Mỏ dầu cạn kiệt: Tình huống báo động của Việt Nam

Các mỏ dầu khí chủ lực đã chuyển sang giai đoạn suy giảm sản lượng hay có độ ngập nước cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, như mỏ Bạch Hổ, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông…

Báo động về sản lượng 

Theo báo cáo của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), sản lượng khai thác dầu trong nước năm 2018 đạt 12 triệu tấn, vượt 675 nghìn tấn, tương đương 6% so với kế hoạch Chính phủ giao đầu năm. Nhờ đó số nộp ngân sách nhà nước vượt 47,5 nghìn tỷ đồng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP cả nước 7,08%…

Doanh thu toàn tập đoàn vượt 18% kế hoạch, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2017. Nộp ngân sách vượt tới 64% kế hoạch, tăng 24% so với năm 2017. Nguyên nhân chủ yếu là giá dầu tăng mạnh so với 2017.

Các mỏ dầu khí đã vào giai đoạn suy kiệt. Ảnh: PVN

Thế nhưng, sau những thành tích ấy, người làm dầu khí còn không ít nỗi lo, trong đó nổi lên là việc tìm kiếm các mỏ dầu mới.

Năm 2018 gia tăng trữ lượng dầu khí năm 2018 vẫn đạt được 12 triệu tấn quy dầu (kế hoạch là 10-15 triệu tấn).

Gia tăng trữ lượng dầu khí tuy đạt kế hoạch đề ra năm 2018 song đây vẫn là năm thứ ba liên tiếp công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí gặp nhiều khó khăn. Nếu so với mục tiêu chiến lược phát triển mà ngành dầu khí đề ra ở trong nước là 20-30 triệu tấn/năm và ở nước ngoài là 8-12 triệu tấn/năm (tổng cộng là 28-42 triệu tấn/năm) thì không hoàn thành và đạt thấp hơn nhiều so với mục tiêu chiến lược đề ra.

Thực tế, điều kiện khai thác ở các mỏ dầu khí chủ lực đã chuyển sang giai đoạn suy giảm sản lượng hay có độ ngập nước cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro, như mỏ Bạch Hổ, Tê Giác Trắng, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Rạng Đông…

Theo PVN, việc gia tăng trữ lượng dầu khí, bù đắp vào sản lượng khai thác hàng năm, đảm bảo sự phát triển bền vững của tập đoàn “vẫn là thách thức vô cùng lớn”. Tiềm năng dầu khí chưa phát hiện còn lại được đánh giá tập trung chủ yếu ở vùng nước sâu, xa bờ, nhạy cảm về chính trị, nhưng khu vực này cần công nghệ khoan nước sâu, đầu từ lớn, rủi ro cao, thường xuyên bị nước ngoài gây sức ép, cản trở.

Trong khi đó, PVN cho rằng sự can thiệp của nước ngoài ở cụm phát hiện Cá Rồng Đỏ lô 07/03 đã “ảnh hưởng nặng nề” đến hoạt động phát triển mỏ của tập đoàn.

PVN nhận định tình hình biển Đông diễn biến phức tạp đã có tác động nặng nề đến công tác tìm kiếm thăm dò và phát triển chung của tập đoàn.

Báo cáo của PVN cho thấy: Hệ số gia tăng trữ lượng bù trừ vào sản lượng khai thác vẫn đang ở mức báo động (0,54 lần). Trong khi giai đoạn 2011-2015 hệ số này đạt 1,5 lần – mức an toàn phát triển bền vững thì tình hình dầu xấu đi. Năm 2016 đạt 0,65 lần. Riêng năm 2017 đạt 0,17 lần – là mức báo động nghiêm trọng.

Ngành dầu khí đối mặt nhiều khó khăn trong việc gia tăng trữ lượng.

Hết thời hoành tráng

Trước đây hàng năm, PVN khoan 30-40 giếng thăm dò, chi phí tốn từ 2-2,5 tỷ USD, gia tăng được 35-40 triệu tấn quy dầu. Thế nhưng, từ 2015 trở lại đây, đầu tư của ta và nước ngoài chỉ khoảng 400-500 triệu USD cho tìm kiếm thăm dò, giảm 5 lần so với trước.

Các phát hiện dầu khí giai đoạn gần đây phần lớn có trữ lượng nhỏ, do giá dầu thấp nên hiệu quả kinh tế không cao, dẫn đến số lượng công trình khai thác mới đưa vào để bổ sung sản lượng khai thác rất ít. Trong hai năm 2017 và 2018, chỉ có 3 mỏ/công trình mới vào khai thác (năm 2017 đưa giàn Thỏ Trắng – 3 mỏ Thỏ Trắng của VSP vào khai thác; năm 2018 đưa 2 mỏ vào khai thác là Bunga Pakma và Phong Lan Dại).

