Thêm đập thủy điện trên sông Mekong, miền Tây chồng chất nỗi lo

Các chuyên gia Việt Nam lo ngại cuộc sống 20 triệu dân miền Tây bị xáo trộn lớn khi Lào xây thêm đập thủy điện Pak Beng trên sông Mekong.

Ủy ban sông Mekong Việt Nam vừa tổ chức tham vấn quốc gia về thủy điện Pak Beng, dự kiến được xây dựng trên sông Mekong ở Tây Bắc nước Lào. Buổi tham vấn diễn ra tại Cần Thơ nhằm ý kiến của các chuyên, các sở, ngành của các tỉnh phía Nam.

Đập Pak Beng do một công ty của Trung Quốc thiết kế và đầu tư xây dựng. Nguồn: Pak Beng Hydropower project

Các chuyên gia cho rằng số liệu trong tài liệu phía Lào cung cấp đã cũ, giải pháp cũng lạc hậu, không đánh giá tác động xuyên biên giới. Ba công trình thủy điện của Lào gồm Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng tác động lớn đến dòng chảy của sông Mekong vào mùa khô; sẽ làm tăng hiện tượng xâm nhập mặn trên sông Tiền và sông Hậu, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của 20 triệu dân đồng bằng sông Cửu Long.

Nếu xét tác động tổng thể cả chuỗi 11 đập thủy điện trên sông Mekong mà hai nước Lào và Campuchia dự kiến xây dựng (Lào 9 đập, Campuchia 2 đập) thì lượng nước xuống hạ nguồn thiếu hụt đến 28%; nước mặn sẽ lấn sâu vào đất liền. Mặt khác, hồ chứa Pak Beng lưu giữ đến 90% bùn cát đáy và một phần bùn cát lơ lửng từ thượng nguồn…

Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân cho rằng báo cáo dự án thủy điện Pak Beng có các vấn đề là thiếu số liệu, chuỗi số liệu quá ngắn so với các thời gian sử dụng của đập, không tính đến tác động địa chất trong không gian và theo thời gian…

Theo giáo sư Trân, miền Tây đang bị sạt lở nghiêm trọng do tích lũy trầm tích thiếu, nguy cơ bị xâm thực, sụt lún vùng đất này quá rõ. “Một đập thủy điện hoạt động trăm năm chứ không phải 20 năm nên phải đánh giá rõ ràng tác động như thế nào? Đặc biệt là tích lũy trầm tích, phù sa bị con đập này giữ lại thì sẽ vô cùng tai hại cho đồng bằng phía hạ lưu”, ông nói.

Giáo sư Trân cũng lưu ý đập Pak Beng nằm trong vùng động đất hoạt động rất mạnh mà báo cáo của dự án chưa nói tới. Chu kỳ động đất 10-20 năm là 5-6 độ Richter, 50 năm thì 7 độ Richter. Gần nơi Pak Peng sẽ toạ lạc, nhiều địa phương đã ghi nhận các trận động đất 6-7 độ Richter. “Trên dòng Mekong Lào xây dựng đập dây chuyền, nếu xảy ra động đất thì sẽ đổ vỡ dây chuyền”, ông quan ngại.

“Tôi đề nghị Lào hoãn xây dựng đập, làm báo cáo đánh giá tác động toàn diện, đầy đủ hơn để trình các quốc gia trong khu vực”, giáo sư Trân nói và cho biết đối với Việt Nam, đây là vấn đề sống còn nên khó khăn cách mấy cũng yêu cầu phía bạn hoãn lại.

Tiến sĩ Vũ Ngọc Long (Viện Sinh thái học miền Nam) cho rằng đồng bằng sông Cửu Long được hình thành do phù sa sông Mekong. Vùng đất này sẽ bị sụt lún khi không còn phù sa. Bài toán biến đổi khí hậu sẽ xảy ra nhanh hơn, nặng nề hơn khi các đập thủy điện lần lượt chặn dòng chính Mekong. Do đó, báo cáo dự án nên bổ sung nghiên cứu vấn đề xuyên biên giới với Việt Nam, nhất là về tác động sinh thái biển.

Địa phương vừa xảy ra sạt lở nghiêm trọng ở bờ sông Vàm Nao – Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lâm Quang Thi cho rằng các đập thủy điện thượng nguồn đều gây lo lắng cho cả miền Tây và cấp độ quốc gia. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá tác động riêng kinh tế, xã hội và môi trường là chưa đủ. “Nếu như Lào và Campuchia cho xây toàn bộ 11 đập trên song Mekong và các công ty của Trung Quốc đầu tư tất cả thì tình hình sẽ như thế nào?”, ông Thi nói.

Tiến sĩ Dương Văn Ni (Khoa môi trường, đại học Cần Thơ) nói tham vấn thủy điện Pak Beng lần này cũng giống như khi tham vấn thủy điện Xayaburi mấy năm trước. Khi đó, Thủ tướng Việt Nam cũng có văn bản đề xuất Lào cho dời lại 10 năm sau hãy xây đập. “Nhưng nước bạn vẫn xây, vì sao? Vì tham vấn chỉ mang tính góp ý chứ không có tính pháp lý. Rõ ràng chúng ta đang rơi vào vòng luẩn quẩn”, ông Ni lo lắng.

Các đập thủy điện trên sông Mekong

Bộ Trưởng Tài nguyên – Môi trường, Chủ tịch Ủy ban sông Mekong Việt Nam Trần Hồng Hà cho biết, là quốc gia cuối nguồn sông Mekong, Việt Nam theo dõi đặc biệt với sự quan tâm đặc biệt và quan ngại sâu sắc trước việc các quốc gia đầu nguồn xây dựng đập thủy điện. Việc làm này cùng với biến đổi khí hậu đã tác động kép lên toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long mà đỉnh điểm là xâm nhập mặn năm 2016 và sạt lở khắp nơi, đặc biệt là ở bờ sông Vàm Nao vừa qua.

Hồi tháng 2, trong buổi tham vấn tại Lào, tiến sĩ Davong Phonekeo – thư ký thường trực của Bộ Năng lượng và Mỏ Lào – cho rằng dù có tăng trưởng kinh tế ấn tượng gần đây, Lào vẫn là quốc gia kém phát triển nhất khu vực Mekong. Do đó việc phát triển thủy điện theo cách bền vững và có trách nhiệm là chất xúc tác cho phát triển kinh tế và giúp cho hàng triệu người nước này 
thoát nghèo.

Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Lào Sommath Pholsena cho rằng, dư luận không nên quá lo lắng về các tác động từ dự án đập thủy điện Pak Beng. Lào sẽ phải đảm bảo và phải chịu trách nhiệm đối với người dân Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan.

Pak Beng là thủy điện thứ nhất trong chuỗi 11 bậc thang thủy điện dòng chính dự kiến xây dựng trong vùng hạ lưu vực sông Mekong. Đây là công trình thứ 3 của Lao (thuộc huyện Pak Beng, tỉnh Oudomxay, Tây Bắc Lào), sau Xayaburi và Don Sahong, cách đồng bằng sông Cửu Long gần 2.000 km.

Thủy điện Pak Beng có công suất thiết kế 912 MW, điện lượng 4,765 GWh. Khi hoàn thành sẽ có đến 90% lượng điện sản xuất ra được bán sang Thái Lan. Chính phủ Lào cho biết công trình đập Pak Beng dự kiến được khởi công năm 2017, hoàn tất vào năm 2023 và bắt đầu đi vào hoạt động thương mại năm 2024.

Trước đó, Chính phủ Lào đã nộp cho Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) báo cáo về nghiên cứu khả thi, đánh giá tác động môi trường và xã hội của thủy điện Pak Beng. Cuối năm 2016, các nước thành viên MRC thống nhất quá trình tham vấn cho dự án thủy điện này trong vòng 6 tháng.

Cửu Long

Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/them-dap-thuy-dien-tren-song-mekong-mien-tay-chong-chat-noi-lo-3584312.html

Khảo sát địa du lịch theo lộ trình Óc Eo – Bảy Núi – Châu Đốc, tỉnh An Giang

Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ Khoa học Công nghệ năm 2017 do Chi cục Bảo vệ Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang chủ trì, từ ngày 15 đến ngày 18, tháng 05 nhóm khảo sát đã thực hiện đợt khảo sát sơ bộ theo lộ trình Óc Eo – Bảy Núi – Châu Đốc. Đợt khảo sát nhằm đề xuất hướng nghiên cứu địa du lịch vùng đồi núi tỉnh An Giang.

Tham gia khảo sát gồm thày Hải cùng Hạnh và Tiên (hai học viên cao học đang thực hiện đề tài về địa du lịch), phía tỉnh An Giang có anh Cẩn (cán bộ truyền thông thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường) là người tổ chức và điều phối lịch trình, ngoài ra có sự tham gia của các cán bộ tại Ban quản lý Di tích văn hóa Óc Eo (anh Giềng giám đốc, anh Thảo phó giám đốc và các cán bộ phòng ban), anh Tân, anh Chanh, chị Trinh, anh Trung là cán bộ phòng tài nguyên huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên và Châu Đốc.

Điểm khảo sát đầu tiên là khu Di tích văn hóa Óc Eo. Tại đây, anh Giềng, anh Thảo và các cán bộ phòng ban đã giới thiệu ngắn gọn về Ban quản lí khu di tích Óc Eo, về biến đổi khí hậu liên quan đến văn hóa Óc Eo, lên đỉnh núi Ba Thê, đỉnh Thạch Đại Đao, Chót Ông Tà, thăm quan Gò Cây Thị và Linh Sơn Cổ tự (chùa phật bốn tay).

