Thoạt nhìn, Ica, một thị trấn nhỏ bé ở Peru tọa lạc trên sa mạc Nazca, cách thủ đô Lima 5 giờ xe buýt, không có bất cứ điều gì ấn tượng. Nhưng ngay khi bước chân vào Bảo tàng Cabrera, nơi trưng bày những hòn đá chạm khắc của Ica, một thế giới hoàn toàn khác biệt sẽ hiện lên trước tầm mắt.
Hơn 10.000 hòn đá với kích thước khác nhau được trưng bày chật kín trong bảo tàng. Chúng đều có một bề mặt trơn nhẵn, màu đen, bên trên chạm khắc các hình tượng. Khi nhấc chúng lên, bạn sẽ cảm nhận thấy chúng nặng hơn rất nhiều so với những hòn đá cùng kích cỡ thông thường.
Hình vẽ trên hòn đá này cho thấy một con khủng long đang ăn thịt một người, khiến một số người cho rằng con người đã có mặt trên Trái Đất từ 65 triệu năm trước (thời đại khủng long). (Ảnh: Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)Bao phủ trong một loại chất liệu: Những hòn đá Ica là loại đá andesit được phủ một lớp chất liệu chưa được xác định. (Ảnh: Tư liệu của Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Đảo Phục Sinh (Easter Island) là đảo núi lửa (Hình 1), có dạng tam giác, rộng 140 km2, nằm ở phía tây của Nam Mỹ khoảng vài ngàn km, với một khí hậu cận nhiệt đới (Hình 2).
Hình 1. Đảo núi lửa Earster (nguồn internet)Hình 2. Vị trí địa lý đảo Easter (nguồn internet)
Những người Polynesia đầu tiên đến đảo này cách nay khoảng 1.500 năm. Khi đến đây, họ đã được hòn đảo xanh được bao phủ bởi rừng cây chào đón, trong đó có những cây cọ lớn. Đến thế kỷ thứ mười sáu, có 15.000 đến 30.000 người đã sống trên hòn đảo này. Họ đã thiết lập một xã hội phức tạp lan tỏa giữa các ngôi làng nhỏ, họ đã canh tác mùa vụ, nuôi gà, bắt cá và động vật biển có vú, chim biển để duy trì cuộc sống. Vì những lý do tôn giáo, họ đã chạm khắc các bức tượng khổng lồ (gọi là moai) từ đá núi lửa (Hình 3). Các bức tượng có dạng bán thân người đội mũ. Các bức tượng thường cao khoảng 7 m, một số cao hơn 20 m. Các bức tượng này đã được di chuyển tới các địa điểm khác nhau trên đảo bằng dây thừng và những con lăn từ thân cây. Đọc tiếp “ĐẢO PHỤC SINH (EASTER ISLAND): MỘT BÀI HỌC LỚN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG”→
“Vì cuộc đời là những chuyến đi” và “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”
Mỗi lần đi là một lần trải nghiệm, tôi biết nhưng lại mặc nhiên cho thứ gọi là cảm xúc đã đủ đầy. Biển gợi về ký ức miên man, da diết mà tôi vẫn hoài muốn xóa đi, ấy nên trở lại với biển lần này chỉ mong những con sóng vội có thể gột rửa những gì còn vươn lại trong lòng vì bây giờ tôi biết vì sao “gặp nhau biển xô sóng trào”; một tâm thế pha trộn giữa hờ hững và đợi chờ, thâm thâm lại cũng mông mông, chẳng thể thốt nên lời. Không tham gia vào hành trình lần này, có lẽ tôi không hối tiếc mà sẽ là vô cùng hối tiếc, bởi tôi biết, chúng bạn cũng biết, rằng đây không phải là kỳ thực địa đầu tiên với những ngô nghê vụng dại mà kỳ thực là chuyến thực địa cuối cùng, cuối cùng trong quãng đời sinh viên rồi đấy, đã là cuối cùng ắt sẽ đọng lại chút gì đó, nghèn nghẹn gọi là… tôi tự phong cho mình là tiên tri để vẽ ra những thứ ấy!
Nguồn: Bảo Tín
Mỗi trang nhật ký hành trình như một lát cắt chân thực về cuộc sống và con người nơi tôi đã đi qua. Không chỉ là những bài học sách vở mà là cả hạt giống tâm hồn, mà tôi chắc rằng sẽ không đứa nào trong chúng tôi “lĩnh hội” giống nhau để rồi “nảy mầm” như nhau cả. Chẳng thể nào quên buổi sớm tinh sương mấy chiếc thuyền đánh cá trở vào bờ khi bình minh hãy còn chưa kịp ló dạng hay khung cảnh yên bình của làng chài một chiều lộng gió, vùng quê nghèo sỏi đá với buổi chợ tàn. Dăm ba món đồ, vài gánh hàng rong được bày bán trong ánh mắt đã dày dạn phong sương, trong cái làn da rám nắng; cái đu quay cũ rích nhưng tràn tiếng nói cười của lũ trẻ và cả chúng tôi. Mọi thứ lưng chừng chỉ bình dị như thế nhưng thấm vào tôi là cả cái mặn mà của những con người xứ biển.
Ngày 26 tháng 12 cuộc thi “Con người – Môi trường – Tài nguyên Đới bờ” được tổ chức để kết thúc môn học Quản lý tổng hợp đới bờ và Tài nguyên khoáng sản và bảo vệ mội trường. Cuộc thi năm nay bao gồm hai phần: 1) báo cáo kết quả đề tài (theo chủ đề đã phân công các nhóm thực hiện) và 2) triển lãm theo các thể loại: video clip, ảnh nghệ thuật, mô hình và các bài cảm nhận về chuyến đi. Tham gia cuộc thi là sinh viên thuộc ba chuyên ngành: KHMT; TNTT và MT; MT và TNB thuộc KMT_13.
Chuyên ngành Khoa hoc Môi trườngChuyên ngành TNTT và MTChuyên ngành MT và TNB
Google Earth (GE) là một ứng dụng độc lập được xây dựng trên nền tảng sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin địa lý bất cứ nơi nào trên Trái đất. Google Earth sử dụng mô hình số độ cao – Digital Elevation Model (DEM), dữ liệu được thu thập bởi Topography Mission Shuttle Radar của NASA (SRTM), hệ tọa độ WGS 84, độ phân giải phổ biến là 15 mét, một số địa điểm có độ phân giải 15 cm (6 inch). [1]
Qua hơn 10 năm phát triển, GE đã đem đến nhiều lợi ích cho người sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là trong nghiên cứu và giảng dạy địa chất, địa lý. GE cho phép truy cập hình ảnh vệ tinh và ảnh hàng không miễn phí. GE cho phép chèn và chồng hình ảnh từ các nguồn dữ liệu khác, cơ sở dữ liệu tương thích với Google Earth có thể được chia sẻ dễ dàng trên internet khi sử dụng liên kết KML. Hình ảnh trong GE được cập nhật thường xuyên cho phần lớn các khu vực trên bề mặt trái đất và những thay đổi này có thể được quan sát bằng chức năng “Historical Imagery”.
Bài viết này trình bày sự biến đổi sử dụng đất quận 2, TP. HCM bằng việc giải đoán ảnh Google Earth giai đoạn 2005-2015. Các kết quả giải đoán ảnh được xử lý trong GIS để phục vụ cho việc phân tích địa lý nói chung và đánh giá biến động bề mặt địa hình nói riêng.
Trong điều kiện tiếp cận nguồn tài liệu đo đạc của các cơ quan quản lý đất đai khó khăn, việc giải đoán hình ảnh có độ phân giải cao, miễn phí từ GE là một lựa chọn tối ưu[2]. Hơn nữa, việc giải đoán ảnh sẽ cho những thông tin và số liệu khách quan, làm cơ sở so sánh với các kết quả điều tra, đo đạc.
2. Khu vực nghiên cứu
Quận 2 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hóa nhanh, bề mặt địa hình biến đổi với xu hướng chung là lấp dần vùng trũng, nâng cao mặt đất, tăng dần diện tích bê tông.
Quận 2 (hình 1) phân bố phía Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, tiếp giáp với Quận Thủ Đức ở phía bắc; Quận 7 ở phía tây nam (qua sông Sài Gòn) Quận 4, Quận 1 và Quận Bình Thạnh ở phía tây; Quận 9 ở phía đông.[3]
T.T. Van, N. Wilson, V.Q. Minh, H. Thanh-Tung, K. Quisthoudt, L. Xuan-Tuan, F. Dahdouh-Guebas, N. Koedam
TÓM TẮT
Ảnh hàng không và vệ tinh đã được sử dụng để xác định sự thay đổi độ che phủ đất trong thời kỳ 1953-2011 ở Mũi Cà Mau, Việt Nam, đặc biệt liên quan đến những thay đổi khu vực rừng ngập mặn. Diện tích rừng ngập mặn đã giảm mạnh từ khoảng 71.345 ha vào năm 1953 đến 33.083 ha vào năm 1992, sau đó tăng lên 46.712 ha vào năm 2011. Diện tích rừng mất do chất diệt cỏ trong chiến tranh Việt Nam, khai thác quá mức, và chuyển đổi sang đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản được khuyến khích bởi các chính sách quản lý đất đai đang đang làm mất tác dụng một phần sự tái sinh tự nhiên và trồng lại rừng, đặc biệt là sự gia tăng dần mô hình hệ thống canh tác kết hợp tôm-RNM. Bản chất của thực thực vật rừng ngập mặn được chuyển đổi rõ rệt trong giai đoạn này. Các kết quả nghiên cứu có giá trị cho việc qui hoạch quản lý để hiểu và nâng cao sự đóng góp của rừng ngập mặn trong việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái và tài nguyên, sinh kế địa phương và lợi ích toàn cầu.
1. Giới thiệu
Việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng gây ra hậu quả suy giảm nguồn tài nguyên đã diễn ra ở VN một thời gian dài. Tại hạ nguồn sông Mekong, một vài nghiên cứu áp dụng viễn thám và GIS đã xác định các thay đổi của lớp phủ RNM có liên hệ tới hoạt động của con người. Tuy nhiên dữ liệu viễn thám theo thời gian bị khuyết trước thời kỳ chiến tranh VN (1962-1972), vốn là thời kỳ có tác động quan trọng đến rừng. Số liệu quan trắc giúp việc đưa ra mục tiêu thuận lợi hơn cho hoạt động bảo tồn, nhân sinh và quản lý bảo vệ đới bờ, thông qua việc tái lập đường cơ sở nhờ xác định thời gian và nguyên nhân những thay đổi lớn của rừng tốt hơn.
Trong nghiên cứu này, ảnh viễn thám tại sáu mốc thời gian từ 1953 đến 2011 được sử dụng để xác định những thay đổi của lớp phủ thảm RNM tại Mũi Cà Mau, vốn do nguyên nhân chính là tác động của con người. Kết quả nghiên cứu có giá trị cho việc lên kế hoạch quản lý nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường sự đóng góp của RNM cho dịch vụ hệ sinh thái và cung cấp tài nguyên, sinh kế cho người dân và kinh tế toàn cầu.