Một khó khăn khác ảnh hưởng đến công tác thăm dò, theo PVN, đó là nguồn vốn để thực hiện công tác tìm kiếm thăm dò gặp khó khăn do cơ chế trích lập, quản lý, và sử dụng Quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí. PVN đã kiến nghị đề xuất trong Quy chế quản lý tài chính Công ty mẹ – Tập đoàn, đến nay vẫn chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt.

Cụ thể hơn, những người làm công tác tìm kiếm thăm dò còn nỗi lo xử lý chi phí các mỏ thăm dò không thành công.

Năm ngoái, một lãnh đạo của PVN đã than thở: “Những năm qua ta tiêu tương đối nhiều tiền, có nơi thành công nơi chưa thành công. Đó là quy luật của tìm kiếm thăm dò. Cái này phải được đánh giá và hạch toán theo đúng thông lệ quốc tế. Số tiền này ngày càng tích lại, nếu không xử lý được thì giống như đang để một cái gông trên cổ”.

Việc tìm kiếm thăm dò khó khăn, còn ảnh hưởng đến loạt công ty khác của PVN. Đơn cử như Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí. Do có ít chương trình khoan nên giàn khoan PV Drilling V đã được đưa vào tình trạng cold stack (dừng hoàn toàn) tại cầu cảng PV Shipyard Vũng Tàu từ tháng 11/2016. Dự kiến, giàn PV Drilling V sẽ không có việc làm trong thời gian dài. Dự kiến số lượng giếng khoan tại Việt Nam năm 2019 ít nên các giàn khoan và dịch vụ của PVDrilling tiếp tục có ít việc làm. Sang năm 2019, các khó khăn và thách thức của PV Drilling sẽ ở mức độ cao hơn và phức tạp hơn so với năm 2018.

Tổng công ty Tư vấn Thiết kế dầu khí (PVE) cũng thiếu công việc trầm trọng bởi vì hầu hết các dự án dầu khí lớn tiếp tục giãn/dừng triển khai dẫn đến nhu cầu cung cấp dịch vụ và giá dịch vụ giảm mạnh. Lĩnh vực cốt lõi của đơn vị này là tư vấn thiết kế tuy nhiên khối lượng công việc chỉ khoảng 20%, ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu kế hoạch của PVE trong các năm gần đây và những năm tiếp theo. Cụ thể, doanh thu năm 2018 của lĩnh vực này chỉ bằng khoảng 20% doanh thu năm 2015.

Lương Bằng

Nguồn: https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/dau-mo-can-kiet-tinh-huong-bao-dong-502707.html

Sơ bộ về sản phẩm địa du lịch thứ cấp

Nguyễn Thị Quế Nam, Hà Quang Hải

(Địa môi trường giới thiệu kết quả luận văn cao học với đề tài Phát triển sản phẩm địa du lịch cho những điểm đến (lấy ví dụ một số điểm ven biển Nam Trung Bộ) do Nguyễn Thị Quế Nam thực hiện. Báo cáo đã được trình bày trước hội đồng Chuyên ngành Khoa học Môi trường, trường Đại học KHTN, Đại học QG. TPHCM ngày 25,12.2018. Nội dung giới thiệu gồm 4 phần: Phần 1-Sơ bộ về sản phẩm địa du lịch thứ cấp; Phần 2- Đặc thù địa học; Phần 3- Đặc thù văn hóa; Phần 4-Đề xuất phát triển sản phẩm địa du lịch thứ cấp. Báo cáo toàn văn được lưu trữ tại thư viện Trường Đại học KHTN, 227 Nguyễn Văn Cừ, Q.5, TP.HCM.