Tại Tri Tôn quan sát núi Cô Tô, khảo sát khu mỏ đá đã ngưng khai thác Tà Pạ (nơi được đặt tên cho hệ tầng Tà Pạ), khu du lịch Tức Dụp, cánh đồng Trên Châu Lăng và quan sát núi Xa lon, núi Dài.

Tại Tịnh Biên khảo sát khu du lịch Núi Cấm (theo đường cáp treo), quan sát núi Két, núi Trà Sư và núi Phú Cường.

Tại Châu Đốc khảo sát núi Sam, làng nổi Châu Đốc, thánh đường Et Sang, làng Chăm, An Phú.

Dưới đây là một số nhận xét từ kết quả của đợt khảo sát:

Giá trị của các yếu tố địa chất, địa mạo

– Nền đá gốc có sự hiện diện các đá trầm tích, magma phun trào và xâm nhập, trong đó các đá xâm nhập chiếm diện tích lớn hơn cả. Magma xâm nhập thường tạo nên địa hình khối, đỉnh cao, các đá trầm tích có dạng địa hình thấp, kéo dài. Các núi nhô cao trên bề mặt địa hình đồng bằng thấp, bằng phẳng tạo nên cảnh quan đồi núi sót ấn tượng, nhất là khi quan sát từ những đỉnh cao.

– Các trầm tích Đệ tứ có tuổi Holocen muộn tạo nên bề mặt đồng bằng thấp chiếm diện tích rộng, là những cánh đồng lúa có sắc màu thay đổi theo mùa vụ (màu xanh của mạ và màu vàng của lúa chín). Ở điều kiện tự nhiên, phần lớn diện tích đồng bằng bị ngập. Các cánh đồng lúa quanh vùng núi, đồi An Giang cũng là những cảnh quan đẹp, có nét đặc trưng.

– Núi, đồi An Giang là cơ sở của hệ thống chùa chiền, miếu mạo, trong đó có điểm đã trở thành Trung tâm du lịch tâm linh nổi tiếng như Miếu Bà Chúa Xứ với lễ hội Vía bà Chúa Xứ (lễ hội cấp quốc gia) hay di tích lịch sử đồi Tức Dụp với các khối đá granit nhiều hình thù, kích cỡ kê xếp lên nhau tạo nên hệ thống hang động, ngõ ngách đã trở thành căn cứ cách mạng trong kháng chiến.

Những vấn đề cần được xem xét   

–  Các giá trị địa chất, địa mạo chưa được xem là những di sản tự nhiên quan trọng trong phát triển du lịch. Các quan hệ địa tầng có ý nghĩa khoa học đã được nghiên cứu như vết lộ đá xâm nhập phức hệ Định Quán (γδJ3-K1đq) xuyên cắt đá hệ tầng Tà Pạ (T3-J1tp); hay cuội kết cơ sở hệ tầng Xa Lon (J3xl) phủ trên hệ tầng Tà Pạ (T3-J1tp)… chưa được khai thác phục vụ du lịch, nghiên cứu và học tập.

– Nghiên cứu cổ địa mạo chưa được thực hiện, ví dụ: các mặt cắt thềm biển liên quan đến biển tiến Holocen phân bố ở Tri Tôn, Tịnh Biên hay các lòng sông cổ, kênh rạch cổ, bờ biển cổ liên quan đến Văn hóa Óc Eo chưa được làm sáng tỏ; vì vậy những sản phẩm khoa học còn nghèo nàn, chưa có sức thu hút du khách.

– Những moong khai thác, những vách khai thác đã ngưng hoạt động chưa được phục hồi hoặc qui hoạch thành các điểm du lịch, hoặc đánh giá các giá trị khoa học (xếp hạng geosite) để có kế hoạch bảo tồn; việc bỏ hoang các vị trí này sẽ gây rủi ro đối với con người và vật nuôi.

– Các sản phẩm, hàng hóa gắn với địa danh bao gồm các biểu tượng, đặc sản, ẩm thực, văn hóa bản sắc dân tộc…chưa được phát huy, vì vậy chưa quảng bá được những đặc thù địa lý nhân văn.

Tóm lại, tài nguyên địa chất, địa mạo (Núi, đồi, đồng bằng, sông, rạch…) đã được sử dụng hiệu quả trong phát triển kinh tế địa phương. Tuy vậy, những giá trị khoa học, giá trị bổ sung (sinh thái, thẩm mỹ, văn hóa, kinh tế) của nguồn tài nguyên này chưa được khai thác. Một chương trình nghiên cứu địa du lịch vùng đồi núi An Giang được thực hiện sẽ góp phần bảo tồn các di sản tự nhiên, nâng cao chất lượng các điểm du lịch.

Một số hình ảnh theo lộ trình:

Núi Ba Thê (thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) nhìn từ khu di tích Gò Cây Thị
Bàn chân Tiên in trên đá granit trong khuôn viên Sơn Tiên Tự tại đỉnh cao nhất núi Ba Thê (221 m)
Thạch Đại Đao (trên đỉnh thấp hơn đỉnh có Sơn Tiên Tự), một điểm thăm quan lý thú tại khu vực Ba Thê, Óc Eo
Đá chồng núi Ba Thê (gần đỉnh Thạch Đại Đao)
Di tích Gò Cây Thi A (một trong những di chỉ thuộc nền văn hóa Óc Eo) được Louis Malleret khai quật năm 1944
Tháp đá Tà Pạ (huyện Tri Tôn) tại moong khai thác đã ngưng hoạt động. Các nhà địa chất thiết lập hệ tầng Tà Pạ (T3-J1tp) gồm bột kết, phiến sét, cát sạn kết màu tím gụ, vàng, xám đen
Hồ Thủy Liêm (hồ nhân tạo) khu vực đỉnh núi Cấm, ven hồ có chùa Vạn Linh và tượng phật Di Lặc
Đến núi Cấm du khách sẽ được thưởng thức món Bánh xèo với rau rừng. Rau rừng xanh tươi chính là thứ tạo nên sức hấp dẫn của món Bánh xèo núi Cấm. Quán Bánh xéo Út Anh ngay chân dốc ga đến Cáp Treo, vợ chồng chủ quán luôn niềm nở, sẵng lòng chỉ dẫn từng loại rau cho du khách
Quán Bánh xèo Út Anh có tới 20 loại rau rừng. Ông chủ quán đang chỉ dẫn cho Hạnh và Tiên từng loại rau tại quán
Núi két còn gọi là núi Ông Két là một trong những điểm du lịch tâm linh của huyện Tịnh Biên
Cánh đồng lúa Tha La, huyện Tịnh Biên
Lăng Thoại Ngọc Hầu và Châu Thị Tế tại chân Núi Sam
Miếu Bà Chúa Xứ tại chân núi Sam, thành phố Châu Đốc – một điểm du lịch tâm linh nổi tiếng
Cảnh quan đồng bằng tây chùa Hang, nơi có kênh Vĩnh Tế chạy qua
Hàng thổ cẩm của phụ nữ Chăm tại Cồn Tiên, Châu Đốc

H & H

Vì sao Stonehenge được xây dựng?

Biên dịch & Hiệu đính: Lê Hoàng Giang

Mặc dù là một trong những địa danh nổi tiếng nhất thế giới, nhưng vòng tròn đá có niên đại tiền sử có tên Stonehenge vẫn chìm trong bí ẩn. Nằm trên Đồng bằng Salisbury ở Wiltshire, Anh, Stonehenge đã được xây dựng qua nhiều giai đoạn trong khoảng từ năm 3000 đến 1500 TCN, trải dài từ thời Đồ Đá Mới sang thời Đồ Đồng. Quy mô khổng lồ của nó cho thấy Stonehenge phải có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với những dân tộc cổ đại đã xây dựng nên nó, song mục đích của công trình này vẫn là chủ đề phỏng đoán trong suốt nhiều thế kỷ.

Những giả thuyết đưa ra nhiều vô kể, cho rằng Stonehenge là mọi thứ từ một trung tâm chữa bệnh cổ đại cho đến nơi hạ cánh của người ngoài hành tinh. Thế kỷ 17 – 18, nhiều người đã tin rằng Stonehenge là một đền thờ của những người Druid, [1] được các Druid xứ Celt xây nên làm trung tâm thờ cúng. Dù nhiều học giả gần đây đã kết luận Stonhenge có lẽ đã xuất hiện trước người Druid khoảng 2000 năm, các cộng đồng Druid ngày nay vẫn coi đây là điểm đến cho những cuộc hành hương của họ.

Một giả thuyết lâu đời về mục đích của Stonehenge đã được đưa ra bởi các học giả thế kỷ 18, những người quan sát thấy rằng lối vào công trình này nhìn thẳng ra hướng mặt trời mọc vào ngày hạ chí. Nhiều người cho rằng vị trí như vậy nghĩa là các nhà thiên văn cổ đại có thể đã dùng Stonehenge làm một dạng lịch mặt trời, để theo dõi sự di chuyển của mặt trời, mặt trăng, và đánh dấu sự chuyển mùa.

Tuy nhiên, một giả thuyết mới đã được đưa ra khi gần đây người ta tìm thấy hàng trăm mảnh xương người tại Stonehenge, những mảnh xương người này có niên đại dao động trong khoảng 1000 năm, và có dấu hiệu đã được hỏa táng trước khi được đem chôn. Những mảnh di hài này cho thấy Stonehenge có thể đã được dùng làm khu vực chôn cất thời cổ đại cũng như một khu tổ chức lễ nghi và đền thờ người chết.

