Quy trình xả nước của thủy điện Hố Hô ‘bất cập’

Tô Văn Trường

Việc thủy điện Hố Hô ở Hương Khê (Hà Tĩnh) xả lũ khiến nhiều người rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” gây ý kiến trái chiều. Theo giới chức địa phương, thủy điện này xả lũ không đúng quy trình. Trong khi chủ đầu tư cho rằng “hồ thủy điện dung tích 38 triệu m3, nước đổ về thời điểm đó khoảng 1.800 m3/s, nếu không xả thì lòng hồ tăng lên 7 triệu m3 nước, nguy cơ mất an toàn đập rất cao”.

Theo quy định, tùy theo loại công trình sẽ có quy trình xả lũ khác nhau. Nếu là đập dâng thì nước về đến đâu xả đến đó, với loại có dung tích phòng lũ thì trước khi lũ về phải đưa hồ về mực nước đón lũ nhằm giảm lũ cho hạ du. Quy trình xả lũ thủy điện được tính toán để đưa ra mực nước lũ thiết kế, mực nước lũ kiểm tra nhằm đảm bảo an toàn hồ đập và hạ du. Dung tích chống lũ cho công trình được tính từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lũ thiết kế.

Quy trình cũng chỉ rõ khi mực nước hồ đạt đến mức độ nào đó, mà nước từ thượng lưu tiếp tục về thì phải mở tràn xả lũ để đảm bảo an toàn. Quy trình phải chỉ rõ phương án phối hợp với cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong việc cảnh báo, thông báo việc xả lũ bao gồm thời gian xả và lượng xả dự kiến.

Các phương án xử lý tình huống ở hạ du được nêu tại Quy trình đảm bảo an toàn hạ du khi xả lũ.

Nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ vào sáng 15/10. Ảnh: Đức Hùng
Nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ vào sáng 15/10. Ảnh: Đức Hùng

Đập thủy điện Hố Hô dài 102 m, bề mặt rộng 5 m nhưng lại cao tới 50 m. Về địa thế, đập nằm ở phía cuối của sườn núi, trước khi sông Ngàn Sâu đổ xuống đồng bằng. Đây là vị trí hứng chịu lượng nước lớn và nhanh từ thượng nguồn sông Ngàn Sâu (trên diện tích lưu vực 278,6 km2). Như vậy, Hố Hô sẽ chịu rất nhiều nguy hiểm khi lũ lớn ở thượng nguồn đổ về.

Đọc tiếp “Quy trình xả nước của thủy điện Hố Hô ‘bất cập’”

VÀI HÌNH ẢNH VỀ ĐỢT KHẢO SÁT ĐỊA MÔI TRƯỜNG ĐẢO PHÚ QUỐC LẦN ĐẦU – THÁNG 06, 2010

Từ năm 2010 đến nay đã bốn lần tới đảo Phú Quốc, trong đó 3 lần hướng dẫn sinh viên khảo sát thực địa làm đề tài và 1 lần đưa gia đình thăm quan đảo. Mỗi lần đến đảo đều chụp khá nhiều ảnh về cảnh quan, môi trường đảo. Mỗi lần đến đều có những kỷ niệm riêng, nhưng đáng nhớ nhất là chuyến khảo sát lần đầu tại đảo.

Tháng 06, năm 2010 dẫn ba sinh viên nghiên cứu thực địa theo các lộ trình quanh đảo. Phú Quốc lúc đó còn hoang sơ, lộ trình khảo sát chủ yếu trên những con đường đất lầy lội, những cầu tre trơn, trượt khi mưa.

Nghiên cứu địa môi trường đảo Phú Quốc thật thú vị, các hệ thống bậc thềm được bảo tồn khá tốt, cấu trúc cuesta hình thành sự bất đối xứng giữa sườn đông và tây đảo. Các di sản địa chất, địa mạo như mũi đá Dinh Cậu, đá chồng An Thới, các bãi biển cát mịn, đẹp làm du khách say đắm.

Cùng chung một lộ trình ban đầu, nhưng ba sinh viên thực hiện ba đề tài theo ba cấp độ khác nhau:

Nguyễn Thanh Thúy (khóa luận) với đề tài “Nghiên cứu giá trị địa chất, địa mạo vùng Hà – Kiên – Phú phục vụ cho việc xây dựng công viên địa chất”

Nguyễn Ngọc Tuyến (luận văn cao học) với đề tài “Đánh giá tổn thương đới ven biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”

Lê Hoài Nam (luận án tiến sỹ) với đề tài “Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”.

Thúy đã bảo vệ khóa luận vào năm 2010, Tuyến bảo vệ luận văn vào năm 2012, và ngày 14 tháng 10 năm 2016 Nam đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ Khoa học môi trường. Việc bảo vệ đề tài luận án tiến sỹ của Nam xem như thày trò đã hoàn thành nhiệm vụ học tập ban đầu, tạm kết thúc một giai đoạn nghiên cứu đảo Phú Quốc kéo dài khoảng 6 năm.

Những hình ảnh dưới đây là kỉ niệm đợt khảo sát lần đầu tại Phú Quốc.

Nam, Tuyến, Thúy khảo sát xói lở
Nam, Tuyến, Thúy khảo sát xói lở
Nam khảo sát xói lở bờ biển
Nam khảo sát xói lở bờ biển
Tuyến, Thúy khảo sát thềm biển Holocen
Tuyến, Thúy khảo sát thềm biển Holocen
Nam khảo sát thềm biển Pleistocen
Nam khảo sát thềm biển Pleistocen
Bốn thày trò trên lộ trình khảo sát
Bốn thày trò trên lộ trình khảo sát

Đọc tiếp “VÀI HÌNH ẢNH VỀ ĐỢT KHẢO SÁT ĐỊA MÔI TRƯỜNG ĐẢO PHÚ QUỐC LẦN ĐẦU – THÁNG 06, 2010”

Ảnh hưởng của kim loại trên hệ sinh thái thủy sinh và sức khỏe con người

Frances Solomon

Khai thác kim loại là một ngành công nghiệp quan trọng đối với đời sống hiện đại của chúng ta. Tuy nhiên, những hoạt động trong mọi giai đoạn khai thác mỏ đều có khả năng xả ra kim loại vào sông, suối, hồ (Ripley và REDMANN, 1978). Kim loại hòa tan trong nước được cá và các sinh vật thủy sinh khác hấp thụ dễ dàng. Chỉ cần một nồng độ nhỏ kim loại vẫn có thể gây độc vì nó có tính bioconventration (tích lũy và không phân hóa) trong môi trường, có nghĩa là nồng độ kim loại trong cơ thể thủy sinh qua thời gian sẽ tích tụ cao hơn so với nồng độ có trong nước. Kim loại độc ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn vong, khả năng hoạt động, phát triển, tuần hoàn và sinh sản của sinh vât. Kim loại có thể gây ngộ độc, làm tổn hại cho sinh vật nhưng không gây tử vong trực tiếp. Phá rối hệ tuần hoàn, khả năng phát triển và sinh sản là ví dụ điển hình của triệu chứng ngộ độc (Wright và Welbourn, 2002).