Tóm tắt luận văn: Dải bờ biển Nam Trung Bộ có tiềm năng phát triển địa du lịch, với nhiều geosite quý hiếm và độc đáo có thể thành lập công viên địa chất cấp quốc gia. Tuy nhiên, hầu như các sản phẩm địa du lịch nơi đây còn nghèo nàn, chưa đủ sức hấp dẫn du khách. Luận văn “Phát triển sản phẩm địa du lịch cho những điểm đến  (Lấy ví dụ một số điểm ven biển Nam Trung Bộ)” tạo ra hệ thống sản phẩm địa du lịch cho 3 công viên địa chất cấp quốc gia dự kiến:1) Công viên địa chất Đảo núi lửa Lý Sơn đặc thù địa hình núi lửa ấn tượng cùng với văn hóa Sa Huỳnh và những lễ hội biển đảo truyền thống; 2) Công viên địa chất Bờ biển Phú Yên từ sự đa dạng đá và các tác động ngoại sinh đã tạo ra sự đa dạng địa học gắn liền với nền văn hóa đá; 3) Công viên địa chất Bờ biển và Cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận với cao nguyên cát đỏ đặc trưng cùng nền văn hóa Chăm. Dựa vào những đặc thù địa học – văn hóa, các sản phẩm địa du lịch được đề xuất phát triển. Sản phẩm địa du lịch sơ cấp là các geosite tại công viên địa chất. Sản phẩm địa du lịch thứ cấp bao gồm: 1) Thông tin địa chất; 2) Đường mòn địa chất; 3) Hoạt động địa chất; 4) Nhà địa chất; 5) Nông trại địa chất; 6) Ẩm thực địa chất; 7) Quà lưu niệm địa chất; 8) Cửa hàng địa chất; 9) Lễ hội văn hóa địa chất; 10) Học viện địa chất.  Các sản phẩm địa du lịch được thực hiện sẽ góp phần quảng bá các điểm đến cũng như thúc đẩy kinh tế, nâng cao mức sống cư dân.

1. Khái niệm

Theo UNESCO (1999) [34], các sản phẩm địa dụ lịch thứ cấp (SPĐDL) là loại sản phẩm thiên về hàng thủ công nghiệp được sản xuất có ý nghĩa về địa chất.

Theo hướng dẫn của GGN (2010) [35], các SPĐDL là công cụ để bảo vệ cảnh quan địa chất trong công viên địa chất. SPĐDL cần có sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại để làm tăng nhận thức về đa dạng địa học cho du khách.

Như vậy, SPĐDL không những tạo cơ hội trải nghiệm mới cho du khách, đẩy mạnh kinh tế địa phương mà còn nâng cao kiến thức về khoa học trái đất. Việc cung cấp những việc làm mới, cơ sở hạ tầng mới và những sản phẩm mới là những sáng kiến hấp dẫn khách du lịch đến với CVĐC hơn. Hệ thống các dạng SPĐDL thứ cấp trong CVĐC được tổng hợp trong hình 1.1 [20] theo 3 mục tiêu chính của CVĐC: bảo tồn, địa du lịch và giáo dục.

Hình 1.1 Hệ thống các SPĐDL kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong CVĐC [20]

2. Phân loại

Reynard (2008) [28] phân SPDDL thành hai nhóm gồm SPĐDL sơ cấp và SPĐDL thứ cấp:

        – SPĐDL sơ cấp (Original offer) đó chính là các di sản địa chất (ví dụ như dấu vết khủng long, khu vực cổ sinh vật học, các dạng địa hình, suối nước khoáng,..)

       – SPĐDL thứ cấp (Derived offer) (Hình 1.2): phát triển cơ sở hạ tầng, phương tiện di chuyển, sản phẩm khoa học thứ cấp (sách, quà lưu niệm, tài liệu điện tử, trò chơi…), hệ thống thuyết minh tại điểm đến (bảo tàng, trung tâm du khách, triển lãm, hướng dẫn tham quan, các bảng chỉ dẫn, thuyết minh, trang web).

Hình 1.2 Hệ thống các sản phẩm địa du lịch thứ cấp [26]

Dryglas và Miskiewicz (2014) [18] phân loại các SPĐDL thứ cấp ở Ba Lan thành bậc cơ bản và phức hợp gồm các sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể (Bảng 1.1 ).

Bảng 1.1 Cấu trúc phân loại sản phẩm địa du lịch thứ cấp [18]

3. Nguyên tắc phát triển

Các nguyên tắc cần chú ý khi phát triển SPĐDL thứ cấp như sau [20]:

  • SPĐDL phải mang đặc trưng của địa phương
  • SPĐDL phải là biểu tượng địa chất – địa mạo của vùng
  • SPĐDL là một công cụ thương mại hoặc giáo dục
  • SPĐDL phải tổng hợp được sản phẩm truyền thống địa phương và những nội dung khoa học địa chất
  • SPĐDL phải là sản phẩm thân thiện môi trường.

4. Một số ví dụ sản phẩm địa du lịch

SPĐDL ở các CVĐC trên thế giới được trình bày theo bảng 1.2

Bảng 1.2 Bảng tóm tắt SP ĐDL của một số CVĐC
Bảng 1.2 Bảng tóm tắt SP ĐDL của một số CVĐC
Hình 1.3 Một số hình ảnh minh họa về SPĐDL thứ cấp ở các CVĐC trên toàn thế giới

Địa du lịch và CVĐC ngày càng được quan tâm ở các nước trên thế giới bởi tính bền vững của loại hình này. Vì thế, phát triển SPĐDL trong các CVĐC là một công cụ tất yếu để phục vụ các hoạt động bảo tồn, giáo dục và phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

 

Về Đầm Chuồn xứ Huế

TTO – “Đầm Chuồn là chỗ mô hè? Răng không nghe nói khi mô hết ri”. Nếu có dịp đến vùng đất cố đô, du khách đừng quên ghé thăm Đầm Chuồn có phong cảnh hữu tình như tranh vẽ.

