Đầu tháng 11 năm ngoái (2015), sau khi mở trang Diamoitruong.com được mấy ngày, có công việc gấp của gia đình mình trở lại Chi Nê, Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Trở lại nơi mình sống và học tập tại trường cấp II (Lạc Long) và cấp III (Lạc Thủy).
Trở lại lần này, Chi Nê đã có những đổi thay, rõ nhất là hai bờ sông Bôi kè đá, đường 21 đã nâng cao, trải nhựa, nhiều nhà tầng đã mọc lên…Nhưng những địa danh quen thuộc như xóm Chéo Vòng (nơi gia đình mình sống trước đây), xóm Tay Ngai, Đồng Bàu, đồi Hoa, dốc Bòng Bong, … chắc không bao giờ đổi thay.
Trở lại Chi Nê lần này, nhìn núi, đồi, sông, đầm, bãi bờ… mình có thể giải thích được sự hình thành những dạng địa hình này mà thời nhỏ không bao giờ tìm hiểu sự tồn tại của chúng. Tranh thủ thăm mấy anh, chị bạn học đã nghỉ hưu và ghi lại những hình ảnh của một thời từng gắn bó.
Vài dòng viết trên và những hình ảnh dưới đây xem như kỷ niệm hai trong một – Diamoitruong.com tròn một năm tuổi (01.11.2015) với 22 ngàn lượt view và 1 năm ngày trở lại Chi Nê.
Sông Bôi đoạn qua thị trấn Chi Nê đã kè đá không còn cảnh quan xưa với bờ sông bên lở, bên bồi với hàng tre, trúcSông Bôi đoạn qua Nhiễm Hạ với núi đá, thềm sông in hình trên mặt nướcSông Bôi qua Khoan Dụ (nhìn từ cầu Cả, xóm Chéo Vòng). Sông Bôi thời trước vào mùa lũ nước cuộn trôi, thỉnh thoảng có người ngồi trên nóc nhà giữa dòng lũ kêu cứu. Bên Khoan Dụ có dải núi đá vôi vách dựng đứng kéo dài phương TB-ĐN theo một đường thẳng băng (đường đứt gẫy kiến tạo). Thềm I cao khoảng 5 m (có nhà dân), thềm II cao khoảng 10 m là đồi đất đỏ (đầu cầu Cả).Bãi bồi ven đường từ xóm Chéo Vòng vào xóm Tay Ngai vẫn trồng rau lang và ngô như ngày xưaĐỉnh dốc Bòng Bong – ranh giới giữa Hòa Bình và Hà Nam. Dốc này được xem là cao nhất tuyến đường Chi Nê – Phủ Lý, không thể leo bằng xe đạp. Nay xe máy coi như không có dốc.Núi đá vôi dạng tháp và con đường từ Chi Nê đi Phú Lý tráng nhựa đẹp. Đây cũng là con đường mà bà xã mình cách đây 30 (năm 1986) từng đi bộ (Phủ Lý – xóm Chéo Vòng 30 km). Kết thúc hành trình với đôi chân xưng vù và hai dòng nước mắt.
ThienNhien.Net – Cồn cát ven bờ có chức năng sinh thái không gì thay thế được. Chúng không phải là vùng đất hoang. Phát triển bền vững vùng cồn cát đòi hỏi phải hiểu biết đúng đắn quy luật sinh thái vùng cồn.
Cát đỏ Phan Thiết
Những vùng bờ biển giàu nguồn cát mịn (đường kính hạt trong khoảng từ 0,2 đến 2 mm ), bị khô khi thủy triều rút, bị sấy nóng do mặt trời, lại có gió mạnh thường xuyên trên 15 km/giờ đều xuất hiện cồn cát.Từ khi xuất hiện đến khi ổn định, cồn cát không hình thành đơn lẻ mà tạo thành một dãy cồn song song với mép nước biển như những làn sóng cát. Từ mép nước biển hướng về đất liền có thể gặp một tập hợp 5 dãy cồn cát với mức độ ổn định tăng dần, đó là cồn sơ khai – cồn tiền tiêu – cồn màu vàng – cồn màu xám – và cồn trưởng thành. 5 dãy cồn tạo thành một thế hệ cồn cát.
Cồn sơ khai là những đống cát nhỏ do gió vun lên nhờ sự có mặt một loại vật cản nào đấy như mảnh gỗ trôi bị kẹt lại. xác chim biển chết, đống xác tảo biển, mảnh tàu đắm dạt vào bờ,…Cồn sơ khai chưa có thực vật cư trú. Chúng có thể nhanh chóng biến mất cũng như nhanh chóng xuất hiện, cho đến khi những dạng thực vật thân cỏ đầu tiên xuất hiện cố định chúng lại, biến chúng thành cồn tiền tiêu.
Việc thủy điện Hố Hô ở Hương Khê (Hà Tĩnh) xả lũ khiến nhiều người rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” gây ý kiến trái chiều. Theo giới chức địa phương, thủy điện này xả lũ không đúng quy trình. Trong khi chủ đầu tư cho rằng “hồ thủy điện dung tích 38 triệu m3, nước đổ về thời điểm đó khoảng 1.800 m3/s, nếu không xả thì lòng hồ tăng lên 7 triệu m3 nước, nguy cơ mất an toàn đập rất cao”.
Theo quy định, tùy theo loại công trình sẽ có quy trình xả lũ khác nhau. Nếu là đập dâng thì nước về đến đâu xả đến đó, với loại có dung tích phòng lũ thì trước khi lũ về phải đưa hồ về mực nước đón lũ nhằm giảm lũ cho hạ du. Quy trình xả lũ thủy điện được tính toán để đưa ra mực nước lũ thiết kế, mực nước lũ kiểm tra nhằm đảm bảo an toàn hồ đập và hạ du. Dung tích chống lũ cho công trình được tính từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lũ thiết kế.
