Biển tiến Flandrian và dấu ấn để lại vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Hà Quang Hải

Biển tiến Flandrian (còn gọi là Biển tiến Sau Băng hà) đã để lại vùng đồng bằng Sông Cửu Long một hệ tầng trầm tích biển dày 15 – 20 m trải khắp đồng bằng; các bậc thềm ven rìa vùng Tri Tôn – Tịnh Biên, các giồng cát biển ở Cai Lậy và các hõm gặm mòn cao 5.0 m trên vách núi đá vôi Kiên Lương. Những di chỉ địa chất, địa mạo này là những minh chứng cho sự kiện biến đổi khí hậu qui mô toàn cầu – đó là sự tan rã băng hà khởi phát từ khoảng 21000 năm trước dẫn đến sự dâng cao mực biển lên hàng trăm mét. Biển tiến cực đại Flandrian trong thời đoạn 5600 – 4200 năm trước với mức cao 5 m so với mực biển hiện nay đã biến phần lớn diện tích đồng bằng Sông Cửu Long thành biển nước, chỉ còn những khối núi nhỏ bé nhô lên như những hòn đảo.

Nhìn lại sự kiện biển tiến Flandrian để thêm một lần nữa thấy rằng con người thật sự nhỏ bé so với thiên nhiên, để từ đó tìm kiến những giải pháp ứng xử với hiện tương được xem là biến đổi khí hậu đang diễn ra một cách hài hòa, không thờ ơ, nhưng cũng không nên la hoảng.

I.Biển tiến Flandrian qui mô toàn cầu

Tên gọi biển tiến Flandrian đã được áp dụng cho sự dâng cao mực nước biển ảnh hưởng đến các vùng ven bờ biển trên qui mô toàn cầu bắt đầu cách ngày nay khoảng 20000-21000 năm trước. Sự dâng cao mực nước biển này liên quan trực tiếp đến sự tan chảy sau Băng hà Cực đại Cuối cùng (LGM-Last Glacial Maximum) bao gồm các băng hà Wisconsin (ở Bắc Mỹ); Wurm (ở alpine)… Tuy nhiên, tỷ lệ tan băng và mực nước biển dâng không ổn định theo thời gian. Mực biển tăng nhanh trong các thời kỳ ấm, tạm dừng hoặc thậm chí giảm trong các thời kỳ lạnh, nhưng xu hướng là tăng lên tới mức hiện tại [11].

Trong thời kỳ LGM, mực nước biển phân bố ở mức -70 đến – 150 m (tùy theo giải thích của từng tác giả) so với mực biển hiện nay. Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng mực nước biển thấp nhất tương ứng với vị trí gần “điểm gấp khúc” ở rìa ngoài thềm lục địa. Điểm gấp khúc này xảy ra khoảng 100 mét dưới mực nước biển hiện tại ở các thềm lục địa ổn định kiến tạo trên khắp thế giới [11].

Đường cong biểu diễn đợt biển tiến Flandrian (Hình 1) cho thấy mực nước biển thấp hơn hiện nay khoảng 120 m vào LGM. Sự tan rã các lớp phủ băng hà đã làm mực nước biển tăng lên với tốc độ trung bình 1m/thế kỷ, tốc độ lên đến 16 mm/năm trong thời gian khoảng 18000-15000 năm trước; đạt tốc độ đỉnh khoảng 5 m/thế kỷ tại các xung tan chảy (meltwater).

Hình 1. Đường cong biến đổi mực biển sau băng hà (21.000 năm qua). Nguồn [9]

 II.Biển tiến Flandrian trên Sunda Shelf

Loạt bản đồ màu trên cơ sở phân tích không gian Mô hình Độ cao Số (DEM) từ Dữ liệu Độ cao của ETOPO2 Global đã mô tả địa hình Sunda Shelf (thềm lục địa Đông nam Á) bị biển tiến Flandrian nhận chìm từ LGM [7]. Sunda Shelf dần bị nhận chìm khi mực nước biển bắt đầu tăng từ -116 m (so với mức hiện tại) vào khoảng 21 nghìn năm trước (Hình 2, 3) đến mức tối đa + 5 m trên mực biển hiện tại vào Holocen giữa (4200 năm trước) (Hình 2, 4). Như vậy, vào 4200 năm trước, gần như toàn bộ diện tích đồng bằng sông Cửu Long nằm dưới nước biển.

Hình 2. Đường cong dâng mực biển từ 21.000 đến 4.200 năm trước. Nguồn [7]
Hình 3. Thềm Sunda 21 ngàn năm trước ngày nay, mực biển là -116 m so với mực biển hiện tại. Nguồn [7]
Hình 4. Mực biển cực đại 4.200 năm trước (Holocen giữa) là +5 m so với mực biển hiện nay. Nguồn [7]

III. Các dấu ấn của biển tiến Flandrian vùng đồng bằng Sông Cửu Long

III.1 Các trầm tích biển

Biển tiến Flandrian có nhiều tên, tùy thuộc vào khu vực và khoảng thời gian nghiên cứu. Tên gọi Flandrian lần đầu tiên được đề xuất vào cuối thế kỷ XIX để chỉ “trầm tích cát Campinian” của vùng Flanders và Campers của Anvers. Dubois (1924) xếp vào giai đoạn Flandrian tất cả các trầm tích biển và lục địa đặc trưng cho sự dịch chuyển bờ biển từ mực biển tối thiểu tương ứng với LGM đến hiện tại [6].

Vùng đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng và các đồng bằng thấp ven biển Việt Nam đều ghi nhận sự hiện diện các trầm tích biển hình thành vào giai đoạn biển tiến Flandrian cực đại.

Tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Tây Nam Bộ), Nguyễn Ngọc Hoa và nnk. đã thiết lập hệ tầng Hậu Giang dày 15 m (lỗ khoan Cần Thơ) gồm các trầm tích bột, sét, cát. Các trầm tích này chứa các hóa thạch biển như: Asterorotalia pulchella, Ammonia annectens, Pseudorotalia schroeteriana, Elphidium crispum. Hệ tầng Hậu Giang có tuổi C14: 5550 ± 80 năm và 8200 ± 100 năm, được hình thành trong giai đoạn biển tiến Holocen trung [4].

Ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, các trầm tích hệ tầng Bình Chánh (lỗ khoan Chợ Đệm, Bình Chánh) [3] gồm sét bột, cát sạn phân bố ở độ sâu 5 – 27 m chứa phong phú hóa thạch foraminifera gồm các loài như: Asterorotalia pulchella multispinora, Asterorotalia pulchella, Ammonia japonica, Elphidium crispum.

Chúng tôi đề nghị tên gọi biển tiến Hậu Giang cho vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng Sông Cửu Long) và biển tiến Bình Chánh cho vùng Đông Nam Bộ. Biển tiến Hậu Giang và Bình Chánh tương đương với biển tiến toàn cầu Flandrian.

III. 2 Thềm biển rìa tây đồng bằng

Các trầm tích biển tuổi Holocen sớm – giữa chủ yếu là cát, sạn sỏi dày trung bình 1,5 m cấu tạo thành bậc thềm 1 cao 2-4 m, phân bố rộng quanh vùng Tri Tôn – Tịnh Biên. Ở khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia qua kênh Vĩnh Tế, bề mặt thềm 1 rộng tới 5 km. Trầm tích thềm 1 được mô tả chi tiết tại thị trấn Hà Tiên [1, 2]. Một nghiên cứu thềm biển vùng Nam Bộ mới đây cho thấy thềm biển vùng Tri Tôn – Tịnh Biên thuộc mức thềm 2, cao 4 – 6 m (phổ biến độ cao 5.0 m) có tuổi Holocen giữa [5].

III.3 Giồng cát biển Cai Lậy

Kết quả phân tích tuổi các giồng cát vùng đồng bằng Sông Cửu Long bằng OSL cho thấy các giồng Cai Lậy có tuổi từ 5600 đến 4600 năm. Tuổi này tương đồng với tuổi C14 trầm tích bãi triều trong lõi khoan TA (4500-4880 năm). Các trầm tích bãi triều trong lõi khoan GGM cách Cai Lậy khoảng 50 km về phía Tây Bắc (Hình 5A và 5B) có tuổi C14 là 6370-6720 năm [10].

Những tuổi trên cho thấy ở phần bắc của đồng bằng Sông Cửu Long, đường bờ đã bồi đắp trong thời kỳ nước đứng cao của mực biển Holocene giữa để tạo thành giồng Cai Lậy (Hình 5c) [10].

Hình 5. A, B: Tuổi OSL giồng cát và tuổi C14 trầm tích lõi khoan. C: Đường cong mực biển tương đối đồng bằng Sông Cửu Long từ 10 ngàn năm. Nguồn [10].

III.4 Các hõm gặm mòn (notch)

Trên các vách đá vôi vùng Kiên Lương có nhiều mức hõm gặm mòn, là các dấu ấn mực nước biển trong quá khứ. Tại núi Hang Cây Ớt, ba mức hõm gặm mòn song song kéo dài hàng km tạo nên một dạng địa hình lý thú (Hình 6). Do hoạt động khai thác vật liệu, các hõm gặm mòn nay chỉ còn một phần phía tây núi Hang Cây Ớt, ấn tượng nhất là các hõm gặm mòn tại hang Cá Sấu.

Hình 6: Ba hõm gặm mòn (mũi tên đỏ) tại dãy núi Hang Câu Ớt kéo dài khoảng 1 km, nay phần phía đông đã là mỏ đá đang khai thác

Tại hang Cá Sấu,  ba mức hõm gặm mòn được đo đạc, lấy bề mặt đồng bằng cao 0.5 m làm cơ sở. Độ cao và bề rộng các hõm gặm mòn như sau (Hình 7).

Hõm 3 (cao): cao 4.8 m, bề rộng hõm 0.7 m

Hõm 2 (giữa): cao 2.9 m, bề rộng hõm 0.7 m

Hõm 1 (thấp): cao 0.9 m, bề rộng hõm 0.8 m

Hình 7: Độ cao và bề rộng ba mức gặm mòn tại hang Cá Sấu

Tuổi hình thành các hõm gặm mòn tại hang Cá Sấu được so sánh với hõm gặm mòn ở Chùa Hang và tuổi thềm biển các đảo ở Nam Bộ.

Tại Chùa Hang (Hòn Chông), mẫu C14 vỏ sò (Hình 8) gắn trong hõm cao 2.0 – 3.0 có tuổi 3100 ± 80 năm [1, 2].

Hình 8: Vò sò tại hõm gặm mòn Chùa Hang có tuổi C14 là 3100 ± 80 năm. Nguồn [1, 2]

Ở Côn Đảo, Phú Quốc và Thổ Chu, nơi một số mẫu C14 (san hô, vỏ sò) được thu thập và phân tích theo các mức thềm biển [8]:

Thềm cao 5.0 m có tuổi: 5480 ± 82 năm (trung bình 12 mẫu),

Thềm cao 2-4 m có tuổi 3180 ± 100 (trung bình 6 mẫu)

Thềm cao 1.0 m là 1025 ± 45  (trung bình 2 mẫu).

Như vậy có thể xếp:

– Hõm 3 cao 4.8 m tương đương với thềm biển cao 5.0 m (có tuổi trung bình là 5480 năm) và có cùng mức tuổi với giồng cát Cai Lậy (5600 – 4600 năm).

