiên (Ví Dụ: Vùng Hà Tiên – Kiên Lương). Báo cáo Giai đoạn 1. Đề tài KHCN cấp Đại Học Quốc Gia trọng điểm.

[2]. Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam (2009). Bộ tài nguyên và môi trường.

[3]. Mai Trọng Nhuận và nnk (2009). Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dư báo tai biến địa chất vùng biển Phú Quốc – Hà Tiên tỉ lệ 1:100.000.

[4]. Nguyễn Ngọc Trân (2009). Ứng phó với Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng. Tham luận tại Hội nghị Hội người Việt Nam tại Pháp. Tháng 5 và 6 năm 2009.

[5]. Trần Thục (2009). Biến đổi Khí hậu ở Việt Nam. Hội thảo Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu – Hội An – Quảng Nam.

[6]. Trần Triết (chủ biên) (2001). Kỷ yếu hội thảo Bảo tồn và sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học vùng đất ngập nước Hà Tiên – Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. ĐH KHTN, ĐH QG TPHCM.

[7]. Trương Công Đượng (chủ biên) (1998). Báo cáo đo vẽ Địa chất và tìm kiếm khoáng sản. Nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc. tỷ lệ 1:50.000. Tập III: Địa mạo, Tân kiến tạo, Địa chất thủy văn. Liên Đoàn bản đồ Địa chất Miền Nam.

[8]. IPCC Special Report. Emissions scenarios (2000). Intergovernmental Panel on Climate Change. ISBN: 92-9169-113-5

[9]. Jeremy Carew–Reid. ICEM – International Centre for Environmental Management (2008). Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet Nam.

[10]. G.S. Dwarakish, S.A. Vinay, Usha Natesan, Toshiyuki Asano, Taro Kakinuma, Katta Venkataramana, B. Jagadeesha Pai, M.K. Babita  (2009). Coastal vulnerability assessment of the future sea level rise in Udupi coastal zone of Karnataka state, west coast of India. Ocean & Coastal Management 52 (2009) 467–478

[11]. Vivien M. Gornitz, Tammy W. Beaty, Richard C. Danielst (1997). A coastal hazards data base for the US. West Coast.

[12]. Integrated coastal zone management (ICZM) Glossary (2005).

[13]. Ảnh vệ tinh http://glovis.usgs.gov/;        http://glcfapp.glcf.umd.edu:8080/esdi/index.jsp