Quy trình cũng chỉ rõ khi mực nước hồ đạt đến mức độ nào đó, mà nước từ thượng lưu tiếp tục về thì phải mở tràn xả lũ để đảm bảo an toàn. Quy trình phải chỉ rõ phương án phối hợp với cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong việc cảnh báo, thông báo việc xả lũ bao gồm thời gian xả và lượng xả dự kiến.
Các phương án xử lý tình huống ở hạ du được nêu tại Quy trình đảm bảo an toàn hạ du khi xả lũ.
Nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ vào sáng 15/10. Ảnh: Đức Hùng
Đập thủy điện Hố Hô dài 102 m, bề mặt rộng 5 m nhưng lại cao tới 50 m. Về địa thế, đập nằm ở phía cuối của sườn núi, trước khi sông Ngàn Sâu đổ xuống đồng bằng. Đây là vị trí hứng chịu lượng nước lớn và nhanh từ thượng nguồn sông Ngàn Sâu (trên diện tích lưu vực 278,6 km2). Như vậy, Hố Hô sẽ chịu rất nhiều nguy hiểm khi lũ lớn ở thượng nguồn đổ về.
Từ năm 2010 đến nay đã bốn lần tới đảo Phú Quốc, trong đó 3 lần hướng dẫn sinh viên khảo sát thực địa làm đề tài và 1 lần đưa gia đình thăm quan đảo. Mỗi lần đến đảo đều chụp khá nhiều ảnh về cảnh quan, môi trường đảo. Mỗi lần đến đều có những kỷ niệm riêng, nhưng đáng nhớ nhất là chuyến khảo sát lần đầu tại đảo.
Tháng 06, năm 2010 dẫn ba sinh viên nghiên cứu thực địa theo các lộ trình quanh đảo. Phú Quốc lúc đó còn hoang sơ, lộ trình khảo sát chủ yếu trên những con đường đất lầy lội, những cầu tre trơn, trượt khi mưa.
Nghiên cứu địa môi trường đảo Phú Quốc thật thú vị, các hệ thống bậc thềm được bảo tồn khá tốt, cấu trúc cuesta hình thành sự bất đối xứng giữa sườn đông và tây đảo. Các di sản địa chất, địa mạo như mũi đá Dinh Cậu, đá chồng An Thới, các bãi biển cát mịn, đẹp làm du khách say đắm.
Cùng chung một lộ trình ban đầu, nhưng ba sinh viên thực hiện ba đề tài theo ba cấp độ khác nhau:
Nguyễn Thanh Thúy (khóa luận) với đề tài “Nghiên cứu giá trị địa chất, địa mạo vùng Hà – Kiên – Phú phục vụ cho việc xây dựng công viên địa chất”
Nguyễn Ngọc Tuyến (luận văn cao học) với đề tài “Đánh giá tổn thương đới ven biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”
Lê Hoài Nam (luận án tiến sỹ) với đề tài “Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”.
Thúy đã bảo vệ khóa luận vào năm 2010, Tuyến bảo vệ luận văn vào năm 2012, và ngày 14 tháng 10 năm 2016 Nam đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ Khoa học môi trường. Việc bảo vệ đề tài luận án tiến sỹ của Nam xem như thày trò đã hoàn thành nhiệm vụ học tập ban đầu, tạm kết thúc một giai đoạn nghiên cứu đảo Phú Quốc kéo dài khoảng 6 năm.
Những hình ảnh dưới đây là kỉ niệm đợt khảo sát lần đầu tại Phú Quốc.
Khai thác kim loại là một ngành công nghiệp quan trọng đối với đời sống hiện đại của chúng ta. Tuy nhiên, những hoạt động trong mọi giai đoạn khai thác mỏ đều có khả năng xả ra kim loại vào sông, suối, hồ (Ripley và REDMANN, 1978). Kim loại hòa tan trong nước được cá và các sinh vật thủy sinh khác hấp thụ dễ dàng. Chỉ cần một nồng độ nhỏ kim loại vẫn có thể gây độc vì nó có tính bioconventration (tích lũy và không phân hóa) trong môi trường, có nghĩa là nồng độ kim loại trong cơ thể thủy sinh qua thời gian sẽ tích tụ cao hơn so với nồng độ có trong nước. Kim loại độc ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn vong, khả năng hoạt động, phát triển, tuần hoàn và sinh sản của sinh vât. Kim loại có thể gây ngộ độc, làm tổn hại cho sinh vật nhưng không gây tử vong trực tiếp. Phá rối hệ tuần hoàn, khả năng phát triển và sinh sản là ví dụ điển hình của triệu chứng ngộ độc (Wright và Welbourn, 2002).
Ảnh minh họa chất thải từ mỏ
Để cho kim loại phát huy độc tính, nó cần phải nhập vào cơ thể của sinh vật tiếp xúc với bề da hoặc bên trong tế bào. Kim loại ô nhiễm cá bằng cách ngấm vào dòng máu qua da và mang hoặc khi cá hấp thụ nước, ăn vi sinh vật, rong ruê, cá nhỏ đã bị nhiễm kim loại. Tương tự như cá con người bị ngộ độc qua đường hô hấp, da hoặc ăn, uống thực phẩm bị nhiễm độc (Wright và Welbourn, 2002). Đọc tiếp “Ảnh hưởng của kim loại trên hệ sinh thái thủy sinh và sức khỏe con người”→
Dù là người thường xuyên đi biển hay chỉ thỉnh thoảng mới ra biển chơi thì bạn cũng phải biết điều này nếu không sẽ rất dễ gặp nguy hiểm.
Rất nhiều người coi tắm biển là một niềm yêu thích. Nhưng họ lại không hề biết rằng nguy cơ chết đuối hay các tai nạn có thể xảy đến bất cứ lúc nào trong lúc đang tận hưởng niềm vui ngoài bờ biển. Phần lớn chúng ta sẽ đổ lỗi cho rượu bia hay bất kỳ lý do nào khác khi những tai nạn này xảy ra.