Ảnh minh họa chất thải từ mỏ
Ảnh minh họa chất thải từ mỏ

Để cho kim loại phát huy độc tính, nó cần phải nhập vào cơ thể của sinh vật tiếp xúc với bề da hoặc bên trong tế bào. Kim loại ô nhiễm cá bằng cách ngấm vào dòng máu qua da và mang hoặc khi cá hấp thụ nước, ăn vi sinh vật, rong ruê, cá nhỏ đã bị nhiễm kim loại. Tương tự như cá con người bị ngộ độc qua đường hô hấp, da hoặc ăn, uống thực phẩm bị nhiễm độc (Wright và Welbourn, 2002). Đọc tiếp “Ảnh hưởng của kim loại trên hệ sinh thái thủy sinh và sức khỏe con người”

Dòng Rip – “quái vật” có thể nuốt chửng người đi tắm biển bất cứ lúc nào

Dù là người thường xuyên đi biển hay chỉ thỉnh thoảng mới ra biển chơi thì bạn cũng phải biết điều này nếu không sẽ rất dễ gặp nguy hiểm.

Rất nhiều người coi tắm biển là một niềm yêu thích. Nhưng họ lại không hề biết rằng nguy cơ chết đuối hay các tai nạn có thể xảy đến bất cứ lúc nào trong lúc đang tận hưởng niềm vui ngoài bờ biển. Phần lớn chúng ta sẽ đổ lỗi cho rượu bia hay bất kỳ lý do nào khác khi những tai nạn này xảy ra.

Nhưng có lẽ chúng ta quên mất hay không nhận thức rõ ràng một nguyên nhân khác. Đó chính là dòng chảy xa bờ – dòng Rip (hay còn gọi là rip current), một kẻ giết người nguy hiểm khi đi tắm biển.

Dòng chảy xa bờ - "con quái vật" có thể cướp đi mạng sống của bạn một cách đầy bất ngờ
Dòng chảy xa bờ – “con quái vật” có thể cướp đi mạng sống của bạn một cách đầy bất ngờ

Dòng Rip hay những con sóng rút xa bờ là một trong những hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm nhất bạn có thể gặp phải khi chơi ngoài biển. Những dòng Rip có thể nhấn chìm ngay cả những vẫn động viên bơi chuyên nghiệp và khi tai nạn ập đến, chúng ta hoảng loạn, không biết nên xử lý như thế nào dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.

Những dòng Rip đặc biệt nguy hiểm bởi thường xảy ra ở những vùng nước nông ngay bờ biển với nhiều cát hay những đảo nhỏ như Vịnh Mexico, biển Azov chẳng hạn.

Một lượng lớn nước biển không thể chảy ra biển ngay khi thủy triều rút vì chính những rào cản tự nhiên này và sẽ tiếp tục tạo dòng chảy ngược ra biển về sau.

Vận tốc trung bình của dòng chảy có thể thay đổi từ 0,5 m đến 1m/giây, khi đó không ai có khả năng bơi ngược nó để vào bờ. Có khi do những thay đổi đột ngột của sóng biển, vận tốc dòng chảy rút xa bờ có thể lên đến 2,5 m/giây, nhanh hơn cả vận tốc bơi của một vận động viên bơi lội Olympic.

Hình ảnh dưới đây sẽ cho thấy nguyên lý hoạt động của các dòng Rip.

Sóng đập vào bờ khiến nước rẽ sang hai bên, dòng nước này di chuyển dọc theo bờ cho đến khi tìm ra lối thoát ngược ra khơi
Sóng đập vào bờ khiến nước rẽ sang hai bên, dòng nước này di chuyển dọc theo bờ cho đến khi tìm ra lối thoát ngược ra khơi

Những dòng chảy hẹp này có thể xuất hiện bất cứ đâu trên bãi biển. Các con sóng gối lên nhau, mang theo càng nhiều nước hơn vào bờ với vận tốc sóng khác nhau từ đó hình thành những dòng chảy ngược ra biển gần giống như con sông nhỏ giữa vùng biển.

a_3

a_4

Những dòng Rip chảy ngược ra biển và một vài nạn nhân không may mắn gặp phải chúng.

Những dòng Rip thường hẹp, rộng 2-3 m và di chuyển với vận tốc 4-5 km/h. Những con sóng này thật sự không quá nguy hiểm. Tuy nhiên, khi đạt đến vận tốc 15km/h và dài từ 200-400m, dòng Rip thật sự là mối nguy hiểm lớn cho những ai thích dạo chơi ngoài bãi biển.

Vậy đặc điểm nào để phát hiện và tránh xa dòng Rip? Nếu bạn nhìn thấy những dòng nước chảy nhanh sang góc phải bờ biển, nước ở vùng quanh bờ biển có màu sắc khác lạ (thường là những vùng nước màu trắng bị bao quanh bởi dòng nước xanh lục hoặc xanh lam sáng) hoặc xuất hiện vùng nước sủi bọt, chảy nhanh ra biển thì hãy cẩn thận nhé, đó có thể là dòng Rip đấy.

a_5

Hãy nhớ rằng những dòng Rip như thế này có thể xảy ra ở bất cứ đâu dọc bờ biển. Nếu nước ở chỗ bạn đang đứng đang từ thắt lưng và dâng lên ngang ngực thì có nghĩa là dòng Rip xuất hiện và sẽ có thể cuốn luôn bạn ra biển.

Tất nhiên, những người không biết bơi sẽ dễ lâm vào tình trạng này hơn ai hết bởi khi ra biển họ thường chỉ chơi ở một vị trí trong thời gian khá dài. Để đề phòng những tình huống xấu có thể xảy ra, đừng đi quá xa một mình, và phải đặc biết chú ý những khu vực có cờ đỏ hoặc biển cảnh báo.

Khi bất ngờ gặp phải “con quái vật” này, bạn hãy bình tĩnh và nhớ rõ một số quy tắc sau nhé:

  1. Đừng hoảng sợ

Khi chúng ta đang trong trạng thái hoảng loạn, những hành động được chi phối bởi bản năng tự vệ và việc đưa ra những quyết định dựa trên lý trí trở nên khó khăn hơn nhiều. Nếu bạn biết cách xử lý khi bị cuốn vào dòng chảy xa bờ, bạn sẽ có nhiều khả năng sống sót.

  1. Giữ sức

Đừng cố chống lại dòng nước bằng cách bơi ngược lại vào bờ. Không may là điều đó không có ích gì mà còn tiêu tốn hết năng lượng của bạn. Thay vì bơi vào bờ, hãy bơi song song với nó. Nếu dòng chảy xa bờ hẹp (dưới 5 mét), bạn có thể thoát khỏi nó rất nhanh.

  1. Với dòng chảy xa bờ rộng (từ 20 mét trở lên)

Không dễ thoát thân trong tình huống này, kể cả nếu bạn làm theo hướng dẫn là bơi song song với bờ. Nhưng khi bạn nhận ra mình không thể thoát ra, đừng hoảng loạn. Cứ bình tĩnh, vì dòng Rip không kéo dài lâu, nó sẽ hết trong vòng 5 phút. Khi nó đã hết, đầu tiên hãy bơi khoảng 50-100 mét song song với bờ, sau đó mới bơi vào bờ. Nếu bạn cố bơi vào bờ ngay, có khả năng dòng chảy ngược sẽ lại tiếp tục đúng chỗ đó, và bạn lại mắc kẹt.