Một sớm Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Nói đến xứ Huế mộng mơ, du khách thường nghĩ ngay đến những di tích lăng tẩm Huế, sông Hương, núi Ngự hay chùa Thiên Mụ.

Ngoài các địa điểm trên, Đầm Chuồn có diện tích khoảng 100ha là điểm đến du khách không thể bỏ qua. Đây là đầm nước lợ trong hệ thống đầm phá Tam Giang, thuộc xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Đầm Chuồn vào mỗi thời khắc trong ngày mang vẻ đẹp riêng. Lúc bình minh, Đầm Chuồn có màu cam đỏ hay cam hồng, rực sáng trong nắng vàng ban trưa và nhộm màu tím hồng trong buổi chiều tà.

Toàn cảnh Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Vẻ đẹp yên bình nhìn từ trên cao – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Đối với các nhiếp ảnh gia, Đầm Chuồn là đề tài thú vị để thỏa sức đam mê sáng tác ảnh. Anh Trần Bảo Hòa (Đắk Lắk) cho biết nhiều lần ghé thăm Đầm Chuồn nhưng vẫn bị cuốn hút trước nhịp sống êm ả nơi đây.

“Tờ mờ sáng, tôi bay flycam để ghi lại các shot hình Đầm Chuồn đẹp mơ màng trong sương sớm. Bức tranh ráng hồng cam của những đám mây phiêu du lúc bình minh khiến tôi mãi ngơ ngẩn chốn phong vị nơi mô. Vẫn khung cảnh và những ngư dân cần mẫn ấy, chỉ có điều là nhịp sống sinh động hơn” – anh Bảo Hòa có chuyến trở lại Đầm Chuồn giữa tháng 12-2018 chia sẻ với Tuổi Trẻ Online.

Các thuyền của ngư dân hoạt động nhộn nhịp trên Đầm Chuồn – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Trước đây, đầm phá Tam Giang là vùng đất rộng ngập sâu trong nước, nhiều sình lầy, sóng gió và thuyền bè đi lại dễ gặp nạn. Nhưng ngày nay khu vực đầm phá này dễ đi lại, có nguồn tài nguyên biển quý giá để người dân đánh bắt làm nguồn sống, trong đó Đầm Chuồn còn là nơi thú vị để du khách trải nghiệm cuộc sống mưu sinh của người dân.

Đầm Chuồn mênh mang sóng nước – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Tại Đầm Chuồn, du khách dễ dàng nhận ra những chiếc vó có màu nâu vàng, những chắn sáo (còn gọi vây ví, một hệ thống ngư cụ để ngư dân nuôi các hải sản trên đầm), đặc biệt là những “nhà chồ” tạo nên nét chấm phá cho Đầm Chuồn.

Nhà chồ, đặc thù của người dân miền sông nước, là những căn nhà lán rộng khoảng 5m2 được dựng từ tre lồ ô trên đầm.

Nhà lán vẫn có đủ điều kiện để người dân sinh hoạt. Đây còn là nơi du khách nghỉ đêm, ngắm trăng sao và được nhậu lai rai với ngư dân thì không có gì thú vị cho bằng.

Hệ thống chắn sáo để ngư dân nuôi hải sản – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Một khu vực chắn sáo và nhà chồ của ngư dân – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Cận cảnh nhà chồ – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA

Các loại hải sản tươi ngon tại Đầm Chuồn có thể kể đến như cua, ghẹ, cá ong, cá dìa, cá mú, cá nâu hay cá kình. Chúng được ngư dân nuôi trong những chắn sáo hay đánh bắt tự nhiên.

Sau khi trải nghiệm cùng cuộc sống ngư dân và ghi lại vẻ đẹp yên bình Đầm Chuồn, du khách trên đường về đừng quên ghé chợ làng Chuồn thưởng thức món bánh khoái cá kình nổi tiếng.

“Rời Đầm Chuồn nhưng dường như vẫn còn lưu luyến, luôn in mãi những kỷ niệm đẹp trong tim. Hẹn một ngày trở lại Đầm Chuồn thêm lần nữa” – anh Bảo Hòa cho biết.