Nhưng có lẽ chúng ta quên mất hay không nhận thức rõ ràng một nguyên nhân khác. Đó chính là dòng chảy xa bờ – dòng Rip (hay còn gọi là rip current), một kẻ giết người nguy hiểm khi đi tắm biển.
Dòng chảy xa bờ – “con quái vật” có thể cướp đi mạng sống của bạn một cách đầy bất ngờ
Dòng Rip hay những con sóng rút xa bờ là một trong những hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm nhất bạn có thể gặp phải khi chơi ngoài biển. Những dòng Rip có thể nhấn chìm ngay cả những vẫn động viên bơi chuyên nghiệp và khi tai nạn ập đến, chúng ta hoảng loạn, không biết nên xử lý như thế nào dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.
Những dòng Rip đặc biệt nguy hiểm bởi thường xảy ra ở những vùng nước nông ngay bờ biển với nhiều cát hay những đảo nhỏ như Vịnh Mexico, biển Azov chẳng hạn.
Một lượng lớn nước biển không thể chảy ra biển ngay khi thủy triều rút vì chính những rào cản tự nhiên này và sẽ tiếp tục tạo dòng chảy ngược ra biển về sau.
Vận tốc trung bình của dòng chảy có thể thay đổi từ 0,5 m đến 1m/giây, khi đó không ai có khả năng bơi ngược nó để vào bờ. Có khi do những thay đổi đột ngột của sóng biển, vận tốc dòng chảy rút xa bờ có thể lên đến 2,5 m/giây, nhanh hơn cả vận tốc bơi của một vận động viên bơi lội Olympic.
Hình ảnh dưới đây sẽ cho thấy nguyên lý hoạt động của các dòng Rip.
Sóng đập vào bờ khiến nước rẽ sang hai bên, dòng nước này di chuyển dọc theo bờ cho đến khi tìm ra lối thoát ngược ra khơi
Những dòng chảy hẹp này có thể xuất hiện bất cứ đâu trên bãi biển. Các con sóng gối lên nhau, mang theo càng nhiều nước hơn vào bờ với vận tốc sóng khác nhau từ đó hình thành những dòng chảy ngược ra biển gần giống như con sông nhỏ giữa vùng biển.
Những dòng Rip chảy ngược ra biển và một vài nạn nhân không may mắn gặp phải chúng.
Những dòng Rip thường hẹp, rộng 2-3 m và di chuyển với vận tốc 4-5 km/h. Những con sóng này thật sự không quá nguy hiểm. Tuy nhiên, khi đạt đến vận tốc 15km/h và dài từ 200-400m, dòng Rip thật sự là mối nguy hiểm lớn cho những ai thích dạo chơi ngoài bãi biển.
Vậy đặc điểm nào để phát hiện và tránh xa dòng Rip? Nếu bạn nhìn thấy những dòng nước chảy nhanh sang góc phải bờ biển, nước ở vùng quanh bờ biển có màu sắc khác lạ (thường là những vùng nước màu trắng bị bao quanh bởi dòng nước xanh lục hoặc xanh lam sáng) hoặc xuất hiện vùng nước sủi bọt, chảy nhanh ra biển thì hãy cẩn thận nhé, đó có thể là dòng Rip đấy.
Hãy nhớ rằng những dòng Rip như thế này có thể xảy ra ở bất cứ đâu dọc bờ biển. Nếu nước ở chỗ bạn đang đứng đang từ thắt lưng và dâng lên ngang ngực thì có nghĩa là dòng Rip xuất hiện và sẽ có thể cuốn luôn bạn ra biển.
Tất nhiên, những người không biết bơi sẽ dễ lâm vào tình trạng này hơn ai hết bởi khi ra biển họ thường chỉ chơi ở một vị trí trong thời gian khá dài. Để đề phòng những tình huống xấu có thể xảy ra, đừng đi quá xa một mình, và phải đặc biết chú ý những khu vực có cờ đỏ hoặc biển cảnh báo.
Khi bất ngờ gặp phải “con quái vật” này, bạn hãy bình tĩnh và nhớ rõ một số quy tắc sau nhé:
Đừng hoảng sợ
Khi chúng ta đang trong trạng thái hoảng loạn, những hành động được chi phối bởi bản năng tự vệ và việc đưa ra những quyết định dựa trên lý trí trở nên khó khăn hơn nhiều. Nếu bạn biết cách xử lý khi bị cuốn vào dòng chảy xa bờ, bạn sẽ có nhiều khả năng sống sót.
Giữ sức
Đừng cố chống lại dòng nước bằng cách bơi ngược lại vào bờ. Không may là điều đó không có ích gì mà còn tiêu tốn hết năng lượng của bạn. Thay vì bơi vào bờ, hãy bơi song song với nó. Nếu dòng chảy xa bờ hẹp (dưới 5 mét), bạn có thể thoát khỏi nó rất nhanh.
Với dòng chảy xa bờ rộng (từ 20 mét trở lên)
Không dễ thoát thân trong tình huống này, kể cả nếu bạn làm theo hướng dẫn là bơi song song với bờ. Nhưng khi bạn nhận ra mình không thể thoát ra, đừng hoảng loạn. Cứ bình tĩnh, vì dòng Rip không kéo dài lâu, nó sẽ hết trong vòng 5 phút. Khi nó đã hết, đầu tiên hãy bơi khoảng 50-100 mét song song với bờ, sau đó mới bơi vào bờ. Nếu bạn cố bơi vào bờ ngay, có khả năng dòng chảy ngược sẽ lại tiếp tục đúng chỗ đó, và bạn lại mắc kẹt.
Nhìn thì tưởng không có gì nhưng chúng rất nguy hiểmTấm biển cảnh báo dòng Rip
Những điều cần nhớ:
Dòng Rip không bao giờ kéo bạn xuống
Dòng chảy xa bờ không giống như xoáy nước. Chúng giữ bạn trên mặt nước chứ không bao giờ xuống đáy biển.