Nhìn thì tưởng không có gì nhưng chúng rất nguy hiểm
Nhìn thì tưởng không có gì nhưng chúng rất nguy hiểm
Tấm biển cảnh báo dòng Rip
Tấm biển cảnh báo dòng Rip

Những điều cần nhớ:

  1. Dòng Rip không bao giờ kéo bạn xuống

Dòng chảy xa bờ không giống như xoáy nước. Chúng giữ bạn trên mặt nước chứ không bao giờ xuống đáy biển.

  1. Độ rộng của dòng Rip luôn có giới hạn

Thông thường chúng không bao giờ rộng quá 50 mét. Phổ biến hơn, chúng không rộng quá 10-20 mét. Nên khi bạn đã bơi dọc theo bờ biển khoảng 20-30 mét, thì bạn có thể yên tâm là mình đã thoát khỏi nó an toàn.

  1. Độ dài của một dòng Rip luôn có giới hạn

Dòng nước luôn yếu đi khá nhanh, và kết thúc khi con sóng đạt đến đỉnh và bắt đầu đổ xuống. Những người lướt sóng gọi khu vực này là “xếp hàng”, thường thì nó cách bờ không quá 100 mét.

Hãy nói với bạn bè về những điều này. Bạn không chỉ có thể tự cứu mình mà còn cứu được người khác.

(Nguồn: Bright Side)

 Theo Linh Phương / Trí Thức Trẻ

Hiến kế “cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long”

KS. Lê Quang Cảnh – KS. Hoàng Đình Khảm

Môi trường và tài nguyên đồng bằng Sông Cửu Long bị suy giảm nghiêm trọng do các tác động nhân sinh và tự nhiên từ nhiều năm qua: phát triển hệ thống thủy điện dày đặc trong lưu vực và khai thác vật liệu đáy sông dẫn đến thiếu hụt phù sa, thiếu nguồn nước lũ làm cho đồng ruộng không được bổ sung dưỡng chất, khô hạn, xói lở bờ sông bờ biển gia tăng. Khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún mặt đất, phát sinh ô nhiễm arsen tầng nước ngầm sâu. Tác động tổng hợp nhân sinh và tự nhiên cũng đang là vấn đề lớn đối với dải đất ven biển.

Bài Hiến kế “cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Lê Quang Cảnh và Hoàng Đình Khảm là một ý tưởng hay, rất mong các nhà khoa học, nhà quản lý suy ngẫm và phát triển. Đây cũng là một chủ đề lý thú mà các bạn sinh viên ngành môi trường có thể thực hiện đề tài tốt nghiệp các cấp từ khóa luận, luận văn đến luận án tiến sỹ.

TTO – Ngày xưa tạo hóa đã ban tặng cho đồng bằng rộng lớn của Nam bộ Việt Nam sự giàu có về lúa gạo, trù phú cây trái và dồi dào tôm cá.

Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy - Ảnh: DUY KHANG
Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy – Ảnh: DUY KHANG

Từ ngàn đời, sông Mêkông là nguồn lợi, là tài nguyên chung của sáu quốc gia có dòng sông chảy qua.

Nhưng ngày nay, một số nước nằm ở thượng nguồn sông Mêkông đã xây dựng nhiều đập lớn chặn nước lại để sử dụng nước ngọt cho canh tác và làm thủy điện, nên lượng nước chảy xuống hạ lưu bị giảm rất nhiều, càng về sau càng thiếu hụt lớn hơn!

Như vậy, chúng ta chẳng còn hi vọng gì vào sự thay đổi, cải thiện tình hình cung cấp nước cho sông Cửu Long từ dòng Mêkông được nữa rồi!

Mùa mưa không có lũ về, mùa nắng hạn dòng sông Cửu Long khô cạn, lại gánh thêm tình trạng biến đổi khí hậu đã làm cho cả đồng bằng Nam bộ bị thiệt hại rất nặng nề trong năm vừa qua. Kinh tế, sinh hoạt, đời sống dân cư bị đảo lộn.

Chỉ còn cách duy nhất là chúng ta phải tự cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long để trả lại sự trù phú và phồn vinh như nó từng có. Đề xuất cải tạo bao gồm 2 việc lớn:

1- Sông Cửu Long trước đây có chức năng thải nước lũ ra biển Đông; nay không còn lũ nữa nên cải tạo làm chức năng trữ nước ngọt. Chỉ để lại con sông Hậu làm nhiệm vụ xả lũ là đủ, các sông còn lại nên xây đắp đập ở cửa sông để giữ nước ngọt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.

2- Hai vùng trũng lớn trước đây trồng lúa là Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên sẽ cải tạo thành hồ sinh thái, trữ nước ngọt giống như chức năng Biển Hồ của Campuchia.

Thực tế đã chứng minh nhờ có Biển Hồ dự trữ một lượng nước ngọt khổng lồ, Campuchia đã thoát được tình cảnh khó khăn trong mùa khô hạn, dù có bị ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, dù dòng nước ở sông Mêkông chảy về đã bị giảm thiểu.

Biển Hồ Tonle Sap ở Campuchia có diện tích thay đổi từ 10.000km2 trong mùa khô và 16.000km2 vào mùa lũ.

Diện tích của tứ giác Long Xuyên (4.890km2) và Đồng Tháp Mười (6.970km2) cộng với diện tích cải tạo 8 con sông thành hồ chứa, thì sau cải tạo ở đồng bằng Nam bộ sẽ xuất hiện các hồ lớn trữ nước ngọt, được phân bố nhiều nơi, tổng khối lượng nước ngọt tương đương Biển Hồ, nếu không muốn nói là nhiều hơn.

Nếu chúng ta thực hiện kế hoạch như trên sẽ giải quyết, khắc phục được các khó khăn cùng những tồn tại lớn sau đây:

– Đủ nước ngọt cho canh tác và sinh hoạt của cư dân đồng bằng Nam bộ, kể cả trong mùa hạn hán.

– Nhờ có các hồ lớn trữ nước ngọt phân bố rất rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long, giúp cho nguồn cung và dự trữ nước ngầm (nước dưới đất) trong vùng vô cùng phong phú, không bao giờ cạn kiệt, dễ khai thác khi cần.

– Những hồ nhân tạo lớn trữ chứa khối lượng nước ngọt khổng lồ, tạo ra áp lực vô cùng lớn trên khu vực rộng, sẽ cản chặn có hiệu quả sự xâm nhập mặn vào nội đồng.

– Thủy sản, hải sản được phát triển đa dạng và phong phú trên các hồ sinh thái nước ngọt.

– Các hồ sinh thái nước ngọt lớn được phân bố trên nhiều vùng của đồng bằng Nam bộ, tạo ra trữ lượng nước ngầm vô cùng lớn. Nước mặt cùng với nước ngầm phong phú sẽ giúp phát triển cây trồng cùng thảm thực vật, tạo ra khí hậu trong lành, môi trường thiên nhiên tốt cho cả vùng đồng bằng này.

– Nếu ý tưởng cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long theo cách này được thực hiện thành công thì sẽ là bài học lớn, là tấm gương điển hình cho việc xây dựng các hồ trữ nước ngọt nhân tạo những nơi trọng yếu ở vùng Tây nguyên và miền Trung Việt Nam luôn chịu cảnh khô hạn.