Cuộc sống mưu sinh của ngư dân trên đầm – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Quang cảnh sinh hoạt nhộn nhịp hiện lên bức tranh Đầm Chuồn đầy sức sống – Ảnh: TRẦN BẢO HÒA
Bản đồ hướng dẫn các đường đi từ trung tâm thành phố Huế tới Đầm Chuồn – Ảnh chụp màn hình

HUỲNH PHƯƠNG

Nguồn: https://dulich.tuoitre.vn/ve-dam-chuon-xu-hue-20181227080057027.htm

Indonesia kết luận mảng núi lửa đổ sụp kích hoạt sóng thần

Một mảng lớn của sườn núi lửa Anak Krakatau trượt xuống đại dương, gây ra đợt sóng thần tấn công bờ biển Indonesia.

Khói bụi bốc lên sau khi núi lửa Anak Krakatau phun trào hôm 23/12. Ảnh: Reuters.

Dwikorita Karnawati, người đứng đầu cơ quan khí tượng Indonesia, nói rằng núi lửa Anak Krakatau đã phun tro và dung nham suốt nhiều tháng trước khi một mảng rộng 0,64 km2 ở sườn phía tây nam đổ sụp xuống biển, Reuters đưa tin. “Điều này gây ra lở đất dưới biển và cuối cùng kích hoạt sóng thần”, Dwikorita nói, nhấn mạnh thêm rằng sóng thần ập vào bờ chỉ 24 phút sau đó.

Những hình ảnh do vệ sinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu chụp lại cũng cho thấy một mảng lớn trên sườn phía nam của núi lửa trượt xuống biển. “Khi rơi xuống đại dương, khối núi đó làm dịch chuyển bề mặt đại dương, gây ra dịch chuyển theo chiều dọc và kích hoạt sóng thần”, Sam Taylor-Offord, một nhà địa chấn học tại Viện Khoa học GNS ở Wellington, New Zealand, nhận định.

Taylor-Offord cho biết vụ phun trào của núi lửa và “môi trường tiếng ồn cao” có thể là lý do vụ lở đất không được ghi nhận. Thực tế, sóng thần bị kích hoạt bởi núi lửa, không phải do động đất, có thể giải thích tại sao không có cảnh báo sóng thần nào được ban bố.

Những người dân sống ven biển khẳng định họ không nhìn thấy hoặc cảm thấy bất kỳ dấu hiệu nào cảnh báo thảm họa đang đến như động đất hay nước rút dọc bờ biển trước khi những đợt sóng cao tới 3 m ập vào bờ. Jose Borrero, chuyên gia về nguy cơ sóng thần tại Trung tâm Tư vấn Hàng hải eCoast, cho biết sóng thần do núi lửa tạo ra bí ẩn hơn sóng thần do động đất và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.

Trận sóng thần tràn vào các bãi biển ở Pandeglang, Serang và Nam Lampung thuộc eo biển Sunda khiến ít nhất 281 người thiệt mạng, 1.016 người bị thương và 57 người đang mất tích. Các chuyên gia cảnh báo nguy cơ xảy ra thêm sóng thần ở eo biển Sunda vẫn rất cao khi núi lửa Anak Krakatau đang trở nên bất ổn sau đợt phun trào mạnh và có thể tạo ra thêm nhiều trận lở đất dưới lòng biển.

Anak Krakatau (Con của Krakatao) là một trong 127 núi lửa hoạt động ở Indonesia, xuất hiện từ tàn tích của núi lửa Krakatoa và nổi lên khỏi mặt biển từ năm 1928. Núi cao khoảng 305 m, nằm ở ngoài khơi cách bờ biển phía tây đảo Java 80 km và bắt đầu hoạt động hồi tháng 6.

Núi lửa Anak Krakatau phun trào trước và sau trận sóng thần hôm 22/12.

Huyền Lê

Nguồn: https://vnexpress.net/the-gioi/indonesia-ket-luan-mang-nui-lua-do-sup-kich-hoat-song-than-3858948.html

 

Toàn bộ ĐBSCL đang sụt lún dần với tốc độ gần 2,5 cm mỗi năm

Ở khu vực biển Tây (vùng bán đảo Cà Mau) trước đây có tỷ lệ lấn ra biển cao thì nay đến 70% diện tích có diễn biến thoái lui. 

Ngày 18/12, WWF công bố kết quả dự án tăng cường năng lực của các tổ chức xã hội trong việc tham gia quản trị tài nguyên nước tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long do cơ quan này cùng Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VNR) và Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) thực hiện trong hai năm qua.

Nhóm nghiên cứu nêu thực trạng khu vực thượng nguồn đang bị tác động bởi các đập thủy điện khiến lượng phù sa, bùn cát xuống đồng bằng sông Cửu Long làm thay đổi hoàn toàn chế độ thuỷ văn của vùng hạ lưu. Tác động này làm giảm khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của toàn vùng.