Năm 2010, các nhà khảo cổ đã tìm ra một vòng tròn đá thứ hai nằm cách công trình đầu tiên chỉ hơn 1 dặm (khoảng 1,6km). Công trình thứ hai này được gắn tên “Bluestonehenge” vì ban đầu được xây từ 25 tảng đá xanh xứ Wales (Welsh bluestone), và đã cung cấp thêm bằng chứng cho thấy Stonehenge có thể đã là một phần của một khu tưởng niệm lớn, tại đó các nhân vật có địa vị cao sẽ tham gia vào các nghi lễ quan trọng để tưởng nhớ người chết. Song vì không có bất kỳ ghi chép thành văn nào, giả thuyết này – cũng như mọi giả thuyết khác về mục đích của Stonehenge – chỉ có thể là phỏng đoán.

——————

[1] Druid là người thuộc tầng lớp tinh hoa trong xã hội các dân tộc xứ Celt ở Gaul, đảo Anh, và Ireland cổ đại. Họ thường là các thi sĩ, thầy thuốc, song phổ biến nhất là các tu sĩ và lãnh tụ tôn giáo. Tham khảo từ Wikipedia, Oxford Learner’s Dictionary, và The Free Dictionary.

Nguồn: http://nghiencuuquocte.org/2015/10/26/vi-sao-stonehenge-duoc-xay-dung/

Bài tiếng Anh: http://www.history.com/news/ask-history/why-was-stonehenge-built

Vòng tròn đá Stonehenge. Nguồn Internet
Stonehenge từ bên trong. Ảnh: dannysullivan. Nguồn: Internet
Mặt trời mọc trên Stonehenge. Nguồn: Internet

Một số Hình ảnh tại Cửa Lộc An 23.04.2017

Một đoạn bờ kè kiên cố đang được triển khai. Doi cát phía đông cửa Lộc An tiếp tục phát triển về phía tây nam. Các khối đá chắn tạm đoạn bờ tây xói lở được kéo dài thêm khi các stabiplage không còn tác dụng. Xói lở bờ tiếp tục dịch dần về phía tây, lấn sâu vào đất liền.

Dường như các cơ quan chức năng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn chưa đưa ra được giải pháp thích hợp để ngăn chặn tai biến bồi tụ – xói lở tại đây.

Trước khi xem những hình ảnh ngày 23.04.2017 tại cửa Lộc An, hãy đọc đoạn trích dẫn dưới đây từ bài: Công trình chống xói lở bờ biển Lộc An: Nhà thầu nước ngoài lỗi hẹn:

Nguồn: http://www.baobariavungtau.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/201611/cong-trinh-chong-xoi-lo-bo-bien-loc-an-nha-thau-nuoc-ngoai-loi-hen-706873/

“Dự án đầu tư xây dựng công trình thí điểm xử lý chống xói lở bờ biển bằng công nghệ mềm Stabiplage tại vùng biển Lộc An, huyện Đất Đỏ được triển khai thực hiện theo Quyết định số 432/2011/QĐ của UBND tỉnh. Theo đó, Sở KH-CN được giao làm chủ đầu tư; Tổ chức tư vấn lập dự án là Công ty Espace Pur – CH Pháp; Chủ nhiệm lập dự án là ông Jean Cornic – Giám đốc kỹ thuật Công ty Espace Pur. Dự án có tổng mức đầu tư hơn 32 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tỉnh chi cho hoạt động khoa học – công nghệ. Ngày 10-5-2011, Sở KH-CN ký kết Hợp đồng số 26/SKH-CN với Công ty Espace Pur thực hiện dự án chống xói lở bờ biển bằng công nghệ mềm Stabiplage tại xã Lộc An, huyện Đất Đỏ. Công trình đã được thi công và hoàn thành vào ngày 26-10-2011, đã được hai bên nghiệm thu đưa vào sử dụng và chuyển sang chế độ bảo hành”

Sau vài năm đưa vào sử dụng, công trình đã xuống cấp trầm trọng, cần phải duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ. Tuy nhiên, nhà thầu tư vấn nước ngoài cứ hẹn lần hẹn lữa, đến nay vẫn chưa thực hiện yêu cầu sửa chữa công trình này”.

Xói lở tại vị trí đang kè bê tông là do doi cát phía đông phát triển. Stabiplage (S) cửa sông cũng góp phần làm tăng xói lở (nơi đang được kè)
Bờ kè kiên cố đang dần hoàn thiện, thực ra có những giải pháp hiệu quả hơn để kiểm soát đoạn bờ xói lở này.
Các mỏ hàn vuông góc với kè bê tông thực hiện tại đây là không thích hợp
Doi cát tiếp tục phát triển về tây nam là nguyên nhân trực tiếp gây xói lở bờ tây.
Các ghe đánh bắt cá phải chạy vòng qua doi cát ngầm để vào “cảng cá Lộc An”
Stabiplage này chỉ còn là di tích
Kè bờ tạm bằng đá khối, nơi các Stabiplage gần như đã bị phá hủy hoàn toàn
Đoạn bờ không có kè đá bị xói lở
Hàng dương bị phá hủy bởi sóng biển
Các Stabiplage còn lại đang mất dần tác dụng
Các bao cát có bảo vệ được điểm du lịch khỏi xói lở?
Có thể Stabiplage này sẽ không còn trong năm sau?

H & H

50 CÂU TRÍCH DẪN VỀ DU LỊCH TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT MỌI THỜI

Đã đến lúc đưa niềm đam mê xê dịch của bạn lên một cấp độ mới với danh sách của chúng tôi bao gồm những câu trích dẫn về du lịch truyền cảm hứng nhất mọi thời đại. Từ những bài thơ mang tính biểu tượng và các tác giả cho tới các triết gia và các câu tục ngữ của các dân tộc, những câu trích dẫn truyền cảm hứng nhất ở đây ít nhiều đảm bảo sẽ khiến bạn tiếp tục lên kế hoạch cho chuyến du lịch tiếp theo ngay khi bạn đọc hết…

  1. “Nói một ngôn ngữ chính là chấp nhận một thế giới, một nền văn hóa.” – Frantz Fanon
  2. “Không gì giúp phát triển trí thông minh như là đi du lịch.” – Emile Zola
  3. “Ai cũng phải di du lịch để học hỏi.” – Mark Twain
  4. “Hãy ngắm nhìn thế giới. Điều đó tuyệt vời hơn bất cứ giấc mơ nào. “- Ray Bradbury
  5. “Đầu tư vào du lịch là một khoản đầu tư cho bản thân.” – Matthew Karsten
  6. “Cuộc sống là một cuộc phiêu lưu đầy táo bạo hoặc không là gì cả.” – Helen Keller
  7. “Một cuộc hành trình không phải được đo bằng dặm mà được đo bằng tình bạn.” – Tim Cahill
  8. “Du lịch – ban đầu nó khiến bạn không thốt nên lời, và sau đó biến bạn trở thành một người kể chuyện.” – Ibn Battuta
  9. “Tôi thích cảm giác được là kẻ vô danh trong một thành phố xa lạ.” – Bill Bryson

    10 .”Đừng bao giờ ngần ngại đi xa hơn nữa, vượt qua mọi đại dương, mọi biên giới, mọi quốc gia và mọi đức tin.” – Amin Maalouf

  1. “Có một loại phép thuật đó là đi xa hơn nữa sau đó trở về và hoàn toàn thay đổi.” – Kate Douglas Wiggin
  2. “Đi chính là để tiến hóa.” – Pierre Bernardo
  3. “Một khi bị nhiễm niềm đam mê du lịch, chẳng có phương thuốc nào có thể hóa giải, và tôi biết rằng tôi sẽ hạnh phúc khi có căn bệnh này cho đến hết cuộc đời.” – Michael Palin
  4. “Ồ, những nơi mà bạn sẽ tới!” – Dr Seuss
  5. ” Kẻ lữ hành giỏi không có lịch trình cố định, và cũng chẳng có ý định cập bến.” – Lão Tử
  6. “Tôi chưa đi được hết mọi nơi nhưng tất cả đều nằm trong danh sách điểm đến của tôi.” – Susan Sontag
  7. ” Kẻ lữ hành nhìn thấy những gì họ muốn thấy. Khách du lịch nhìn thấy những gì họ phải thấy.” – GK Chesterton
  8. “Đích đến của chúng ta không phải là một vùng đất, mà là một cách nhìn mới.” – Henry Miller
  9. “Hãy thôi lo lắng về những ổ gà trên đường và tận hưởng cuộc hành trình.” – Fitzhugh Mullan
  10. “Hãy chỉ nhớ những kỷ niệm, và để lại những dấu chân.” – Chief Seattle
  11. “Mỗi năm một lần, hãy tới một nơi mà bạn chưa từng tới.” – Đức Đạt Lai Lạt Ma
  12. “Du lịch không phải là việc bạn làm tốt. Đó là điều bạn làm. “-. Gayle Forman
  13. “Du lịch chính là được sống.” – Hans Christian Andersen
  14. “Du lịch là để khám phá ra rằng mọi người đều hiểu sai về những đất nước khác.” – Aldous Huxley
  15. ” Thế giới là một cuốn sách, và ai không đi chỉ đọc được một trang.” – St. Augustine
  16. “Nếu bạn muốn đi xa và nhanh hơn, hãy đi thật nhẹ nhàng. Bỏ hết tất cả ganh tị, ghen ghét, cố chấp, ích kỷ và sợ hãi. “- Cesare Pavese
  17. “Tôi đã gặp rất nhiều người ở châu Âu. Thậm chí tôi còn bắt gặp chính bản thân mình. “- James Baldwin
  18. ” Không phải ai lang thang cũng là đi lạc.” – JRR Tolkien
  19. “Du lịch khiến một người trở nên khiêm tốn. Bạn sẽ nhận ra bạn chỉ chiếm được một nơi rất nhỏ bé trên thế giới này. “- Gustave Flaubert
  20. “Chỉ trong các cuộc phiêu lưu một số người mới thành công trong việc hiểu được – và tìm ra chính bản thân mình.” – Andre Gide
  21. “Chúng ta đi không phải để trốn khỏi cuộc đời, chúng ta để thoát khỏi chính mình.” – Khuyết danh
  22. ” Khách du lịch không biết nơi nào họ từng đến, kẻ lữ hành không biết nơi nào họ sắp đến.” – Paul Theroux
  23. “Con người không dẫn dắt các chuyến đi, các chuyến đi dẫn dắt con người.” – John Steinbeck
  24. “Du lịch sẽ giết chết thành kiến, cố chấp, và bảo thủ.” – Mark Twain
  25. “Du lịch là thứ duy nhất bạn phải bỏ tiền mua nhưng lại khiến bạn giàu có hơn.” – Khuyết danh
  26. “Nếu bạn từ chối đồ ăn, bỏ qua phong tục, sợ hãi tôn giáo và lảng tránh người lạ, tốt hơn là bạn nên ở nhà.” – James Michener
  27. “Tôi hoàn toàn thay đổi sau khi đã nhìn thấy ánh trăng chiếu soi ở nửa bên kia thế giới.” – Mary Anne Radmacher
  28. “Nếu bạn không biết bạn đang đi đâu, mọi con đường đều giúp bạn đi tới đó.” – Lewis Carroll
  29. ” Không ai nhận ra rằng du lịch đẹp đến nhường nào cho đến khi họ về đến nhà và ngả đầu lên chiếc gối cũ kỹ, thân quen.” – Lâm Ngữ Đường
  30. ” Kẻ lữ hành mà không quan sát thì chẳng khác nào một con chim mà không có cánh.” – Moslih Eddin Saadi
  31. “Chỉ có người lang thang mới tìm ra những con đường mới.” – Tục ngữ Na Uy
  32. “Dù chúng ta lang thang khắp thế giới để tìm cái đẹp, nếu không mang theo nó bên mình, ta sẽ chẳng thể tìm được nó đâu.” – Ralph Waldo Emerson
  33. “Đi càng xa, tôi càng tiến gần đến bản thân mình.” – Andrew McCarthy
  34. “Tất cả những người hay mơ mộng đều biết rằng hoàn toàn có thể nhớ nhung một nơi hoàn toàn xa lạ, và thậm chí nhớ nhung nhiều hơn cả những vùng đất quen thuộc.” – Judith Thurman
  35. “Sống, du lịch, mạo hiểm, chúc phúc, và đừng hối tiếc.” Jack Kerouac

  ​​46. “Đích đến không phải là nơi bạn kết thúc chuyến đi mà đó là những rủi ro và những kỷ niệm bạn đã tạo ra trên suốt chặng đường.” – Penelope Riley

  1. “Những người sống nhìn thấy nhiều điều. Những kẻ lữ hành còn nhìn thấy nhiều hơn. “- Tục ngữ Ả Rập
  2. “Nếu bạn cho rằng phiêu lưu là nguy hiểm, hãy thử cuộc sống lặp đi lặp lại. Nó có thể gây chết người. “- Paulo Coelho
  3. “Du lịch dạy bạn biết khoan dung” – Benjamin Disraeli
  4. “Phiêu lưu thật đáng giá.” – Aristotle

Nguồn: http://www.ef.com.vn/blog/language/50-cau-trich-dan-ve-du-lich-truyen-cam-hung-nhat-moi-thoi/

Phá ghềnh đá trên dòng Mê Kông: mở mang hay phá hủy

BVR&MT – Suốt bề dài lịch sử, dòng Mê Kông hùng vĩ đã hút hồn bao du khách với những ghềnh xoáy, những dải cù lao và cồn rải rác. Tuy nhiên, đến nay những dải đá ngầm dưới lòng sông bị cho là đang cản trở hoạt động giao thông thủy trên dòng sông. Và cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học của dòng sông vĩ đại này đang bị đe dọa bởi kế hoạch phá mỏm đá và cù lao để mở đường cho giao thương xuyên biên giới.

Hàng trăm tổ chức phi chính phủ Thái đang vận động chiến dịch cứu lấy những cù lao sinh thái cũng như các ghềnh thác quý giá ở Khon Pi Luang (Ảnh: Tom Fawthrop)

Kế hoạch mở rộng giao thông thủy

Việc chính quyền Thái Lan xúc tiến kế hoạch phá đá ngầm và cù lao trên sông Mê Kông nhằm giúp các tàu hàng từ Trung Quốc di chuyển thuận lợi đang gây phẫn nộ trong giới môi trường.

Kế hoạch phát triển trên dòng Lan Thương – Mê Kông (2015-2025) bao gồm ba bước: khảo sát ban đầu, thiết kế và đánh giá môi trường và xã hội đã được Thái Lan phê duyệt tháng 12/2016.

Theo kế hoạch, Trung Quốc, Lào, Myanmar và Thái Lan sẽ lập đội khảo sát trên sông Mê Kông trước khi phát triển tuyến đường giao thông thủy để các tàu chở hàng lớn có thể di chuyển từ Vân Nam (Trung Quốc) sang Luang Prabang, thủ đô cũ của Lào, di sản thế giới cách Vân Nam 630 km về phía hạ lưu.

Kế hoạch yêu cầu chính phủ Thái Lan cho nổ mìn phá đá một dải dài 1,6 km dọc sông Mê Kông ở biên giới Lào. Tuy nhiên, chính quyền Thái Lan cho biết sẽ chưa phê duyệt dự án cho tới khi có kết quả khảo sát và đánh giá tác động môi trường (EIA).

Ảnh chụp (bằng máy điều khiển từ xa) các cù lao ở biên giới Thái-Lào (Ảnh: Shinshiro Kenji Authur).

Các nhà môi trường rất phẫn nộ trước đề xuất dự án này. Bà Painporn Deetes, giám đốc chiến dịch Thái Lan của Tổ chức Sông ngòi Quốc Tế (IR) cho rằng thật là vô lý nếu đánh đổi dòng sông tuyệt vời nhất thế giới, nơi cung cấp nguồn thủy sản nuôi sống hơn 60 triệu người để lấy con đường thương mại vận chuyển hàng hóa trong khi đường bộ có thể đáp ứng điều này.

Các chuyên gia Trung Quốc lại khẳng định chưa có bằng chứng nào cho thấy kế hoạch này sẽ gây hại cho hệ sinh thái của con sông. Giáo sư Chu Chân Minh (Học viện Khoa học Xã hội Vân Nam), chuyên gia về Đông Nam Á, cho rằng những người phản đối nên đợi kết quả nghiên cứu môi trường kỹ càng trước khi đưa ra phán xét. Đối với các hiểm họa tiềm tàng với các loài cá, ông này cho biết đã có nhiều trường hợp phá ghềnh đá và cù lao tương tự ở Vân Nam và chúng đều không gây ảnh hưởng gì lớn.

Tổ chức Sông ngòi Quốc tế không đồng tình với luận điểm trên. Tổ chức này khẳng định các cù lao, ghềnh đá và thủy sản đem lại nhiều lợi ích cho người dân bản địa: “Ghềnh đá và các dải đá ngầm là môi trường sống ven sông lý tưởng, là khu vực sinh sản và nơi trú ẩn an toàn cho cá. Việc nổ mìn phá các ghềnh đá sẽ đe dọa thu nhập và an ninh lương thực của dân cư ở các khu vực xung quanh” .

Lịch sử dự án

Chiến lược phát triển này bắt nguồn từ năm 1992 khi Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) khởi xướng chương trình 40 tỉ USD nhằm xây dựng đường cao tốc, lưới truyền tải điện, các đập nước lớn và phát triển du lịch ở khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông.

Kế hoạch nạo vét sông để các tàu thương mại di chuyển thuận lợi của Trung Quốc được khởi xướng vào thời điểm ký kết Hiệp định Giao thông thủy thương mại gồm 3 giai đoạn giữa Trung Quốc, Lào, Myanmar và Thái Lan hồi tháng 4/2001 mà không tham khảo ý kiến của Campuchia và Việt Nam.

Giai đoạn đầu của kế hoạch sẽ nổ mìn 11 ghềnh đá và 10 dải đá ngầm ven sông để tàu 100 -150 tấn di chuyển từ Vân Nam đến Chiang Saen, tỉnh Chiang Rai, Thái Lan. Hoạt động nổ mìn bắt đầu ở Thái Lan vào năm 2002 với sự cho phép của Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra.

Tuy nhiên, sau một đánh giá độc lập của Ủy ban Mê Kông (MRC), bản đánh giá tác động môi trường của Trung Quốc về hoạt động nổ mìn đã bị bác bỏ do thiếu gần như toàn bộ dữ liệu về cá và sinh thái.

Năm 2003, sau khi Bộ Quốc phòng Thái Lan phản đối dự án và khẳng định nếu tiếp tục dược triển khai dự án sẽ phá vỡ đường phân định biên giới Thái-Lào giữa dòng Mê Kông, Trung Quốc đã ngừng kế hoạch phá đá sau giai đoạn đầu.

Tháng 12/2016, Hiệp định này lại được tái xem xét nhưng chính phủ Thái Lan đề xuất cần có thêm khảo sát.

Tuy các nhà chức trách của Thái Lan nhận định rằng vận chuyển đường sông sẽ giảm chi phí 20% so với đường bộ nhưng Saowaruj Rattanakhamfu, chuyên gia kinh tế cấp cao của Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan bày tỏ hoài nghi sâu sắc về lợi ích của các dự án này: “Với tư cách một nhà kinh tế, tôi không nghĩ cho nổ đá để phục vụ thương mại trên sông là hợp lý. Chính phủ nên nghiên cứu xem có thật sự nên đầu tư hay không vì dự án này sẽ tác động rất xấu đến những người dân nghèo”.