– Hõm 2 cao 2.9 m tương đương với thềm biển cao 2 – 4 m (tuổi trung bình là 3180 năm), mức này có thể cùng tuổi giồng cát Trà Vinh (3570 và 3330 năm), giồng khởi đầu cho giai đoạn biển lùi vào đầu Holocen muộn.

– Hõm 1 cao 0.9 m tương đương với thềm biển cao 1.0 m (1025 năm) có cùng tuổi với các giồng cát phân nhánh ở trung tâm đồng bằng Bến Tre và Trà Vinh (1500 – 1100 năm).

 IV.Kết luận

Biển tiến Flandrian đã để lại đồng bằng Sông Cửu Long những dấu ấn rõ nét bao gồm một hệ tầng trầm tích chứa phong phú các hóa thạch biển, bậc thềm biển ven rìa, giồng cát biển và hõm gặm mòn còn hằn sâu trên vách núi đá vôi ở Kiên Lương. Biển tiến Flandrian cực đại vào khoảng 5600 – 4200 năm cách ngày nay (Holocen giữa) với mực biển cao hơn mực biển hiện tại khoảng 5.0 m đã nhận chìm phần lớn diện tích đồng bằng Sông Cửu Long.

Sự rút lui của biển (biển thoái) đã dần để lộ và mở rộng đồng bằng với sự hình thành các thế hệ giồng cát trẻ hơn về phía biển. Hoạt động biển thoái diễn ra trong suốt Holocen muộn (từ khoảng 3.600 năm đến nay), có những thời đoạn dừng để hình thành giồng cát và các hõm gặm mòn trên vách đá vôi. Như vậy, xét theo qui mô nghìn năm, biển thoái Holocen muộn đã để lộ và mở rộng vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Huy Dũng và nnk. 2003, Phân chia địa tầng N – Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất đồng bằng Nam Bộ. Lưu trữ Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[2] Trương Công Đượng và nnk. 1998, Đo vẽ Địa chất và tìm kiếm Khoáng sản nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc tỉ lệ 1:50.000. Lưu trữ Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[3] Hà Quang Hải và nnk. 1987. Báo cáo lập bản đồ Địa chất và tìm kiếm Khoáng sản T.P. Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:50.000.

[4] Nguyễn Ngọc Hoa và nnk trong Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam. http://idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/Anpham/Tracuu_PVDC/Mucluc.htm

[5] Lê Hoài Nam. 2017. Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng. Luận án tiến sĩ khoa học Môi trường. Lưu trữ thư viện Trường Đại học KHTN. Đại học QG. TP.HCM.

[6] A.S. Goudie. 2004. Encyclopedia of Geomorphology. Routledge.

[7] Edlic Sathiamurthy, Harold K. Voris. 2006. Maps of Holocene Sea Level Transgression and Submerged Lakes on the Sunda Shelf. Chulalongkorn University.

[8] Korotky M., et al. (1995), “Late Pleistocene – Holocene coastal development of islands of Vietnam”, Journal of Southeast Asian Earth Sciences, 11(4), pp. 301-308.

[9] Robert A. Rohde: Changing Sea levels During the Past 25,000. Yearshttps://www.fws.gov/slamm/Changes%20in%20Sea%20Level_expanded%20version_template.pdf

[10] Toru Tamura et al. 2012. Origin  and      evolution         of         interdistributary          delta plains;            insights            from    Mekong           River   Delta. GEOLOGY, April 2.

[11] The Flandrian Transgression. https://3dparks.wr.usgs.gov/nyc/moraines/flandrian.htm

Dòng sông đầu tiên trên thế giới được đối xử như người

Sông Whanganui ở New Zealand được công nhận là một “thực thể sống”, trở thành dòng sông đầu tiên trên thế giới hưởng những quyền lợi pháp lý như một con người.

Theo NZ Herald, quyết định vô tiền khoáng hậu được quốc hội New Zealand thông qua hôm 15/3, kết thúc vụ kiện tụng dai dẳng nhất lịch sử nước này về mối quan hệ giữa cộng đồng người Iwi, một tộc người Maori, và dòng sông Whanganui.

Người Iwi đã đấu tranh để dòng sông được công nhận tư cách pháp nhân như hiện tại trong suốt 160 năm. Dòng sông giờ đây sẽ được đại diện về quyền và lợi ích hợp pháp bởi 2 cá nhân: một đến từ cộng đồng Iwi và một là đại diện hoàng gia.

“Tôi biết ấn tượng đầu tiên của một số người là cảm thấy vô cùng kỳ lạ khi trao cho một thành phần của tự nhiên tính chất con người về mặt pháp luật”, Bộ trưởng Đàm phán Hiệp ước Chris Finlayson nói. “Song chẳng có gì lạ hơn niềm tin của gia đình, hay các nhóm người, các xã hội gắn kết”.

Sông Whanganui được cư dân bản địa sùng bái. Ảnh: Radio New Zealand.

Quyết định của quốc hội New Zealand cũng bao gồm 80 triệu USD đền bù tài chính và 30 triệu USD gây quỹ nhằm cải thiện “sức khỏe” của dòng sông.

BBC tường thuật cộng đồng người Maori tại quốc hội New Zealand đón nhận tin vui trong nước mắt và âm nhạc.

“Dưới góc nhìn của một người sống ở Whanganui, tình trạng tốt đẹp của dòng sông liên quan trực tiếp đến hạnh phúc, thịnh vượng của người dân và vì vậy việc công nhận dòng sông đúng như bản chất của nó là điều quan trọng”, nghị sĩ Adrian Rurawhe nói.

Với người Maori, việc đối xử với một dòng sông như một con người là chuyện bình thường. Điều đó được phản ánh qua câu tục ngữ nổi tiếng của họ: “Tôi là sông và sông là tôi”.

Sông Whanganui là dòng sông dài thứ 2 ở New Zealand. Đây không phải là lần đầu tiên nước này trao tư cách pháp nhân cho một thành phần tự nhiên. Năm 2013, vườn quốc gia Tu Urewera cũng được công nhận tương tự.

Hành trình dòng sông được công nhận là ‘người’ ở New Zealand, Con sông dài thứ 2 New Zealand – sông Whanganui, vừa được quốc hội nước này công nhận là “con người hợp pháp”.

(Theo NZ Herald, Zing)

BIÊN TẬP BẢN ĐỒ DU LỊCH BỎ TÚI TỈNH TRÀ VINH

Nguyễn Trường Ngân, Bùi Nguyên Ngữ

Bộ môn Địa Tin Học – Trường Đại học Bách khoa TP HCM

1.Mở đầu

Trà Vinh là tỉnh ven biển thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre, phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Đông giáp Biển Đông. Tỉnh Trà Vinh có 65 km đường bờ biển đã hình thành nên vùng đất châu thổ lâu đời, bên cạnh vùng đất trẻ mới bồi, có hàng trăm gò, giồng cát. Trà Vinh có các ngôi chùa mang đậm nét văn hóa độc đáo của ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Các dân tộc trong tỉnh có nguồn gốc bản địa lâu đời nên có rất nhiều hoạt động văn hóa phong phú, các lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc. Những tiềm năng đó chính là cơ hội lớn cho ngành du lịch tỉnh Trà Vinh phát triển.

Năm 2015 tỉnh đón 460.000 lượt du khách (trong đó có 447.270 lượt khách nội địa và 12.730 lượt khách quốc tế), tổng doanh thu ngành du lịch đạt 120 tỷ đồng. Tuy có lượng khách du lịch lớn nhưng qua quá trình điều tra thực tế thì đa số du khách chưa có nhiều thông tin về du lịch Trà Vinh. Mặt khác, các sản phẩm quảng bá du lịch chưa hỗ trợ rộng rãi cho du khách cũng như kích thước sản phẩm chưa tối ưu, không thuận tiện cho việc di chuyển ngoài thực địa.

Bài báo này nhằm cung cấp một loại sản phẩm – bản đồ du lịch mới, nhỏ gọn, nhưng vẫn đảm bảo du khách trải nghiệm đầy đủ thông tin về các điểm du lịch và tuyến du lịch nổi bật khi đến với Trà Vinh.

2.Mục tiêu nghiên cứu

Khái quát hóa các nội dung cần thiết để biên tập bản đồ du lịch bỏ túi tỉnh Trà Vinh trên khổ giấy A4. Sản phẩm gồm 2 bản đồ:

Bản đồ 1 – Bản đồ các điểm du lịch thành phố Trà Vinh.

Bản đồ 2 – Bản đồ các tuyến du lịch tỉnh Trà Vinh.

Tập bản đồ bỏ túi được thiết kế theo kích thước A4 gồm 100 tờ in màu.

3. Nội dung và phương pháp

Hình 1: Quy trình biên tập bản đồ du lịch bỏ túi tỉnh Trà Vinh
Hình 1: Quy trình biên tập bản đồ du lịch bỏ túi tỉnh Trà Vinh

Đọc tiếp “BIÊN TẬP BẢN ĐỒ DU LỊCH BỎ TÚI TỈNH TRÀ VINH”

Tài nguyên Khoáng sản Việt Nam

Nguyễn Khắc Vinh

Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh các quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65 năm nghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam cùng với các kết qủa nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng tháng 8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng.

I.Nhóm khoáng sản năng lượng gồm có dầu khí, than khoáng, urani và địa nhiệt

Về dầu khí. Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể. Tiềm năng và trữ lượng dầu khí có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí có khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi. Đến ngày 2/9/2009 tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã đạt mốc khai thác 300 triệu tấn dầu quy đổi. Với sản lượng khai thác dầu khí hàng năm, hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ ba ở Đông Nam Á sau Indonesia và Malaysia.

Than khoáng. Việt Nam là nước có tiềm năng về than khoáng các loại. Than biến chất thấp (lignit – á bitum) ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn. Nếu tính đến độ sâu 3500m thì dự báo tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn.

Than biến chất trung bình (bitum) đã được phát hiện ở Thái Nguyên, vùng sông Đà và vùng Nghệ Tĩnh với trữ lượng không lớn, chỉ đạt tổng tài nguyên gần 80 triệu tấn.

Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh đã được khai thác từ hơn 100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Urani. Ở Việt Nam đã phát hiện nhiều tụ khoáng urani ở Đông Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên urani ở Việt Nam được dự báo trên 218.000 tấn U308 có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho các nhà máy điện hạt nhân trong tương lai.

Địa nhiệt. Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt độ là 300 C trở lên. Các nguồn nước nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai thác dầu khí chúng ta cũng phát hiện được nhiều nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể Sông Hồng và Bể Cửu Long. Tiềm năng địa nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có thể coi là nguồn năng lượng bổ sung cho các nguồn năng lượng truyền thống phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

II.Nhóm khoáng sản kim loại

Việt Nam có nhiều loại như sắt, mangan, crôm, titan, đồng, chì, kẽm, cobalt, nickel, nhôm, thiếc, vonfram, bismut, molybden, lithi, đất hiếm, vàng, bạc, platin, tantal-niobi v.v… Trong số khoáng sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như bauxit (quặng nhôm), đất hiếm, titan, wolfram, crôm v.v..

Bauxit có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit.

Diaspor có nguồn gốc trầm tích phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng không lớn chỉ đạt gần 200 triệu tấn.

Gibsit có nguồn gốc phong hoá từ đá bazan, phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên với trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn (Sở Địa chất Mỹ năm 2010 đã công bố sách hàng hoá khoáng sản thế giới và xếp bauxit Việt nam đứng hàng thứ 3 thế giới sau Guinea 7,4 tỷ tấn và Australia 6,2 tỷ tấn). Hiện bauxit đang được khai thác thử nghiệm để sản xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đăk Nông.

Đất hiếm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ (13 triệu tấn). Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng.

Quặng titan (Ilmenit) ở Việt nam có 3 loại: quặng gốc trong đá xâm nhập mafic, quặng trong vỏ phong hoá và quặng sa khoáng ven biển.

Quặng titan gốc trong đá xâm nhập mafic ở Cây Châm, Phú Lương Thái Nguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn đang được khai thác.

Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương và Đại Từ Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn.

Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu. Đặc biệt ở một số diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn. Ngoài khoáng vật ilmenit, còn có các khoáng vật có giá trị kinh tế kỹ thuật là zircon và monazit. Một số mỏ ilmenit ở Hà Tĩnh, Bình Định, Bình Thuận v.v.. đã được khai thác và xuất khẩu.

Quặng Wolfram tập trung chủ yếu ở tụ khoáng Đá Liền, Đại Từ, Thái Nguyên. Công ty Tiberon Minerals đã tiến hành thăm dò xác định tài nguyên và trữ lượng đạt 110,2 triệu tấn quặng chứa 227.500 tấn WO3 , 8,5 triệu tấn CàF2, 191.800 tấn Cu, 20,8 tấn Au và 107.000 tấn Bi. Đây là vùng quặng rất đáng được quan tâm chú ý vì có tài nguyên dự báo đáng kể.

Quặng crôm sa khoáng có giá trị kinh tế kỹ thuật được tìm thấy ở Cổ Định, Nông Cống Thanh Hoá với trữ lượng 22 triệu tấn đang được khai thác. Đi kèm crôm còn có trữ lượng đáng kể của Nickel và Cobal … cần được nghiên cứu sử dụng.

III. Nhóm khoáng chất công nghiệp

Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp như apatit, phosphorit, baryt, fluorit, pyrit, serpentin, than bùn, sét gốm sứ, magnesit, dolomit, felspat, kaolin, pyrophylit, quartzit, cát thuỷ tinh, disthen, silimanit, sét dẻo chịu lửa, diatomit, graphit, talc, atbest, muscovit, vermiculit, bentonit, thạch anh tinh thể. Các khoáng chất công nghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho các ngành nông, công nghiệp. Các mỏ lớn đáng chú ý là apatit, baryt và graphit.

Apatit phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở phía Bắc đến vùng Văn Bàn, dài trên 100 Km, rộng trung bình 1 Km, được đánh giá có tài nguyên đến độ sâu 100m, là 2,5 tỷ tấn và trữ lượng đã được thăm dò đạt 900 triệu tấn.

Baryt phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, thường đi kèm với quặng Pb-Zn và đất hiếm. Tổng tài nguyên dự báo đạt 25 triệu tấn (trong tụ khoáng Đông Pao, Lai Châu có 4 triệu tấn).

Graphit có ở Lào Cai, Yên Bái và Quảng Ngãi với tổng tài nguyên và trữ lượng đạt gần 20 triệu tấn.

IV.Nhóm vật liệu xây dựng 

Việt Nam có nhiều mỏ vật liệu xây dựng: sét gạch ngói, sét xi măng, puzzolan, cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong. Các mỏ vật liệu xây dựng đã và đang được khai thác phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.

Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm đá quý ruby, saphia, peridot, … nhưng trữ lượng không lớn. Riêng ruby ở Yên Bái và Nghệ An có chất lượng cao được thế giới đánh giá đạt chất lượng quốc tế, tương đương với ruby nổi tiếng của Myanmar.

Điểm qua về tiềm năng khoáng sản của đất nước ta kể trên, nếu so sánh với các nước ở trong khu vực Đông Nam Á và thế giới, thì thấy rằng: nước ta tuy có diện tích đất liền không lớn, nhưng có vị trí địa chất, địa lý thuận lợi cho sự sinh thành và phát triển khoáng sản. Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể.

Tuy nhiên cần phải chú ý các đặc điểm sau:

1.Việt Nam không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng lượng. Dầu khí chỉ đảm bảo khai thác được khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cường tìm kiếm thăm dò để tăng trữ lượng phục vụ lâu dài. Than biến chất cao (Anthracit) với trữ lượng đã được đánh giá đạt nhiều tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn nữa mới bảo đảm cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Than biến chất thấp ở dưới sâu đồng bằng sông Hồng tuy dự báo có tài nguyên lớn đến vài trăm tỷ tấn nhưng ở độ sâu hàng ngàn mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về công nghệ, cả về an sinh xã hội và môi trường. Tiềm năng urani và địa nhiệt không đáng kể và chưa được thăm dò đánh giá trữ lượng.

2.Việt Nam có nhiều khoáng sản kim loại nhưng trữ lượng không nhiều. Rất nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, chì , kẽm, thiếc v.v..) thế giới rất cần trong khi trữ lượng không có nhiều, chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ cạn kiệt. thì Việt Nam cũng có ít, không đảm bảo tiêu dùng trong nước. Một số ít khoáng sản kim loại như bauxit, đất hiếm, ilmenit ta có nhiều, thế giới cũng có nhiều, song nhu cầu hàng năm không lớn, hàng trăm năm nữa mới cạn kiệt, nên chúng không là những khoáng sản “nóng“, khoáng sản cạnh tranh để phát triển, lại càng không thể xem là cứu cánh của nền kinh tế Việt Nam.

Trữ lượng bauxit trên thế giới là 27 tỷ tấn và với sản lượng khai thác hàng năm trên 200 triệu tấn thì phải 135 năm nữa mới hết bauxite

Đất hiếm trên thế giới có trữ lượng đạt 99 triệu tấn, nhu cầu hàng năm chỉ cần 125.000 tấn thì 700 năm nữa mới cạn kiệt loại khoáng sản này.

Thế giới có nhiều quặng titan với tổng tài nguyên đạt hơn 2 tỷ tấn, trong đó trữ lượng đạt 730 triệu tấn. Hàng năm thế giới chỉ tiêu thụ hơn 6 triệu tấn, như vậy 128 năm nữa mới hết quặng titan.

3.Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng phục vụ tốt cho phát triển kinh tế của đất nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên chúng không phải là khoáng sản có giá trị kinh tế cao và trên thế giới cũng có nhiều đủ dùng trong nhiều năm nữa.

4.Việt Nam chưa phát hiện được kim cương – loại khoáng sản quý có giá trị kinh tế kỹ thuật cao. Các nhà địa chất đã phát hiện ở Việt Nam có Ruby chất lượng cao, nhưng trữ lượng chưa rõ, các loại đá qúy khác cũng chưa được phát hiện nhiều. Thực tế nhóm đá quý được phát hiện ở Việt Nam chưa đóng góp gì đáng kể cho phát triển kinh tế đất nước.

Phân tích sâu về đặc điểm tiềm năng tài nguyên khoáng sản của Việt Nam trong bối cảnh chung về tài nguyên khoáng sản của khu vực và thế giới cho ta thấy rõ tuy Việt Nam là nước có nhiều loại khoáng sản nhưng trữ lượng hầu hết các loại không nhiều. Một số loại khoáng sản như bauxit, đất hiếm, ilmenit ta có tài nguyên trữ lượng tầm cỡ thế giới thì thế giới cũng có nhiều và không có nhu cầu tiêu thụ lớn. Điều đó có nghĩa là loại khoáng sản thế giới cần thì ta lại không có, mà loại khoáng sản ta có nhiều thì thế giới lại không cần nhiều, không có nhu cầu lớn. Đây là điều cần phải được quan tâm nghiên cứu đánh giá khách quan giữa cung và cầu để có chiến lược sử dụng tài nguyên khoáng sản đúng đắn, hợp lý, phục vụ cho phát triển kinh tế của đất nước. Nếu chỉ dựa đơn giản vào một số khoáng sản có tài nguyên trữ lượng nhiều, đứng thứ hạng cao trên thế giới như bauxit, đất hiếm, ilmenit,.. mà đánh giá quá cao vai trò của chúng trong phát triển kinh tế của đất nước sẽ là một sai lầm phải trả giá .

Để góp phần xây dựng và phát triển kinh tế thực hiện CNH, HĐH đất nước trong những năm tới cần đẩy mạnh điều tra, khảo sát, đánh giá các loại khoáng sản mà thế giới và trong nước rất cần, trữ lượng của chúng đang dần cạn kiệt như đầu khí, than, vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, thiếc, v.v..

Một số loại khoáng sản thế giới và trong nước có nhiều trong khi không có nhu cầu tiêu thụ lớn như bauxit, đất hiếm, ilmenit thì lúc này chưa cần thiết đầu tư thăm dò.

Khoáng sản là loại tài nguyên không tái tạo được và có số lượng hạn chế trong lòng đất do đó cần có chiến lược quản lý bảo vệ khai thác để sử dụng hợp lý tiết kiệm và có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.

Nguồn: http://vigmr.vn/vigmr/frontend/?content=doctin&postId=40

Năm Dậu vài nét về gà trong Địa môi trường

Tản mạn về gà

Từ lâu, gà luôn xuất hiện trong đời sống văn hóa nhiều nước trên thế giới. Từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, gà đã trở thành biểu tượng xuyên văn hóa, mang sức mạnh biểu trưng cho ý niệm đa diện, đa chiều về vũ trụ, thiên nhiên, nhân sinh, tâm linh, nhân tính. Danh xưng “gà” đã đi vào ngôn ngữ đời sống qua lời ăn, tiếng nói hằng ngày, qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao và trở thành hình tượng đặc sắc, sinh động trong nhiều sáng tác văn chương Việt.

Năm nay “Tản mạn về gà” có nhiều bài hay như: Năm Dậu nói chuyện gà http://vanvn.net/tim-toi-the-nghiem/nam-dau-noi-chuyen-ga/1092; Chuyện vui: Tết Đinh Dậu – tản mạn chuyện… gà (http://pcbinhdinh.com.vn/detail.aspx?ChannelID=12&ID=1512); Bí mật chưa biết về gà (http://suckhoedoisong.vn/bi-mat-chua-biet-ve-ga-n127152.html)…

Văn – Võ – Dũng – Nhân – Tín

Trong văn hóa Việt Nam, gà trống là biểu tượng của 5 phẩm chất tốt đẹp:

– Gà trống có mào trên đỉnh đầu, cùng 2 cái mào ở dưới giống như chiếc mũ cánh chuồn của các Tiến sỹ thời xưa, biểu tượng cho Văn.

– Cựa gà như thứ vũ khí, tượng trưng cho .

– Gà trống luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đàn của mình, biểu tượng cho Dũng.

– Gà trống đầu đàn khi được ăn thì luôn gọi cả đàn đến chứ không ăn một mình, tượng trưng cho chữ Nhân.

– Mỗi buổi sáng sớm, gà trống luôn cất tiếng gáy đúng canh, tượng trưng cho sự Tín.

Nguồn: Internet
Nguồn: Internet

Đọc tiếp “Năm Dậu vài nét về gà trong Địa môi trường”

Các hòn đá chạm khắc ở Peru: Một thư viện thời tiền sử?

Cormelia Ritter, Epoch Times

Thoạt nhìn, Ica, một thị trấn nhỏ bé ở Peru tọa lạc trên sa mạc Nazca, cách thủ đô Lima 5 giờ xe buýt, không có bất cứ điều gì ấn tượng. Nhưng ngay khi bước chân vào Bảo tàng Cabrera, nơi trưng bày những hòn đá chạm khắc của Ica, một thế giới hoàn toàn khác biệt sẽ hiện lên trước tầm mắt.

Hơn 10.000 hòn đá với kích thước khác nhau được trưng bày chật kín trong bảo tàng. Chúng đều có một bề mặt trơn nhẵn, màu đen, bên trên chạm khắc các hình tượng. Khi nhấc chúng lên, bạn sẽ cảm nhận thấy chúng nặng hơn rất nhiều so với những hòn đá  cùng kích cỡ thông thường.

Hình vẽ trên hòn đá này cho thấy một con khủng long đang ăn thịt một người, khiến một số người cho rằng con người đã có mặt trên Trái Đất từ 65 triệu năm trước (thời đại khủng long). (Ảnh: Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Hình vẽ trên hòn đá này cho thấy một con khủng long đang ăn thịt một người, khiến một số người cho rằng con người đã có mặt trên Trái Đất từ 65 triệu năm trước (thời đại khủng long). (Ảnh: Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Bao phủ trong một loại chất liệu: Những hòn đá Ica là loại đá andexit được phủ một lớp chất liệu chưa được xác định. (Ảnh: Tư liệu của Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Bao phủ trong một loại chất liệu: Những hòn đá Ica là loại đá andesit được phủ một lớp chất liệu chưa được xác định. (Ảnh: Tư liệu của Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)

Đọc tiếp “Các hòn đá chạm khắc ở Peru: Một thư viện thời tiền sử?”

ĐẢO PHỤC SINH (EASTER ISLAND): MỘT BÀI HỌC LỚN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG

Đảo Phục Sinh (Easter Island) là đảo núi lửa (Hình 1), có dạng tam giác, rộng 140 km2, nằm ở phía tây của Nam Mỹ khoảng vài ngàn km, với một khí hậu cận nhiệt đới (Hình 2).

Hình 1. Đảo núi lửa Earster
Hình 1. Đảo núi lửa Earster (nguồn internet)
Hình 2. Vị trí địa lý đảo Easter
Hình 2. Vị trí địa lý đảo Easter (nguồn internet)

Những người Polynesia đầu tiên đến đảo này cách nay khoảng 1.500 năm. Khi đến đây, họ đã được hòn đảo xanh được bao phủ bởi rừng cây chào đón, trong đó có những cây cọ lớn. Đến thế kỷ thứ mười sáu, có 15.000 đến 30.000 người đã sống trên hòn đảo này. Họ đã thiết lập một xã hội phức tạp lan tỏa giữa các ngôi làng nhỏ, họ đã canh tác mùa vụ, nuôi gà, bắt cá và động vật biển có vú, chim biển  để duy trì cuộc sống. Vì những lý do tôn giáo, họ đã chạm khắc các bức tượng khổng lồ (gọi là moai) từ đá núi lửa (Hình 3). Các bức tượng có dạng bán thân người đội mũ. Các bức tượng thường cao khoảng 7 m, một số cao hơn 20 m. Các bức tượng này đã được di chuyển tới các địa điểm khác nhau trên đảo bằng dây thừng và những con lăn từ thân cây. Đọc tiếp “ĐẢO PHỤC SINH (EASTER ISLAND): MỘT BÀI HỌC LỚN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG”

VỀ NGHE GIÓ KHÁT

Về nghe gió khát

Say tình chênh vênh

“Vì cuộc đời là những chuyến đi” và “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”

Mỗi lần đi là một lần trải nghiệm, tôi biết nhưng lại mặc nhiên cho thứ gọi là cảm xúc đã đủ đầy. Biển gợi về ký ức miên man, da diết mà tôi vẫn hoài muốn xóa đi, ấy nên trở lại với biển lần này chỉ mong những con sóng vội có thể gột rửa những gì còn vươn lại trong lòng vì bây giờ tôi biết vì sao “gặp nhau biển xô sóng trào”; một tâm thế pha trộn giữa hờ hững và đợi chờ, thâm thâm lại cũng mông mông, chẳng thể thốt nên lời. Không tham gia vào hành trình lần này, có lẽ tôi không hối tiếc mà sẽ là vô cùng hối tiếc, bởi tôi biết, chúng bạn cũng biết, rằng đây không phải là kỳ thực địa đầu tiên với những ngô nghê vụng dại mà kỳ thực là chuyến thực địa cuối cùng, cuối cùng trong quãng đời sinh viên rồi đấy, đã là cuối cùng ắt sẽ đọng lại chút gì đó, nghèn nghẹn gọi là… tôi tự phong cho mình là tiên tri để vẽ ra những thứ ấy!

Nguồn: Bảo Tín
Nguồn: Bảo Tín

Mỗi trang nhật ký hành trình như một lát cắt chân thực về cuộc sống và con người nơi tôi đã đi qua. Không chỉ là những bài học sách vở mà là cả hạt giống tâm hồn, mà tôi chắc rằng sẽ không đứa nào trong chúng tôi “lĩnh hội” giống nhau để rồi “nảy mầm” như nhau cả. Chẳng thể nào quên buổi sớm tinh sương mấy chiếc thuyền đánh cá trở vào bờ khi bình minh hãy còn chưa kịp ló dạng hay khung cảnh yên bình của làng chài một chiều lộng gió, vùng quê nghèo sỏi đá với buổi chợ tàn. Dăm ba món đồ, vài gánh hàng rong được bày bán trong ánh mắt đã dày dạn phong sương, trong cái làn da rám nắng; cái đu quay cũ rích nhưng tràn tiếng nói cười của lũ trẻ và cả chúng tôi. Mọi thứ lưng chừng chỉ bình dị như thế nhưng thấm vào tôi là cả cái mặn mà của những con người xứ biển.

tra_2 Đọc tiếp “VỀ NGHE GIÓ KHÁT”

Theo các nhà nghiên cứu, Gaia là một sinh vật sống

Liz Bentley

Trong giáo trình Địa chất môi trường, mục Khái niệm 3: Trái đất là một Hệ thống (Earth as a System), Edward A. Keller đã giới thiệu ngắn gọn Giả thuyết Gaia, trong đó có đoạn:

Liệu Trái đất có giống như một Sinh vật? Năm 1785, tại một cuộc họp của Hội Hoàng gia có uy tín của Edinburgh, James Hutton, cha đẻ của địa chất học, cho biết ông tin rằng Trái đất là một siêu sinh vật. Ông đã so sánh sự tuần hoàn nước của Trái đất, cùng với các trầm tích và chất dinh dưỡng chứa trong đó với sự tuần hoàn của máu ở động vật.

Trong phép ẩn dụ của Hutton, các đại dương là trái tim của Trái đất, rừng là lá phổi. Hai trăm năm sau, nhà khoa học và giáo sư Anh James Lovelock đã giới thiệu giả thuyết Gaia, làm hồi sinh ý tưởng về một Trái đất sống. Giả thuyết được đặt tên là Gaia – Mẹ Trái đất (nữ thần Hy Lạp).

Dưới đây là bài viết của Liz Benley, nhà địa chất, nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và nhà báo tự do chuyên về các hồ sơ hóa thạch và khí hậu học.

Ngược lại với niềm tin phổ biến rằng trái đất này chỉ đơn giản là một hành tinh đặc và chỉ có một chức năng duy nhất là cung cấp tài nguyên cho con người, hành tinh của chúng ta biết thở và là một sinh vật sống thực sự.

Khi chúng ta nghĩ đến trái đất một cách tổng thể, như là một thực thể sống, thay vì là tổng các bộ phận, nó sẽ mang một ý nghĩa mới. Hành tinh của chúng ta là một sinh vật có chức năng duy trì các điều kiện sống cần thiết.

Trong cuốn sách xuất bản vào năm 1979, James Lovelock đã cung cấp những bài học thú vị về sự tương tác của các quá trình sinh, địa, hóa, lý trên trái đất.

gaia_breathing-earth-01

Trong suốt lịch sử, bằng cách này hay cách khác, khái niệm Mẹ Trái Đất đã là một phần của văn hoá loài người. Mọi người đều đã nghe về Mẹ Trái Đất, nhưng có bao giờ dừng lại và suy nghĩ Mẹ Trái Đất là ai (hoặc là gì) chưa?

Gaia là gì? 

Lovelock định nghĩa Gaia là “… một thực thể phức tạp bao gồm đất, các đại dương, khí quyển, sinh quyển của Trái đất; tổng thể này cấu thành hệ thống phản hồi hay điều khiển để tìm kiếm một môi trường hoá lý tối ưu cho sự sống trên hành tinh này”

Qua Gaia, trái đất duy trì sự cân bằng nội môi, bảo trì những điều kiện ổn định tương đối.

Thành phần thực sự đáng ngạc nhiên của giả thuyết Gaia với ý tưởng cho rằng Trái Đất là một thực thể sống duy nhất. Ý tưởng này chắc chắn không phải là mới. James Hutton (1726-1797), cha đẻ của địa chất học đã từng mô tả Trái đất là một siêu sinh vật. Và trước Lovelock; Lewis Thomas, một bác sĩ y khoa và nhà văn lão luyện, đã viết những dòng này trong bộ sưu tập các bài luận nổi tiếng của ông, Cuộc sống của một Tế bào:

“Nhìn từ khoảng cách mặt trăng, điều đáng kinh ngạc về trái đất, làm cho ta phải nín thở, đó là nó đang sống. Những bức ảnh cho thấy bề mặt khô, vỡ vụn của mặt trăng nổi bật, khô như là một nấm xương tàn.

“Trôi nổi tự do trong bầu trời xanh trong, lấp lánh, ẩm, đó là trái đất, một tinh cầu phồn thịnh duy nhất của vũ trụ. Nếu nhìn lâu, bạn sẽ thấy những cuộn mây trắng lớn che phủ và chỉ để lộ các khối đất ẩn hiện.

” Nếu bạn được ngắm nhìn trái đất bằng một thời gian địa chất rất dài, bạn có thể thấy các châu  lục chuyển động, tách rời nhau trên các mảng vỏ của chúng, trôi nổi trên ngọn lửa ở phía dưới. Nó có bề ngoài cấu tạo của một sinh vật sống, đầy rẫy thông tin, và có kỹ năng kỳ diệu để xử lý ánh mặt trời.”

John Nelson minh họa “Trái đất thở” bằng hai ảnh GIFs động, ông phác thảo để hình dung sự chuyển mùa của Trái đất trong một năm như thế nào từ ngoài không gian.

gaia_breathing-earth-02

Đọc tiếp “Theo các nhà nghiên cứu, Gaia là một sinh vật sống”