Độ rộng của dòng Rip luôn có giới hạn
Thông thường chúng không bao giờ rộng quá 50 mét. Phổ biến hơn, chúng không rộng quá 10-20 mét. Nên khi bạn đã bơi dọc theo bờ biển khoảng 20-30 mét, thì bạn có thể yên tâm là mình đã thoát khỏi nó an toàn.
Độ dài của một dòng Rip luôn có giới hạn
Dòng nước luôn yếu đi khá nhanh, và kết thúc khi con sóng đạt đến đỉnh và bắt đầu đổ xuống. Những người lướt sóng gọi khu vực này là “xếp hàng”, thường thì nó cách bờ không quá 100 mét.
Hãy nói với bạn bè về những điều này. Bạn không chỉ có thể tự cứu mình mà còn cứu được người khác.
Môi trường và tài nguyên đồng bằng Sông Cửu Long bị suy giảm nghiêm trọng do các tác động nhân sinh và tự nhiên từ nhiều năm qua: phát triển hệ thống thủy điện dày đặc trong lưu vực và khai thác vật liệu đáy sông dẫn đến thiếu hụt phù sa, thiếu nguồn nước lũ làm cho đồng ruộng không được bổ sung dưỡng chất, khô hạn, xói lở bờ sông bờ biển gia tăng. Khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún mặt đất, phát sinh ô nhiễm arsen tầng nước ngầm sâu. Tác động tổng hợp nhân sinh và tự nhiên cũng đang là vấn đề lớn đối với dải đất ven biển.
Bài Hiến kế “cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Lê Quang Cảnh và Hoàng Đình Khảm là một ý tưởng hay, rất mong các nhà khoa học, nhà quản lý suy ngẫm và phát triển. Đây cũng là một chủ đề lý thú mà các bạn sinh viên ngành môi trường có thể thực hiện đề tài tốt nghiệp các cấp từ khóa luận, luận văn đến luận án tiến sỹ.
TTO – Ngày xưa tạo hóa đã ban tặng cho đồng bằng rộng lớn của Nam bộ Việt Nam sự giàu có về lúa gạo, trù phú cây trái và dồi dào tôm cá.
Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy – Ảnh: DUY KHANG
Từ ngàn đời, sông Mêkông là nguồn lợi, là tài nguyên chung của sáu quốc gia có dòng sông chảy qua.
Nhưng ngày nay, một số nước nằm ở thượng nguồn sông Mêkông đã xây dựng nhiều đập lớn chặn nước lại để sử dụng nước ngọt cho canh tác và làm thủy điện, nên lượng nước chảy xuống hạ lưu bị giảm rất nhiều, càng về sau càng thiếu hụt lớn hơn!
Như vậy, chúng ta chẳng còn hi vọng gì vào sự thay đổi, cải thiện tình hình cung cấp nước cho sông Cửu Long từ dòng Mêkông được nữa rồi!
Mùa mưa không có lũ về, mùa nắng hạn dòng sông Cửu Long khô cạn, lại gánh thêm tình trạng biến đổi khí hậu đã làm cho cả đồng bằng Nam bộ bị thiệt hại rất nặng nề trong năm vừa qua. Kinh tế, sinh hoạt, đời sống dân cư bị đảo lộn.
Chỉ còn cách duy nhất là chúng ta phải tự cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long để trả lại sự trù phú và phồn vinh như nó từng có. Đề xuất cải tạo bao gồm 2 việc lớn:
1- Sông Cửu Long trước đây có chức năng thải nước lũ ra biển Đông; nay không còn lũ nữa nên cải tạo làm chức năng trữ nước ngọt. Chỉ để lại con sông Hậu làm nhiệm vụ xả lũ là đủ, các sông còn lại nên xây đắp đập ở cửa sông để giữ nước ngọt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
2- Hai vùng trũng lớn trước đây trồng lúa là Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên sẽ cải tạo thành hồ sinh thái, trữ nước ngọt giống như chức năng Biển Hồ của Campuchia.
Thực tế đã chứng minh nhờ có Biển Hồ dự trữ một lượng nước ngọt khổng lồ, Campuchia đã thoát được tình cảnh khó khăn trong mùa khô hạn, dù có bị ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, dù dòng nước ở sông Mêkông chảy về đã bị giảm thiểu.
Biển Hồ Tonle Sap ở Campuchia có diện tích thay đổi từ 10.000km2 trong mùa khô và 16.000km2 vào mùa lũ.
Diện tích của tứ giác Long Xuyên (4.890km2) và Đồng Tháp Mười (6.970km2) cộng với diện tích cải tạo 8 con sông thành hồ chứa, thì sau cải tạo ở đồng bằng Nam bộ sẽ xuất hiện các hồ lớn trữ nước ngọt, được phân bố nhiều nơi, tổng khối lượng nước ngọt tương đương Biển Hồ, nếu không muốn nói là nhiều hơn.
Nếu chúng ta thực hiện kế hoạch như trên sẽ giải quyết, khắc phục được các khó khăn cùng những tồn tại lớn sau đây:
– Đủ nước ngọt cho canh tác và sinh hoạt của cư dân đồng bằng Nam bộ, kể cả trong mùa hạn hán.
– Nhờ có các hồ lớn trữ nước ngọt phân bố rất rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long, giúp cho nguồn cung và dự trữ nước ngầm (nước dưới đất) trong vùng vô cùng phong phú, không bao giờ cạn kiệt, dễ khai thác khi cần.
– Những hồ nhân tạo lớn trữ chứa khối lượng nước ngọt khổng lồ, tạo ra áp lực vô cùng lớn trên khu vực rộng, sẽ cản chặn có hiệu quả sự xâm nhập mặn vào nội đồng.
– Thủy sản, hải sản được phát triển đa dạng và phong phú trên các hồ sinh thái nước ngọt.
– Các hồ sinh thái nước ngọt lớn được phân bố trên nhiều vùng của đồng bằng Nam bộ, tạo ra trữ lượng nước ngầm vô cùng lớn. Nước mặt cùng với nước ngầm phong phú sẽ giúp phát triển cây trồng cùng thảm thực vật, tạo ra khí hậu trong lành, môi trường thiên nhiên tốt cho cả vùng đồng bằng này.
– Nếu ý tưởng cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long theo cách này được thực hiện thành công thì sẽ là bài học lớn, là tấm gương điển hình cho việc xây dựng các hồ trữ nước ngọt nhân tạo những nơi trọng yếu ở vùng Tây nguyên và miền Trung Việt Nam luôn chịu cảnh khô hạn.
Bằng việc cải tạo một số dòng sông ngắn và dốc chỉ làm mỗi nhiệm vụ tiêu thoát nước, “thải kiệt hết nước ngọt, rất lãng phí” xuống biển Đông trong mùa lũ, có thêm được chức năng mới là dự trữ nước ngọt cho mùa nắng hạn.
Xuất phát từ lòng yêu thương đồng bào Nam bộ ruột thịt, mặc dù đã suýt soát tuổi 80, chúng tôi cũng muốn đóng góp chút sáng kiến nhằm góp phần giúp khắc phục, tháo gỡ tình hình khó khăn hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long.
Qua phương tiện truyền thông điện tử, chúng tôi kính chuyển đến các cơ quan chức năng, đến những cán bộ làm khoa học kỹ thuật trẻ tuổi và đến những người dân Nam bộ – lực lượng trực tiếp thực hiện ý tưởng khi đã đồng tình và hưởng ứng.
Hà Nội ngập nước mưa, Sài Gòn ngập mưa và triều thì biết lâu rồi, nhưng chiều 21 tháng 9 đọc báo vietnamnet và tuoitre thấy nhiều tuyến đường ở trung tâm TP Huế cũng bị ngập sau một trận mưa lớn. Chiều 26 tháng 9, Sài Gòn lại bị ngập khủng khiếp sau một trận mưa kéo dài mà theo các nhà khí tượng đây là trận mưa kỷ lục trong vòng 40 năm qua. Thiệt hại về tài sản, về môi trường do những trận mưa lụt chẳng ai tính, nhưng chắc chắn rất lớn.
Không chỉ Hà Nội, Huế, Sài Gòn ngập do mưa mà còn nhiều thành phố khác cũng ngập. Nằm thấp như thành phố Tân An (Long An), Thái Bình, Hải Dương ngập đã đành, nhưng cao như TP. Biên Hòa, Thái Nguyên, thậm chí thành phố trên cao nguyên như Đà Lạt cũng ngập.
Số tiền nhà nước bỏ ra để chống ngập hàng năm chưa ai tổng hợp được, nhưng chắc chắn là con số khủng. Chỉ riêng TP. Hồ Chí Minh, trong 10 năm qua đã tiêu khoảng 24.300 tỷ đồng để thực hiện các dự án chống ngập [3]. Thành phố tiếp tục đề xuất vay nhiều ngàn tỷ đồng để chống ngập cho những năm sắp tới [4].
Nguyên nhân ngập ở TP. Hồ Chí Minh được các nhà quản lý dẫn ra bao gồm 1) mưa lớn do biến đổi khí hậu, hệ thống thoát nước không đáp ứng, 2) triều cường do biến đổi khí hậu (mực nước biển dâng), nguyên nhân khác là do đô thị hóa, sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm, hệ thống cống thoát bị tắc nghẽn [2].
Các nguyên nhân ngập lụt nêu trên, có lẽ do hệ thống thoát nước không đáp ứng là đúng hơn cả, còn nguyên nhân do biến đổi khí hậu (do trời mưa lớn, do biển dâng) thì nghe rất hài, nói cho vui. Theo người viết bài này thì nguyên nhân cốt lõi của vấn đề là Đô thị hóa tràn lan, không kiểm soát được chu trình nước diễn ra tại hầu hết các thành phố trên cả nước.
Đô thị hóa dẫn đến sự biến đổi chu trình nước là một trong những bài học cơ bản của môn học Địa chất môi trường. Việc đô thị hóa nếu không xem xét đến tỷ lệ diện tích bê tông hóa (bề mặt không thấm) và bề mặt tự nhiên cũng như việc tính toán độ lớn kênh thoát nước mưa cho từng lưu vực nhỏ chỉ một vài km2 trong đô thị sẽ dẫn đến lũ lụt đô thị [6].
II. Đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước
Chu trình nước, còn được gọi là chu trình thủy văn, là sự trao đổi liên tục nước giữa các thể nước. Khoảng 97% lượng nước trên trái đất được lưu trữ trong các đại dương, và chỉ có một phần nhỏ của phần còn lại là nước ngọt có thể sử dụng. Khi mưa rơi trên mặt đất, nó sẽ di chuyển theo các tuyến khác nhau. Một số bốc hơi, quay trở lại bầu khí quyển, một số thấm xuống đất, và phần còn lại sẽ trở thành nước bề mặt chảy theo sông, suối đến hồ và đại dương. Các bề mặt không thấm trong các khu vực đô thị hóa sẽ làm thay đổi lượng nước tự nhiên theo từng tuyến. Hậu quả của sự thay đổi này là giảm khối lượng nước thấm vào lòng đất, gia tăng khối lượng và giảm chất lượng nước mặt (Hình 1) [7].
Hình 1. Minh họa bề mặt không thấm và các hệ thống thoát nước đô thị làm tăng dòng chảy mặt đến sông ngòi. Khối lượng lớn, tốc độ và thời gian dòng chảy sẽ gia tăng xói mòn và vận chuyển trầm tích từ cảnh quan và bờ sông sẽ gây tắc nghẽn kênh sông và thiệt hại môi trường sống [7].Hình 2. Biểu đồ thủy văn minh họa lưu lượng đỉnh dòng chảy mặt do mưa trong một lưu vực trước (đường vàng) và sau đô thị hóa (đường đỏ). Với diện tích lớn bề mặt không thấm nước trong lưu vực, dòng chảy mặt sẽ có một khối lượng lớn, tốc độ nhanh hơn sẽ gây ra nhiều lũ lụt và thiệt hại môi trường sống [7].Hình 3. Sự gia tăng dòng chảy mặt do đô thị hóa [7]
Với mặt đất tự nhiên, 25% lượng mưa thấm vào tầng nước ngầm và chỉ 10% là dòng chảy mặt. Khi diện tích mặt không thấm tăng, nước chuyển thành dòng mặt nhiều hơn. Những khu vực đô thị hóa mạnh, hơn một nửa lượng nước mưa trở thành dòng chảy bề mặt, chỉ một phần nhỏ xâm nhập vào tầng nước ngầm. Sự gia tăng dòng chảy bề mặt đòi hỏi gia tăng hệ thống thoát nước để giảm thiểu lũ lụt [7].
Như vậy, đô thị hóa sẽ làm thay đổi chu trình nước, tùy theo mức độ đô thị hóa mà cường độ và tần suất lũ sẽ khác nhau trong các diện tích lưu vực nhỏ chỉ một vài cây số vuông. Tỷ lệ gia tăng này là hàm số của phần trăm mặt đất bị che phủ bởi mái nhà, vỉa hè, và bề mặt xi măng (bề mặt không thấm nước) và phần trăm diện tích có hệ thống thoát nước thích hợp. Hệ thống thoát nước rất quan trọng vì chúng cho phép dòng chảy mặt đô thị từ các bề mặt không thấm nước đến các kênh sông nhanh hơn nhiều so với môi trường tự nhiên. Do đó có thể xem bề mặt không thấm nước và hệ thống cống thoát là tiêu chuẩn đánh giá mức độ đô thị hóa [6, 7].
III. Một ví dụ về đô thị hóa và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh
Đô thị hóa ở TP. HCM tràn lan, thu hẹp diện tích đất tự nhiên, nâng cao địa hình vùng đất thấp, san lấp nhiều kênh rạch, thu hẹp dòng chảy, chèn thêm công trình vào diện tích đất trống ít ỏi còn sót lại, nâng cấp đường xá …đều ảnh hưởng đến chu trình nước, dẫn đến sự biến động về điểm ngập, diện ngập kể cả xuất hiện những dòng lũ đô thị như cuối tháng 9 vừa qua (dòng lũ khá mạnh, cuốn trôi cả xe máy). Ngập lụt sân bay Tân Sơn Nhất vừa qua là một trong những ví dụ do đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước.
1) Sân bay Tân Sơn Nhất – một điểm ngập mới
“Lúc 18h (ngày 26 tháng 8) một trận mưa lớn khiến cho khu vực đường băng của sân bay bị ngập lụt gây ảnh hưởng đến việc cất, hạ cánh…đường lăn M1 của sân bay phải dừng hoạt động hơn một tiếng do nước ngập khoảng 30 cm. Sự cố này khiến 70 chuyến bay đến Tân Sơn Nhất bị ảnh hưởng. Trong đó có 2 chuyến bị hủy, 14 chuyến phải hạ cánh xuống các sân bay lân cận như Liên Khương, Cam Ranh… 4 chuyến bay quốc tế không hạ cánh được phải đáp xuống sân bay của Campuchia, Thái Lan” [9]. Như vậy có thể xem sân bay Tân Sơn Nhất là điểm ngập mới xuất hiện.
Hình 4. Bãi đỗ của sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nặng. Theo báo cáo của Cuc Hàng không thì có chỗ ngập đến 50cm (Ảnh: Hoàng Lân/Vietnamnet)
2) Về địa điểm xây dựng sân bay
Sân bay Tân Sơn Nhất do người Pháp xây dựng vào năm 1930, dài hơn 1500 m bằng đất đỏ. Năm 1956 người Mỹ xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m bằng bê tông [8]. Bản đồ địa chất TP. HCM tỉ lệ 1:50.000 [1] cho thấy địa điểm chọn xây dựng sân bay là tối ưu:
Địa chất công trình: nền móng cấu tạo bằng aluvi cổ (cát, sét , laterit) rất thuận lợi cho xây dựng các công trình nặng.
Địa mạo: địa hình cao 5,0 m (vị trí cao nhất khu vực), dạng hơi vòm (vòm Tân Sơn Nhất) được bao bọc xung quanh bởi các kênh, rạch tự nhiên: phía tây là rạch Cầu Mới đổ ra rạch Bến Cát chảy bọc phía bắc, vòng xuống đông nam rồi ra sông Sài Gòn. Phía nam là kênh Nhiêu Lộc đổ ra sông Sài Gòn ở Thị Nghè (Hình 5).
Hình 5. Bản đồ địa hình khu vực Tân Sơn Nhất năm 1968Hình 6. Ảnh hàng không khu vực sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968 Các khu vực có tôn ảnh màu đen là vùng thấp (ẩm) và thực vật. (Nguồn Internet)
Trên bản đồ địa hình và ảnh hàng không năm 1968 (Hình 5, 6) dễ dàng nhận thấy sân bay được xây dựng trên đỉnh vòm. Một vùng đệm bao quanh khá rộng có độ dốc nghiêng thoải về xung quanh vừa tạo thuận lợi cho dòng nước mặt thoát về các rạch vừa đảm bảo an ninh sân bay. Hơn nữa, bề mặt aluvi cổ chủ yếu là các trầm tích hạt thô làm cho nước mưa dễ thấm xuống sâu.
3) Đô thị hóa dẫn đến ngập lụt sân bay
Với những bức ảnh vệ tinh có thể tính toán tỉ lệ bê tông hóa bề mặt địa hình Vòm Tân Sơn Nhất theo thời gian một cách dễ dàng, từ đó có thể xác định được mối quan hệ giữa bê tông hóa và tình trạng ngập nước đô thị.
Để có cái nhìn trực quan về đô thị hóa (bê tông hóa) khu vực sân bay, tôi xoay và cắt ảnh Google Earth (Hình 7) có khung hình tương tự như ảnh hàng không năm 1968. Hình 7 cho thấy các công trình gần như phủ kín vùng đệm, tiến sát tới đường biên sân bay. Diện tích vùng thấp (ẩm ướt) và cây xanh trên Hình 7 chỉ còn lại không đáng kể.
Hình 7. Ảnh Google Earth khu vực Tân Sơn Nhất ngày 24 tháng 3 năm 2015
Kiểm tra độ cao trên ảnh Google Earth nhận thấy: độ cao sân bay trung bình trong khoảng 5 – 8 m. Các công trình bao quanh có độ cao 8-12 m. Khu vực sân golf phía bắc có độ cao khoảng 8 – 10 m.
Như vậy, một vùng đệm thấp hơn sân bay đã không còn, các công trình xây dựng xung quanh cao hơn (nền công trình cao, nóc mái nhà cao) đã biến sân bay thành vùng trũng (Hình 8), vì vậy việc ngập nước mưa trong sân bay là đương nhiên. Có thể gọi hiện tượng này là nghịch đảo địa hình nhân tạo.
Hình 8. Do đô thị hóa, Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành vùng trũng. Ảnh Google Earth 24.03.2015
IV.Kết luận
Không chỉ Hà Nội – Huế – Sài Gòn ngập lụt mà nhiều thành phố khác cũng đang chịu cảnh ngập lụt. Các thành phố nằm trên địa hình thấp – ngập, trên địa hình cao – ngập, năm ngoái không ngập, năm nay ngập, năm nay không ngập nhưng có thể sang năm ngập.
Đường phố trở thành những dòng nước lũ cuốn theo các chất ô nhiễm – đó là lũ lụt đô thị chứ không chỉ là ngập lụt. Lũ lụt do đô thị hóa là tên gọi mà các giáo trình cơ bản về Địa chất môi trường vẫn thường sử dụng.
Mất vài chục ngàn tỷ chống ngập trong nhiều năm như TP.Hồ Chí Minh nhưng thành phố vẫn ngập, thêm vài chục ngàn tỷ nữa chắc cũng chẳng giải quyết được ngập nếu như tình trạng quản lý đô thị vẫn như những năm qua.
Xin trích một đoạn kèm theo bức hình từ bài đăng trên Vietnamnet của Lê Nguyễn Duy Hậu sáng nay (30 tháng 09 năm 2016) để kết thúc cho bài viết này.
“Tôi chợt nhớ hồi tháng 6/2016, sân bay Đào Viên của Đài Loan bị ngập. Ngay lập tức, người đứng đầu sân bay này xin từ chức. Riêng mùa mưa năm nay, sân bay Tân Sơn Nhất đã ngập hai lần, vẫn chưa thấy quan chức nào đứng ra xin lỗi và nhận trách nhiệm cả” [5].
Rốt cuộc thì vai trò và trách nhiệm của cơ quan chức năng ở đâu sau trận lụt lịch sử vừa qua?. Ảnh: Phúc Lập/Nongnghiep.vn. nguồn [5]
Tham khảo
[1] Hà Quang Hải và nnk. 1989. Báo cáo lập bản đồ Địa chất và khoáng sản TP. Hồ Chí Minh tỷ lệ 1:50.000.
Nguyễn Đức Thắng, ndthangndt@yahoo.com, Hà Nội, 01/8/2016
Chiều 30 tháng 6 năm 2016, Chính phủ Việt nam đã chính thức công bố nguyên nhân cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung. Theo đó, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) chính là “thủ phạm”.
Có một số nhà khoa học đã viết bài phản biện về nguyên nhân cá chết sau khi chính phủ công bố. Địa môi trường giới thiệu bài “Cần trả lại chân lý khoa học cho Kết luận về nguyên nhân cá chết” của TS. Nguyễn Đức Thắng để các bạn sinh viên đang học môn Quản lý tổng hợp đới bờ tham khảo và thảo luận.
Nguồn: Tác giả gửi trực tiếp vào Email: hqhai@hcmus.edu.vn
Chủ nhật, ngày 18 tháng 9 Bộ môn Khoa hoc môi trường tổ chức cho sinh viên KMT 14 báo cáo kết quả môn học Thực tập môi trường đại cương tại giảng đường 1, trường Đại học KHTN. Tham gia hội đồng gồm thày Hải (chủ tịch), cô Tuyến (thư kí), thày Tự Thành, cô Huệ, cô Dung (ủy viên).
Năm nay, Khoa Môi trường chủ trương đưa điểm môn học này sớm hơn 1 học kỳ, vì vậy ngay sau đợt thực tập ngoài trời vào cuối tháng 7, các nhóm đã được bộ môn yêu cầu hiệu chỉnh tài liệu cá nhân, chuẩn bị báo cáo nhóm ngay trong tháng 8. Đầu tháng 9, các nhóm làm việc trực tiếp với thày, cô phụ trách để hoàn thiện tài liệu.
Năm nay cũng là năm có số sinh viên theo học ngành khoa học môi trường đông nhất. Tổng cộng 187 sinh viên được chia thành 20 nhóm. Bộ môn đã bổ sung một số đề tài do số lượng nhóm gia tăng cũng như một vài thay đổi vị trí và nội dung thực tập ngoài trời do điều kiện khách quan. Những đề tài mới như “ Tác động nông nghiệp đến cảnh quan sơn nguyên Đà Lạt”, “Lưu vực sông Cái Nha trang và các vấn đề môi trường liên quan”, “Liệt kê và đánh giá sơ bộ các giá trị khoa học và bổ sung của các geosite theo tuyến lộ trình”.
Trước giờ báo cáo
Sau một ngày nghe đại diện các nhóm báo cáo, xem tài liệu nhóm, tài liệu cá nhân và mẫu vật, Hội đồng có một số nhận xét sau đây:
Ưu điểm:
Các nhóm hoàn thành khối lượng công việc theo yêu cầu môn học gồm: báo cáo tổng hợp theo chủ đề, mẫu vật (đá, đất, thực vật), bản đồ, mặt cắt cảnh quan, bình đồ ô tiêu chuẩn, nhật ký cá nhân.
Báo cáo chuyên đề được thực hiện bằng việc tham khảo các tài liệu thứ cấp từ nhiều nguồn (internet, giáo trình, bài giảng từ đợt tập huấn…) và các tài liệu do các nhóm thu thập ngoài trời trong đợt thực tập.
Các mẫu thực vật (thảo tập) và mẫu đất (lấy theo phẫu diện) được giáo viên phụ trách đánh giá tốt (đầy đủ, đúng qui định).
Phần lớn đai diện nhóm báo cáo đúng giờ, lưu loát, trả lời được các câu hỏi của hội đồng. Nhìn chung các bạn nắm khá vững nội dung chuyên đề do nhóm thực hiện.
Nhược điểm:
Một số báo cáo chuyên đề có nội dung dàn trải, chưa tập trung trọng tâm chủ đề. Báo cáo có sự thiếu cân đối giữa phần tổng quan (quá chi tiết) và vấn đề khu vực hoặc tỉnh (còn sơ lược). Một số trích dẫn từ internet nhưng thiếu đánh giá và kiểm chứng, ít sử dụng những tài liệu ngoài trời.
Phần lớn các mặt cắt, bình đồ chưa đáp ứng qui chuẩn như thiếu chỉ dẫn, tỷ lệ và phương vị.
Phần lớn nhật ký cá nhân được ghi chép sơ sài, thiếu hình vẽ, ghi chú và chưa thể hiện được sự chủ động quan sát các đặc điểm, hiện tượng (tự nhiên và xã hội…) ngoài trời của từng sinh viên.
Mẫu đá thu thập thiếu tính đại diện, không đảm bảo qui cách theo yêu cầu (kích thước, tên đá …).
Một số đại diện nhóm trình bày quá giờ qui định, trả lời câu hỏi dài dòng. Các bài trình bày (PPT) chưa hấp dẫn.
Một báo cáo nổi trội
Nổi trội trong buổi báo cáo kết quả Thực tập MTĐC năm nay là chuyên đề “Hoạt động du lịch ở Đà Lạt và đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường” của nhóm 10 do bạn Linh Chi (trưởng nhóm) trình bày.
Báo cáo có cấu trúc hợp lý gồm 4 phần: 1) Điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch Đà Lạt; 2) Các loại hình du lịch ở Đà Lạt; 3) Những tác động của du lịch đến môi trường và 4) Các biện pháp bảo vệ môi trường.
Báo cáo có nội dung ngắn gọn nhưng khá đầy đủ. Các biểu đồ và hình ảnh được lựa chọn cẩn thận, có tính đại diện. Phần điều kiện tự nhiên (cơ sở nền tảng để phát triển du lịch Đà Lạt) được trình bày rõ ràng theo cấu trúc của một báo cáo cảnh quan: địa chất – địa hình – đất – thủy văn – khí hậu – sinh vật.
Các loại hình du lịch Đà Lạt được phân loại thành 6 nhóm: 1) Du lịch sinh thái; 2) Du lịch văn hóa, 3) Du lịch nghiên cứu, 4) Du lịch nghỉ dưỡng, 5) Du lịch thăm quan, giải trí và 6) Du lịch xu thế mới. Trong mỗi nhóm lại phân chia chi tiết thành các loại hình khác nhau, trong đó Du lịch nông nghiệp với mô hình Trang trại rau hữu cơ Organik Xuân Thọ (thuộc nhóm Du lịch sinh thái) và du lịch MICE (thuộc nhóm Du lịch xu thế mới) được xem là những đề xuất mới, phù hợp với đặc điểm môi trường tự nhiên Đà Lạt.
Trong phần Các biện pháp bảo vệ môi trường, báo cáo đưa ra những nhận định sau đây về xu hướng đô thị hóa Đà Lạt rất đáng để các nhà qui hoạch và các nhà quản lý quan tâm:
“Đứng trước đề tài “Đô thị hoá”, nhiều người cho rằng đây là một chiến lược rất tốt để phát triển kinh tế và du lịch. Tuy nhiên, khi đem lợi, hại đặt trên bàn cân, thì việc có nên đô thị hoá hay không cũng cần phải suy nghĩ lại. Bởi lẽ:
– Đô thị hoá thu hút dân cư, dân số tăng lên, dẫn đến các vấn đề nhà ở và chất thải sinh hoạt. Vậy phải quy hoạch và chặt đi bao nhiêu ha rừng để xây dựng công trình dân cư? Số người dân tăng lên, nhiệt độ của Đà Lạt có thể giữ được sự thanh lạnh của nó hay không? Hiện tượng đảo nhiệt tại khu dân cư có đảm bảo được là sẽ không xảy ra hay không?
– Liệu Đà Lạt có giữ được nét đẹp đặc trưng của nó khi đứng trước sự giống nhau của các đô thị mới, trung tâm và đường phố mới hay không?
– Đặc biệt là hiện tượng “Dự án thắng quy hoạch”. Các siêu thị, ngân hàng, khách sạn,… chen chúc nhau trên cùng con đường trong khi những bãi đất trống cho dự án vẫn để đó chờ khởi công. Kẹt xe giờ cao điểm, các công trình thay thế khu đất trồng,…
Rõ ràng, ĐL không tránh khỏi ô nhiễm môi trường khi đứng trước cơn bão đô thị hoá.”
Một báo cáo có nội dung phong phú, người trình bày lưu loát, súc tích đã thực sự cuốn hút người nghe.