Các nhà phê bình cũng nhận định Luang Prabang, di sản văn hóa được UNESCO công nhận, khu du lịch sinh thái có sức hút mạnh trong khu vực, sẽ sớm trở thành một tuyến thương mại nhộn nhịp và ô nhiễm của Trung Quốc, phá hỏng không gian yên bình và sự cuốn hút nổi tiếng của nó. Mặc dù vậy cũng có ý kiến cho rằng vận tải phát triển sẽ khiến nơi này thu hút nhiều du khách du lịch và thịnh vượng hơn.

Khủng hoảng trên sông Mê Kông

Nếu vẫn được triển khai, dự án phá đá sẽ là đòn giáng mạnh vào sông Mê Kông, con sông quan trọng nhất Đông Nam Á, đang hứng chịu nhiều hậu quả môi trường tích lũy từ các công trình xây đập lớn.

Một dãy 7 đập của Trung Quốc đã được xây ở thượng nguồn sông Mê Kông. Hai đập khác hiện đang được xây ở hạ lưu, trên lãnh thổ của Lào và dự kiến còn con đập thứ ba trên phần đất Lào, Pak Beng, cũng sẽ được khởi công trong năm 2017.

Thủy văn của dòng sông đã chịu nhiều biến đổi lớn. Nhịp lũ mùa mưa hàng năm bị gián đoạn nghiêm trọng do lưu lượng dòng chảy giảm.

Phù sa, trầm tích bị giữ lại ngày càng nhiều ở sau các con đập, kết quả là không đến được đồng bằng phía hạ lưu ở Việt Nam. Các nhà khoa học cho biết đồng bằng Sông Cửu Long đang vừa bị thu hẹp, vừa bị nhấn chìm dần.

Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược năm 2011 nhận định rằng cần trì hoãn 10 năm với tất cả các công trình thủy điện trên sông Mê Kông vì hậu quả của các đập này. Tuy nhiên, sau đó vẫn đã có thêm hai đập lớn tiếp tục được xây dựng ở hạ lưu sông Mê Kông – đập Xayaburi và đập Don Sahong – bất chấp cảnh báo của các nhà khoa học và sự phản đối kịch liệt của cộng đồng dân cư ven sông.

Báo cáo gần đây của WWF cảnh báo rằng việc vội vã xây 11 đập ở hạ lưu sông Mê Kông là một ví dụ điển hình “của phát triển không bền vững, đẩy hệ thống sông đến ‘bờ vực thẳm’.”

Bản đồ sông Mê Kông và các đập trên sông

Dữ liệu của MRC cho thấy nguồn cá nội địa lớn nhất thế giới của sông Mê Kông là nguồn lợi kinh tế quan trọng của khu vực. Đánh bắt cá ở bốn quốc gia MRC đem lại nguồn thu nhập trị giá 11 tỉ USD (giá trị này lên tới 17 tỉ USD nếu tính cả cá nuôi thả). Cơ chế quản lý lưu vực sông còn nhiều bất cập và chưa hợp lý đang đe dọa an ninh lương thực của 60 triệu người sống quanh khu vực.

Ở Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long cung cấp 50% lương thực cả nước và 90% lượng gạo xuất khẩu. Ông Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia uy tín về quản lý nguồn nước và lưu vực sông lo lắng rằng nếu không thể đảo ngược xu thế hiện tại thì Việt Nam sẽ mất hoàn toàn đồng bằng sông Cửu Long: Nếu cả 11 đập được xây ở hạ lưu sông Mê Kông, Việt Nam sẽ không còn là quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập vì thiếu trầm tích và phù sa. Trong 20-30 năm nữa, đồng bằng sông Cửu Long sẽ không thể dung dưỡng dân số 18 triệu người. Người dân sẽ bị buộc di cư đi nơi khác, dẫn đến nhiều bất ổn và tị nạn môi trường.

Hàng trăm tổ chức phi chính phủ của Thái đang vận động một chiến dịch cứu lấy những cù lao sinh thái cùng những ghềnh thác quý giá ở Khon Pi Luang. Lãnh đạo chiến dịch Niwat Roykaew đã nộp đơn lên Ủy ban Nhân quyền Quốc gia (NHRC) để phản đối quyết định của chính phủ Thái.

Cách duy nhất để các quốc gia Mê Kông cùng tiến bộ và phát triển là phải vượt ra ngoài cái “tâm lý ao nhỏ. Cứ với “cái tâm lý ao nhỏ” thì không thể hiểu được bức tranh lớn của việc chia sẻ tài nguyên nước và tôn trọng cả dòng sông.” Tiến sĩ Trần Đình Thiện, Viện trưởng Viện Kinh tế Hà Nội, bình luận.

Hồng Việt (Theo thethirdpole.net)

Nguồn: http://baovemoitruong.org.vn/pha-ghenh-da-tren-dong-me-kong-mo-mang-hay-pha-huy/

Bản tiếng Anh: https://scroll.in/bulletins/56/how-the-dream-of-low-cost-housing-in-india-can-become-a-reality

Biển tiến Flandrian và dấu ấn để lại vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Hà Quang Hải

Biển tiến Flandrian (còn gọi là Biển tiến Sau Băng hà) đã để lại vùng đồng bằng Sông Cửu Long một hệ tầng trầm tích biển dày 15 – 20 m trải khắp đồng bằng; các bậc thềm ven rìa vùng Tri Tôn – Tịnh Biên, các giồng cát biển ở Cai Lậy và các hõm gặm mòn cao 5.0 m trên vách núi đá vôi Kiên Lương. Những di chỉ địa chất, địa mạo này là những minh chứng cho sự kiện biến đổi khí hậu qui mô toàn cầu – đó là sự tan rã băng hà khởi phát từ khoảng 21000 năm trước dẫn đến sự dâng cao mực biển lên hàng trăm mét. Biển tiến cực đại Flandrian trong thời đoạn 5600 – 4200 năm trước với mức cao 5 m so với mực biển hiện nay đã biến phần lớn diện tích đồng bằng Sông Cửu Long thành biển nước, chỉ còn những khối núi nhỏ bé nhô lên như những hòn đảo.

Nhìn lại sự kiện biển tiến Flandrian để thêm một lần nữa thấy rằng con người thật sự nhỏ bé so với thiên nhiên, để từ đó tìm kiến những giải pháp ứng xử với hiện tương được xem là biến đổi khí hậu đang diễn ra một cách hài hòa, không thờ ơ, nhưng cũng không nên la hoảng.

I.Biển tiến Flandrian qui mô toàn cầu

Tên gọi biển tiến Flandrian đã được áp dụng cho sự dâng cao mực nước biển ảnh hưởng đến các vùng ven bờ biển trên qui mô toàn cầu bắt đầu cách ngày nay khoảng 20000-21000 năm trước. Sự dâng cao mực nước biển này liên quan trực tiếp đến sự tan chảy sau Băng hà Cực đại Cuối cùng (LGM-Last Glacial Maximum) bao gồm các băng hà Wisconsin (ở Bắc Mỹ); Wurm (ở alpine)… Tuy nhiên, tỷ lệ tan băng và mực nước biển dâng không ổn định theo thời gian. Mực biển tăng nhanh trong các thời kỳ ấm, tạm dừng hoặc thậm chí giảm trong các thời kỳ lạnh, nhưng xu hướng là tăng lên tới mức hiện tại [11].

Trong thời kỳ LGM, mực nước biển phân bố ở mức -70 đến – 150 m (tùy theo giải thích của từng tác giả) so với mực biển hiện nay. Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng mực nước biển thấp nhất tương ứng với vị trí gần “điểm gấp khúc” ở rìa ngoài thềm lục địa. Điểm gấp khúc này xảy ra khoảng 100 mét dưới mực nước biển hiện tại ở các thềm lục địa ổn định kiến tạo trên khắp thế giới [11].

Đường cong biểu diễn đợt biển tiến Flandrian (Hình 1) cho thấy mực nước biển thấp hơn hiện nay khoảng 120 m vào LGM. Sự tan rã các lớp phủ băng hà đã làm mực nước biển tăng lên với tốc độ trung bình 1m/thế kỷ, tốc độ lên đến 16 mm/năm trong thời gian khoảng 18000-15000 năm trước; đạt tốc độ đỉnh khoảng 5 m/thế kỷ tại các xung tan chảy (meltwater).

Hình 1. Đường cong biến đổi mực biển sau băng hà (21.000 năm qua). Nguồn [9]

 II.Biển tiến Flandrian trên Sunda Shelf

Loạt bản đồ màu trên cơ sở phân tích không gian Mô hình Độ cao Số (DEM) từ Dữ liệu Độ cao của ETOPO2 Global đã mô tả địa hình Sunda Shelf (thềm lục địa Đông nam Á) bị biển tiến Flandrian nhận chìm từ LGM [7]. Sunda Shelf dần bị nhận chìm khi mực nước biển bắt đầu tăng từ -116 m (so với mức hiện tại) vào khoảng 21 nghìn năm trước (Hình 2, 3) đến mức tối đa + 5 m trên mực biển hiện tại vào Holocen giữa (4200 năm trước) (Hình 2, 4). Như vậy, vào 4200 năm trước, gần như toàn bộ diện tích đồng bằng sông Cửu Long nằm dưới nước biển.

Hình 2. Đường cong dâng mực biển từ 21.000 đến 4.200 năm trước. Nguồn [7]
Hình 3. Thềm Sunda 21 ngàn năm trước ngày nay, mực biển là -116 m so với mực biển hiện tại. Nguồn [7]
Hình 4. Mực biển cực đại 4.200 năm trước (Holocen giữa) là +5 m so với mực biển hiện nay. Nguồn [7]

III. Các dấu ấn của biển tiến Flandrian vùng đồng bằng Sông Cửu Long

III.1 Các trầm tích biển

Biển tiến Flandrian có nhiều tên, tùy thuộc vào khu vực và khoảng thời gian nghiên cứu. Tên gọi Flandrian lần đầu tiên được đề xuất vào cuối thế kỷ XIX để chỉ “trầm tích cát Campinian” của vùng Flanders và Campers của Anvers. Dubois (1924) xếp vào giai đoạn Flandrian tất cả các trầm tích biển và lục địa đặc trưng cho sự dịch chuyển bờ biển từ mực biển tối thiểu tương ứng với LGM đến hiện tại [6].

Vùng đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng và các đồng bằng thấp ven biển Việt Nam đều ghi nhận sự hiện diện các trầm tích biển hình thành vào giai đoạn biển tiến Flandrian cực đại.

Tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Tây Nam Bộ), Nguyễn Ngọc Hoa và nnk. đã thiết lập hệ tầng Hậu Giang dày 15 m (lỗ khoan Cần Thơ) gồm các trầm tích bột, sét, cát. Các trầm tích này chứa các hóa thạch biển như: Asterorotalia pulchella, Ammonia annectens, Pseudorotalia schroeteriana, Elphidium crispum. Hệ tầng Hậu Giang có tuổi C14: 5550 ± 80 năm và 8200 ± 100 năm, được hình thành trong giai đoạn biển tiến Holocen trung [4].

Ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, các trầm tích hệ tầng Bình Chánh (lỗ khoan Chợ Đệm, Bình Chánh) [3] gồm sét bột, cát sạn phân bố ở độ sâu 5 – 27 m chứa phong phú hóa thạch foraminifera gồm các loài như: Asterorotalia pulchella multispinora, Asterorotalia pulchella, Ammonia japonica, Elphidium crispum.

Chúng tôi đề nghị tên gọi biển tiến Hậu Giang cho vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng Sông Cửu Long) và biển tiến Bình Chánh cho vùng Đông Nam Bộ. Biển tiến Hậu Giang và Bình Chánh tương đương với biển tiến toàn cầu Flandrian.

III. 2 Thềm biển rìa tây đồng bằng

Các trầm tích biển tuổi Holocen sớm – giữa chủ yếu là cát, sạn sỏi dày trung bình 1,5 m cấu tạo thành bậc thềm 1 cao 2-4 m, phân bố rộng quanh vùng Tri Tôn – Tịnh Biên. Ở khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia qua kênh Vĩnh Tế, bề mặt thềm 1 rộng tới 5 km. Trầm tích thềm 1 được mô tả chi tiết tại thị trấn Hà Tiên [1, 2]. Một nghiên cứu thềm biển vùng Nam Bộ mới đây cho thấy thềm biển vùng Tri Tôn – Tịnh Biên thuộc mức thềm 2, cao 4 – 6 m (phổ biến độ cao 5.0 m) có tuổi Holocen giữa [5].

III.3 Giồng cát biển Cai Lậy

Kết quả phân tích tuổi các giồng cát vùng đồng bằng Sông Cửu Long bằng OSL cho thấy các giồng Cai Lậy có tuổi từ 5600 đến 4600 năm. Tuổi này tương đồng với tuổi C14 trầm tích bãi triều trong lõi khoan TA (4500-4880 năm). Các trầm tích bãi triều trong lõi khoan GGM cách Cai Lậy khoảng 50 km về phía Tây Bắc (Hình 5A và 5B) có tuổi C14 là 6370-6720 năm [10].

Những tuổi trên cho thấy ở phần bắc của đồng bằng Sông Cửu Long, đường bờ đã bồi đắp trong thời kỳ nước đứng cao của mực biển Holocene giữa để tạo thành giồng Cai Lậy (Hình 5c) [10].

Hình 5. A, B: Tuổi OSL giồng cát và tuổi C14 trầm tích lõi khoan. C: Đường cong mực biển tương đối đồng bằng Sông Cửu Long từ 10 ngàn năm. Nguồn [10].

III.4 Các hõm gặm mòn (notch)

Trên các vách đá vôi vùng Kiên Lương có nhiều mức hõm gặm mòn, là các dấu ấn mực nước biển trong quá khứ. Tại núi Hang Cây Ớt, ba mức hõm gặm mòn song song kéo dài hàng km tạo nên một dạng địa hình lý thú (Hình 6). Do hoạt động khai thác vật liệu, các hõm gặm mòn nay chỉ còn một phần phía tây núi Hang Cây Ớt, ấn tượng nhất là các hõm gặm mòn tại hang Cá Sấu.

Hình 6: Ba hõm gặm mòn (mũi tên đỏ) tại dãy núi Hang Câu Ớt kéo dài khoảng 1 km, nay phần phía đông đã là mỏ đá đang khai thác

Tại hang Cá Sấu,  ba mức hõm gặm mòn được đo đạc, lấy bề mặt đồng bằng cao 0.5 m làm cơ sở. Độ cao và bề rộng các hõm gặm mòn như sau (Hình 7).

Hõm 3 (cao): cao 4.8 m, bề rộng hõm 0.7 m

Hõm 2 (giữa): cao 2.9 m, bề rộng hõm 0.7 m

Hõm 1 (thấp): cao 0.9 m, bề rộng hõm 0.8 m

Hình 7: Độ cao và bề rộng ba mức gặm mòn tại hang Cá Sấu

Tuổi hình thành các hõm gặm mòn tại hang Cá Sấu được so sánh với hõm gặm mòn ở Chùa Hang và tuổi thềm biển các đảo ở Nam Bộ.

Tại Chùa Hang (Hòn Chông), mẫu C14 vỏ sò (Hình 8) gắn trong hõm cao 2.0 – 3.0 có tuổi 3100 ± 80 năm [1, 2].

Hình 8: Vò sò tại hõm gặm mòn Chùa Hang có tuổi C14 là 3100 ± 80 năm. Nguồn [1, 2]

Ở Côn Đảo, Phú Quốc và Thổ Chu, nơi một số mẫu C14 (san hô, vỏ sò) được thu thập và phân tích theo các mức thềm biển [8]:

Thềm cao 5.0 m có tuổi: 5480 ± 82 năm (trung bình 12 mẫu),

Thềm cao 2-4 m có tuổi 3180 ± 100 (trung bình 6 mẫu)

Thềm cao 1.0 m là 1025 ± 45  (trung bình 2 mẫu).

Như vậy có thể xếp:

– Hõm 3 cao 4.8 m tương đương với thềm biển cao 5.0 m (có tuổi trung bình là 5480 năm) và có cùng mức tuổi với giồng cát Cai Lậy (5600 – 4600 năm).

– Hõm 2 cao 2.9 m tương đương với thềm biển cao 2 – 4 m (tuổi trung bình là 3180 năm), mức này có thể cùng tuổi giồng cát Trà Vinh (3570 và 3330 năm), giồng khởi đầu cho giai đoạn biển lùi vào đầu Holocen muộn.

– Hõm 1 cao 0.9 m tương đương với thềm biển cao 1.0 m (1025 năm) có cùng tuổi với các giồng cát phân nhánh ở trung tâm đồng bằng Bến Tre và Trà Vinh (1500 – 1100 năm).

 IV.Kết luận

Biển tiến Flandrian đã để lại đồng bằng Sông Cửu Long những dấu ấn rõ nét bao gồm một hệ tầng trầm tích chứa phong phú các hóa thạch biển, bậc thềm biển ven rìa, giồng cát biển và hõm gặm mòn còn hằn sâu trên vách núi đá vôi ở Kiên Lương. Biển tiến Flandrian cực đại vào khoảng 5600 – 4200 năm cách ngày nay (Holocen giữa) với mực biển cao hơn mực biển hiện tại khoảng 5.0 m đã nhận chìm phần lớn diện tích đồng bằng Sông Cửu Long.

Sự rút lui của biển (biển thoái) đã dần để lộ và mở rộng đồng bằng với sự hình thành các thế hệ giồng cát trẻ hơn về phía biển. Hoạt động biển thoái diễn ra trong suốt Holocen muộn (từ khoảng 3.600 năm đến nay), có những thời đoạn dừng để hình thành giồng cát và các hõm gặm mòn trên vách đá vôi. Như vậy, xét theo qui mô nghìn năm, biển thoái Holocen muộn đã để lộ và mở rộng vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Huy Dũng và nnk. 2003, Phân chia địa tầng N – Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất đồng bằng Nam Bộ. Lưu trữ Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[2] Trương Công Đượng và nnk. 1998, Đo vẽ Địa chất và tìm kiếm Khoáng sản nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc tỉ lệ 1:50.000. Lưu trữ Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[3] Hà Quang Hải và nnk. 1987. Báo cáo lập bản đồ Địa chất và tìm kiếm Khoáng sản T.P. Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:50.000.

[4] Nguyễn Ngọc Hoa và nnk trong Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam. http://idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/Anpham/Tracuu_PVDC/Mucluc.htm

[5] Lê Hoài Nam. 2017. Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng. Luận án tiến sĩ khoa học Môi trường. Lưu trữ thư viện Trường Đại học KHTN. Đại học QG. TP.HCM.

[6] A.S. Goudie. 2004. Encyclopedia of Geomorphology. Routledge.

[7] Edlic Sathiamurthy, Harold K. Voris. 2006. Maps of Holocene Sea Level Transgression and Submerged Lakes on the Sunda Shelf. Chulalongkorn University.

[8] Korotky M., et al. (1995), “Late Pleistocene – Holocene coastal development of islands of Vietnam”, Journal of Southeast Asian Earth Sciences, 11(4), pp. 301-308.

[9] Robert A. Rohde: Changing Sea levels During the Past 25,000. Yearshttps://www.fws.gov/slamm/Changes%20in%20Sea%20Level_expanded%20version_template.pdf

[10] Toru Tamura et al. 2012. Origin  and      evolution         of         interdistributary          delta plains;            insights            from    Mekong           River   Delta. GEOLOGY, April 2.

[11] The Flandrian Transgression. https://3dparks.wr.usgs.gov/nyc/moraines/flandrian.htm

BÀI 2: XÓI LỞ – BỒI TỤ BỜ BIỂN ĐẢO PHÚ QUỐC

Lê Hoài Nam, Hà Quang Hải

Các phương pháp nghiên cứu xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc được áp dụng bao gồm: 1) xử lý tư liệu ảnh Landsat (1973-2013), 2) giải đoán ảnh Google (2005-2015), 3) khảo sát thực địa (2012-2016) và 4) phân tích DSA (hỗ trợ tính toán thống kê các thông số biến đổi đường bờ theo chuỗi thời gian tại các mặt cắt vuông góc với đường bờ biển).

I.Đặc điểm xói lở – bồi tụ theo phân bố địa lý đường bờ

I.1 Bờ Tây – xói lở ưu thế

Hầu hết bờ biển thuộc các tế bào bờ Tây đều bị xói lở, trong đó tế bào Dương Tơ (TB_T6) có mức xói lở lớn nhất. Bờ biển tế bào Dương tơ phân bố từ Mũi Ngàn Sao đến mũi Đất Đỏ (H.1), dài 16,6 km, gồm 2 kiểu bờ: KB_1 và KB_3.

– Kiểu bờ KB_1: thuộc bờ mài mòn (mũi nhô đá gốc), dài 2,2 km, phân bố hạn chế tại các mũi nhô nhỏ như mũi Ngàn Sao và mũi Đất Đỏ.

– Kiểu bờ KB_3: dài 14,4 km, bờ biển cát bị xói lở tạo vách cao 0,5-1,0 m cắt vào thềm biển bậc 1 cấu tạo bởi cát xám trắng, mịn. Bờ biển Dương Tơ có tốc độ xói lở mạnh. Tại điểm mặt cắt TM42, xói lở trong 10 năm có tốc độ trung bình 1,0 m/năm), xói lở đã làm các tượng đá khu du lịch Ngàn Sao nằm tách xa bờ biển (H.2). Tại điểm mặt cắt TM56, xói lở tạo nên các vách xâm thực cao 0,3-1,0 m (H.3).

H.1: Tế bào bờ biển Dương Tơ (TB_T6)
H.2: Tượng đá tách khỏi bờ biển tại TM42   H.3: Các vách xâm thực tại TM56

Nhận xét:

– Thuộc bờ Tây, các tế bào có kiểu bờ KB_3 càng dài thì xói lở càng mạnh (TB_T6 xói lở với tốc độ 1,6 m/năm, TB_T2 là 1,4 m/năm, TB_T5 là 1,2 m/năm và TB_T3 là 1,1 m/năm) hay nói cách khác các tế bào có khoảng cách giữa các mũi nhô càng ngắn thì xói lở càng yếu (TB_T1 và TB_T7).

– Bồi tụ chỉ xuất hiện hạn chế ở cửa sông Cửa Cạn và Dương Đông thuộc tế bào TB_T4 và TB_T5, nơi có vật liệu được cung cấp từ các lưu vực có diện tích rộng, chiều dài dòng chảy lớn.

Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ Tây được trình bày trên H.4 và Bảng 1.

H. 4: Xói lở, bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Tây
Bảng 1. Tốc độ xói lở-bồi tụ bờ biển trung bình các tế bào bờ Tây

I. 2 Bờ Đông – bồi tụ ưu thế

Hầu hết bờ biển thuộc các tế bào bờ Đông bồi tụ, lớn nhất là bờ biển tế bào Hàm Ninh (TB_Đ3). Bờ biển tế bào Hàm Ninh phân bố từ mũi Gành Giao đến mũi Đền Phách (H.5), dài 16,5 km, gồm 2 kiểu bờ là KB_1 và KB_4.

– Kiểu bờ KB_1: dài 6,0 km, xói mòn yếu đến rất yếu tại các mũi đá gốc nhô ra biển.

– Kiểu bờ KB_4: dài 10,5 km, bờ biển bồi tụ mạnh tạo nên các bãi bồi rộng (H.6), có nơi lấn mạnh ra biển như mũi Dương (H.7).

H.5: Tế bào bờ biển Hàm Ninh (TD_ Đ3)
H.6: Bờ bồi tụ tại bãi Hàm Ninh (ĐM31)    H.7: Bãi bồi tại Mũi Dương (ĐM36)

Trên ảnh viễn thám thấy rất rõ các dải cát ngầm gần như song song với đường bờ biển, kéo dài và mở rộng từ mũi Đá Bạc đến mũi Dương (H.8). Sự phân bố các dải bồi tụ này cho thấy tác động của sóng hướng Đông chiếm ưu thế, nguồn cấp trầm tích chủ yếu từ rạch Hàm Ninh và rạch Cá.

H. 8: Bồi tụ tại tế bào Hàm Ninh (TD_ Đ3)

Nhận xét:      

– Ngoại trừ các mũi nhô đá gốc thuộc kiểu bờ KB_1 (xói mòn yếu), kiểu bờ KB_5 và KB_4 (bồi tụ) có mối liên quan rõ rệt với diện tích lưu vực. Ba tế bào phía Bắc (TB_Đ1, TB_Đ2) có tốc độ bồi tụ trung bình đến mạnh, trong đó lớn nhất là tế bào Hàm Ninh (> 1,0 m/năm), nơi có diện tích lưu vực lớn hơn.

– Các tế bào phía Nam (TB_Đ4, TB_Đ5, TB_Đ6) có tốc độ bồi tụ yếu hơn do nguồn cung cấp vật liệu hạn chế, lưu vực nhỏ, độ dốc thấp.

Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ Đông được trình bày trong H.9 và Bảng 2.

H.9: Xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Đông
Bảng 2. Xói lở-bồi tụ bờ biển trung bình các tế bào bờ Đông

I.3 Bờ Bắc – xói lở và bồi tụ yếu

Bờ biển Bắc có tốc độ xói mòn rất yếu tại các bờ đá gốc (KB_1) và bồi tụ yếu (< 0,5 m/năm) tại cửa rạch Vẹm và rạch Tràm (kiểu bờ KB_5). H.10 biểu diễn xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Bắc.

H.10: Xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Bắc

I.4 Bờ Nam – ổn định

Bờ biển thuộc tế bào TB_N1 có mức xói lở và bồi tụ yếu, nhiều đoạn bờ ổn định do được bảo vệ bởi các bờ kè bê tông. H.10 biểu diễn xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Nam.

H.11: Xói lở – bồi tụ bờ biển tế bào bờ Nam

II. Nhận xét chung

Bờ biển đảo Phú Quốc dài 153,3 km, trong 40 năm qua (1973-2013), xói lở ưu thế với tổng chiều dài là 100,8 km chiếm 65,8 %.

– Bờ Tây dài 54,0 km, xói lở 52,3 km (97 %), trong đó xói lở kiểu KB_3 là 27,8 km (51,5 %)

– Bờ Đông dài 66,9 km, bồi tụ 40,1 km (60 %), xói lở yếu tại các mũi nhô.

– Bờ Bắc có tốc độ xói mòn yếu tại các bờ đá gốc và bội tụ hạn chế tại các cửa sông nhỏ.

– Bờ Nam khá ổn định do được bảo vệ bởi các công trình bờ biển.

Tổng hợp kết quả nghiên cứu xói lở, bồi tụ bờ biển đảo PQ được trình bày trên H. 12, H. 13 và Bảng 3.

H. 12: Xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc
Bảng 3 Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc
H.13: Xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc

Dòng sông đầu tiên trên thế giới được đối xử như người

Sông Whanganui ở New Zealand được công nhận là một “thực thể sống”, trở thành dòng sông đầu tiên trên thế giới hưởng những quyền lợi pháp lý như một con người.

Theo NZ Herald, quyết định vô tiền khoáng hậu được quốc hội New Zealand thông qua hôm 15/3, kết thúc vụ kiện tụng dai dẳng nhất lịch sử nước này về mối quan hệ giữa cộng đồng người Iwi, một tộc người Maori, và dòng sông Whanganui.

Người Iwi đã đấu tranh để dòng sông được công nhận tư cách pháp nhân như hiện tại trong suốt 160 năm. Dòng sông giờ đây sẽ được đại diện về quyền và lợi ích hợp pháp bởi 2 cá nhân: một đến từ cộng đồng Iwi và một là đại diện hoàng gia.

“Tôi biết ấn tượng đầu tiên của một số người là cảm thấy vô cùng kỳ lạ khi trao cho một thành phần của tự nhiên tính chất con người về mặt pháp luật”, Bộ trưởng Đàm phán Hiệp ước Chris Finlayson nói. “Song chẳng có gì lạ hơn niềm tin của gia đình, hay các nhóm người, các xã hội gắn kết”.

Sông Whanganui được cư dân bản địa sùng bái. Ảnh: Radio New Zealand.

Quyết định của quốc hội New Zealand cũng bao gồm 80 triệu USD đền bù tài chính và 30 triệu USD gây quỹ nhằm cải thiện “sức khỏe” của dòng sông.

BBC tường thuật cộng đồng người Maori tại quốc hội New Zealand đón nhận tin vui trong nước mắt và âm nhạc.