Các nghiên cứu của WWF từ năm 2013 đến 2015, phân tích từ hơn 2.000 ảnh vệ tinh cho thấy ở ven biển Đông (khu vực tỉnh Bến Tre, Trà Vinh) có đến 48% khu vực bờ biển có biểu hiện thoái lui, trong khi chỉ có 22% có biểu hiện lấn ra biển.

Ở khu vực biển Tây (vùng bán đảo Cà Mau) nơi trước đây có tỷ lệ lấn ra biển cao thì nay đến 70% diện tích có diễn biến thoái lui.

“Toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang bị sụt lún dần với tốc độ từ 0,5 – 2,5 cm/năm, các khu vực lún nhanh và nhiều nhất là TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh”, báo cáo nêu.

Ngoài ra, ô nhiễm nguồn nước do thâm canh canh tác nông nghiệp, thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp và các khu đô thị ven sông cũng đáng báo động. Việc  sử dụng khoảng 2 triệu tấn phân bón hóa học, gần 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật  hàng năm có thể gây các rủi ro sự cố môi trường do sự tồn dư hóa chất độc hại trong môi trường nước.

Nhiều mô hình canh tác thủy sản khác nhau với quy lớn dẫn tới lượng chất thải đổ ra sông Tiền và sông Hậu nhiều, khiến mức độ nguy hại cho môi trường nước ngày càng trầm trọng, gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh.

Lượng nước thải của 12.700 doanh nghiệp đang hoạt động chưa được xử lý triệt để, tiếp tục thải ra nguồn tiếp nhận là sông, kênh, rạch, làm suy giảm chất lượng nước mặt, gây nên các dịch bệnh cho nuôi trồng thủy sản và đặc biệt là gây hại đến sức khỏe người dân.

Nhóm nghiên cứu đưa ra 5 khuyến nghị. Một trong số đó là cần duy trì hoạt động của mạng lưới quản trị tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long với các thành viên nòng cốt tại các tỉnh thông qua đầu mối là MekongNet tại Cần Thơ và Mạng lưới sông ngòi tại Hà Nội.

Mở rộng thêm các thành viên là các cá nhân, nhóm cộng đồng địa phương, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ để tăng cường chia sẻ thông tin, nhân rộng các sáng kiến, mô hình thành công trong quản trị tài nguyên nước, phát triển sinh kế.

Bích Ngọc

https://vnexpress.net/khoa-hoc/toan-bo-dbscl-dang-sut-lun-dan-voi-toc-do-gan-2-5-cm-moi-nam-3856166.html

 

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

CHÙM ẢNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ NĂM 2018 – Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?

Một số hình ảnh chọn lọc dưới đây để các bạn sinh viên K.15 tham gia tuyến hành trình thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ  giải đoán, hãy trả lời câu hỏi: Ở ĐÂU? KHI NÀO? CÁI GÌ?, diễn giải nội dung càng chi tiết càng tốt. Đây là bài tập kiểm tra kiến thức đã học, khả năng quan sát thực tế của các bạn đấy.

Ngày 7.12

H_1 ?
H_2?
H_3?
H_4?
H_5?

Ngày 8.12

H_6?
H_7?
H_8
H_9?
H_10?

Ngày 9.12

H_11?
H_12?
H_13?
H_14?

 

Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi

TTO – “Tịnh Biên – An Giang vào mùa nước nổi đẹp như tranh vẽ với hàng cây thốt nốt huyền thoại” – nhiếp ảnh gia Minh Trung (TP. HCM) nhận xét

Mùa nước nổi Tịnh Biên yên bình, đẹp như tranh vẽ – Ảnh: MINH TRUNG

Cây thốt nốt gắn liền với vùng Thất Sơn (hay còn gọi là vùng Bảy Núi) thuộc địa phận huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên của tỉnh An Giang. Vì thế, nơi đây được xem là “xứ sở của thốt nốt”.

Mùa nước nổi Tịnh Biên từ tháng 9 tới 11 hàng năm là thời điểm các nhiếp ảnh gia về đây để sáng tác ảnh.

Du khách đến Tịnh Biên có thể dễ dàng bắt gặp những cây thốt nốt vươn thẳng lên cao 30m, có cây lại uốn cong thân và khi chúng soi bóng mặt hồ tạo nên cấu trúc đối xứng tuyệt đẹp.

Du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh cây thốt nốt khi đến Tịnh Biên, An Giang – Ảnh: MINH TRUNG

Đọc tiếp “Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi”

Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?

Đồ nhựa (plastic) không chỉ trông giống thức ăn, nó phát ra mùi và âm thanh hệt như thức ăn. Rác thải nhựa của con người có đủ loại hình dạng, kích cỡ và màu sắc khác nhau, được đổ thẳng trực tiếp ra biển. Lượng rác này tích tụ ngày càng nhiều, xâm lấn môi trường sống của các sinh vật biển, trở thành nguồn “thực phẩm” chính cho chúng.

(ảnh: Troy Mayne/Greenpeace)

Trong chương trình Blue Planet II gần đây, David Attenborough – phát thanh viên, nhà tự nhiên học người Anh – kể về 1 con hải âu đi kiếm thức ăn cho con non. “Nó ngậm đầy trong miệng… không phải cá, cũng không phải mực, mà là nhựa.”

Attenborough mô tả, đây là 1 điều kỳ lạ và rất đáng thương. Loài hải âu Albatrosses có thể bay hàng ngàn cây số để tìm kiếm con mồi và có thể bắt cá một cách dễ dàng. Vậy vì sao chúng lại có thể bị lừa, trở về từ chuyến đi gian nan của mình, không có gì ngoài những miếng nhựa? Thật ra, hải âu không phải là trường hợp duy nhất. Theo ghi nhận gần đây, đã có ít nhất 180 loài động vật biển thường xuyên tiêu thụ nhựa, từ các sinh vật phù du (zooplankton) đến cá voi khổng lồ.

Đồ nhựa đã được tìm thấy trong ruột của 1/3 lượng cá đánh bắt được ở Anh, gồm nhiều loài cá mà chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Ngoài ra, chúng cũng được phát hiện trong ruột con trai và tôm hùm. Tóm lại, vô số các loài động vật biển đang ăn rác thải nhựa, bởi con người vẫn không ngừng đổ 12,7 triệu tấn phế thải vào đại dương mỗi năm.

Vì số lượng này ngày càng tăng qua từng năm, đến một lúc các loài sinh vật biển không còn gì để tiêu thụ ngoài nhựa. Trong đó, các loài sinh vật phù du cũng không ngoại lệ. Moira Galbraith, nhà sinh thái học tại Viện Khoa học Đại dương, Canada cho biết: “Nếu hạt nhựa rơi vào 1 phạm vi kích thước nhất định thì [đối với các loài sinh vật biển] nó được xác nhận là thức ăn.”

Đến nay, nhiều người thắc mắc rằng rác thải từ nhựa thật sự đã trôi xa đến đâu. Một nghiên cứu đã cho thấy chúng đã trầm xuống tận đáy biển. Qua 12 địa điểm thử nước biển tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương từ năm 2001 đến 2012, người ta thấy hàm lượng các vi hạt nhựa (microplastics) tăng đột biến. Kích thước của chúng chỉ dài 1mm và được tìm thấy từ độ sâu 300 mét dưới Địa Trung Hải đến trên 3.000 mét dưới đáy biển, với mật độ cao gấp 1.000 lần so với lượng rác thải nhựa tìm thấy trên bề mặt.

Nhựa đã trôi dạt tới Nam Cực (ảnh: Hội khảo sát Nam Cực của Anh Quốc)

Đọc tiếp “Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?”

Nhận dạng lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long

Hà Quang Hải, Trần Ngọc Lê Duy

I. Giới thiệu

Cho đến nay, những nghiên cứu về lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long rất ít. Xác định những lòng sông cổ thời kỳ Neogen – Pleistocene thực sự khó khăn. Việc này chỉ có thể thực hiện được qua tài liệu các lỗ khoan đủ dày với các kết quả phân tích tin cậy, nhất là tuổi các phân vị địa tầng.

Xác định sông cổ (các dòng đã ngừng hoạt động) trong Holocen thường dễ dàng hơn do những dấu vết còn để lại trên bề mặt đồng bằng qua tư liệu viễn thám và có thể kiểm tra bằng công trình khoan, đào bề mặt. Tư liệu viễn thám rất hữu ích trong việc nhận dạng lòng sông cổ qua đặc trưng tôn ảnh và hình thái dạng địa hình. Tuy vậy, việc nhận dạng lòng sông cổ một số khu vực gặp khó khăn khi bề mặt đồng bằng bị biến đổi nhiều bởi các hoạt động nhân sinh.

Nghiên cứu lòng sông cổ sẽ giúp hiểu biết môi trường cổ địa lý, đồng thời nhìn nhận khách quan hơn những hiện tượng xói lở hay bồi tụ xảy ra dọc theo các sông, rạch hiện nay cũng như trong tương lai. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu có thể góp phần hiểu biết thêm các nền văn hóa cổ gắn với sông nước như Văn hóa Óc Eo chẳng hạn.

