
Về nghe gió khát
Say tình chênh vênh
“Vì cuộc đời là những chuyến đi” và “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”
Mỗi lần đi là một lần trải nghiệm, tôi biết nhưng lại mặc nhiên cho thứ gọi là cảm xúc đã đủ đầy. Biển gợi về ký ức miên man, da diết mà tôi vẫn hoài muốn xóa đi, ấy nên trở lại với biển lần này chỉ mong những con sóng vội có thể gột rửa những gì còn vươn lại trong lòng vì bây giờ tôi biết vì sao “gặp nhau biển xô sóng trào”; một tâm thế pha trộn giữa hờ hững và đợi chờ, thâm thâm lại cũng mông mông, chẳng thể thốt nên lời. Không tham gia vào hành trình lần này, có lẽ tôi không hối tiếc mà sẽ là vô cùng hối tiếc, bởi tôi biết, chúng bạn cũng biết, rằng đây không phải là kỳ thực địa đầu tiên với những ngô nghê vụng dại mà kỳ thực là chuyến thực địa cuối cùng, cuối cùng trong quãng đời sinh viên rồi đấy, đã là cuối cùng ắt sẽ đọng lại chút gì đó, nghèn nghẹn gọi là… tôi tự phong cho mình là tiên tri để vẽ ra những thứ ấy!

Mỗi trang nhật ký hành trình như một lát cắt chân thực về cuộc sống và con người nơi tôi đã đi qua. Không chỉ là những bài học sách vở mà là cả hạt giống tâm hồn, mà tôi chắc rằng sẽ không đứa nào trong chúng tôi “lĩnh hội” giống nhau để rồi “nảy mầm” như nhau cả. Chẳng thể nào quên buổi sớm tinh sương mấy chiếc thuyền đánh cá trở vào bờ khi bình minh hãy còn chưa kịp ló dạng hay khung cảnh yên bình của làng chài một chiều lộng gió, vùng quê nghèo sỏi đá với buổi chợ tàn. Dăm ba món đồ, vài gánh hàng rong được bày bán trong ánh mắt đã dày dạn phong sương, trong cái làn da rám nắng; cái đu quay cũ rích nhưng tràn tiếng nói cười của lũ trẻ và cả chúng tôi. Mọi thứ lưng chừng chỉ bình dị như thế nhưng thấm vào tôi là cả cái mặn mà của những con người xứ biển.
Ngày 26 tháng 12 cuộc thi “Con người – Môi trường – Tài nguyên Đới bờ” được tổ chức để kết thúc môn học Quản lý tổng hợp đới bờ và Tài nguyên khoáng sản và bảo vệ mội trường. Cuộc thi năm nay bao gồm hai phần: 1) báo cáo kết quả đề tài (theo chủ đề đã phân công các nhóm thực hiện) và 2) triển lãm theo các thể loại: video clip, ảnh nghệ thuật, mô hình và các bài cảm nhận về chuyến đi. Tham gia cuộc thi là sinh viên thuộc ba chuyên ngành: KHMT; TNTT và MT; MT và TNB thuộc KMT_13.



Đọc tiếp “CUỘC THI “CON NGƯỜI – MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ” KMT_13”
Võ Thị Hồng Cẩm
1. Giới thiệu
Google Earth (GE) là một ứng dụng độc lập được xây dựng trên nền tảng sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin địa lý bất cứ nơi nào trên Trái đất. Google Earth sử dụng mô hình số độ cao – Digital Elevation Model (DEM), dữ liệu được thu thập bởi Topography Mission Shuttle Radar của NASA (SRTM), hệ tọa độ WGS 84, độ phân giải phổ biến là 15 mét, một số địa điểm có độ phân giải 15 cm (6 inch). [1]
Qua hơn 10 năm phát triển, GE đã đem đến nhiều lợi ích cho người sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là trong nghiên cứu và giảng dạy địa chất, địa lý. GE cho phép truy cập hình ảnh vệ tinh và ảnh hàng không miễn phí. GE cho phép chèn và chồng hình ảnh từ các nguồn dữ liệu khác, cơ sở dữ liệu tương thích với Google Earth có thể được chia sẻ dễ dàng trên internet khi sử dụng liên kết KML. Hình ảnh trong GE được cập nhật thường xuyên cho phần lớn các khu vực trên bề mặt trái đất và những thay đổi này có thể được quan sát bằng chức năng “Historical Imagery”.
Bài viết này trình bày sự biến đổi sử dụng đất quận 2, TP. HCM bằng việc giải đoán ảnh Google Earth giai đoạn 2005-2015. Các kết quả giải đoán ảnh được xử lý trong GIS để phục vụ cho việc phân tích địa lý nói chung và đánh giá biến động bề mặt địa hình nói riêng.
Trong điều kiện tiếp cận nguồn tài liệu đo đạc của các cơ quan quản lý đất đai khó khăn, việc giải đoán hình ảnh có độ phân giải cao, miễn phí từ GE là một lựa chọn tối ưu[2]. Hơn nữa, việc giải đoán ảnh sẽ cho những thông tin và số liệu khách quan, làm cơ sở so sánh với các kết quả điều tra, đo đạc.
2. Khu vực nghiên cứu
Quận 2 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hóa nhanh, bề mặt địa hình biến đổi với xu hướng chung là lấp dần vùng trũng, nâng cao mặt đất, tăng dần diện tích bê tông.
Quận 2 (hình 1) phân bố phía Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, tiếp giáp với Quận Thủ Đức ở phía bắc; Quận 7 ở phía tây nam (qua sông Sài Gòn) Quận 4, Quận 1 và Quận Bình Thạnh ở phía tây; Quận 9 ở phía đông.[3]

Đọc tiếp “ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT QUẬN 2, TP. HỒ CHÍ MINH BẰNG GIẢI ĐOÁN ẢNH GOOGLE EARTH”
T.T. Van, N. Wilson, V.Q. Minh, H. Thanh-Tung, K. Quisthoudt, L. Xuan-Tuan, F. Dahdouh-Guebas, N. Koedam
TÓM TẮT
Ảnh hàng không và vệ tinh đã được sử dụng để xác định sự thay đổi độ che phủ đất trong thời kỳ 1953-2011 ở Mũi Cà Mau, Việt Nam, đặc biệt liên quan đến những thay đổi khu vực rừng ngập mặn. Diện tích rừng ngập mặn đã giảm mạnh từ khoảng 71.345 ha vào năm 1953 đến 33.083 ha vào năm 1992, sau đó tăng lên 46.712 ha vào năm 2011. Diện tích rừng mất do chất diệt cỏ trong chiến tranh Việt Nam, khai thác quá mức, và chuyển đổi sang đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản được khuyến khích bởi các chính sách quản lý đất đai đang đang làm mất tác dụng một phần sự tái sinh tự nhiên và trồng lại rừng, đặc biệt là sự gia tăng dần mô hình hệ thống canh tác kết hợp tôm-RNM. Bản chất của thực thực vật rừng ngập mặn được chuyển đổi rõ rệt trong giai đoạn này. Các kết quả nghiên cứu có giá trị cho việc qui hoạch quản lý để hiểu và nâng cao sự đóng góp của rừng ngập mặn trong việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái và tài nguyên, sinh kế địa phương và lợi ích toàn cầu.
1. Giới thiệu
Việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng gây ra hậu quả suy giảm nguồn tài nguyên đã diễn ra ở VN một thời gian dài. Tại hạ nguồn sông Mekong, một vài nghiên cứu áp dụng viễn thám và GIS đã xác định các thay đổi của lớp phủ RNM có liên hệ tới hoạt động của con người. Tuy nhiên dữ liệu viễn thám theo thời gian bị khuyết trước thời kỳ chiến tranh VN (1962-1972), vốn là thời kỳ có tác động quan trọng đến rừng. Số liệu quan trắc giúp việc đưa ra mục tiêu thuận lợi hơn cho hoạt động bảo tồn, nhân sinh và quản lý bảo vệ đới bờ, thông qua việc tái lập đường cơ sở nhờ xác định thời gian và nguyên nhân những thay đổi lớn của rừng tốt hơn.
Trong nghiên cứu này, ảnh viễn thám tại sáu mốc thời gian từ 1953 đến 2011 được sử dụng để xác định những thay đổi của lớp phủ thảm RNM tại Mũi Cà Mau, vốn do nguyên nhân chính là tác động của con người. Kết quả nghiên cứu có giá trị cho việc lên kế hoạch quản lý nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường sự đóng góp của RNM cho dịch vụ hệ sinh thái và cung cấp tài nguyên, sinh kế cho người dân và kinh tế toàn cầu.
2. Tài liệu và phương pháp
2.1 Khu vực nghiên cứu (KVNC)

Ngày 11 tháng 12
Trời mưa lai rai từ đêm qua. 6:30 ăn sáng xong, mọi người mua chả cá (đặc sản Cổ Thạch) và táo để làm quà.
7:00 các nhóm di chuyển về chùa Cổ Thạch thăm quan.
8: 00 đoàn rời chùa Cổ Thạch, dừng chụp ảnh kỷ niệm trên sườn đồi cát đỏ trước khi qua cổng soát vé.
12: 00 đoàn ăn trưa tại nhà Hàng Vườn Xoài, thuộc thị trấn Gia Ray huyện Xuân Lộc.
13:00 đoàn tiếp tục hành trình trở về.
15:30 đoàn về tới trường, kết thúc đợt thực tập Môi trường và Tài nguyên Đới bờ 2016.
Trong hai tuần tới các nhóm tranh thủ:
1) Hoàn thiện công việc được phân công tại các điểm khảo sát (mặt cắt, bản vẽ, tài liệu thu thập…), chuyển cho nhóm phụ trách viết báo cáo.
2) Hoàn thiện việc chọn ảnh, clip, mô hình, bài viết cảm tưởng về chuyến đi, bài báo cáo tại các điểm được phân công để triển lãm và báo cáo.
Chúc các nhóm có bài báo cáo thực tập tốt, có những clip hay, những sản phẩm triển lãm sinh động về chuyến thực tập.



Đọc tiếp “NHẬT KÝ LỘ TRÌNH THỰC TẬP MT và TN ĐỚI BỜ 2016 (13 KMT)”
Hà Quang Hải, Nguyễn Ngọc Thu, Nguyễn Thị Hạnh Nhi
I.Giới thiệu
Huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi gồm đảo lớn (cù lao Ré) và đảo nhỏ (cù lao Bờ bãi) có tổng diện tích xấp xỉ 10 km2. Với những cảnh đẹp do núi lửa tạo nên giữa biển khơi, được xem là cảnh quan hiếm có và duy nhất của Việt Nam, đảo Lý Sơn đang được tỉnh Quảng Ngãi tiến hành các thủ tục để được công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu. Mặc dầu vậy, việc nghiên cứu địa chất đảo Lý Sơn còn ở mức độ sơ lược, những vấn đề địa chất, địa mạo còn có những ý kiến khác nhau trong đó đáng chú ý nhất về cấu trúc núi lửa và tuổi của các đá cấu tạo nên chúng.
Hầu hết các tác giả cho rằng phần lớn khối lượng vật liệu cấu tạo đảo Lý Sơn là các trầm tích – phun trào có tuổi Neogen; chiếm khối lượng nhỏ là bazan dòng chảy có tuổi Pleistocen sớm – giữa và Holocen. Các mức tuổi này được các tác giả dựa vào kết quả bào tử phấn và tuổi tuyệt đối.
Chúng tôi đã xác định hoạt động núi lửa tại Lý Sơn gồm hai kiểu chính, đó là các nón núi lửa phun nổ (cinder cone; scoria cone) và bazan dòng chảy (lava flow) có tuổi Pleistocen muộn – Holocen.
Những kết quả khảo sát mới (cuối tháng 3 – đầu tháng 4 và cuối tháng 6 – đầu tháng 7) tại một số vị trí trên đảo Lý Sơn cho thấy một khối lượng lớn các trầm tích phun nổ và bazan dòng chảy tạo nên địa hình nhô trên mặt biển chủ yếu có tuổi Holocen.
II.Tuổi bazan đảo Lý Sơn theo các tác giả
– Nguyễn Kinh Quốc (1995) phân chia bazan Cù lao Ré thành hai phần [7]: phần dưới chưa lộ đáy gồm vài lớp mỏng bazan xen kẹp trầm tích vụn (cát mịn, sạn, cuội dăm và cát sét lẫn vật liệu phun trào bazan) dày 30-70 m; phần trên là basan bọt xốp, độ rỗng lớn, hyalobazan, bazan kiềm, bom và tro núi lửa, dày 30 – 50 m. Chúng tạo nên 5 họng núi lửa trẻ ở nam Cù lao Ré và cù lao Bờ Bãi. Chúng bị phủ bởi lớp cát sạn vôi mỏng chứa vỏ sò, ốc, san hô tuổi Holocen.
– Nguyễn Văn Trang và nnk (1997), trong công trình bản đồ địa chất nhóm tờ Quảng Ngãi, xếp hầu hết bazan có tuổi Neogen [8].
– Nguyễn Hoàng, Martin Flower (1997) dựa và tuổi tuyệt đối, chia phun trào bazan thành hai giai đoạn là 12 triệu năm (Miocen) và 0,4-1,2 triệu năm (Pleistocen sớm – giữa (Q11-2) [5].
– Phạm Hùng và nnk (2001) phân chia bazan ở Lý Sơn theo 3 mức tuổi (ứng với ba giai đoạn hoạt động): 1) bazan phân bố ở phần thấp mặt cắt dày từ vài chục mét tới 70 m có tuổi Miocen muộn – Pliocen (N13 – N2) dựa vào tuổi bào từ phấn hoa; 2) bazan olivine kiềm, hyalobazan, bazan bọt xốp tạo nên bề mặt cao nguyên cao 20 m ở trung tâm đảo có tuổi Pleistocen (βQ11-3) và 3) bazan bọt xốp, bazan olivine kiềm phân bố hạn chế ở khu vực miệng núi lửa An Hải có tuổi Holocen (βQ2) [6].
– Lê Đức An (2005) phân chia bazan Lý Sơn thành 1) đá trầm tích – phun trào tuổi Neogen (N13 – N2 dựa theo kết quả bào tử phấn [6]) là đá cổ nhất lộ trên một diện tích lớn, được hình thành trong môi trường biển nông trên thềm lục địa và 2) bazan tuổi Pleistocen sớm – giữa (Q11-2) tạo nên các phễu, chóp núi lửa, các dòng chảy bazan ≤ 30 m hình thành trong giai đoạn núi lửa hoạt động mạnh mẽ [1].
– Chương trình Núi lửa Toàn cầu của Viện Smithsonian [6]. Các núi lửa thuộc Nhóm Cù Lao Ré (4 trên mặt đất và 9 trên đáy biển) thuộc kiểu strombolian có tuổi nhỏ hơn 10.000 năm (Holocen) [9].
– Hà Quang Hải và nnk (2012, 2016) trên cơ sở quan sát địa mạo đã xác định các trầm tích phun nổ và bazan dòng chảy tạo nên địa hình cù lao Ré, cù lao Bờ Bãi có tuổi Pleistocen muộn – Holocen sớm (Q13 – Q21) [3, 4].
III. Kết quả khảo sát thực địa
Đợt khảo sát từ 30 tháng 06 đến ngày 06 tháng 07 năm 2016 ghi nhận tầng cát kết san hô phân bố rộng rãi quanh cù lao Ré và cù lao Bờ Bãi. Tầng cát kết san hô này bị bazan dòng chảy phủ trên được quan sát tại nhiều vết lộ. Các mảnh, khối san hô được phát hiện trong cấu trúc vật liệu phun nổ lộ ra tại vách biển Hang câu – Chùa Hang. Các mảnh san hô, ốc biển cùng với các khối, mảnh đá bazan, cát kết tuf nằm rải rác trên miệng núi lửa Hang Câu – Chùa Hang.
III.1 Trên cù lao Ré
1) Điểm khảo sát LS. 457 (cổng Tò Vò)
Cát kết san hô mầu xám trắng bị các lớp bazan màu đen (cấu tạo cổng Tò Vò) phủ trên. Tầng cát kết san hô lộ 1,0 m gồm các khối xương san hô rắn chắc (trông còn tươi) có kích thước tới 10 – 15 cm được gắn kết bằng cát, sạn san hô (Hình 1).

Theo bãi biển (bắc Giếng Tiền) từ cổng Tò Vò về phía đông khoảng 1000 m lộ liên tục các lớp cát kết san hô; mỗi lớp dày trung bình 0,1 m cắm về phía biển (phía bắc) với góc dốc khoảng 10o. Bề mặt lớp cát kết san hô trơn, nhẫn do mài mòn, trên đó có những lỗ tròn nhỏ và rải rác có cuội bazan.

Năm nay có 68 sinh viên thuộc ba chuyên ngành tham gia thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ (tuyến lộ trình Lộc An – Cổ Thạch).
I.Ngày 22 tháng 11 phân công chủ đề nghiên cứu
Để làm quen với việc triển khai một đề tài nghiên cứu từ chuẩn bị văn phòng (trước khi thực địa), khảo sát thực địa và viết báo cáo tổng kết, các nhóm được phân công thực hiện theo các chủ đề:
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Nhóm 1: Đặng Thị Tuyết Nhi (nhóm trưởng): Hiện trạng và đề xuất phát triển điểm du lịch Bàu Trắng
Nhóm 2: Hoàng Ngọc Hương (nhóm trưởng): Sự hình thành hệ thống khe rãnh “red canyon” và giải pháp khắc phục
Nhóm 3: Trần Tấn Cường (nhóm trưởng): Đánh giá hiệu quả công trình bờ biển Lộc An và Lagi và Kê Gà
Chuyên ngành Môi trường và Tài nguyên biển
Nhóm 1: Võ Thương Hoài (nhóm trưởng): Đặc điểm cảnh quan cồn cát Bình Châu, Suối Tiên và Bàu Trắng
Nhóm 2: Huỳnh Bá Dũng (nhóm trưởng): Hiện trạng du lịch Bãi đá Bảy màu (Cổ Thạch) và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng
Chuyên ngành Tài nguyên TN và MT
Nhóm 1: Nguyễn Thị Ngọc Anh (nhóm trưởng): Đánh giá trữ lượng và chất lượng mỏ cát thủy tinh Bình Châu
Nhóm 2: Trần Nữ Linh Đan (Nhóm trưởng): Tìm hiểu về titan trong cát đỏ Phan Thiết (chi tiết tại Suối Tiên)
Nhóm 3: Vương Hồng Nhung (Nhóm trưởng): Tiềm năng năng lượng tái tạo dải ven biển Bình Thuận
Yêu cầu công tác văn phòng trước thực địa
– Nhóm phụ trách chuyên đề chủ động xây dựng đề cương nghiên cứu, phân công các nhóm khác thực hiện một khối lượng công việc ngoài trời (có bảng phân công cụ thể).
– Các nhóm đều phải thu thập tài liệu sơ cấp liên quan đến chuyên đề.
– Chuẩn bị bản đồ, ảnh viễn thám tại từng vị trí nghiên cứu, in bản ảnh với tỉ lệ thích hợp và các thiết bị, vật tư cho công tác thực địa.
– Nhóm trưởng chịu trách nhiệm phân công việc cho từng thành viên (có bảng phân công cụ thể). Đọc tiếp “CÔNG TÁC CHUẨN BỊ THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2016”
Liz Bentley
Trong giáo trình Địa chất môi trường, mục Khái niệm 3: Trái đất là một Hệ thống (Earth as a System), Edward A. Keller đã giới thiệu ngắn gọn Giả thuyết Gaia, trong đó có đoạn:
Liệu Trái đất có giống như một Sinh vật? Năm 1785, tại một cuộc họp của Hội Hoàng gia có uy tín của Edinburgh, James Hutton, cha đẻ của địa chất học, cho biết ông tin rằng Trái đất là một siêu sinh vật. Ông đã so sánh sự tuần hoàn nước của Trái đất, cùng với các trầm tích và chất dinh dưỡng chứa trong đó với sự tuần hoàn của máu ở động vật.
Trong phép ẩn dụ của Hutton, các đại dương là trái tim của Trái đất, rừng là lá phổi. Hai trăm năm sau, nhà khoa học và giáo sư Anh James Lovelock đã giới thiệu giả thuyết Gaia, làm hồi sinh ý tưởng về một Trái đất sống. Giả thuyết được đặt tên là Gaia – Mẹ Trái đất (nữ thần Hy Lạp).
Dưới đây là bài viết của Liz Benley, nhà địa chất, nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và nhà báo tự do chuyên về các hồ sơ hóa thạch và khí hậu học.
Ngược lại với niềm tin phổ biến rằng trái đất này chỉ đơn giản là một hành tinh đặc và chỉ có một chức năng duy nhất là cung cấp tài nguyên cho con người, hành tinh của chúng ta biết thở và là một sinh vật sống thực sự.
Khi chúng ta nghĩ đến trái đất một cách tổng thể, như là một thực thể sống, thay vì là tổng các bộ phận, nó sẽ mang một ý nghĩa mới. Hành tinh của chúng ta là một sinh vật có chức năng duy trì các điều kiện sống cần thiết.
Trong cuốn sách xuất bản vào năm 1979, James Lovelock đã cung cấp những bài học thú vị về sự tương tác của các quá trình sinh, địa, hóa, lý trên trái đất.

Trong suốt lịch sử, bằng cách này hay cách khác, khái niệm Mẹ Trái Đất đã là một phần của văn hoá loài người. Mọi người đều đã nghe về Mẹ Trái Đất, nhưng có bao giờ dừng lại và suy nghĩ Mẹ Trái Đất là ai (hoặc là gì) chưa?
Gaia là gì?
Lovelock định nghĩa Gaia là “… một thực thể phức tạp bao gồm đất, các đại dương, khí quyển, sinh quyển của Trái đất; tổng thể này cấu thành hệ thống phản hồi hay điều khiển để tìm kiếm một môi trường hoá lý tối ưu cho sự sống trên hành tinh này”
Qua Gaia, trái đất duy trì sự cân bằng nội môi, bảo trì những điều kiện ổn định tương đối.
Thành phần thực sự đáng ngạc nhiên của giả thuyết Gaia với ý tưởng cho rằng Trái Đất là một thực thể sống duy nhất. Ý tưởng này chắc chắn không phải là mới. James Hutton (1726-1797), cha đẻ của địa chất học đã từng mô tả Trái đất là một siêu sinh vật. Và trước Lovelock; Lewis Thomas, một bác sĩ y khoa và nhà văn lão luyện, đã viết những dòng này trong bộ sưu tập các bài luận nổi tiếng của ông, Cuộc sống của một Tế bào:
“Nhìn từ khoảng cách mặt trăng, điều đáng kinh ngạc về trái đất, làm cho ta phải nín thở, đó là nó đang sống. Những bức ảnh cho thấy bề mặt khô, vỡ vụn của mặt trăng nổi bật, khô như là một nấm xương tàn.
“Trôi nổi tự do trong bầu trời xanh trong, lấp lánh, ẩm, đó là trái đất, một tinh cầu phồn thịnh duy nhất của vũ trụ. Nếu nhìn lâu, bạn sẽ thấy những cuộn mây trắng lớn che phủ và chỉ để lộ các khối đất ẩn hiện.
” Nếu bạn được ngắm nhìn trái đất bằng một thời gian địa chất rất dài, bạn có thể thấy các châu lục chuyển động, tách rời nhau trên các mảng vỏ của chúng, trôi nổi trên ngọn lửa ở phía dưới. Nó có bề ngoài cấu tạo của một sinh vật sống, đầy rẫy thông tin, và có kỹ năng kỳ diệu để xử lý ánh mặt trời.”
John Nelson minh họa “Trái đất thở” bằng hai ảnh GIFs động, ông phác thảo để hình dung sự chuyển mùa của Trái đất trong một năm như thế nào từ ngoài không gian.

Đọc tiếp “Theo các nhà nghiên cứu, Gaia là một sinh vật sống”