“Dưới góc nhìn của một người sống ở Whanganui, tình trạng tốt đẹp của dòng sông liên quan trực tiếp đến hạnh phúc, thịnh vượng của người dân và vì vậy việc công nhận dòng sông đúng như bản chất của nó là điều quan trọng”, nghị sĩ Adrian Rurawhe nói.

Với người Maori, việc đối xử với một dòng sông như một con người là chuyện bình thường. Điều đó được phản ánh qua câu tục ngữ nổi tiếng của họ: “Tôi là sông và sông là tôi”.

Sông Whanganui là dòng sông dài thứ 2 ở New Zealand. Đây không phải là lần đầu tiên nước này trao tư cách pháp nhân cho một thành phần tự nhiên. Năm 2013, vườn quốc gia Tu Urewera cũng được công nhận tương tự.

Hành trình dòng sông được công nhận là ‘người’ ở New Zealand, Con sông dài thứ 2 New Zealand – sông Whanganui, vừa được quốc hội nước này công nhận là “con người hợp pháp”.

(Theo NZ Herald, Zing)

Sông Mê Kông kêu cứu: Bảo vệ nguồn nước đa quốc gia

Các chuyên gia kêu gọi tăng cường phối hợp quản lý nguồn nước giữa các nước khu vực sông Mê Kông và áp dụng khoa học kỹ thuật để tiết kiệm nước trong nông nghiệp.

Ngày 16.3, Đại học Cần Thơ và Học viện Hoàng gia Campuchia phối hợp tổ chức hội thảo với chủ đề “Cứu lấy nguồn nước sông Mê Kông cho nông dân”. Sự kiện này diễn ra tại Phnom Penh (Campuchia) trong bối cảnh các chuyên gia đang lo ngại về những thay đổi thất thường của nguồn nước ở thượng nguồn ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp và nguồn lợi thủy sản trong khu vực.

Theo các nhà khoa học, nguồn nước sông Mê Kông những năm qua đã thay đổi rất thất thường do sự ảnh hưởng kết hợp của nhiều yếu tố như các đập thủy điện, nạo vét sông và chuyển dòng ở thượng nguồn cũng như ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Các tác nhân này đã ngăn cản sự di cư sinh sản của các loài thủy sản cũng như xáo trộn chu kỳ lũ, khiến vùng hạ lưu thiếu nước trầm trọng hơn, nhất là vào mùa khô.

Nguồn nước – nguồn sống

Theo báo cáo “Nguồn nước và việc sử dụng nước tại Campuchia”, hệ thống sông Mê Kông là nguồn nước chủ yếu trong nông nghiệp và cung cấp nguồn lợi thủy sản. Hệ thống sông Mê Kông tại Campuchia có 486 km dòng chính, 110 km phụ lưu là sông Tonle Sap và hồ Tonle Sap với sức chứa khoảng 72 km3 nước.

Ông Nophea Sasaki, cố vấn Học viện Hoàng gia Campuchia và là đồng tác giả của báo cáo, nhận định nguồn nước có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển của Campuchia. Ước tính khoảng 80% dân số Campuchia là nông dân và họ sống nhờ vào nguồn nước dùng trong ăn uống, sinh hoạt cũng như nông nghiệp. Nông nghiệp đóng góp 27,5% GDP của Campuchia, tương đương 14 tỉ USD. “Khi mùa mưa kết thúc thì tình trạng thiếu nước trở nên nghiêm trọng tại nhiều nơi, đặc biệt là giữa mùa khô”, ông Nophea nói.

Theo GS-TS Lê Quang Trí tại Đại học Cần Thơ, nguồn nước sông Mê Kông cung cấp cho khoảng 18,6 triệu người ở ĐBSCL, nơi cung cấp hơn 50% nguồn lương thực cho cả nước, 65% sản lượng cá và 70% trái cây trong nước và xuất khẩu. “Người dân thường sinh sống tập trung dọc bờ sông, nhưng sự phát triển kinh tế xã hội của ĐBSCL đang bị kìm hãm bởi nguồn nước.

Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng kết hợp với các vấn đề nguồn nước xuyên quốc gia như các đập thủy điện, phát triển công nghiệp, phá rừng và chuyển dòng nước đã ảnh hưởng đến đất và sản xuất nông nghiệp, làm giảm sản lượng, đe dọa an ninh lương thực và tăng nghèo, bên cạnh các yếu tố suy thoái môi trường và tài nguyên thiên nhiên”, ông nói.

Theo Học viện Hoàng gia Campuchia, dòng chảy sông Mê Kông đã thay đổi rõ ràng vào thời điểm trước và sau khi đập Mạn Loan của Trung Quốc đưa vào hoạt động. “Việc sụt giảm mực nước và dòng chảy vào mùa mưa ở Campuchia có thể giảm khu vực ngập nước và lưu lượng phù sa cũng như tăng xâm nhập mặn ở ĐBSCL”, theo báo cáo của học viện tại hội thảo. Theo đó, tác động của dòng chảy phụ thuộc vào các yếu tố biến đổi khí hậu và vận hành thủy điện. Đập thủy điện có thể khiến đỉnh lũ thấp hơn và thời gian lũ cũng đến chậm và ngắn hơn.

Giải pháp bền vững

Trước những nguy cơ đe dọa nông nghiệp khu vực sông Mê Kông, các nhà khoa học đã đề nghị nhiều biện pháp nhằm giúp người nông dân giảm nhẹ thiệt hại và phát triển nông nghiệp bền vững. Đồng thời, các nước trong khu vực cần nhận thức rõ nguy cơ để cùng nhau giải quyết những thách thức.

Giáo sư Kazuyuki Inubishi tại Đại học Chiba (Nhật), người từng nghiên cứu rất nhiều về nông nghiệp ở Việt Nam và khu vực, đã đề xuất tăng cường áp dụng hình thức canh tác lúa “vụ khô, vụ ướt” nhằm giảm nhu cầu nước tưới tiêu. “Phương pháp này giảm lượng nước tưới tiêu hằng năm, đồng thời giảm lượng khí nhà kính khoảng 23 – 43%. Điều thú vị là nó cũng giúp tăng năng suất hằng năm và giảm quá trình sản sinh các khí độc, tăng cường ô xy cho đất”, ông nói.

PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu tại Đại học Cần Thơ, đề nghị giảm diện tích trồng lúa vào mùa khô, trồng các giống lúa chịu hạn và chuyển sang trồng những loại hoa màu cần ít nước ở vùng đất cao. Trả lời câu hỏi liệu có thể cứu lấy nguồn nước cho nông dân hay không, ông Tuấn cho rằng cần phải có “ngoại giao nước”, nghĩa là cần phối hợp chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới. “Cần có sự hợp tác của các nước khu vực sông Mê Kông nhằm đạt được lợi ích từ việc xây dựng chiến lược phối hợp và các khung pháp lý nhằm tiến tới quản lý nguồn nước xuyên biên giới tốt hơn”, ông Tuấn nói.

Theo chuyên gia Nguyễn Minh Quang tại Đại học Cần Thơ, nhiều nông dân đã tích trữ nước, xây bồn chứa nước mưa, khoan giếng, xây đập ngăn mặn… sau khi chịu thiệt hại từ mùa khô năm ngoái. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp giảm nhẹ tạm thời. “Việc tiếp tục tác động ngoại giao phản đối đập thủy điện trên sông Mê Kông cần tiến hành cùng với phát triển nông nghiệp bền vững, hiện đại hóa nông nghiệp và học hỏi các mô hình ngay từ người dân địa phương”, ông nói.

Trả lời phỏng vấn riêng với Thanh Niên, TS Manoch Kongchum thuộc Trung tâm nông nghiệp tại Đại học bang Louisiana (Mỹ), cho rằng hiện trạng nguồn nước khu vực Mê Kông mang tính quốc tế, nếu các quốc gia ở thượng nguồn không xét đến các nước hạ nguồn thì sẽ gây ra rất nhiều tác động. “Ở Việt Nam, nông dân sẽ rất thiếu nước ngọt cho nông nghiệp khi họ cần, nhưng khi họ không cần nước thì lại gặp phải vấn đề xả nước từ thượng nguồn. Việt Nam cũng cần rất nhiều nước để đẩy lùi xâm nhập mặn nhưng khi cần thì lại không có. Các con đập chỉ lợi ích trong việc sản xuất điện chứ không hề có ích trong việc điều phối nước”, TS Manoch nói.

Cũng theo ông Manoch, rất nhiều người sống nhờ dòng sông Mê Kông và nếu không có chính sách liên quan đến dòng chảy, nước sẽ bị ngăn từ trên thượng nguồn thì không chỉ nông nghiệp bị “giết chết” mà cả nguồn thủy sản cũng bị thiệt hại. “Cũng cần áp dụng các kỹ thuật tiết kiệm nước. Chẳng hạn vào mùa hè, sông Mê Kông không có nhiều nước, chúng ta có thể trữ nước vào mùa mưa. Tại các vùng trồng lúa, nên hy sinh những khu đất hoặc đồng ruộng để làm nhiều hồ trữ nước cho mùa khô, bởi một khi các đập xây dựng xong thì Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn”, ông Manoch khuyến cáo.

Còn tại Campuchia, TS Nophea Sasaki cho rằng người dân đều biết rõ về tác hại của đập thủy điện đối với các loài thủy sản, vốn là nguồn thực phẩm quan trọng tại đây. “Việc phát triển thủy điện cần phải được tư vấn rõ ràng để giảm thiểu tác hại và phát huy tối đa hiệu quả”, ông Nophea chia sẻ với Thanh Niên.

Khánh An

Nguồn: http://thanhnien.vn/the-gioi/song-me-kong-keu-cuu-bao-ve-nguon-nuoc-da-quoc-gia-816039.html