Bài viết này giới thiệu dấu vết lòng sông cổ trên bề mặt đồng bằng sông Cửu Long, khu vực tây Sông Hậu từ Ankor Borei đến Rạch Giá được nhận dạng từ tư liệu viễn thám.

II. Sơ lược lịch sử nghiên cứu

Năm 1930, lần đầu tiên Pierre Paris – nhiếp ảnh gia/nhà khảo cổ học người Pháp đã chụp ảnh hàng không khu vực tây sông Hậu (Bassac River) từ Ankor Borei (Campuchia) đến Rạch Giá (Việt Nam). Paris, đã ghi nhận những kênh cổ trên đồng bằng và đường viền hình chữ nhật lớn, sau này được công nhận là tàn tích của đô thị Óc Eo [4].

Vào những năm 1940, Louis Malleret – nhà khảo cổ học người Pháp đã khai quật tại Óc Eo, xác định hệ thống kiểm soát nước rộng lớn, kiến ​​trúc đồ sộ và nhiều loại hàng hóa thương mại quốc tế [4].

Trong thập niên 1970, sau một thời gian gián đoạn kéo dài bởi Thế chiến II và Chiến tranh Việt Nam, các nhà khảo cổ Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều nghiên cứu mới ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Cuộc điều tra các kênh rạch tại Eo Eo gần đây gợi ý rằng chúng đã từng kết nối với thủ đô Angkor Borei, và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho mạng lưới thương mại đáng chú ý của vương quốc Phù Nam [4].

Sơ đồ hệ thống kênh cổ [2] của Paris cho thấy, các kênh đào thường thẳng và ngắn; dài nhất là kênh 4, kéo thành một đường khá thẳng từ Ankor Borei đến Óc Eo (khoảng 85) km. Các kênh tỏa ra từ hai trung tâm: 1) tại Ankor Borei, các kênh tỏa về phía nam; tại Óc Eo các kênh tỏa ra nhiều hướng (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống kênh đào do Pierre Paris thành lập dựa vào quan sát hàng không. Nguồn: hình 1a [2]; hình 1 b [Ban quản lí di tích Óc Eo]
Đọc tiếp “Nhận dạng lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long”

Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ

Sự xuất hiện của sóng thần Indonesia cùng với sức mạnh hủy diệt mà nó mang theo hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của những nhà nghiên cứu.

Bản đồ của Cục khảo sát địa chất Mỹ

Các nhà khoa học bày tỏ sự bất ngờ trước độ mạnh của sóng thần tàn phá thành phố Palu, Indonesia, vào cuối tuần trước, theo New York Times. Họ cho rằng trận động đất xuất hiện trước đó khó có thể kéo theo những cơn sóng mang sức mạnh hủy diệt như vậy.

“Chúng tôi dự đoán động đất có thể gây sóng thần, nhưng không lớn tới mức đó”, Jason Patton, nhà địa vật lý làm việc cho công ty tư vấn Temblor kiêm giảng viên ở Đại học Humboldt, California, cho biết. “Khi những sự kiện kiểu này xảy ra, chúng tôi thường khám phá ra nhiều điều chưa từng quan sát được trước đây”.

Trận động đất 7,5 độ xuất hiện vào chiều tối hôm 28/9 gây chấn động dọc theo vùng ven biển đảo Sulawesi, cách Palu khoảng 80 km về phía bắc. Theo một số nhân chứng, trong vòng 30 phút sau, những cơn sóng cao tới 6 mét đập vào bờ, phá hủy nhiều tòa nhà, đập nát xe cộ và giết chết hàng trăm người dân trong thành phố.

Số người chết cao có thể phản ánh hiện trạng thiếu hệ thống phát hiện và cảnh báo sóng thần tân tiến của Indonesia, theo giới chuyên gia. Những cộng đồng dân cư khác trên đảo Sulawesi, bao gồm thành phố Donggala, cũng bị sóng thần tàn phá, nhưng có rất ít thông tin về mức độ thiệt hại hoặc số người chết bên ngoài Palu.

Thảm họa sóng thần thường là kết quả của siêu động đất khi những mảng lớn vỏ Trái Đất biến dạng, dịch chuyển theo chiều dọc dọc theo đứt gãy. Quá trình này chuyển chỗ đột ngột một lượng nước khổng lồ, tạo ra cơn sóng di chuyển ở tốc độ cao dọc bồn trũng đại dương và gây thiệt hại ở cách nơi hình thành động đất hàng nghìn kilomet.

Một cây cầu bị phá hủy do động đất và sóng thần ở Palu, Indonesia. Ảnh: Reuters.

Đọc tiếp “Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ”