Dòng sông đầu tiên trên thế giới được đối xử như người

Sông Whanganui ở New Zealand được công nhận là một “thực thể sống”, trở thành dòng sông đầu tiên trên thế giới hưởng những quyền lợi pháp lý như một con người.

Theo NZ Herald, quyết định vô tiền khoáng hậu được quốc hội New Zealand thông qua hôm 15/3, kết thúc vụ kiện tụng dai dẳng nhất lịch sử nước này về mối quan hệ giữa cộng đồng người Iwi, một tộc người Maori, và dòng sông Whanganui.

Người Iwi đã đấu tranh để dòng sông được công nhận tư cách pháp nhân như hiện tại trong suốt 160 năm. Dòng sông giờ đây sẽ được đại diện về quyền và lợi ích hợp pháp bởi 2 cá nhân: một đến từ cộng đồng Iwi và một là đại diện hoàng gia.

“Tôi biết ấn tượng đầu tiên của một số người là cảm thấy vô cùng kỳ lạ khi trao cho một thành phần của tự nhiên tính chất con người về mặt pháp luật”, Bộ trưởng Đàm phán Hiệp ước Chris Finlayson nói. “Song chẳng có gì lạ hơn niềm tin của gia đình, hay các nhóm người, các xã hội gắn kết”.

Sông Whanganui được cư dân bản địa sùng bái. Ảnh: Radio New Zealand.

Quyết định của quốc hội New Zealand cũng bao gồm 80 triệu USD đền bù tài chính và 30 triệu USD gây quỹ nhằm cải thiện “sức khỏe” của dòng sông.

BBC tường thuật cộng đồng người Maori tại quốc hội New Zealand đón nhận tin vui trong nước mắt và âm nhạc.

“Dưới góc nhìn của một người sống ở Whanganui, tình trạng tốt đẹp của dòng sông liên quan trực tiếp đến hạnh phúc, thịnh vượng của người dân và vì vậy việc công nhận dòng sông đúng như bản chất của nó là điều quan trọng”, nghị sĩ Adrian Rurawhe nói.

Với người Maori, việc đối xử với một dòng sông như một con người là chuyện bình thường. Điều đó được phản ánh qua câu tục ngữ nổi tiếng của họ: “Tôi là sông và sông là tôi”.

Sông Whanganui là dòng sông dài thứ 2 ở New Zealand. Đây không phải là lần đầu tiên nước này trao tư cách pháp nhân cho một thành phần tự nhiên. Năm 2013, vườn quốc gia Tu Urewera cũng được công nhận tương tự.

Hành trình dòng sông được công nhận là ‘người’ ở New Zealand, Con sông dài thứ 2 New Zealand – sông Whanganui, vừa được quốc hội nước này công nhận là “con người hợp pháp”.

(Theo NZ Herald, Zing)

Sông Mê Kông kêu cứu: Bảo vệ nguồn nước đa quốc gia

Các chuyên gia kêu gọi tăng cường phối hợp quản lý nguồn nước giữa các nước khu vực sông Mê Kông và áp dụng khoa học kỹ thuật để tiết kiệm nước trong nông nghiệp.

Ngày 16.3, Đại học Cần Thơ và Học viện Hoàng gia Campuchia phối hợp tổ chức hội thảo với chủ đề “Cứu lấy nguồn nước sông Mê Kông cho nông dân”. Sự kiện này diễn ra tại Phnom Penh (Campuchia) trong bối cảnh các chuyên gia đang lo ngại về những thay đổi thất thường của nguồn nước ở thượng nguồn ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp và nguồn lợi thủy sản trong khu vực.

Theo các nhà khoa học, nguồn nước sông Mê Kông những năm qua đã thay đổi rất thất thường do sự ảnh hưởng kết hợp của nhiều yếu tố như các đập thủy điện, nạo vét sông và chuyển dòng ở thượng nguồn cũng như ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Các tác nhân này đã ngăn cản sự di cư sinh sản của các loài thủy sản cũng như xáo trộn chu kỳ lũ, khiến vùng hạ lưu thiếu nước trầm trọng hơn, nhất là vào mùa khô.

Nguồn nước – nguồn sống

Theo báo cáo “Nguồn nước và việc sử dụng nước tại Campuchia”, hệ thống sông Mê Kông là nguồn nước chủ yếu trong nông nghiệp và cung cấp nguồn lợi thủy sản. Hệ thống sông Mê Kông tại Campuchia có 486 km dòng chính, 110 km phụ lưu là sông Tonle Sap và hồ Tonle Sap với sức chứa khoảng 72 km3 nước.

Ông Nophea Sasaki, cố vấn Học viện Hoàng gia Campuchia và là đồng tác giả của báo cáo, nhận định nguồn nước có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển của Campuchia. Ước tính khoảng 80% dân số Campuchia là nông dân và họ sống nhờ vào nguồn nước dùng trong ăn uống, sinh hoạt cũng như nông nghiệp. Nông nghiệp đóng góp 27,5% GDP của Campuchia, tương đương 14 tỉ USD. “Khi mùa mưa kết thúc thì tình trạng thiếu nước trở nên nghiêm trọng tại nhiều nơi, đặc biệt là giữa mùa khô”, ông Nophea nói.

Theo GS-TS Lê Quang Trí tại Đại học Cần Thơ, nguồn nước sông Mê Kông cung cấp cho khoảng 18,6 triệu người ở ĐBSCL, nơi cung cấp hơn 50% nguồn lương thực cho cả nước, 65% sản lượng cá và 70% trái cây trong nước và xuất khẩu. “Người dân thường sinh sống tập trung dọc bờ sông, nhưng sự phát triển kinh tế xã hội của ĐBSCL đang bị kìm hãm bởi nguồn nước.

Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng kết hợp với các vấn đề nguồn nước xuyên quốc gia như các đập thủy điện, phát triển công nghiệp, phá rừng và chuyển dòng nước đã ảnh hưởng đến đất và sản xuất nông nghiệp, làm giảm sản lượng, đe dọa an ninh lương thực và tăng nghèo, bên cạnh các yếu tố suy thoái môi trường và tài nguyên thiên nhiên”, ông nói.

Theo Học viện Hoàng gia Campuchia, dòng chảy sông Mê Kông đã thay đổi rõ ràng vào thời điểm trước và sau khi đập Mạn Loan của Trung Quốc đưa vào hoạt động. “Việc sụt giảm mực nước và dòng chảy vào mùa mưa ở Campuchia có thể giảm khu vực ngập nước và lưu lượng phù sa cũng như tăng xâm nhập mặn ở ĐBSCL”, theo báo cáo của học viện tại hội thảo. Theo đó, tác động của dòng chảy phụ thuộc vào các yếu tố biến đổi khí hậu và vận hành thủy điện. Đập thủy điện có thể khiến đỉnh lũ thấp hơn và thời gian lũ cũng đến chậm và ngắn hơn.

Giải pháp bền vững

Trước những nguy cơ đe dọa nông nghiệp khu vực sông Mê Kông, các nhà khoa học đã đề nghị nhiều biện pháp nhằm giúp người nông dân giảm nhẹ thiệt hại và phát triển nông nghiệp bền vững. Đồng thời, các nước trong khu vực cần nhận thức rõ nguy cơ để cùng nhau giải quyết những thách thức.

Giáo sư Kazuyuki Inubishi tại Đại học Chiba (Nhật), người từng nghiên cứu rất nhiều về nông nghiệp ở Việt Nam và khu vực, đã đề xuất tăng cường áp dụng hình thức canh tác lúa “vụ khô, vụ ướt” nhằm giảm nhu cầu nước tưới tiêu. “Phương pháp này giảm lượng nước tưới tiêu hằng năm, đồng thời giảm lượng khí nhà kính khoảng 23 – 43%. Điều thú vị là nó cũng giúp tăng năng suất hằng năm và giảm quá trình sản sinh các khí độc, tăng cường ô xy cho đất”, ông nói.

PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu tại Đại học Cần Thơ, đề nghị giảm diện tích trồng lúa vào mùa khô, trồng các giống lúa chịu hạn và chuyển sang trồng những loại hoa màu cần ít nước ở vùng đất cao. Trả lời câu hỏi liệu có thể cứu lấy nguồn nước cho nông dân hay không, ông Tuấn cho rằng cần phải có “ngoại giao nước”, nghĩa là cần phối hợp chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới. “Cần có sự hợp tác của các nước khu vực sông Mê Kông nhằm đạt được lợi ích từ việc xây dựng chiến lược phối hợp và các khung pháp lý nhằm tiến tới quản lý nguồn nước xuyên biên giới tốt hơn”, ông Tuấn nói.

Theo chuyên gia Nguyễn Minh Quang tại Đại học Cần Thơ, nhiều nông dân đã tích trữ nước, xây bồn chứa nước mưa, khoan giếng, xây đập ngăn mặn… sau khi chịu thiệt hại từ mùa khô năm ngoái. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp giảm nhẹ tạm thời. “Việc tiếp tục tác động ngoại giao phản đối đập thủy điện trên sông Mê Kông cần tiến hành cùng với phát triển nông nghiệp bền vững, hiện đại hóa nông nghiệp và học hỏi các mô hình ngay từ người dân địa phương”, ông nói.

Trả lời phỏng vấn riêng với Thanh Niên, TS Manoch Kongchum thuộc Trung tâm nông nghiệp tại Đại học bang Louisiana (Mỹ), cho rằng hiện trạng nguồn nước khu vực Mê Kông mang tính quốc tế, nếu các quốc gia ở thượng nguồn không xét đến các nước hạ nguồn thì sẽ gây ra rất nhiều tác động. “Ở Việt Nam, nông dân sẽ rất thiếu nước ngọt cho nông nghiệp khi họ cần, nhưng khi họ không cần nước thì lại gặp phải vấn đề xả nước từ thượng nguồn. Việt Nam cũng cần rất nhiều nước để đẩy lùi xâm nhập mặn nhưng khi cần thì lại không có. Các con đập chỉ lợi ích trong việc sản xuất điện chứ không hề có ích trong việc điều phối nước”, TS Manoch nói.

Cũng theo ông Manoch, rất nhiều người sống nhờ dòng sông Mê Kông và nếu không có chính sách liên quan đến dòng chảy, nước sẽ bị ngăn từ trên thượng nguồn thì không chỉ nông nghiệp bị “giết chết” mà cả nguồn thủy sản cũng bị thiệt hại. “Cũng cần áp dụng các kỹ thuật tiết kiệm nước. Chẳng hạn vào mùa hè, sông Mê Kông không có nhiều nước, chúng ta có thể trữ nước vào mùa mưa. Tại các vùng trồng lúa, nên hy sinh những khu đất hoặc đồng ruộng để làm nhiều hồ trữ nước cho mùa khô, bởi một khi các đập xây dựng xong thì Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn”, ông Manoch khuyến cáo.

Còn tại Campuchia, TS Nophea Sasaki cho rằng người dân đều biết rõ về tác hại của đập thủy điện đối với các loài thủy sản, vốn là nguồn thực phẩm quan trọng tại đây. “Việc phát triển thủy điện cần phải được tư vấn rõ ràng để giảm thiểu tác hại và phát huy tối đa hiệu quả”, ông Nophea chia sẻ với Thanh Niên.

Khánh An

Nguồn: http://thanhnien.vn/the-gioi/song-me-kong-keu-cuu-bao-ve-nguon-nuoc-da-quoc-gia-816039.html

Đến thăm Nhà nghiên cứu Hà Tiên – Bác Trương Minh Đạt

Công ty Đoàn Ánh Dương tổ chức đoàn khảo sát ngắn ngày (từ 10 đến 13) nhằm tìm hiểu lịch sử vùng đất Hà Tiên, đặc biệt những di tích khảo cổ liên quan đến dòng họ Mạc đứng đầu là Tổng trấn Mạc Cửu – người có công mở mang bờ cõi đất Việt.

Tham gia đoàn khảo sát gồm các chuyên gia trong lĩnh vực khảo cổ, lịch sử – văn hóa, địa chất, địa mạo. Ông Đoàn Sung (giám đốc công ty Đoàn Ánh Dương) làm trưởng đoàn.

Ngày 11, tháng 3, qua giới thiệu và kết nối của anh Nam (cán bộ bảo tàng Kiên Giang), đoàn đến thăm bác Trương Minh Đạt – Nhà nghiên cứu Hà Tiên. Hiện sức khỏe bác Đạt không được tốt, tuy vậy qua người nhà, bác đồng ý tiếp chúng tôi.

Trong khi chờ bác tiếp chuyện, một chồng sách – công trình nghiên cứu Hà Tiên mới xuất bản “Họ Mạc với Hà Tiên” được xếp trên bàn. Mọi người rất vui vẻ chào bác khi bác đang lần từng bước xuống cầu thang (có thêm sự trợ giúp của người nhà). Đoàn trưởng hỏi thăm sức khỏe và giới thiệu từng người trong đoàn và mong muốn được hỏi bác về Thương cảng thời Mạc Cửu và Thành cổ Hà Tiên.

Bác Đạt lần lượt tặng sách cho từng người. Bác viết chậm, nét chữ rung rung vì cây bút không chịu theo hướng điều khiển của người viết. Rất khó khăn, nhưng bác ghi đầy đủ tên, học hàm, học vị, chức danh, ngày tháng và ký tên, đóng mộc cho từng quyển sách.

Với giọng nói nhỏ nhẹ, rõ ràng bác nói việc nghiên cứu khảo cổ Hà Tiên có ba điểm cần lưu ý đó là: Phế tích thời Mạc Cửu, Thành cổ Hà Tiên và Đồn cổ Minh Mạng.

Bác Đạt cho biết “Mạc Thiên Tích mở thương cảng trù phú. Trước đây Đông Hồ khá sâu, tàu ghe đậu dọc cảng khẩu, hàng hóa từ các nước đến trao đổi. Gạo là sản phẩm của Hà Tiên, ngoài ra là cau khô, cá khô và đồ gốm…”.

Năm 1999 khi đào móng làm nhà, bác Đạt đã thu thập một số đồ gốm thời Mạc Cửu?.

Có nhiều điều muốn hỏi bác, nhưng đã hơn hai giờ tiếp chuyện, sợ bác mệt nên chúng tôi xin phép dừng câu chuyện, hẹn thăm và hỏi bác vào dịp khác. Đoàn trưởng Sung tặng quà (đặc sản tỏi Lý Sơn) cảm ơn bác và xin chụp ảnh lưu niệm cùng bác.

Đã ngoài 80 tuổi, lại bị bệnh nhưng bác Trương Minh Đạt vẫn nhớ từng sự kiện, từng năm xảy ra sự kiện. Bác nói rất vui và hạnh phúc khi đoàn đến thăm và trao đổi về Hà Tiên. Và chúng tôi, từng người trong đoàn cảm thấy thật may mắn, thật hạnh phúc khi được bác tiếp chuyện.

Xin được trích dẫn lại một số đoạn trong Nghiên cứu Hà Tiên thay cho lời kết. Đây cũng chính là tình cảm và sự trân trọng của người viết bài này gửi đến bác Trương Minh Đạt – nhà Hà Tiên Học.

Trong lời tựa của công trình Nghiên cứu Hà Tiên, tác giả viết “Chính tình yêu quê hương nhỏ bé đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu và viết về mảnh đất Hà Tiên”.

Cố Trần Bạch Đằng, Nguyên phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh viết:

“Hà Tiên là vùng đất khá đặc thù của Nam Bộ, Việt Nam. Nếu nói rằng đáng có một “Hà Tiên Học” thì nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt có thể xếp vào đội ngũ đi đầu”

Cố nữ sĩ Mộng Tuyết (Tạp chí khám phá -3/2005) viết:

“Nếu muốn hiểu cặn kẽ về lịch sử vùng đất Hà Tiên và dòng họ Mạc, về đó phải tìm ngay Trương Minh Đạt. Quý lắm! Anh ấy xứng danh là “nhà Hà Tiên Học”.

Nhà bác Đạt tại số 3, Tham Tướng Sanh, thị xã Hà Tiên
Bác Đạt giới thiệu công trình mới xuất bản_Họ Mạc với Hà Tiên
Bác Đạt tặng sách cho từng người trong đoàn
Bác Đạt viết tặng sách
Nhận sách tặng từ bác Đạt
Đồ gốm (thời Mạc Cửu ?) do bác Đạt thu thập khi làm móng nhà
Bác Đạt cùng với bác gái chụp ảnh kỉ niệm với đoàn

H & H

BÀI 1:TẾ BÀO BỜ BIỂN VÀ KIỂU BỜ BIỂN ĐẢO PHÚ QUỐC

Lê Hoài Nam, Hà Quang Hải

Đọc loạt bài điều tra xuyên quốc gia “Đường đi của cát Việt ra nước ngoài” trên báo tuổi trẻ mấy số gần đây, thật sự không thể tưởng tượng nổi về hoạt động khai thác và nạo vét cát biển đang diễn ra tại một số nơi.

Cát biển là vật liệu phản ánh sự cân bằng động lực biển. Bờ biển bị xói lở về cơ bản là do sự thiếu hụt nguồn cấp trầm tích, nhất là trong điều kiện mực nước biển dâng. Việc khai thác cát sẽ gia tăng sự thiếu hụt trầm tích dẫn đến xói lở bờ biển sẽ trầm trọng hơn.

Trong khi bờ biển, bờ đảo của chúng ta ở nhiều nơi đang bị thu hẹp dần do sự xâm lấn của biển; nhiều tỉ đồng phải đầu tư để xây dựng các công trình chống xói lở, vậy tại sao lại có hoạt động mang cát biển của Việt Nam đi bán?

Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc cho thấy xói lở bờ biển đã gia tăng từ nhiều năm qua, nhất là bờ tây đảo.

I.Tế bào bờ biển

1. Khái niệm

Tế bào bờ biển (TBBB) là một đơn vị tương đối khép kín nơi mà trầm tích lan truyền trong đó. Mỗi TBBB chứa một chu kỳ trầm tích đầy đủ bao gồm các nguồn, đường vận chuyển và bồn chứa. Bờ biển có thể được phân chia thành một số TBBB với ranh giới là các mũi đá nhô tự nhiên (hoặc các mỏ hàn dài – mũi nhô nhân tạo). Mỗi TBBB có một quá trình vật lý độc lập [1].

Áp dụng qui luật của TBBB là rất cần thiết cho việc thiết lập một quỹ trầm tích (Sediment Budget), tức là một sự cân bằng khối lượng đầu vào và đầu ra của trầm tích cho TBBB. Các nguồn trầm tích đầu vào có thể là sông, vận chuyển về phía bờ từ trầm tích biển ngoài khơi và từ các tế bào lân cận thông qua dòng dọc bờ (H. 1) hoặc sự can thiệp của con người (thông qua hoạt động nuôi bãi). Các TBBB cũng bị mất vật liệu theo những cách khác nhau, bao gồm bị bẫy trong các hẻm sâu ngoài khơi, được vận chuyển đến các cửa sông, đầm phá và biển nội địa hoặc do khai thác của con người. Các dòng dọc bờ cũng có thể vận chuyển trầm tích đến các tế bào lân cận.

Hình 1. Tế bào bờ biển và các hướng vận chuyển, trao đổi trầm tích (Nguồn: [1])
H. 1  Nhận thức về tế bào bờ biển (Nguồn [1])
Đọc tiếp “BÀI 1:TẾ BÀO BỜ BIỂN VÀ KIỂU BỜ BIỂN ĐẢO PHÚ QUỐC”

BIÊN TẬP BẢN ĐỒ DU LỊCH BỎ TÚI TỈNH TRÀ VINH

Nguyễn Trường Ngân, Bùi Nguyên Ngữ

Bộ môn Địa Tin Học – Trường Đại học Bách khoa TP HCM

1.Mở đầu

Trà Vinh là tỉnh ven biển thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre, phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Đông giáp Biển Đông. Tỉnh Trà Vinh có 65 km đường bờ biển đã hình thành nên vùng đất châu thổ lâu đời, bên cạnh vùng đất trẻ mới bồi, có hàng trăm gò, giồng cát. Trà Vinh có các ngôi chùa mang đậm nét văn hóa độc đáo của ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Các dân tộc trong tỉnh có nguồn gốc bản địa lâu đời nên có rất nhiều hoạt động văn hóa phong phú, các lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc. Những tiềm năng đó chính là cơ hội lớn cho ngành du lịch tỉnh Trà Vinh phát triển.

Năm 2015 tỉnh đón 460.000 lượt du khách (trong đó có 447.270 lượt khách nội địa và 12.730 lượt khách quốc tế), tổng doanh thu ngành du lịch đạt 120 tỷ đồng. Tuy có lượng khách du lịch lớn nhưng qua quá trình điều tra thực tế thì đa số du khách chưa có nhiều thông tin về du lịch Trà Vinh. Mặt khác, các sản phẩm quảng bá du lịch chưa hỗ trợ rộng rãi cho du khách cũng như kích thước sản phẩm chưa tối ưu, không thuận tiện cho việc di chuyển ngoài thực địa.

Bài báo này nhằm cung cấp một loại sản phẩm – bản đồ du lịch mới, nhỏ gọn, nhưng vẫn đảm bảo du khách trải nghiệm đầy đủ thông tin về các điểm du lịch và tuyến du lịch nổi bật khi đến với Trà Vinh.

2.Mục tiêu nghiên cứu

Khái quát hóa các nội dung cần thiết để biên tập bản đồ du lịch bỏ túi tỉnh Trà Vinh trên khổ giấy A4. Sản phẩm gồm 2 bản đồ:

Bản đồ 1 – Bản đồ các điểm du lịch thành phố Trà Vinh.

Bản đồ 2 – Bản đồ các tuyến du lịch tỉnh Trà Vinh.

Tập bản đồ bỏ túi được thiết kế theo kích thước A4 gồm 100 tờ in màu.

3. Nội dung và phương pháp

Hình 1: Quy trình biên tập bản đồ du lịch bỏ túi tỉnh Trà Vinh
Hình 1: Quy trình biên tập bản đồ du lịch bỏ túi tỉnh Trà Vinh

Đọc tiếp “BIÊN TẬP BẢN ĐỒ DU LỊCH BỎ TÚI TỈNH TRÀ VINH”

Vườn kinh đá ở chùa Phước Hậu

Hôm chủ nhật (19/02/2017), bác Thu alo, alo… rủ đi chùa Phước Hậu thăm quan Vườn kinh đá, đồng thời góp ý cho ý tưởng của thày Thích Phước Cẩn về việc đưa một số loại đá đặc trưng lịch sử phát triển địa chất khu vực về khuôn viên chùa phục vụ thăm quan, tìm hiểu về địa chất của người dân và du khách.

Đi thăm chùa đầu năm cùng với ý tưởng thật đáng trân trọng của thày Thích Phước Cẩn thực sự làm cho mình phấn khích. Chuẩn bị đồ nghề vừa xong, xe bác Thu đến, lên đường ngay (9:30). Trên đường đi, thày Cẩn cho biết thày Lê Quang Sáng (Đại học Cần Thơ) đã tới chùa.

Vị trí chùa Phước Hậu
Vị trí chùa Phước Hậu

13:00 tới chùa Phước Hậu thuộc xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Mọi người gặp gỡ, hỏi thăm sức khỏe và giới thiệu về nhau trong một không gian tĩnh mịch bao quanh bởi đá và cây bên dòng sông Trà Ôn êm mát.

Nhà chùa xắp cơm trên bàn đá, bác Thu và mình dùng bữa trưa muộn. Các món chay thật ngon: khổ qua nhồi thịt, bắp non xào cà rốt, thịt nấu đậu; đặc biệt có món tương hạt.

Các món chay đặt trên bàn đá
Các món chay được đặt trên bàn đá

Cơm, nước xong xuôi, thày Phước Cẩn giới thiệu Vườn kinh đá trong khuôn viên chùa Phước Hậu. Vườn kinh đá có diện tích 10.000m2 thực ra gồm 3 vườn kinh: Vườn kinh Pháp cú, Vườn kinh A Di Đà, và Vườn kinh Bắc truyền trích diễm. Trong đó Vườn kinh Pháp cú được xây dựng quy mô nhất với diện tích khoảng 4.000m2.

Vườn kinh pháp cú mô phỏng 8 lá bồ đề xòe ra theo tám hướng, tượng trưng Bát chánh đạo của Phật giáo với trung tâm vườn là ngọn núi có bốn tượng Phật Thích Ca Mâu Ni.

“Cuống và lá bồ đề” theo các hướng được xắp xếp bằng 216 phiến đá granit màu xám cao 120 cm, rộng 90 cm, dày 8-9 cm. Hai mặt phiến đá trơn, nhẫn được khắc 432 bài kinh – mỗi bài là những lời răn dạy của Phật gồm những câu ngắn gọn, đơn giản nhưng đầy ý nghĩa.

Vườn kinh Pháp cú
Vườn kinh Pháp cú dưới chân những cây sao cao vút
Những bài kinh ngắn gọn, đơn giản nhưng đầy ý nghĩa.
Những bài kinh ngắn gọn, đơn giản nhưng đầy ý nghĩa.

Vườn kinh A Di Đà có 31 phiến đá được xếp theo hình thể nước Việt Nam, tạo thành một hồ nhỏ trồng sen. Mỗi miền Bắc, Trung, Nam có một phiến đá trong lòng hồ ghi ngôi chùa biểu trưng.  Các bài kinh ở vườn được dịch theo thể thơ lục bát.

Vườn kinh Vườn kinh A Di Đà
Vườn kinh A Di Đà
Vườn kinh A Di Đà - phần miền Nam
Vườn kinh A Di Đà – phần miền Nam
Vườn kinh A Di Đà - phần miền Trung và Bắc
Vườn kinh A Di Đà – phần miền Trung và Bắc

Vườn kinh Bắc truyền trích diễm gồm với 15 phiến đá, các bài kinh được dịch theo thể văn xuôi; các khối đá, cột đá lớn khắc chữ to với những câu triết lý Phật giáo.

Vườn kinh Bắc truyền trích diễm
Vườn kinh Bắc truyền trích diễm
Vườn kinh Bắc truyền trích diễm được bố trí dọc sông Trà Ôn
Vườn kinh Bắc truyền trích diễm được bố trí dọc sông Trà Ôn

Ý tưởng xây dựng vườn kinh đá của thày thầy Thích Phước Cẩn – trụ trì chùa Phước Hậu từ lần sang Myanmar du lịch, thăm quan và thấy kinh pháp cú được khắc trên đá bằng tiếng Pali. Tháng 3-2014 công trình được khởi công và hoàn thành vào tháng 3-2016.

Kết thúc thăm quan Vườn kinh đá, thày Phước Cẩn trao đổi với mọi người ý tưởng đưa các đá đặc trưng cho lịch sử phát triển địa chất (trước mắt vùng đồng bằng Sông Cửu Long) về Vườn kinh đá để mọi người (nhất là người dân địa phương) có điểm thăm quan, học tập, tìm hiểu khái quát về địa chất khu vực.

Trên cơ sở danh sách đề xuất lấy mẫu mà thày Lê Quang Sáng phác thảo; Hải và Thu góp thêm ý kiển để triển khai công việc. Một bản đồ các loại đá, vị trí lấy mẫu sẽ được Hải thực hiện sớm để thày Cẩn có cơ sở triển khai công việc.

Trao đổi thông tin để triển khai công việc tiếp theo
Trao đổi thông tin để triển khai công việc tiếp theo

16:00 kết thúc phần trao đổi, trước khi chia tay thày Phước Cẩn tặng quà cho thày Sáng, Thu và Hải – những quả bưởi “lộc chùa” đầu năm thật sự ngọt ngào.

Vườn kinh đá – một công trình văn hóa gắn kết Tâm linh – Khoa học – Du lịch sẽ là điểm đến đầy lý thú của du khách trong và ngoài nước.

H & H

Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai

Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng. Toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. Các thách thức đó không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân lên hậu quả của các tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển bền vững của đồng bằng.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở ngoài cùng của châu thổ sông Mekong giáp với biển, được hình thành từ khoảng 6000 năm nay, từ trầm tích mà sông Mekong tải ra biển cộng với quá trình biển lùi. Nước và trầm tích là hai yếu tố thuộc về bản chất của đồng bằng.

Là một châu thổ trẻ, mẫn cảm với các tác động từ bên ngoài và từ bên trong, đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và từ việc sử dụng nguồn nước từ thượng nguồn. Gọi là kép vì hai tác động này không tách biệt nhau mà quyện vào nhau1.

Hệ lụy từ việc khai thác Đồng bằng Sông Cửu Long

Sau năm 1975, Việt Nam bắt tay vào quy hoạch khai thác ĐBSCL. Các vấn đề cần hiểu rõ và giải quyết cho được và đúng quy luật, là phèn, chua và mặn để khai thác ba tiểu vùng đất rộng người thưa lúc bấy giờ là Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau.

Thách thức khi đó đối với đồng bằng, đặc biệt trong ba tiểu vùng, là vào mùa mưa thì thừa nước, lũ ngập mênh mông, nhưng vào mùa khô thì thiếu nước trầm trọng, đất nứt nẻ, phèn xì lên từ những lớp đất phèn bên dưới bị oxy hóa. Lại thêm vào mùa khô, nước mặn theo triều xâm nhập sâu vào đồng bằng. Đầu mùa mưa, phèn được rửa, chảy vào kênh rạch kéo độ pH xuống thấp. Phải chờ cho đất bớt phèn mới canh tác lúa được.

Ở Việt Nam, không có “Vạn lý trường thành” nhưng ĐBSCL có “Vạn lý đường kênh”. Chỉ tính riêng trong tiểu vùng Đồng Tháp Mười và tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên, từ năm 1975 đến cuối thập niên 1990, hơn hai vạn km kênh các loại đã được đào, để “ém phèn” cắt đứt oxy hóa các tầng jarosite và pyrite, để thau chua, rửa mặn và đưa phù sa sông Mekong vào sâu trong Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. (Hình 1).

Hình 1. Mạng lưới kênh rạch ở ĐBSCL năm 1964 (trái) và năm 2011 (phải).
Hình 1. Mạng lưới kênh rạch ở ĐBSCL năm 1964 (trái) và năm 2011 (phải).

Một mặt khác, chính quyền các cấp và nhân dân cũng đã xây dựng rất nhiều cống ngăn mặn, nhằm giữ ngọt và “ngọt hóa” những vùng bị nhiễm mặn như các vùng Gò Công, Nam Măng Thít, sông Ba Lai, vùng trung tâm của Bán đảo Cà Mau, … Mục đích là để tăng diện tích canh tác lúa hai vụ nơi nào có thể.

Cái giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ “vựa lúa của cả nước” là diện tích rừng tràm biến mất nhanh chóng trong Đồng Tháp Mười, trong Tứ giác Long Xuyên và tại rừng U Minh (Thượng và Hạ). Hơn thế nữa các vùng trũng bị “chắt nước” cạn để tăng vụ. (Hình 2). Mất rừng là mất nước. Chắt cạn nước chứa đựng nguy cơ mực nước thủy cấp trong khu vực sẽ xuống thấp khi nước sông Mekong về đồng bằng không còn dồi dào như trước nữa.

Hình 2. Diễn biến của Đồng Tháp Mười năm 1979 (trái) và năm 2005 (phải).
Hình 2. Diễn biến của Đồng Tháp Mười năm 1979 (trái) và năm 2005 (phải).

Không ngừng lại ở hai vụ, nhiều tỉnh, bắt đầu từ An Giang, Đồng Tháp, bao đê vượt lũ để làm lúa vụ ba từ những năm 1990. Tổng diện tích lúa vụ ba có đến trên 300.000 ha. Tăng thêm thu nhập được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong thì độ phì của đất giảm sút, môi trường suy thoái.

Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, kể cả thủy sản biển còn khiêm tốn trong thập niên 1980. Nay, diện tích nuôi tôm lớn lên từng ngày. Quy hoạch diện tích nuôi tôm cho năm năm đã được các tỉnh ven biển từ Bến Tre đến Kiên Giang hoàn thành trong một đến hai năm, thậm chí có nơi còn nhanh hơn. Có cả những cống ngăn mặn trước đây được xây để canh tác lúa, bị bửa ra để lấy nước mặn nuôi tôm. Có nhiều cống ngăn mặn trong vùng ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được mở ra để cho nước mặn vào các vuông tôm trong vùng ngọt hóa.

Cái giá phải trả còn là mất rừng ngập mặn để đào vuông nuôi tôm. Thiếu nước ngọt để giữ độ mặn trong ao phù hợp cho nuôi tôm, nước ngầm đã được bơm lên. Ở một số nơi trong vùng đã ngọt hóa, người dân còn khai thác nước ngầm mặn để đảm bảo độ mặn trong vuông cho tôm phát triển.

Hình 3. Diễn biến rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh vệ tinh từ trái qua phải 1973, 1983 và 2010.
Hình 3. Diễn biến rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh vệ tinh từ trái qua phải 1973, 1983 và 2010.

Có phải chúng ta đã hiểu hết về đồng bằng, hiểu rõ những phản ứng của vùng đất này để khai thác nó đúng quy luật? Tôi cho là chưa. Tiếp tục theo dõi, điều tra nghiên cứu (không chỉ về khoa học tự nhiên mà còn cả về kinh tế xã hội) vẫn là cần thiết. Nếu không, lợi sẽ bất cập hại, cái lợi trước mắt sẽ không bù được cái hại trong trung và dài hạn về tài nguyên nước và môi trường nói chung. Nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường, một cột trụ của phát triển bền vững là một thách thức khác.

Những thách thức hiện nay và ngày mai

Châu thổ sông Mekong được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Trái đất càng ấm lên, băng tan càng nhanh, ĐBSCL càng phải đối đầu với ngập, lún chìm, bờ biển bị xâm thực và mặn ngày càng xâm nhập vào sâu. Trong bối cảnh bị đe dọa như vậy, thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế buộc nền kinh tế đồng bằng phải có sức cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thách thức khu vực đó là việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, trong đó có việc chuyển nước sang lưu vực sông khác, và nhất là việc khai thác thủy điện trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống trong khi nhu cầu về nước ngày càng tăng.

Theo Ủy hội sông Mekong (MRC) (2009), sáu đập thủy điện của Trung Quốc + 11 đập ở hạ lưu vực + 30 đập trên các chi lưu sẽ tích lại một lượng nước của sông Mekong vào năm 2030 là 65,5 tỷ m3 trong khi đó nhu cầu về nước trong hạ lưu vực vào năm này sẽ tăng 50% so với năm 2000.

Nhóm chuyên gia về trầm tích, trong Phụ lục của Báo cáo SEA của MRC đã đánh giá: “Tác động của các đập của Trung Quốc đối với trầm tích sông Mekong là rất to lớn, trong hàng trăm năm, một khi tất cả các đập đi vào hoạt động. Lượng trầm tích của sông Mekong ước tính sẽ bị các đập Trung Quốc giữ lại vào khoảng từ ⅓ đến ½ của tổng lượng trầm tích bình quân chảy về châu thổ sông Mekong”2.

Các đập thủy điện giữ lại trầm tích trong hồ, gây nên thâm hụt trong cán cân trầm tích ở hạ du, làm thay đổi địa mạo lòng sông, đáy sông, cửa biển. Sự sạt lở nghiêm trọng đê biển ở Gành Hào, đường phòng hộ ven biển ở Bạc Liêu mà tôi vừa chứng kiến trong tháng 2.2016 là một minh họa cụ thể của tác động kép lên đồng bằng từ biến đổi khí hậu và từ khai thác nguồn nước ở thượng nguồn.
Trong thách thức khu vực, còn có việc xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong ở hạ lưu vực (chín trên đất Lào và hai trên lãnh thổ Campuchia), và dự án của Thái Lan chuyển một lượng nước từ sông Mekong sang lưu vực sông Chao Phraya.

Tác động kép sẽ càng mãnh liệt hơn. Đồng bằng bị đe dọa trong chính sự tồn tại của mình.
Thách thức tại địa bàn, ngoài việc mất rừng ngập mặn và rừng tràm, còn là việc khai thác cát trên sông Tiền, sông Hậu, làm trầm trọng thêm sự thâm hụt cán cân trầm tích3; là việc khai thác quá mức nước ngầm làm mặt đất sụt lún kéo theo mực nước biển dâng thực tế ngày càng nhanh hơn4,5. Hình 4) còn là phát triển nông nghiệp vẫn thiên về chiều rộng hơn chiều sâu, vẫn thiên về số lượng hơn chất lượng, dẫn đến lãng phí tài nguyên, đặc biệt tài nguyên đất và tài nguyên nước.

Hình 4. Khai thác cát, sỏi và cuội trong hạ lưu vực.
Hình 4. Khai thác cát, sỏi và cuội trong hạ lưu vực.

Thách thức tại địa bàn còn do năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực rất thấp, là cơ giới hóa và hạ tầng cơ sở chưa tương xứng với tiềm năng của đồng bằng và nhất là do thiếu một cơ chế phát triển vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả vùng; do thiếu sự liên kết chuỗi nên giá trị các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam thấp, sức cạnh tranh yếu.

Hình 5. Tốc độ tụt của mực nước ngầm (trái) và tốc độ sụt lún bề mặt của đồng bằng (phải).
Hình 5. Tốc độ tụt của mực nước ngầm (trái) và tốc độ sụt lún bề mặt của đồng bằng (phải).

Hành động

1.Đã đến lúc sáu nước trong lưu vực phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực, với tinh thần hợp tác để cùng phát triển. Hội nghị cấp cao hợp tác Mekong – Lan Thương lần thứ nhất tại Tam Á (Trung Quốc) liên quan đến sử dụng nguồn nước sông Mekong ngày 23.3.2016 là bước đi đầu tiên, cần được thể hiện bằng những hành động, dự án cụ thể, chân thực đúng với tinh thần này.

2. Các bộ, Ủy ban Quốc gia sông Mekong, cùng các nhà khoa học cần phát hiện, theo dõi, đánh giá tác động của các dự án khai thác nguồn nước ở thượng nguồn từ khi chúng mới manh nha, chỉ ra kịp thời các tác hại để chính phủ có cơ sở đàm phán vì lợi ích của đồng bằng và vì lợi ích của cả lưu vực.

3.Hơn bao giờ, trong bối cảnh mới, phải rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, và các quy hoạch phát triển ngành, địa phương theo hướng phải tiết kiệm nước ngọt, chung sống với hạn và mặn, khai thác nước mặn như là một tài nguyên như nhiều nước đã làm thành công, đảm bảo nước ngọt cho sinh hoạt của người dân. Mô hình phát triển ở đồng bằng phải chuyển dần, nhưng tích cực nhất có thể được, sang chiều sâu. Mảng công việc này đang chờ đợi sự cống hiến của các nhà khoa học.

4.Các bộ, các địa phương phải phối hợp chặt chẽ với nhau để đối diện với các thách thức. Vấn đề đổi mới thể chế và xác định cơ chế phối hợp là bức thiết.

5.Hơn bao giờ, về cơ chế, sự liên kết chuỗi, liên kết vùng, phát triển kinh tế vùng là bức thiết. Để phát triển bền vững, phải giải quyết tình trạng đồng bằng đang là vùng trũng về giáo dục. Cần đầu tư nhiều hơn nữa cho hạ tầng cơ sở ở đồng bằng.

Sau hội nghị COP 21, nhiều nước sẵn sàng góp sức cùng Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu. Khai thác có hiệu quả hay không sự sẵn sàng này tùy thuộc ở chúng ta.

——–
* GS.TSKH. Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chuyên gia cao cấp Hội đồng Chính sách KH&CN QG.

1 Nguyễn Ngọc Trân, 2010, Tác động kép của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long, Hội thảo khoa học “Khoa học Địa lý và vấn đề biến đổi khí hậu: nghiên cứu và giảng dạy”, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, trong Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, trang 132-151, Nhà XB Trẻ, 2011.

2 C.Thorne, G.Annandale, J.Jensen, Review of Sediment Transport, Morphology, and Nutrient Balance, Part of The MRCS Xayaburi Prior Consultation Project Review Report, March 2011.
3 J.P. Bravard, M. Goichot, S. Gaillot, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River, First Survey and Impact Assessment, EchoGeo, 26 (2013), 10-12.2013.

4 J.P. Ericson, C.J. Vorosmarty, S.L. Dingman, L.G. Ward, M. Meybaeck. Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82, 02.2006.

5 Laura E Erban, Steven M Gorelick and Howard A Zebker, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta,Vietnam  Environ. Res. Lett. 9 (2014) 084010 (6pp).

Nguồn: http://tiasang.com.vn/-dien-dan/dong-bang-song-cuu-long-nhung-thach-thuc-hien-nay-va-ngay-mai-9531

Tài nguyên Khoáng sản Việt Nam

Nguyễn Khắc Vinh

Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinh khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh các quá trình phong hoá thuận lợi cho sự hình thành khoáng sản. Qua 65 năm nghiên cứu điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam cùng với các kết qủa nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trước cách mạng tháng 8 đến nay chúng ta đã phát hiện trên đất nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng.

I.Nhóm khoáng sản năng lượng gồm có dầu khí, than khoáng, urani và địa nhiệt

Về dầu khí. Việt Nam có tiềm năng dầu khí đáng kể. Tiềm năng và trữ lượng dầu khí có khả năng thu hồi của các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam khoảng 4,300 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng phát hiện là 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí có khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn dầu quy đổi. Đến ngày 2/9/2009 tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã đạt mốc khai thác 300 triệu tấn dầu quy đổi. Với sản lượng khai thác dầu khí hàng năm, hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ ba ở Đông Nam Á sau Indonesia và Malaysia.

Than khoáng. Việt Nam là nước có tiềm năng về than khoáng các loại. Than biến chất thấp (lignit – á bitum) ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1700m có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn. Nếu tính đến độ sâu 3500m thì dự báo tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn.

Than biến chất trung bình (bitum) đã được phát hiện ở Thái Nguyên, vùng sông Đà và vùng Nghệ Tĩnh với trữ lượng không lớn, chỉ đạt tổng tài nguyên gần 80 triệu tấn.

Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh đã được khai thác từ hơn 100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Urani. Ở Việt Nam đã phát hiện nhiều tụ khoáng urani ở Đông Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên urani ở Việt Nam được dự báo trên 218.000 tấn U308 có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho các nhà máy điện hạt nhân trong tương lai.

Địa nhiệt. Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt độ là 300 C trở lên. Các nguồn nước nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai thác dầu khí chúng ta cũng phát hiện được nhiều nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể Sông Hồng và Bể Cửu Long. Tiềm năng địa nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có thể coi là nguồn năng lượng bổ sung cho các nguồn năng lượng truyền thống phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

II.Nhóm khoáng sản kim loại

Việt Nam có nhiều loại như sắt, mangan, crôm, titan, đồng, chì, kẽm, cobalt, nickel, nhôm, thiếc, vonfram, bismut, molybden, lithi, đất hiếm, vàng, bạc, platin, tantal-niobi v.v… Trong số khoáng sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như bauxit (quặng nhôm), đất hiếm, titan, wolfram, crôm v.v..

Bauxit có 2 loại chủ yếu là diaspor và gibsit.

Diaspor có nguồn gốc trầm tích phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hải Dương và Nghệ An với tài nguyên trữ lượng không lớn chỉ đạt gần 200 triệu tấn.

Gibsit có nguồn gốc phong hoá từ đá bazan, phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên với trữ lượng đạt gần 2,1 tỷ tấn (Sở Địa chất Mỹ năm 2010 đã công bố sách hàng hoá khoáng sản thế giới và xếp bauxit Việt nam đứng hàng thứ 3 thế giới sau Guinea 7,4 tỷ tấn và Australia 6,2 tỷ tấn). Hiện bauxit đang được khai thác thử nghiệm để sản xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân Cơ, Đăk Nông.

Đất hiếm ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên trữ lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn) và Mỹ (13 triệu tấn). Quặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng.

Quặng titan (Ilmenit) ở Việt nam có 3 loại: quặng gốc trong đá xâm nhập mafic, quặng trong vỏ phong hoá và quặng sa khoáng ven biển.

Quặng titan gốc trong đá xâm nhập mafic ở Cây Châm, Phú Lương Thái Nguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đạt 15 triệu tấn đang được khai thác.

Quặng ilmenit trong vỏ phong hoá và sa khoáng ở các huyện Phú Lương và Đại Từ Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn.

Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố rải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu. Đặc biệt ở một số diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn. Ngoài khoáng vật ilmenit, còn có các khoáng vật có giá trị kinh tế kỹ thuật là zircon và monazit. Một số mỏ ilmenit ở Hà Tĩnh, Bình Định, Bình Thuận v.v.. đã được khai thác và xuất khẩu.

Quặng Wolfram tập trung chủ yếu ở tụ khoáng Đá Liền, Đại Từ, Thái Nguyên. Công ty Tiberon Minerals đã tiến hành thăm dò xác định tài nguyên và trữ lượng đạt 110,2 triệu tấn quặng chứa 227.500 tấn WO3 , 8,5 triệu tấn CàF2, 191.800 tấn Cu, 20,8 tấn Au và 107.000 tấn Bi. Đây là vùng quặng rất đáng được quan tâm chú ý vì có tài nguyên dự báo đáng kể.

Quặng crôm sa khoáng có giá trị kinh tế kỹ thuật được tìm thấy ở Cổ Định, Nông Cống Thanh Hoá với trữ lượng 22 triệu tấn đang được khai thác. Đi kèm crôm còn có trữ lượng đáng kể của Nickel và Cobal … cần được nghiên cứu sử dụng.

III. Nhóm khoáng chất công nghiệp

Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp như apatit, phosphorit, baryt, fluorit, pyrit, serpentin, than bùn, sét gốm sứ, magnesit, dolomit, felspat, kaolin, pyrophylit, quartzit, cát thuỷ tinh, disthen, silimanit, sét dẻo chịu lửa, diatomit, graphit, talc, atbest, muscovit, vermiculit, bentonit, thạch anh tinh thể. Các khoáng chất công nghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho các ngành nông, công nghiệp. Các mỏ lớn đáng chú ý là apatit, baryt và graphit.

Apatit phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở phía Bắc đến vùng Văn Bàn, dài trên 100 Km, rộng trung bình 1 Km, được đánh giá có tài nguyên đến độ sâu 100m, là 2,5 tỷ tấn và trữ lượng đã được thăm dò đạt 900 triệu tấn.

Baryt phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, thường đi kèm với quặng Pb-Zn và đất hiếm. Tổng tài nguyên dự báo đạt 25 triệu tấn (trong tụ khoáng Đông Pao, Lai Châu có 4 triệu tấn).

Graphit có ở Lào Cai, Yên Bái và Quảng Ngãi với tổng tài nguyên và trữ lượng đạt gần 20 triệu tấn.

IV.Nhóm vật liệu xây dựng 

Việt Nam có nhiều mỏ vật liệu xây dựng: sét gạch ngói, sét xi măng, puzzolan, cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong. Các mỏ vật liệu xây dựng đã và đang được khai thác phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.

Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm đá quý ruby, saphia, peridot, … nhưng trữ lượng không lớn. Riêng ruby ở Yên Bái và Nghệ An có chất lượng cao được thế giới đánh giá đạt chất lượng quốc tế, tương đương với ruby nổi tiếng của Myanmar.

Điểm qua về tiềm năng khoáng sản của đất nước ta kể trên, nếu so sánh với các nước ở trong khu vực Đông Nam Á và thế giới, thì thấy rằng: nước ta tuy có diện tích đất liền không lớn, nhưng có vị trí địa chất, địa lý thuận lợi cho sự sinh thành và phát triển khoáng sản. Với nguồn tài nguyên khoáng sản đã biết thì có thể xếp nước ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng kể.

Tuy nhiên cần phải chú ý các đặc điểm sau:

1.Việt Nam không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng lượng. Dầu khí chỉ đảm bảo khai thác được khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cường tìm kiếm thăm dò để tăng trữ lượng phục vụ lâu dài. Than biến chất cao (Anthracit) với trữ lượng đã được đánh giá đạt nhiều tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét và hơn nữa mới bảo đảm cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Than biến chất thấp ở dưới sâu đồng bằng sông Hồng tuy dự báo có tài nguyên lớn đến vài trăm tỷ tấn nhưng ở độ sâu hàng ngàn mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn và phức tạp cả về công nghệ, cả về an sinh xã hội và môi trường. Tiềm năng urani và địa nhiệt không đáng kể và chưa được thăm dò đánh giá trữ lượng.

2.Việt Nam có nhiều khoáng sản kim loại nhưng trữ lượng không nhiều. Rất nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, chì , kẽm, thiếc v.v..) thế giới rất cần trong khi trữ lượng không có nhiều, chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ cạn kiệt. thì Việt Nam cũng có ít, không đảm bảo tiêu dùng trong nước. Một số ít khoáng sản kim loại như bauxit, đất hiếm, ilmenit ta có nhiều, thế giới cũng có nhiều, song nhu cầu hàng năm không lớn, hàng trăm năm nữa mới cạn kiệt, nên chúng không là những khoáng sản “nóng“, khoáng sản cạnh tranh để phát triển, lại càng không thể xem là cứu cánh của nền kinh tế Việt Nam.

Trữ lượng bauxit trên thế giới là 27 tỷ tấn và với sản lượng khai thác hàng năm trên 200 triệu tấn thì phải 135 năm nữa mới hết bauxite

Đất hiếm trên thế giới có trữ lượng đạt 99 triệu tấn, nhu cầu hàng năm chỉ cần 125.000 tấn thì 700 năm nữa mới cạn kiệt loại khoáng sản này.

Thế giới có nhiều quặng titan với tổng tài nguyên đạt hơn 2 tỷ tấn, trong đó trữ lượng đạt 730 triệu tấn. Hàng năm thế giới chỉ tiêu thụ hơn 6 triệu tấn, như vậy 128 năm nữa mới hết quặng titan.

3.Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng phục vụ tốt cho phát triển kinh tế của đất nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên chúng không phải là khoáng sản có giá trị kinh tế cao và trên thế giới cũng có nhiều đủ dùng trong nhiều năm nữa.

4.Việt Nam chưa phát hiện được kim cương – loại khoáng sản quý có giá trị kinh tế kỹ thuật cao. Các nhà địa chất đã phát hiện ở Việt Nam có Ruby chất lượng cao, nhưng trữ lượng chưa rõ, các loại đá qúy khác cũng chưa được phát hiện nhiều. Thực tế nhóm đá quý được phát hiện ở Việt Nam chưa đóng góp gì đáng kể cho phát triển kinh tế đất nước.

Phân tích sâu về đặc điểm tiềm năng tài nguyên khoáng sản của Việt Nam trong bối cảnh chung về tài nguyên khoáng sản của khu vực và thế giới cho ta thấy rõ tuy Việt Nam là nước có nhiều loại khoáng sản nhưng trữ lượng hầu hết các loại không nhiều. Một số loại khoáng sản như bauxit, đất hiếm, ilmenit ta có tài nguyên trữ lượng tầm cỡ thế giới thì thế giới cũng có nhiều và không có nhu cầu tiêu thụ lớn. Điều đó có nghĩa là loại khoáng sản thế giới cần thì ta lại không có, mà loại khoáng sản ta có nhiều thì thế giới lại không cần nhiều, không có nhu cầu lớn. Đây là điều cần phải được quan tâm nghiên cứu đánh giá khách quan giữa cung và cầu để có chiến lược sử dụng tài nguyên khoáng sản đúng đắn, hợp lý, phục vụ cho phát triển kinh tế của đất nước. Nếu chỉ dựa đơn giản vào một số khoáng sản có tài nguyên trữ lượng nhiều, đứng thứ hạng cao trên thế giới như bauxit, đất hiếm, ilmenit,.. mà đánh giá quá cao vai trò của chúng trong phát triển kinh tế của đất nước sẽ là một sai lầm phải trả giá .

Để góp phần xây dựng và phát triển kinh tế thực hiện CNH, HĐH đất nước trong những năm tới cần đẩy mạnh điều tra, khảo sát, đánh giá các loại khoáng sản mà thế giới và trong nước rất cần, trữ lượng của chúng đang dần cạn kiệt như đầu khí, than, vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, thiếc, v.v..

Một số loại khoáng sản thế giới và trong nước có nhiều trong khi không có nhu cầu tiêu thụ lớn như bauxit, đất hiếm, ilmenit thì lúc này chưa cần thiết đầu tư thăm dò.

Khoáng sản là loại tài nguyên không tái tạo được và có số lượng hạn chế trong lòng đất do đó cần có chiến lược quản lý bảo vệ khai thác để sử dụng hợp lý tiết kiệm và có hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước.

Nguồn: http://vigmr.vn/vigmr/frontend/?content=doctin&postId=40

4 thách thức đe dọa đồng bằng sông Cửu Long

Toàn cầu hóa kinh tế, tác động kép từ biến đổi khí hậu, phát triển các dự án thiếu trách nhiệm trên dòng Mekong và khai thác bất hợp lý tài nguyên đang đe dọa sự tồn tại của miền Tây.

Các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước đưa ra nhận định trên khi đánh giá các thách thức đã và đang diễn ra đối với đồng bằng sông Cửu Long.

Vắt kiệt nước vùng trũng để tăng vụ

Nằm ở tận cùng của châu thổ sông Mekong, đồng bằng sông Cửu Long được hình thành khoảng 6.000 năm nay từ trầm tích của dòng sông này chảy ra biển cộng với quá trình biển lùi.

Sau 1975, Việt Nam bắt tay vào quy hoạch và khai thác vùng đất này. Các vấn đề cần hiểu rõ, giải quyết cho được và đúng quy luật để khai thác 3 tiểu vùng “đất rộng người thưa” Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau là: phèn, chua và mặn.

Việt Nam vượt qua khá thành công thách thức này. Cụ thể là sau một thời gian quyết liệt đầu tư khai phá, miền Tây có “vạn lý đường kênh” cho phép ém phèn để canh tác lúa, tháo chua, rửa mặn. Mặt khác, chính quyền và người dân xây dựng nhiều cống ngăn mặn, giữ ngọt và ngọt hóa những vùng nhiễm mặn. Mục đích là để tăng diện tích lúa 2 vụ… Tổng sản lượng lúa năm 1986 của đồng bằng sông Cửu Long khoảng 7 triệu tấn, nay xấp xỉ 25 triệu tấn, chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước.

Theo GS Nguyễn Ngọc Trân (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia), cái giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ “vựa lúa của cả nước” là diện tích rừng tràm biến mất nhanh chóng ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, tại vùng U Minh Thượng và Hạ.

“Các vùng trũng bị chắt nước để tăng vụ, chứa đựng nguy cơ mực nước thủy cấp trong khu vực sẽ hạ thấp khi nước Mekong về đồng bằng không dồi dào như trước”, GS Trân nói.

Tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng, từ những năm 1990, nhiều địa phương trong vùng, bắt đầu từ An Giang, Đồng Tháp… bao đê vượt lũ để làm lúa vụ 3 với tổng diện tích có khi đến 600.000 ha. “Tăng trưởng được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong đê thì độ màu của đất giảm sút, môi trường suy thoái”, GS Trân chỉ rõ.

Quy hoạch diện tích nuôi tôm 5 năm được các tỉnh ven biển hoàn thành trong một, hai năm. Nhiều cống ngăn mặn bị tháo ra để lấy nước mặn nuôi tôm…. Rừng ngập mặn bị mất dần; đáng quan ngại nhiều nơi trong vùng ngọt hóa, người dân khoan giếng bơm nước ngầm mặn lên nuôi tôm…

Những thách thách đe dọa miền Tây

GS Trân nêu rõ: “Hiện nay và trong thời gian tới, miền Tây phải đương đầu với ít nhất 4 thách thức cấp toàn cầu, khu vực và chính trong sự khai thác của đồng bằng“.

Hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở miền Tây làm hàng trăm nghìn ha lúa bị thiệt hại. Chuyên gia xác định ngoài biến đổn khí hậu, các đập thủy điện ở Trung Quốc, Lào, Campuchia không thể ngoài cuộc. Ảnh: Cửu Long
Hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở miền Tây làm hàng trăm nghìn ha lúa bị thiệt hại. Chuyên gia xác định ngoài biến đổi khí hậu, các đập thủy điện ở Trung Quốc, Lào, Campuchia không thể ngoài cuộc. Ảnh: Cửu Long

Đọc tiếp “4 thách thức đe dọa đồng bằng sông Cửu Long”

Năm Dậu vài nét về gà trong Địa môi trường

Tản mạn về gà

Từ lâu, gà luôn xuất hiện trong đời sống văn hóa nhiều nước trên thế giới. Từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, gà đã trở thành biểu tượng xuyên văn hóa, mang sức mạnh biểu trưng cho ý niệm đa diện, đa chiều về vũ trụ, thiên nhiên, nhân sinh, tâm linh, nhân tính. Danh xưng “gà” đã đi vào ngôn ngữ đời sống qua lời ăn, tiếng nói hằng ngày, qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao và trở thành hình tượng đặc sắc, sinh động trong nhiều sáng tác văn chương Việt.

Năm nay “Tản mạn về gà” có nhiều bài hay như: Năm Dậu nói chuyện gà http://vanvn.net/tim-toi-the-nghiem/nam-dau-noi-chuyen-ga/1092; Chuyện vui: Tết Đinh Dậu – tản mạn chuyện… gà (http://pcbinhdinh.com.vn/detail.aspx?ChannelID=12&ID=1512); Bí mật chưa biết về gà (http://suckhoedoisong.vn/bi-mat-chua-biet-ve-ga-n127152.html)…

Văn – Võ – Dũng – Nhân – Tín

Trong văn hóa Việt Nam, gà trống là biểu tượng của 5 phẩm chất tốt đẹp:

– Gà trống có mào trên đỉnh đầu, cùng 2 cái mào ở dưới giống như chiếc mũ cánh chuồn của các Tiến sỹ thời xưa, biểu tượng cho Văn.

– Cựa gà như thứ vũ khí, tượng trưng cho .

– Gà trống luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đàn của mình, biểu tượng cho Dũng.

– Gà trống đầu đàn khi được ăn thì luôn gọi cả đàn đến chứ không ăn một mình, tượng trưng cho chữ Nhân.

– Mỗi buổi sáng sớm, gà trống luôn cất tiếng gáy đúng canh, tượng trưng cho sự Tín.

Nguồn: Internet
Nguồn: Internet

Đọc tiếp “Năm Dậu vài nét về gà trong Địa môi trường”