Bằng việc cải tạo một số dòng sông ngắn và dốc chỉ làm mỗi nhiệm vụ tiêu thoát nước, “thải kiệt hết nước ngọt, rất lãng phí” xuống biển Đông trong mùa lũ, có thêm được chức năng mới là dự trữ nước ngọt cho mùa nắng hạn.

Xuất phát từ lòng yêu thương đồng bào Nam bộ ruột thịt, mặc dù đã suýt soát tuổi 80, chúng tôi cũng muốn đóng góp chút sáng kiến nhằm góp phần giúp khắc phục, tháo gỡ tình hình khó khăn hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long.

Qua phương tiện truyền thông điện tử, chúng tôi kính chuyển đến các cơ quan chức năng, đến những cán bộ làm khoa học kỹ thuật trẻ tuổi và đến những người dân Nam bộ – lực lượng trực tiếp thực hiện ý tưởng khi đã đồng tình và hưởng ứng.

Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20161005/hien-ke-cai-tao-lai-dong-bang-song-cuu-long/1182924.html

HÀ NỘI – HUẾ – SÀI GÒN CÙNG LỘI

Hà Quang Hải

I.Dẫn nhập

Hà Nội ngập nước mưa, Sài Gòn ngập mưa và triều thì biết lâu rồi, nhưng chiều 21 tháng 9 đọc báo vietnamnet và tuoitre thấy nhiều tuyến đường ở trung tâm TP Huế cũng bị ngập sau một trận mưa lớn. Chiều 26 tháng 9, Sài Gòn lại bị ngập khủng khiếp sau một trận mưa kéo dài mà theo các nhà khí tượng đây là trận mưa kỷ lục trong vòng 40 năm qua. Thiệt hại về tài sản, về môi trường do những trận mưa lụt chẳng ai tính, nhưng chắc chắn rất lớn.

Không chỉ Hà Nội, Huế, Sài Gòn ngập do mưa mà còn nhiều thành phố khác cũng ngập. Nằm thấp như thành phố Tân An (Long An), Thái Bình, Hải Dương ngập đã đành, nhưng cao như TP. Biên Hòa, Thái Nguyên, thậm chí thành phố trên cao nguyên như Đà Lạt cũng ngập.

Số tiền nhà nước bỏ ra để chống ngập hàng năm chưa ai tổng hợp được, nhưng chắc chắn là con số khủng. Chỉ riêng TP. Hồ Chí Minh, trong 10 năm qua đã tiêu khoảng 24.300 tỷ đồng để thực hiện các dự án chống ngập [3]. Thành phố tiếp tục đề xuất vay nhiều ngàn tỷ đồng để chống ngập cho những năm sắp tới [4].

Nguyên nhân ngập ở TP. Hồ Chí Minh được các nhà quản lý dẫn ra bao gồm 1) mưa lớn do biến đổi khí hậu, hệ thống thoát nước không đáp ứng, 2) triều cường do biến đổi khí hậu (mực nước biển dâng), nguyên nhân khác là do đô thị hóa, sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm, hệ thống cống thoát bị tắc nghẽn [2].

Các nguyên nhân ngập lụt nêu trên, có lẽ do hệ thống thoát nước không đáp ứng là đúng hơn cả, còn nguyên nhân do biến đổi khí hậu (do trời mưa lớn, do biển dâng) thì nghe rất hài, nói cho vui. Theo người viết bài này thì nguyên nhân cốt lõi của vấn đề là Đô thị hóa tràn lan, không kiểm soát được chu trình nước diễn ra tại hầu hết các thành phố trên cả nước.

Đô thị hóa dẫn đến sự biến đổi chu trình nước là một trong những bài học cơ bản của môn học Địa chất môi trường. Việc đô thị hóa nếu không xem xét đến tỷ lệ diện tích bê tông hóa (bề mặt không thấm) và bề mặt tự nhiên cũng như việc tính toán độ lớn kênh thoát nước mưa cho từng lưu vực nhỏ chỉ một vài km2 trong đô thị sẽ dẫn đến lũ lụt đô thị [6].

II. Đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước

Chu trình nước, còn được gọi là chu trình thủy văn, là sự trao đổi liên tục nước giữa các thể nước. Khoảng 97% lượng nước trên trái đất được lưu trữ trong các đại dương, và chỉ có một phần nhỏ của phần còn lại là nước ngọt có thể sử dụng. Khi mưa rơi trên mặt đất, nó sẽ di chuyển theo các tuyến khác nhau. Một số bốc hơi, quay trở lại bầu khí quyển, một số thấm xuống đất, và phần còn lại sẽ trở thành nước bề mặt chảy theo sông, suối đến hồ và đại dương. Các bề mặt không thấm trong các khu vực đô thị hóa sẽ làm thay đổi lượng nước tự nhiên theo từng tuyến. Hậu quả của sự thay đổi này là giảm khối lượng nước thấm vào lòng đất, gia tăng khối lượng và giảm chất lượng nước mặt (Hình 1) [7].

Hình 1. Minh họa bề mặt không thấm và các hệ thống thoát nước đô thị làm tăng dòng chảy mặt đến sông ngòi. Khối lượng lớn, tốc độ và thời gian dòng chảy sẽ gia tăng xói mòn và vận chuyển trầm tích từ cảnh quan và bờ sông sẽ gây tắc nghẽn kênh sông và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 1. Minh họa bề mặt không thấm và các hệ thống thoát nước đô thị làm tăng dòng chảy mặt đến sông ngòi. Khối lượng lớn, tốc độ và thời gian dòng chảy sẽ gia tăng xói mòn và vận chuyển trầm tích từ cảnh quan và bờ sông sẽ gây tắc nghẽn kênh sông và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 2. Biểu đồ thủy văn minh họa lưu lượng đỉnh dòng chảy mặt do mưa trong một lưu vực trước (đường đỏ) và sau đô thị hóa (đường vàng). Với diện tích lớn bề mặt không thấm nước trong lưu vực, dòng chảy mặt sẽ có một khối lượng lớn, tốc độ nhanh hơn sẽ gây ra nhiều lũ lụt và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 2. Biểu đồ thủy văn minh họa lưu lượng đỉnh dòng chảy mặt do mưa trong một lưu vực trước (đường vàng) và sau đô thị hóa (đường đỏ). Với diện tích lớn bề mặt không thấm nước trong lưu vực, dòng chảy mặt sẽ có một khối lượng lớn, tốc độ nhanh hơn sẽ gây ra nhiều lũ lụt và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 3. Sự gia tăng dòng chảy mặt do đô thị hóa [7]
Hình 3. Sự gia tăng dòng chảy mặt do đô thị hóa [7]

Với mặt đất tự nhiên, 25% lượng mưa thấm vào tầng nước ngầm và chỉ 10% là dòng chảy mặt. Khi diện tích mặt không thấm tăng, nước chuyển thành dòng mặt nhiều hơn. Những khu vực đô thị hóa mạnh, hơn một nửa lượng nước mưa trở thành dòng chảy bề mặt, chỉ một phần nhỏ xâm nhập vào tầng nước ngầm. Sự gia tăng dòng chảy bề mặt đòi hỏi gia tăng hệ thống thoát nước để giảm thiểu lũ lụt [7].

Như vậy, đô thị hóa sẽ làm thay đổi chu trình nước, tùy theo mức độ đô thị hóa mà cường độ và tần suất lũ sẽ khác nhau trong các diện tích lưu vực nhỏ chỉ một vài cây số vuông. Tỷ lệ gia tăng này là hàm số của phần trăm mặt đất bị che phủ bởi mái nhà, vỉa hè, và bề mặt xi măng (bề mặt không thấm nước) và phần trăm diện tích có hệ thống thoát nước thích hợp. Hệ thống thoát nước rất quan trọng vì chúng cho phép dòng chảy mặt đô thị từ các bề mặt không thấm nước đến các kênh sông nhanh hơn nhiều so với môi trường tự nhiên. Do đó có thể xem bề mặt không thấm nước và hệ thống cống thoát là tiêu chuẩn đánh giá mức độ đô thị hóa [6, 7].

III. Một ví dụ về đô thị hóa và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh

Đô thị hóa ở TP. HCM tràn lan, thu hẹp diện tích đất tự nhiên, nâng cao địa hình vùng đất thấp, san lấp nhiều kênh rạch, thu hẹp dòng chảy, chèn thêm công trình vào diện tích đất trống ít ỏi còn sót lại, nâng cấp đường xá …đều ảnh hưởng đến chu trình nước, dẫn đến sự biến động về điểm ngập, diện ngập kể cả xuất hiện những dòng lũ đô thị như cuối tháng 9 vừa qua (dòng lũ khá mạnh, cuốn trôi cả xe máy). Ngập lụt sân bay Tân Sơn Nhất vừa qua là một trong những ví dụ do đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước.

1) Sân bay Tân Sơn Nhất – một điểm ngập mới

“Lúc 18h (ngày 26 tháng 8) một trận mưa lớn khiến cho khu vực đường băng của sân bay bị ngập lụt gây ảnh hưởng đến việc cất, hạ cánh…đường lăn M1 của sân bay phải dừng hoạt động hơn một tiếng do nước ngập khoảng 30 cm. Sự cố này khiến 70 chuyến bay đến Tân Sơn Nhất bị ảnh hưởng. Trong đó có 2 chuyến bị hủy, 14 chuyến phải hạ cánh xuống các sân bay lân cận như Liên Khương, Cam Ranh… 4 chuyến bay quốc tế không hạ cánh được phải đáp xuống sân bay của Campuchia, Thái Lan” [9]. Như vậy có thể xem sân bay Tân Sơn Nhất là điểm ngập mới xuất hiện.

Hình 4. Bãi đỗ của sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nặng. Theo báo cáo của Cuc Hàng không thì có chỗ ngập đến 50cm (Ảnh: Hoàng Lân/Vietnamnet)
Hình 4. Bãi đỗ của sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nặng. Theo báo cáo của Cuc Hàng không thì có chỗ ngập đến 50cm (Ảnh: Hoàng Lân/Vietnamnet)

2) Về địa điểm xây dựng sân bay

Sân bay Tân Sơn Nhất do người Pháp xây dựng vào năm 1930, dài hơn 1500 m bằng đất đỏ. Năm 1956 người Mỹ xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m bằng bê tông [8]. Bản đồ địa chất TP. HCM tỉ lệ 1:50.000 [1] cho thấy địa điểm chọn xây dựng sân bay là tối ưu:

Địa chất công trình: nền móng cấu tạo bằng aluvi cổ (cát, sét , laterit) rất thuận lợi cho xây dựng các công trình nặng.

Địa mạo: địa hình cao 5,0 m (vị trí cao nhất khu vực), dạng hơi vòm (vòm Tân Sơn Nhất) được bao bọc xung quanh bởi các kênh, rạch tự nhiên: phía tây là rạch Cầu Mới đổ ra rạch Bến Cát chảy bọc phía bắc, vòng xuống đông nam rồi ra sông Sài Gòn. Phía nam là kênh Nhiêu Lộc đổ ra sông Sài Gòn ở Thị Nghè (Hình 5).

Hình 5. Bản đồ địa hình khu vực Tân Sơn Nhất năm 1968
Hình 5. Bản đồ địa hình khu vực Tân Sơn Nhất năm 1968
Hình 6. Ảnh hàng không khu vực sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968 Các khu vực có tôn ảnh màu đen là vùng thấp (ẩm) và thực vật. (Nguồn Internet)
Hình 6. Ảnh hàng không khu vực sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968 Các khu vực có tôn ảnh màu đen là vùng thấp (ẩm) và thực vật. (Nguồn Internet)

Trên bản đồ địa hình và ảnh hàng không năm 1968 (Hình 5, 6) dễ dàng nhận thấy sân bay được xây dựng trên đỉnh vòm. Một vùng đệm bao quanh khá rộng có độ dốc nghiêng thoải về xung quanh vừa tạo thuận lợi cho dòng nước mặt thoát về các rạch vừa đảm bảo an ninh sân bay. Hơn nữa, bề mặt aluvi cổ chủ yếu là các trầm tích hạt thô làm cho nước mưa dễ thấm xuống sâu.

3) Đô thị hóa dẫn đến ngập lụt sân bay

Với những bức ảnh vệ tinh có thể tính toán tỉ lệ bê tông hóa bề mặt địa hình Vòm Tân Sơn Nhất theo thời gian một cách dễ dàng, từ đó có thể xác định được mối quan hệ giữa bê tông hóa và tình trạng ngập nước đô thị.

Để có cái nhìn trực quan về đô thị hóa (bê tông hóa) khu vực sân bay, tôi xoay và cắt ảnh Google Earth (Hình 7) có khung hình tương tự như ảnh hàng không năm 1968. Hình 7 cho thấy các công trình gần như phủ kín vùng đệm, tiến sát tới đường biên sân bay. Diện tích vùng thấp (ẩm ướt) và cây xanh trên Hình 7 chỉ còn lại không đáng kể.

Hình 7. Ảnh Google Earth khu vực Tân Sơn Nhất ngày 24 tháng 3 năm 2015
Hình 7. Ảnh Google Earth khu vực Tân Sơn Nhất ngày 24 tháng 3 năm 2015

Kiểm tra độ cao trên ảnh Google Earth nhận thấy: độ cao sân bay trung bình trong khoảng 5 – 8 m. Các công trình bao quanh có độ cao 8-12 m. Khu vực sân golf phía bắc có độ cao khoảng 8 – 10 m.

Như vậy, một vùng đệm thấp hơn sân bay đã không còn, các công trình xây dựng xung quanh cao hơn (nền công trình cao, nóc mái nhà cao) đã biến sân bay thành vùng trũng (Hình 8), vì vậy việc ngập nước mưa trong sân bay là đương nhiên. Có thể gọi hiện tượng này là nghịch đảo địa hình nhân tạo.

Hình 8. Do đô thị hóa, Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành vùng trũng. Ảnh Google Earth 24.03.2015
Hình 8. Do đô thị hóa, Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành vùng trũng. Ảnh Google Earth 24.03.2015

IV.Kết luận

Không chỉ Hà Nội – Huế – Sài Gòn ngập lụt mà nhiều thành phố khác cũng đang chịu cảnh ngập lụt. Các thành phố nằm trên địa hình thấp – ngập, trên địa hình cao – ngập, năm ngoái không ngập, năm nay ngập, năm nay không ngập nhưng có thể sang năm ngập.

Đường phố trở thành những dòng nước lũ cuốn theo các chất ô nhiễm – đó là lũ lụt đô thị chứ không chỉ là ngập lụt. Lũ lụt do đô thị hóa là tên gọi mà các giáo trình cơ bản về Địa chất môi trường vẫn thường sử dụng.

Mất vài chục ngàn tỷ chống ngập trong nhiều năm như TP.Hồ Chí Minh nhưng thành phố vẫn ngập, thêm vài chục ngàn tỷ nữa chắc cũng chẳng giải quyết được ngập nếu như tình trạng quản lý đô thị vẫn như những năm qua.

Xin trích một đoạn kèm theo bức hình từ bài đăng trên Vietnamnet của Lê Nguyễn Duy Hậu sáng nay (30 tháng 09 năm 2016) để kết thúc cho bài viết này.

“Tôi chợt nhớ hồi tháng 6/2016, sân bay Đào Viên của Đài Loan bị ngập.  Ngay lập tức, người đứng đầu sân bay này xin từ chức. Riêng mùa mưa năm nay, sân bay Tân Sơn Nhất đã ngập hai lần, vẫn chưa thấy quan chức nào đứng ra xin lỗi và nhận trách nhiệm cả” [5].

Rốt cuộc thì vai trò và trách nhiệm của cơ quan chức năng ở đâu sau trận lụt lịch sử vừa qua?. Ảnh: Phúc Lập/Nongnghiep.vn. nguồn [7]
Rốt cuộc thì vai trò và trách nhiệm của cơ quan chức năng ở đâu sau trận lụt lịch sử vừa qua?. Ảnh: Phúc Lập/Nongnghiep.vn. nguồn [5]

Tham khảo   

[1] Hà Quang Hải và nnk. 1989. Báo cáo lập bản đồ Địa chất và khoáng sản TP. Hồ Chí Minh tỷ lệ 1:50.000.

[2] Đức Hà. TP Hồ Chí Minh: Gian nan chống ngập. http://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/TP-Ho-Chi-Minh-Gian-nan-chong-ngap-398074/

[3] Hữu Nguyên. Đầu tư hơn 24.000 tỷ đồng, TP HCM vẫn chưa hết ngập. http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/dau-tu-hon-24-000-ty-dong-tp-hcm-van-chua-het-ngap-3246983.html

[4] Hữu Nguyên. TP HCM muốn vay 422 triệu USD tiếp tục chống ngập. http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/tp-hcm-muon-vay-422-trieu-usd-tiep-tuc-chong-ngap-3223863.html

[5] Lê Nguyễn Duy Hậu. Dân lội nước, quan chức ở đâu?. http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/331383/dan-loi-nuoc-quan-chuc-o-dau.html

[6] Edward A. Keller. 2012. Introduction to Environmental Geology. Pearson Prentice Hall.

[7] How Urbanization Affects the Water Cycle. http://www.coastal.ca.gov/nps/watercyclefacts.pdf.

[8] Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n_bay_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_T%C3%A2n_S%C6%A1n_Nh%E1%BA%A5t

[9] Vũ Điệp. Mưa ngập sân bay Tân Sơn Nhất, hơn 70 chuyến bay bị ảnh hưởng. http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/323531/mua-ngap-san-bay-tan-son-nhat-hon-70-chuyen-bay-bi-anh-huong.html

 

CẦN TRẢ LẠI CHÂN LÝ KHOA HỌC CHO KẾT LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN CÁ CHẾT

Nguyễn Đức Thắng, ndthangndt@yahoo.com, Hà Nội, 01/8/2016

Chiều 30 tháng 6 năm 2016, Chính phủ Việt nam đã chính thức công bố nguyên nhân cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung. Theo đó, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) chính là “thủ phạm”.

Có một số nhà khoa học đã viết bài phản biện về nguyên nhân cá chết sau khi chính phủ công bố. Địa môi trường giới thiệu bài “Cần trả lại chân lý khoa học cho Kết luận về nguyên nhân cá chết” của TS. Nguyễn Đức Thắng để các bạn sinh viên đang học môn Quản lý tổng hợp đới bờ tham khảo và thảo luận.

trang_1

trang_2

trang_3

trang_4

trang_5

trang_6

trang_7

trang_8

trang_9

trang_10

trang_11

trang_12

trang_13

trang_14

Nguồn: Tác giả gửi trực tiếp vào Email: hqhai@hcmus.edu.vn

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG TIỀM NĂNG LŨ QUÉT (ví dụ cho huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh)

Nguyễn Thị Mỹ Duyên

1.Giới thiệu

Việt Nam có ¾ diện tích là đồi núi, lũ quét xảy ra thường xuyên, nhất là trong điều kiện thảm phủ rừng đang ngày bị phá hủy. Lũ quét đã gây ra những thiệt hại to lớn về người và của cải của xã hội. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Phòng chống Lụt bão Trung Ương, từ năm 2000 đến 2014 nước ta đã xảy ra 250 lượt lũ quét, sạt lở, làm chết và mất tích 646 người, bị thương gần 351 người; hơn 9.700 căn nhà bị đổ, trôi; hơn 100.000 căn nhà bị ngập, hư hại nặng; hơn 75.000 ha lúa và hoa màu bị ngập; hàng trăm ha đất canh tác bị vùi lấp; nhiều công trình giao thông, thủy lợi bị hư hỏng nặng nề.

Lũ quét là một loại hình lũ miền núi có vận tốc dòng chảy và biên độ mực nước rất lớn, lũ xảy ra bất ngờ, trong một khoảng thời gian ngắn (lên nhanh, xuống nhanh), dòng nước có lượng lớn vật liệu vụn, chảy xiết và có sức tàn phá lớn.

Lũ quét xuất hiện khi tồn tại hai yếu tố đồng thời:

– Đất đá bở rời hoặc đất đá liên kết yếu trên đường đi của dòng chảy.

– Dòng chảy với vận tốc đủ lớn để cuốn trôi đất đá bở rời tạo thành pha rắn của dòng chảy.

Bài viết này là kết quả của đề tài khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học môi trường với việc sử dụng Công nghệ Viễn thám và GIS để xây dựng bản đồ tiềm năng lũ quét lấy ví dụ cho huyện Hương Khê, nơi đã từng xảy ra lũ quét vào các năm 2002, 2007 và 2013.

2.Thành lập bản đồ

Để thành lập bản đồ, trước hết cần xác định các nhân tố chủ yếu gây lũ quét. Mỗi nhân tố gây lũ quét được xem là một chỉ số và được xây dựng thành lớp chuyên đề (bản đồ thành phần). Từ các bản đồ thành phần, tiến hành chồng lớp các bản đồ thành phần bằng công cụ Raster Calculator (Spatial Analyst) trong phần mềm ArcGis. Sau đó tiến hành phân cấp bản đồ đó để được bản đồ kết quả.

Trong đề tài này, các nhân tố để thành lập bản đồ thành phần được thực hiện theo phân tích của Greg Smith (2010). Theo ông các nhân tố ảnh hưởng tới lũ quét gồm có:

– Độ dốc: đặc trưng cho tốc độ tập trung dòng chảy.

– Loại đất đặc trưng cho khả năng thấm nước.

– Loại hình sử dụng đất đặc trưng cho khả năng thấm và tốc độ dòng chảy.

– Mật độ rừng đặc trưng cho khả năng ngăn cản nước và khả năng thấm

Những bản đồ thành phần được thành lập như sau:

2.1 Bản đồ độ dốc

Bản đồ độ dốc (hình 2) được xây dựng từ mô hình số độ cao DEM ASTER (hình 1).

H1_2

2.2 Bản đồ phân cấp loại đất

Bản đồ phân cấp loại đất (hình 4) được xây dựng từ bản đồ đất huyện Hương Khê tỉ lệ 1:100.000 (hình 3).

H3_4

2.3 Bản đồ lớp phủ thực vật

Bản đồ lớp phủ thực vật (hình 5) được xây dựng từ việc tính toán chỉ số NDVI dựa vào kênh 4 và 5 của ảnh vệ tinh Landsat 8 theo công thức:

Trong đó:  IR = giá trị điểm ảnh từ kênh cận hồng ngoại (B5);  R = giá trị điểm ảnh từ kênh phổ màu đỏ (B4).

H5

2.4 Bản đồ phân cấp loại hình sử dụng đất

Bản đồ phân cấp loại hình sử dụng đất (hình 7) được xây dựng từ bản đồ sử dụng đất huyện Hương Khê tỉ lệ 1:50000 (hình 6). Việc phân cấp dựa vào khả năng giữ nước và bảo vệ đất của từng loại hình sử dụng đất khác nhau.

H6_7

3.Kết quả

3.1 Bản đồ phân vùng tiềm năng lũ quét

Bốn bản đồ thành phần được định dạng raster có cùng độ phân giải (kích thước pixel) và thực hiện phép nhân để có bản đồ phân vùng tiềm năng lũ quét định dạng raster (hình 8); sau đó, thực hiện vecter hóa bản đồ để phục vụ cho việc phân tích địa lý (hình 9).

H8_9

Bản đồ phân vùng tiềm năng lũ quét được phân thành 3 cấp: thấp, trung bình và cao. Vùng có tiềm năng lũ quét cao chiếm gần 25% diện tích khu vực nghiên cứu, chủ yếu phân bố 1) thành hai dải ở vùng chuyển tiếp giữa địa hình núi cao và địa hình thung lũng Tây Nam và Đông Bắc và 2) dải đồi, núi giữa hai thung lũng sông Nổ và sông Tiêm.

Hình 10: Tỉ lệ diện tích các vùng tiềm năng lũ quét
Hình 10: Tỉ lệ diện tích các vùng tiềm năng lũ quét

3.2 Khảo sát kiểm tra thực địa

Tiến hành kiểm tra thực địa tại 9 điểm trong khu vực nghiên cứu, trong đó có 6 điểm thuộc vùng có tiềm năng lũ quét cao  được ghi nhận như sau:

Dải phía tây nam

Khu vực xã Phương Điền, địa hình đồi dốc khoảng 20o, lộ đất phong hóa bở rời, hầu như không còn rừng (hình 11).

Khu vực hồ Đá Bạc, xã Hương Bình nơi có các suối nhỏ chảy qua, địa hình dạng lòng chảo (hình 12). Đất chủ yếu là trầm tích sông, suối (cát, sạn sỏi, cuội).

H11_12

Dải phía đông bắc

Khu vực chân núi xã Phương Mỹ nơi trồng cao su, độ dốc khoảng 20o, đất thịt mịn phong hóa rất dễ bị xói mòn (hình 13).

H13

Dải trung tâm

Khu vực xã Gia Phổ là một vùng đất sản xuất nông nghiệp. Địa hình chân núi có độ dốc 10 – 15o, chủ yếu là đất sét, được trồng cây công nghiệp có độ che phủ khác nhau (hình 14).

Hình 14: Điểm khảo sát ở xã Gia Phổ
Hình 14: Điểm khảo sát ở xã Gia Phổ

Kết quả kiểm tra thực địa cho thấy bản đồ có độ tin cậy tốt, các điểm khảo sát phù hợp với kết quả nghiên cứu về độ dốc, thổ nhưỡng, thảm phủ thực vật và loại hình sử dụng đất.

4.Kết luận

Ứng dụng công nghệ Viễn thám và GIS cho phép xây dựng bản đồ phân vùng tiềm năng lũ quét nhanh, có độ tin cậy tốt. Bản đồ phân vùng tiềm năng lũ quét là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý trong việc qui hoạch sử dụng đất, từ đó đề ra chiến lược thích ứng để giảm thiểu thiên tai, bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân.

Những nghiên cứu tiếp theo với nguồn tài liệu đầu vào cho các bản đồ thành phần chi tiết sẽ là cơ sở để thành lập bản đồ phần vùng lũ quét với mức độ tin cây cao hơn.

Tài liệu tham khảo

1.Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung Ương (2014). Báo cáo Tổng quan tình hình thiệt hại do lũ, lũ quét, sạt lở đất và công tác chỉ đạo phòng tránh trong những năm vừa qua. (Tài liệu phục vụ Hội nghị trực tuyến về công tác phòng chống lũ, lũ quét và sạt lở đất năm 2014 ngày 20/8/2014).

2.Smith, Greg. E., (2010). Development of a flash flood potential index using physiographic data sets within a geographic information system. MS thesis, University of Utah.

3.Website Global Data Explorer của Cục khảo sát địa chất Hoa Kì http://gdex.cr.usgs.gov/gdex/.

HÃY DỪNG DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN DU KHÁCH BẰNG XE JEEP TẠI SUỐI TIÊN

Giới thiệu

Suối Tiên là một địa điểm không thể bỏ qua khi đến tham quan Mũi Né, Phan Thiết. Suối Tiên chảy theo ranh giới giữa dải đồi phía đông cấu tạo bởi cát màu trắng xám và dải đồi phía tây là cát đỏ phủ lên cát trắng xám. Cát màu đỏ thuộc hệ tầng Phan Thiết có tuổi 85.000 ± 9.000 năm hình thành vào giai đoạn biển tiến Pleistocene muộn (MIS-5), cát trắng xám thuộc hệ tầng Mũi Né có tuổi > 204.000 năm hình thành trong giai đoạn biển tiến Pleistocene giữa (MIS-7). Đây là vết lộ địa tầng tương ứng với hai giai đoạn biển tiến được định tuổi tuyệt đối duy nhất ở Việt Nam*.

Suối Tiên được đánh giá là một geosite có giá trị cao về mặt khoa học địa chất, địa mạo và giá trị thẩm mỹ (Hà Quang Hải và nnk). Trên sườn phía tây suối, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các dạng vi địa hình phản ánh đặc điểm thạch học của hai hệ tầng. Trên cát đỏ (hệ tầng Phan Thiết) xuất hiện các khe rãnh xâm thực, vết trượt, cát trôi. Trên cát trắng xám (hệ tầng Mũi Né) có các “tháp cát, nấm cát” kiểu giả karst, các vách thẳng đứng, các hàm ếch xâm thực và thác nước.

7Hình 1: Vách đồi phía tây, cát đỏ phủ lên cát trắng gồm các dạng địa hình độc đáo

Lội bộ dọc suối – con đường mòn địa chất (geotrail) thú vị

Nước suối Tiên mát rượi, mực nước thường đến cổ chân, đôi chỗ đến nửa gối và nơi sâu nhất cũng không quá đầu gối. Đáy suối cát có màu đỏ cam do trầm tích sườn đồi phía tây chảy xuống. Từ lâu, Suối Tiên đã là một điểm tham quan của du khách trong và ngoài nước. Việc tham quan trải nghiệm tại nơi đây chủ yếu là đi bộ dọc theo suối để ngắm các dạng vi địa hình cũng như cảnh quan độc đáo và việc lội bộ trên nền suối cát êm chân làm cho du khách cảm thấy khá thú vị nhất là trong cái tiết trời oi ả của đồi cát miền Trung rộng lớn.

Lội bộ từ cửa suối đến thác nước, du khách sẽ thật sự thú vị khi thấy ranh giới rõ ràng giữa hai hệ tầng (cát đỏ phủ trên cát trắng), sự xuất hiện các bậc thềm suối, các tháp cát giả karst (Hình 2), các delta (Hình 3), các vết trượt, các hàm ếch và cuối lộ trình là thác nước với hố xoáy chân thác.

          Hình 2,3,4,5: Du khách đi dọc suối để ngắm cảnh quan độc đáo

Suối Tiên đang trong quá trình suy thoái

Những dạng địa hình nói trên (trượt đất, cát chảy, hàm ếch…) phản ánh quá trình suy thoái của suối Tiên. Đi dọc theo suối, có thể dễ dàng nhận thấy các vết trượt dày đặc, có kích thước khác nhau. Tại một số vị trí trên sườn dốc còn quan sát được rãnh xâm thực sâu, khá lớn; các vết trượt lòng máng thường hình thành trên cát đỏ. Trên cát trắng xám thường là các vách dốc đứng, các khe rãnh xâm thực hẹp, các “carư” dạng lưỡi mác có kích thước khác nhau; chân cát xám trắng có các hàm ếch xâm thực khá rõ, một số vị trí các hàm ếch này đã sập xuống đáy suối.

15Hình 6: Toàn cảnh một cung trượt.

Cung truot_26.4.2010Hình 7: Trên ảnh Google Earth 26/4/2010, ta có thể quan sát hàng loạt cung trượt khá rõ trên sườn tây

Địa hình (độ dốc cao của sườn), đặc điểm trầm tích (chủ yếu là cát bở rời hoặc gắn kết yếu), lớp phủ thực vật trơ trụi là những yếu tố chính dẫn đến sự suy thoái của Suối Tiên (Hình 8).

Hình 8: Tác động xâm thực đang làm Suối Tiên suy thoái

Hoạt động du lịch cũng góp phần gia tăng sự suy thoái của Suối Tiên. Du khách đến đây ngày một nhiều. Một số du khách trèo trên sườn cát chảy, ngồi lên các khối giả karst (Hình 9), di chuyển dọc suối làm gia tăng xói mòn, kết quả là lòng suối ngày một mở rộng và khoét sâu hơn. So sánh cùng một vị trí trong 3 thời kỳ cho thấy bề rộng suối mở rộng gấp 3-4 lần (Hình 10).

11Hình 9: Một hàm ếch khoét sâu vào khối giả karst. 12/2015

Hình 10: Khúc suối bị mở rộng do tác động du lịch (12/2012-12/ 2014-6/2016)

Dịch vụ xe jeep dọc Suối Tiên là không thích hợp

Cách nay khoảng 2-3 tháng, xuất hiện các xe Jeep chở khách dọc Suối Tiên. Việc đưa se jeep vào Suối Tiên sẽ dẫn đến những hệ lụy không tốt cho điểm đến “bồng lai tiên cảnh” này.

Hình 11: Ngay tại khu vực xuất phát đã bắt gặp dịch vụ chở bằng xe Jeep vào thác

Chiều dài của con suối chưa đầy 1 km, phương tiện di chuyển bằng xe Jeep hoàn toàn không phù hợp. Ngồi trên xe, du khách sẽ không cảm nhận được những điều lý thú xuất hiện liên tục theo vách suối. Lòng suối khá hẹp, nước nông, nền cát mịn, nếu lội bộ sẽ làm tăng thêm sự thích thú của du khách. Khi những chiếc xe Jeep đi qua, bấm còi inh ỏi, các du khách phải vội vàng nhường lối (nép vào vách suối), nước bắn lên người, khiến cho những cảm nhận về một cảnh quan tự nhiên không còn nữa. Cũng không loại trừ những tai nạn giao thông có thể xảy ra.

Khi xe Jeep di chuyển, lòng suối sẽ bị khoét sâu, sóng sẽ tác động đến vách suối; tức là quá trình xâm thực sẽ gia tăng (cả sâu và ngang); kết quả là các dạng vi địa hình, địa mạo độc đáo ven suối sẽ bị phá hủy nhanh chóng.

Hình 12: Việc di chuyển bằng xe Jeep qua những khúc hẹp như thế này sẽ làm tăng xói lở hai bên bờ

Thay lời kết

Geosite Suối Tiên thuộc tiêu chí độc đáo (duy nhất) và phức hợp (địa mạo-địa tầng), đã được đề xuất là geosite cấp Quốc gia. Loại hình thích hợp tham quan geosite này là đi bộ, đi dọc theo lòng suối (geotrail) du khách có trải nghiệm thú vị về địa chất, địa mạo nơi đây. Đưa xe jeep vào Suối Tiên sẽ làm cho geosite này suy thoái nhanh hơn, các du khách thích thú đi bộ sẽ xa lánh dần. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận nên dừng ngay hoạt động dịch vụ xe Jeep tại nơi này. Hơn thế nữa, Suối Tiên cần được quy hoạch thành một điểm du lịch, có hướng dẫn viên thuyết minh các hiện tượng địa chất, địa mạo và cần có giải pháp bảo tồn geosite này – một tài nguyên vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây.

Phương Chi.

* Đọc thêm bài Các geosite ven biển Bình Thuận trong diamoitruong.com

CÁC BẬC ĐỊA HÌNH CƠ BẢN THEO LỘ TRÌNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG

Hà Quang Hải

Bài viết này trình bày khái lược các bậc địa hình cơ bản theo tuyến lộ trình mà trên đó phân bố những điểm khảo sát để các bạn sinh viên có thể nhìn nhận một cách trực quan sự biến đổi các hợp phần cảnh quan theo độ cao.

Ba vùng tự nhiên

Lộ trình được bố trí qua 3 tỉnh thuộc ba vùng tự nhiên: 1) Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai (vùng Nam Bộ), 2) Lâm Đồng (vùng Tây Nguyên) và 3) Khánh Hòa (vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ). Các hợp phần cấu tạo nên ba vùng tự nhiên (địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, sinh vật, khí hậu) và các yếu tố nhân sinh (con người, sử dụng đất, hoạt động kinh tế…) được phản ánh khá rõ theo tuyến lộ trình.

Bốn bậc địa hình cơ bản

Theo tuyến hành trình, có thể phân chia thành bốn bậc địa hình cơ bản

Mặt cắt cảnh quan tổng hợp theo tuyến lộ trình thực tập
Mặt cắt cảnh quan tổng hợp theo tuyến lộ trình thực tập

Đọc tiếp “CÁC BẬC ĐỊA HÌNH CƠ BẢN THEO LỘ TRÌNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG”