Việc thủy điện Hố Hô ở Hương Khê (Hà Tĩnh) xả lũ khiến nhiều người rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” gây ý kiến trái chiều. Theo giới chức địa phương, thủy điện này xả lũ không đúng quy trình. Trong khi chủ đầu tư cho rằng “hồ thủy điện dung tích 38 triệu m3, nước đổ về thời điểm đó khoảng 1.800 m3/s, nếu không xả thì lòng hồ tăng lên 7 triệu m3 nước, nguy cơ mất an toàn đập rất cao”.
Theo quy định, tùy theo loại công trình sẽ có quy trình xả lũ khác nhau. Nếu là đập dâng thì nước về đến đâu xả đến đó, với loại có dung tích phòng lũ thì trước khi lũ về phải đưa hồ về mực nước đón lũ nhằm giảm lũ cho hạ du. Quy trình xả lũ thủy điện được tính toán để đưa ra mực nước lũ thiết kế, mực nước lũ kiểm tra nhằm đảm bảo an toàn hồ đập và hạ du. Dung tích chống lũ cho công trình được tính từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lũ thiết kế.
Quy trình cũng chỉ rõ khi mực nước hồ đạt đến mức độ nào đó, mà nước từ thượng lưu tiếp tục về thì phải mở tràn xả lũ để đảm bảo an toàn. Quy trình phải chỉ rõ phương án phối hợp với cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong việc cảnh báo, thông báo việc xả lũ bao gồm thời gian xả và lượng xả dự kiến.
Các phương án xử lý tình huống ở hạ du được nêu tại Quy trình đảm bảo an toàn hạ du khi xả lũ.
Nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ vào sáng 15/10. Ảnh: Đức Hùng
Đập thủy điện Hố Hô dài 102 m, bề mặt rộng 5 m nhưng lại cao tới 50 m. Về địa thế, đập nằm ở phía cuối của sườn núi, trước khi sông Ngàn Sâu đổ xuống đồng bằng. Đây là vị trí hứng chịu lượng nước lớn và nhanh từ thượng nguồn sông Ngàn Sâu (trên diện tích lưu vực 278,6 km2). Như vậy, Hố Hô sẽ chịu rất nhiều nguy hiểm khi lũ lớn ở thượng nguồn đổ về.
Từ năm 2010 đến nay đã bốn lần tới đảo Phú Quốc, trong đó 3 lần hướng dẫn sinh viên khảo sát thực địa làm đề tài và 1 lần đưa gia đình thăm quan đảo. Mỗi lần đến đảo đều chụp khá nhiều ảnh về cảnh quan, môi trường đảo. Mỗi lần đến đều có những kỷ niệm riêng, nhưng đáng nhớ nhất là chuyến khảo sát lần đầu tại đảo.
Tháng 06, năm 2010 dẫn ba sinh viên nghiên cứu thực địa theo các lộ trình quanh đảo. Phú Quốc lúc đó còn hoang sơ, lộ trình khảo sát chủ yếu trên những con đường đất lầy lội, những cầu tre trơn, trượt khi mưa.
Nghiên cứu địa môi trường đảo Phú Quốc thật thú vị, các hệ thống bậc thềm được bảo tồn khá tốt, cấu trúc cuesta hình thành sự bất đối xứng giữa sườn đông và tây đảo. Các di sản địa chất, địa mạo như mũi đá Dinh Cậu, đá chồng An Thới, các bãi biển cát mịn, đẹp làm du khách say đắm.
Cùng chung một lộ trình ban đầu, nhưng ba sinh viên thực hiện ba đề tài theo ba cấp độ khác nhau:
Nguyễn Thanh Thúy (khóa luận) với đề tài “Nghiên cứu giá trị địa chất, địa mạo vùng Hà – Kiên – Phú phục vụ cho việc xây dựng công viên địa chất”
Nguyễn Ngọc Tuyến (luận văn cao học) với đề tài “Đánh giá tổn thương đới ven biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”
Lê Hoài Nam (luận án tiến sỹ) với đề tài “Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”.
Thúy đã bảo vệ khóa luận vào năm 2010, Tuyến bảo vệ luận văn vào năm 2012, và ngày 14 tháng 10 năm 2016 Nam đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ Khoa học môi trường. Việc bảo vệ đề tài luận án tiến sỹ của Nam xem như thày trò đã hoàn thành nhiệm vụ học tập ban đầu, tạm kết thúc một giai đoạn nghiên cứu đảo Phú Quốc kéo dài khoảng 6 năm.
Những hình ảnh dưới đây là kỉ niệm đợt khảo sát lần đầu tại Phú Quốc.
Khai thác kim loại là một ngành công nghiệp quan trọng đối với đời sống hiện đại của chúng ta. Tuy nhiên, những hoạt động trong mọi giai đoạn khai thác mỏ đều có khả năng xả ra kim loại vào sông, suối, hồ (Ripley và REDMANN, 1978). Kim loại hòa tan trong nước được cá và các sinh vật thủy sinh khác hấp thụ dễ dàng. Chỉ cần một nồng độ nhỏ kim loại vẫn có thể gây độc vì nó có tính bioconventration (tích lũy và không phân hóa) trong môi trường, có nghĩa là nồng độ kim loại trong cơ thể thủy sinh qua thời gian sẽ tích tụ cao hơn so với nồng độ có trong nước. Kim loại độc ảnh hưởng bất lợi cho sự tồn vong, khả năng hoạt động, phát triển, tuần hoàn và sinh sản của sinh vât. Kim loại có thể gây ngộ độc, làm tổn hại cho sinh vật nhưng không gây tử vong trực tiếp. Phá rối hệ tuần hoàn, khả năng phát triển và sinh sản là ví dụ điển hình của triệu chứng ngộ độc (Wright và Welbourn, 2002).
Ảnh minh họa chất thải từ mỏ
Để cho kim loại phát huy độc tính, nó cần phải nhập vào cơ thể của sinh vật tiếp xúc với bề da hoặc bên trong tế bào. Kim loại ô nhiễm cá bằng cách ngấm vào dòng máu qua da và mang hoặc khi cá hấp thụ nước, ăn vi sinh vật, rong ruê, cá nhỏ đã bị nhiễm kim loại. Tương tự như cá con người bị ngộ độc qua đường hô hấp, da hoặc ăn, uống thực phẩm bị nhiễm độc (Wright và Welbourn, 2002). Đọc tiếp “Ảnh hưởng của kim loại trên hệ sinh thái thủy sinh và sức khỏe con người”→
Dù là người thường xuyên đi biển hay chỉ thỉnh thoảng mới ra biển chơi thì bạn cũng phải biết điều này nếu không sẽ rất dễ gặp nguy hiểm.
Rất nhiều người coi tắm biển là một niềm yêu thích. Nhưng họ lại không hề biết rằng nguy cơ chết đuối hay các tai nạn có thể xảy đến bất cứ lúc nào trong lúc đang tận hưởng niềm vui ngoài bờ biển. Phần lớn chúng ta sẽ đổ lỗi cho rượu bia hay bất kỳ lý do nào khác khi những tai nạn này xảy ra.
Nhưng có lẽ chúng ta quên mất hay không nhận thức rõ ràng một nguyên nhân khác. Đó chính là dòng chảy xa bờ – dòng Rip (hay còn gọi là rip current), một kẻ giết người nguy hiểm khi đi tắm biển.
Dòng chảy xa bờ – “con quái vật” có thể cướp đi mạng sống của bạn một cách đầy bất ngờ
Dòng Rip hay những con sóng rút xa bờ là một trong những hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm nhất bạn có thể gặp phải khi chơi ngoài biển. Những dòng Rip có thể nhấn chìm ngay cả những vẫn động viên bơi chuyên nghiệp và khi tai nạn ập đến, chúng ta hoảng loạn, không biết nên xử lý như thế nào dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.
Những dòng Rip đặc biệt nguy hiểm bởi thường xảy ra ở những vùng nước nông ngay bờ biển với nhiều cát hay những đảo nhỏ như Vịnh Mexico, biển Azov chẳng hạn.
Một lượng lớn nước biển không thể chảy ra biển ngay khi thủy triều rút vì chính những rào cản tự nhiên này và sẽ tiếp tục tạo dòng chảy ngược ra biển về sau.
Vận tốc trung bình của dòng chảy có thể thay đổi từ 0,5 m đến 1m/giây, khi đó không ai có khả năng bơi ngược nó để vào bờ. Có khi do những thay đổi đột ngột của sóng biển, vận tốc dòng chảy rút xa bờ có thể lên đến 2,5 m/giây, nhanh hơn cả vận tốc bơi của một vận động viên bơi lội Olympic.
Hình ảnh dưới đây sẽ cho thấy nguyên lý hoạt động của các dòng Rip.
Sóng đập vào bờ khiến nước rẽ sang hai bên, dòng nước này di chuyển dọc theo bờ cho đến khi tìm ra lối thoát ngược ra khơi
Những dòng chảy hẹp này có thể xuất hiện bất cứ đâu trên bãi biển. Các con sóng gối lên nhau, mang theo càng nhiều nước hơn vào bờ với vận tốc sóng khác nhau từ đó hình thành những dòng chảy ngược ra biển gần giống như con sông nhỏ giữa vùng biển.
Những dòng Rip chảy ngược ra biển và một vài nạn nhân không may mắn gặp phải chúng.
Những dòng Rip thường hẹp, rộng 2-3 m và di chuyển với vận tốc 4-5 km/h. Những con sóng này thật sự không quá nguy hiểm. Tuy nhiên, khi đạt đến vận tốc 15km/h và dài từ 200-400m, dòng Rip thật sự là mối nguy hiểm lớn cho những ai thích dạo chơi ngoài bãi biển.
Vậy đặc điểm nào để phát hiện và tránh xa dòng Rip? Nếu bạn nhìn thấy những dòng nước chảy nhanh sang góc phải bờ biển, nước ở vùng quanh bờ biển có màu sắc khác lạ (thường là những vùng nước màu trắng bị bao quanh bởi dòng nước xanh lục hoặc xanh lam sáng) hoặc xuất hiện vùng nước sủi bọt, chảy nhanh ra biển thì hãy cẩn thận nhé, đó có thể là dòng Rip đấy.
Hãy nhớ rằng những dòng Rip như thế này có thể xảy ra ở bất cứ đâu dọc bờ biển. Nếu nước ở chỗ bạn đang đứng đang từ thắt lưng và dâng lên ngang ngực thì có nghĩa là dòng Rip xuất hiện và sẽ có thể cuốn luôn bạn ra biển.
Tất nhiên, những người không biết bơi sẽ dễ lâm vào tình trạng này hơn ai hết bởi khi ra biển họ thường chỉ chơi ở một vị trí trong thời gian khá dài. Để đề phòng những tình huống xấu có thể xảy ra, đừng đi quá xa một mình, và phải đặc biết chú ý những khu vực có cờ đỏ hoặc biển cảnh báo.
Khi bất ngờ gặp phải “con quái vật” này, bạn hãy bình tĩnh và nhớ rõ một số quy tắc sau nhé:
Đừng hoảng sợ
Khi chúng ta đang trong trạng thái hoảng loạn, những hành động được chi phối bởi bản năng tự vệ và việc đưa ra những quyết định dựa trên lý trí trở nên khó khăn hơn nhiều. Nếu bạn biết cách xử lý khi bị cuốn vào dòng chảy xa bờ, bạn sẽ có nhiều khả năng sống sót.
Giữ sức
Đừng cố chống lại dòng nước bằng cách bơi ngược lại vào bờ. Không may là điều đó không có ích gì mà còn tiêu tốn hết năng lượng của bạn. Thay vì bơi vào bờ, hãy bơi song song với nó. Nếu dòng chảy xa bờ hẹp (dưới 5 mét), bạn có thể thoát khỏi nó rất nhanh.
Với dòng chảy xa bờ rộng (từ 20 mét trở lên)
Không dễ thoát thân trong tình huống này, kể cả nếu bạn làm theo hướng dẫn là bơi song song với bờ. Nhưng khi bạn nhận ra mình không thể thoát ra, đừng hoảng loạn. Cứ bình tĩnh, vì dòng Rip không kéo dài lâu, nó sẽ hết trong vòng 5 phút. Khi nó đã hết, đầu tiên hãy bơi khoảng 50-100 mét song song với bờ, sau đó mới bơi vào bờ. Nếu bạn cố bơi vào bờ ngay, có khả năng dòng chảy ngược sẽ lại tiếp tục đúng chỗ đó, và bạn lại mắc kẹt.
Nhìn thì tưởng không có gì nhưng chúng rất nguy hiểmTấm biển cảnh báo dòng Rip
Những điều cần nhớ:
Dòng Rip không bao giờ kéo bạn xuống
Dòng chảy xa bờ không giống như xoáy nước. Chúng giữ bạn trên mặt nước chứ không bao giờ xuống đáy biển.
Độ rộng của dòng Rip luôn có giới hạn
Thông thường chúng không bao giờ rộng quá 50 mét. Phổ biến hơn, chúng không rộng quá 10-20 mét. Nên khi bạn đã bơi dọc theo bờ biển khoảng 20-30 mét, thì bạn có thể yên tâm là mình đã thoát khỏi nó an toàn.
Độ dài của một dòng Rip luôn có giới hạn
Dòng nước luôn yếu đi khá nhanh, và kết thúc khi con sóng đạt đến đỉnh và bắt đầu đổ xuống. Những người lướt sóng gọi khu vực này là “xếp hàng”, thường thì nó cách bờ không quá 100 mét.
Hãy nói với bạn bè về những điều này. Bạn không chỉ có thể tự cứu mình mà còn cứu được người khác.
Môi trường và tài nguyên đồng bằng Sông Cửu Long bị suy giảm nghiêm trọng do các tác động nhân sinh và tự nhiên từ nhiều năm qua: phát triển hệ thống thủy điện dày đặc trong lưu vực và khai thác vật liệu đáy sông dẫn đến thiếu hụt phù sa, thiếu nguồn nước lũ làm cho đồng ruộng không được bổ sung dưỡng chất, khô hạn, xói lở bờ sông bờ biển gia tăng. Khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún mặt đất, phát sinh ô nhiễm arsen tầng nước ngầm sâu. Tác động tổng hợp nhân sinh và tự nhiên cũng đang là vấn đề lớn đối với dải đất ven biển.
Bài Hiến kế “cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Lê Quang Cảnh và Hoàng Đình Khảm là một ý tưởng hay, rất mong các nhà khoa học, nhà quản lý suy ngẫm và phát triển. Đây cũng là một chủ đề lý thú mà các bạn sinh viên ngành môi trường có thể thực hiện đề tài tốt nghiệp các cấp từ khóa luận, luận văn đến luận án tiến sỹ.
TTO – Ngày xưa tạo hóa đã ban tặng cho đồng bằng rộng lớn của Nam bộ Việt Nam sự giàu có về lúa gạo, trù phú cây trái và dồi dào tôm cá.
Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy – Ảnh: DUY KHANG
Từ ngàn đời, sông Mêkông là nguồn lợi, là tài nguyên chung của sáu quốc gia có dòng sông chảy qua.
Nhưng ngày nay, một số nước nằm ở thượng nguồn sông Mêkông đã xây dựng nhiều đập lớn chặn nước lại để sử dụng nước ngọt cho canh tác và làm thủy điện, nên lượng nước chảy xuống hạ lưu bị giảm rất nhiều, càng về sau càng thiếu hụt lớn hơn!
Như vậy, chúng ta chẳng còn hi vọng gì vào sự thay đổi, cải thiện tình hình cung cấp nước cho sông Cửu Long từ dòng Mêkông được nữa rồi!
Mùa mưa không có lũ về, mùa nắng hạn dòng sông Cửu Long khô cạn, lại gánh thêm tình trạng biến đổi khí hậu đã làm cho cả đồng bằng Nam bộ bị thiệt hại rất nặng nề trong năm vừa qua. Kinh tế, sinh hoạt, đời sống dân cư bị đảo lộn.
Chỉ còn cách duy nhất là chúng ta phải tự cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long để trả lại sự trù phú và phồn vinh như nó từng có. Đề xuất cải tạo bao gồm 2 việc lớn:
1- Sông Cửu Long trước đây có chức năng thải nước lũ ra biển Đông; nay không còn lũ nữa nên cải tạo làm chức năng trữ nước ngọt. Chỉ để lại con sông Hậu làm nhiệm vụ xả lũ là đủ, các sông còn lại nên xây đắp đập ở cửa sông để giữ nước ngọt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
2- Hai vùng trũng lớn trước đây trồng lúa là Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên sẽ cải tạo thành hồ sinh thái, trữ nước ngọt giống như chức năng Biển Hồ của Campuchia.
Thực tế đã chứng minh nhờ có Biển Hồ dự trữ một lượng nước ngọt khổng lồ, Campuchia đã thoát được tình cảnh khó khăn trong mùa khô hạn, dù có bị ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, dù dòng nước ở sông Mêkông chảy về đã bị giảm thiểu.
Biển Hồ Tonle Sap ở Campuchia có diện tích thay đổi từ 10.000km2 trong mùa khô và 16.000km2 vào mùa lũ.
Diện tích của tứ giác Long Xuyên (4.890km2) và Đồng Tháp Mười (6.970km2) cộng với diện tích cải tạo 8 con sông thành hồ chứa, thì sau cải tạo ở đồng bằng Nam bộ sẽ xuất hiện các hồ lớn trữ nước ngọt, được phân bố nhiều nơi, tổng khối lượng nước ngọt tương đương Biển Hồ, nếu không muốn nói là nhiều hơn.
Nếu chúng ta thực hiện kế hoạch như trên sẽ giải quyết, khắc phục được các khó khăn cùng những tồn tại lớn sau đây:
– Đủ nước ngọt cho canh tác và sinh hoạt của cư dân đồng bằng Nam bộ, kể cả trong mùa hạn hán.
– Nhờ có các hồ lớn trữ nước ngọt phân bố rất rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long, giúp cho nguồn cung và dự trữ nước ngầm (nước dưới đất) trong vùng vô cùng phong phú, không bao giờ cạn kiệt, dễ khai thác khi cần.
– Những hồ nhân tạo lớn trữ chứa khối lượng nước ngọt khổng lồ, tạo ra áp lực vô cùng lớn trên khu vực rộng, sẽ cản chặn có hiệu quả sự xâm nhập mặn vào nội đồng.
– Thủy sản, hải sản được phát triển đa dạng và phong phú trên các hồ sinh thái nước ngọt.
– Các hồ sinh thái nước ngọt lớn được phân bố trên nhiều vùng của đồng bằng Nam bộ, tạo ra trữ lượng nước ngầm vô cùng lớn. Nước mặt cùng với nước ngầm phong phú sẽ giúp phát triển cây trồng cùng thảm thực vật, tạo ra khí hậu trong lành, môi trường thiên nhiên tốt cho cả vùng đồng bằng này.
– Nếu ý tưởng cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long theo cách này được thực hiện thành công thì sẽ là bài học lớn, là tấm gương điển hình cho việc xây dựng các hồ trữ nước ngọt nhân tạo những nơi trọng yếu ở vùng Tây nguyên và miền Trung Việt Nam luôn chịu cảnh khô hạn.
Bằng việc cải tạo một số dòng sông ngắn và dốc chỉ làm mỗi nhiệm vụ tiêu thoát nước, “thải kiệt hết nước ngọt, rất lãng phí” xuống biển Đông trong mùa lũ, có thêm được chức năng mới là dự trữ nước ngọt cho mùa nắng hạn.
Xuất phát từ lòng yêu thương đồng bào Nam bộ ruột thịt, mặc dù đã suýt soát tuổi 80, chúng tôi cũng muốn đóng góp chút sáng kiến nhằm góp phần giúp khắc phục, tháo gỡ tình hình khó khăn hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long.
Qua phương tiện truyền thông điện tử, chúng tôi kính chuyển đến các cơ quan chức năng, đến những cán bộ làm khoa học kỹ thuật trẻ tuổi và đến những người dân Nam bộ – lực lượng trực tiếp thực hiện ý tưởng khi đã đồng tình và hưởng ứng.
Hà Nội ngập nước mưa, Sài Gòn ngập mưa và triều thì biết lâu rồi, nhưng chiều 21 tháng 9 đọc báo vietnamnet và tuoitre thấy nhiều tuyến đường ở trung tâm TP Huế cũng bị ngập sau một trận mưa lớn. Chiều 26 tháng 9, Sài Gòn lại bị ngập khủng khiếp sau một trận mưa kéo dài mà theo các nhà khí tượng đây là trận mưa kỷ lục trong vòng 40 năm qua. Thiệt hại về tài sản, về môi trường do những trận mưa lụt chẳng ai tính, nhưng chắc chắn rất lớn.
Không chỉ Hà Nội, Huế, Sài Gòn ngập do mưa mà còn nhiều thành phố khác cũng ngập. Nằm thấp như thành phố Tân An (Long An), Thái Bình, Hải Dương ngập đã đành, nhưng cao như TP. Biên Hòa, Thái Nguyên, thậm chí thành phố trên cao nguyên như Đà Lạt cũng ngập.
Số tiền nhà nước bỏ ra để chống ngập hàng năm chưa ai tổng hợp được, nhưng chắc chắn là con số khủng. Chỉ riêng TP. Hồ Chí Minh, trong 10 năm qua đã tiêu khoảng 24.300 tỷ đồng để thực hiện các dự án chống ngập [3]. Thành phố tiếp tục đề xuất vay nhiều ngàn tỷ đồng để chống ngập cho những năm sắp tới [4].
Nguyên nhân ngập ở TP. Hồ Chí Minh được các nhà quản lý dẫn ra bao gồm 1) mưa lớn do biến đổi khí hậu, hệ thống thoát nước không đáp ứng, 2) triều cường do biến đổi khí hậu (mực nước biển dâng), nguyên nhân khác là do đô thị hóa, sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm, hệ thống cống thoát bị tắc nghẽn [2].
Các nguyên nhân ngập lụt nêu trên, có lẽ do hệ thống thoát nước không đáp ứng là đúng hơn cả, còn nguyên nhân do biến đổi khí hậu (do trời mưa lớn, do biển dâng) thì nghe rất hài, nói cho vui. Theo người viết bài này thì nguyên nhân cốt lõi của vấn đề là Đô thị hóa tràn lan, không kiểm soát được chu trình nước diễn ra tại hầu hết các thành phố trên cả nước.
Đô thị hóa dẫn đến sự biến đổi chu trình nước là một trong những bài học cơ bản của môn học Địa chất môi trường. Việc đô thị hóa nếu không xem xét đến tỷ lệ diện tích bê tông hóa (bề mặt không thấm) và bề mặt tự nhiên cũng như việc tính toán độ lớn kênh thoát nước mưa cho từng lưu vực nhỏ chỉ một vài km2 trong đô thị sẽ dẫn đến lũ lụt đô thị [6].
II. Đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước
Chu trình nước, còn được gọi là chu trình thủy văn, là sự trao đổi liên tục nước giữa các thể nước. Khoảng 97% lượng nước trên trái đất được lưu trữ trong các đại dương, và chỉ có một phần nhỏ của phần còn lại là nước ngọt có thể sử dụng. Khi mưa rơi trên mặt đất, nó sẽ di chuyển theo các tuyến khác nhau. Một số bốc hơi, quay trở lại bầu khí quyển, một số thấm xuống đất, và phần còn lại sẽ trở thành nước bề mặt chảy theo sông, suối đến hồ và đại dương. Các bề mặt không thấm trong các khu vực đô thị hóa sẽ làm thay đổi lượng nước tự nhiên theo từng tuyến. Hậu quả của sự thay đổi này là giảm khối lượng nước thấm vào lòng đất, gia tăng khối lượng và giảm chất lượng nước mặt (Hình 1) [7].
Hình 1. Minh họa bề mặt không thấm và các hệ thống thoát nước đô thị làm tăng dòng chảy mặt đến sông ngòi. Khối lượng lớn, tốc độ và thời gian dòng chảy sẽ gia tăng xói mòn và vận chuyển trầm tích từ cảnh quan và bờ sông sẽ gây tắc nghẽn kênh sông và thiệt hại môi trường sống [7].Hình 2. Biểu đồ thủy văn minh họa lưu lượng đỉnh dòng chảy mặt do mưa trong một lưu vực trước (đường vàng) và sau đô thị hóa (đường đỏ). Với diện tích lớn bề mặt không thấm nước trong lưu vực, dòng chảy mặt sẽ có một khối lượng lớn, tốc độ nhanh hơn sẽ gây ra nhiều lũ lụt và thiệt hại môi trường sống [7].Hình 3. Sự gia tăng dòng chảy mặt do đô thị hóa [7]
Với mặt đất tự nhiên, 25% lượng mưa thấm vào tầng nước ngầm và chỉ 10% là dòng chảy mặt. Khi diện tích mặt không thấm tăng, nước chuyển thành dòng mặt nhiều hơn. Những khu vực đô thị hóa mạnh, hơn một nửa lượng nước mưa trở thành dòng chảy bề mặt, chỉ một phần nhỏ xâm nhập vào tầng nước ngầm. Sự gia tăng dòng chảy bề mặt đòi hỏi gia tăng hệ thống thoát nước để giảm thiểu lũ lụt [7].
Như vậy, đô thị hóa sẽ làm thay đổi chu trình nước, tùy theo mức độ đô thị hóa mà cường độ và tần suất lũ sẽ khác nhau trong các diện tích lưu vực nhỏ chỉ một vài cây số vuông. Tỷ lệ gia tăng này là hàm số của phần trăm mặt đất bị che phủ bởi mái nhà, vỉa hè, và bề mặt xi măng (bề mặt không thấm nước) và phần trăm diện tích có hệ thống thoát nước thích hợp. Hệ thống thoát nước rất quan trọng vì chúng cho phép dòng chảy mặt đô thị từ các bề mặt không thấm nước đến các kênh sông nhanh hơn nhiều so với môi trường tự nhiên. Do đó có thể xem bề mặt không thấm nước và hệ thống cống thoát là tiêu chuẩn đánh giá mức độ đô thị hóa [6, 7].
III. Một ví dụ về đô thị hóa và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh
Đô thị hóa ở TP. HCM tràn lan, thu hẹp diện tích đất tự nhiên, nâng cao địa hình vùng đất thấp, san lấp nhiều kênh rạch, thu hẹp dòng chảy, chèn thêm công trình vào diện tích đất trống ít ỏi còn sót lại, nâng cấp đường xá …đều ảnh hưởng đến chu trình nước, dẫn đến sự biến động về điểm ngập, diện ngập kể cả xuất hiện những dòng lũ đô thị như cuối tháng 9 vừa qua (dòng lũ khá mạnh, cuốn trôi cả xe máy). Ngập lụt sân bay Tân Sơn Nhất vừa qua là một trong những ví dụ do đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước.
1) Sân bay Tân Sơn Nhất – một điểm ngập mới
“Lúc 18h (ngày 26 tháng 8) một trận mưa lớn khiến cho khu vực đường băng của sân bay bị ngập lụt gây ảnh hưởng đến việc cất, hạ cánh…đường lăn M1 của sân bay phải dừng hoạt động hơn một tiếng do nước ngập khoảng 30 cm. Sự cố này khiến 70 chuyến bay đến Tân Sơn Nhất bị ảnh hưởng. Trong đó có 2 chuyến bị hủy, 14 chuyến phải hạ cánh xuống các sân bay lân cận như Liên Khương, Cam Ranh… 4 chuyến bay quốc tế không hạ cánh được phải đáp xuống sân bay của Campuchia, Thái Lan” [9]. Như vậy có thể xem sân bay Tân Sơn Nhất là điểm ngập mới xuất hiện.
Hình 4. Bãi đỗ của sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nặng. Theo báo cáo của Cuc Hàng không thì có chỗ ngập đến 50cm (Ảnh: Hoàng Lân/Vietnamnet)
2) Về địa điểm xây dựng sân bay
Sân bay Tân Sơn Nhất do người Pháp xây dựng vào năm 1930, dài hơn 1500 m bằng đất đỏ. Năm 1956 người Mỹ xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m bằng bê tông [8]. Bản đồ địa chất TP. HCM tỉ lệ 1:50.000 [1] cho thấy địa điểm chọn xây dựng sân bay là tối ưu:
Địa chất công trình: nền móng cấu tạo bằng aluvi cổ (cát, sét , laterit) rất thuận lợi cho xây dựng các công trình nặng.
Địa mạo: địa hình cao 5,0 m (vị trí cao nhất khu vực), dạng hơi vòm (vòm Tân Sơn Nhất) được bao bọc xung quanh bởi các kênh, rạch tự nhiên: phía tây là rạch Cầu Mới đổ ra rạch Bến Cát chảy bọc phía bắc, vòng xuống đông nam rồi ra sông Sài Gòn. Phía nam là kênh Nhiêu Lộc đổ ra sông Sài Gòn ở Thị Nghè (Hình 5).
Hình 5. Bản đồ địa hình khu vực Tân Sơn Nhất năm 1968Hình 6. Ảnh hàng không khu vực sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968 Các khu vực có tôn ảnh màu đen là vùng thấp (ẩm) và thực vật. (Nguồn Internet)
Trên bản đồ địa hình và ảnh hàng không năm 1968 (Hình 5, 6) dễ dàng nhận thấy sân bay được xây dựng trên đỉnh vòm. Một vùng đệm bao quanh khá rộng có độ dốc nghiêng thoải về xung quanh vừa tạo thuận lợi cho dòng nước mặt thoát về các rạch vừa đảm bảo an ninh sân bay. Hơn nữa, bề mặt aluvi cổ chủ yếu là các trầm tích hạt thô làm cho nước mưa dễ thấm xuống sâu.
3) Đô thị hóa dẫn đến ngập lụt sân bay
Với những bức ảnh vệ tinh có thể tính toán tỉ lệ bê tông hóa bề mặt địa hình Vòm Tân Sơn Nhất theo thời gian một cách dễ dàng, từ đó có thể xác định được mối quan hệ giữa bê tông hóa và tình trạng ngập nước đô thị.
Để có cái nhìn trực quan về đô thị hóa (bê tông hóa) khu vực sân bay, tôi xoay và cắt ảnh Google Earth (Hình 7) có khung hình tương tự như ảnh hàng không năm 1968. Hình 7 cho thấy các công trình gần như phủ kín vùng đệm, tiến sát tới đường biên sân bay. Diện tích vùng thấp (ẩm ướt) và cây xanh trên Hình 7 chỉ còn lại không đáng kể.
Hình 7. Ảnh Google Earth khu vực Tân Sơn Nhất ngày 24 tháng 3 năm 2015
Kiểm tra độ cao trên ảnh Google Earth nhận thấy: độ cao sân bay trung bình trong khoảng 5 – 8 m. Các công trình bao quanh có độ cao 8-12 m. Khu vực sân golf phía bắc có độ cao khoảng 8 – 10 m.
Như vậy, một vùng đệm thấp hơn sân bay đã không còn, các công trình xây dựng xung quanh cao hơn (nền công trình cao, nóc mái nhà cao) đã biến sân bay thành vùng trũng (Hình 8), vì vậy việc ngập nước mưa trong sân bay là đương nhiên. Có thể gọi hiện tượng này là nghịch đảo địa hình nhân tạo.
Hình 8. Do đô thị hóa, Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành vùng trũng. Ảnh Google Earth 24.03.2015
IV.Kết luận
Không chỉ Hà Nội – Huế – Sài Gòn ngập lụt mà nhiều thành phố khác cũng đang chịu cảnh ngập lụt. Các thành phố nằm trên địa hình thấp – ngập, trên địa hình cao – ngập, năm ngoái không ngập, năm nay ngập, năm nay không ngập nhưng có thể sang năm ngập.
Đường phố trở thành những dòng nước lũ cuốn theo các chất ô nhiễm – đó là lũ lụt đô thị chứ không chỉ là ngập lụt. Lũ lụt do đô thị hóa là tên gọi mà các giáo trình cơ bản về Địa chất môi trường vẫn thường sử dụng.
Mất vài chục ngàn tỷ chống ngập trong nhiều năm như TP.Hồ Chí Minh nhưng thành phố vẫn ngập, thêm vài chục ngàn tỷ nữa chắc cũng chẳng giải quyết được ngập nếu như tình trạng quản lý đô thị vẫn như những năm qua.
Xin trích một đoạn kèm theo bức hình từ bài đăng trên Vietnamnet của Lê Nguyễn Duy Hậu sáng nay (30 tháng 09 năm 2016) để kết thúc cho bài viết này.
“Tôi chợt nhớ hồi tháng 6/2016, sân bay Đào Viên của Đài Loan bị ngập. Ngay lập tức, người đứng đầu sân bay này xin từ chức. Riêng mùa mưa năm nay, sân bay Tân Sơn Nhất đã ngập hai lần, vẫn chưa thấy quan chức nào đứng ra xin lỗi và nhận trách nhiệm cả” [5].
Rốt cuộc thì vai trò và trách nhiệm của cơ quan chức năng ở đâu sau trận lụt lịch sử vừa qua?. Ảnh: Phúc Lập/Nongnghiep.vn. nguồn [5]
Tham khảo
[1] Hà Quang Hải và nnk. 1989. Báo cáo lập bản đồ Địa chất và khoáng sản TP. Hồ Chí Minh tỷ lệ 1:50.000.
Nguyễn Đức Thắng, ndthangndt@yahoo.com, Hà Nội, 01/8/2016
Chiều 30 tháng 6 năm 2016, Chính phủ Việt nam đã chính thức công bố nguyên nhân cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung. Theo đó, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) chính là “thủ phạm”.
Có một số nhà khoa học đã viết bài phản biện về nguyên nhân cá chết sau khi chính phủ công bố. Địa môi trường giới thiệu bài “Cần trả lại chân lý khoa học cho Kết luận về nguyên nhân cá chết” của TS. Nguyễn Đức Thắng để các bạn sinh viên đang học môn Quản lý tổng hợp đới bờ tham khảo và thảo luận.
Nguồn: Tác giả gửi trực tiếp vào Email: hqhai@hcmus.edu.vn
Chủ nhật, ngày 18 tháng 9 Bộ môn Khoa hoc môi trường tổ chức cho sinh viên KMT 14 báo cáo kết quả môn học Thực tập môi trường đại cương tại giảng đường 1, trường Đại học KHTN. Tham gia hội đồng gồm thày Hải (chủ tịch), cô Tuyến (thư kí), thày Tự Thành, cô Huệ, cô Dung (ủy viên).
Năm nay, Khoa Môi trường chủ trương đưa điểm môn học này sớm hơn 1 học kỳ, vì vậy ngay sau đợt thực tập ngoài trời vào cuối tháng 7, các nhóm đã được bộ môn yêu cầu hiệu chỉnh tài liệu cá nhân, chuẩn bị báo cáo nhóm ngay trong tháng 8. Đầu tháng 9, các nhóm làm việc trực tiếp với thày, cô phụ trách để hoàn thiện tài liệu.
Năm nay cũng là năm có số sinh viên theo học ngành khoa học môi trường đông nhất. Tổng cộng 187 sinh viên được chia thành 20 nhóm. Bộ môn đã bổ sung một số đề tài do số lượng nhóm gia tăng cũng như một vài thay đổi vị trí và nội dung thực tập ngoài trời do điều kiện khách quan. Những đề tài mới như “ Tác động nông nghiệp đến cảnh quan sơn nguyên Đà Lạt”, “Lưu vực sông Cái Nha trang và các vấn đề môi trường liên quan”, “Liệt kê và đánh giá sơ bộ các giá trị khoa học và bổ sung của các geosite theo tuyến lộ trình”.
Trước giờ báo cáo
Sau một ngày nghe đại diện các nhóm báo cáo, xem tài liệu nhóm, tài liệu cá nhân và mẫu vật, Hội đồng có một số nhận xét sau đây:
Ưu điểm:
Các nhóm hoàn thành khối lượng công việc theo yêu cầu môn học gồm: báo cáo tổng hợp theo chủ đề, mẫu vật (đá, đất, thực vật), bản đồ, mặt cắt cảnh quan, bình đồ ô tiêu chuẩn, nhật ký cá nhân.
Báo cáo chuyên đề được thực hiện bằng việc tham khảo các tài liệu thứ cấp từ nhiều nguồn (internet, giáo trình, bài giảng từ đợt tập huấn…) và các tài liệu do các nhóm thu thập ngoài trời trong đợt thực tập.
Các mẫu thực vật (thảo tập) và mẫu đất (lấy theo phẫu diện) được giáo viên phụ trách đánh giá tốt (đầy đủ, đúng qui định).
Phần lớn đai diện nhóm báo cáo đúng giờ, lưu loát, trả lời được các câu hỏi của hội đồng. Nhìn chung các bạn nắm khá vững nội dung chuyên đề do nhóm thực hiện.
Nhược điểm:
Một số báo cáo chuyên đề có nội dung dàn trải, chưa tập trung trọng tâm chủ đề. Báo cáo có sự thiếu cân đối giữa phần tổng quan (quá chi tiết) và vấn đề khu vực hoặc tỉnh (còn sơ lược). Một số trích dẫn từ internet nhưng thiếu đánh giá và kiểm chứng, ít sử dụng những tài liệu ngoài trời.
Phần lớn các mặt cắt, bình đồ chưa đáp ứng qui chuẩn như thiếu chỉ dẫn, tỷ lệ và phương vị.
Phần lớn nhật ký cá nhân được ghi chép sơ sài, thiếu hình vẽ, ghi chú và chưa thể hiện được sự chủ động quan sát các đặc điểm, hiện tượng (tự nhiên và xã hội…) ngoài trời của từng sinh viên.
Mẫu đá thu thập thiếu tính đại diện, không đảm bảo qui cách theo yêu cầu (kích thước, tên đá …).
Một số đại diện nhóm trình bày quá giờ qui định, trả lời câu hỏi dài dòng. Các bài trình bày (PPT) chưa hấp dẫn.
Một báo cáo nổi trội
Nổi trội trong buổi báo cáo kết quả Thực tập MTĐC năm nay là chuyên đề “Hoạt động du lịch ở Đà Lạt và đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường” của nhóm 10 do bạn Linh Chi (trưởng nhóm) trình bày.
Báo cáo có cấu trúc hợp lý gồm 4 phần: 1) Điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch Đà Lạt; 2) Các loại hình du lịch ở Đà Lạt; 3) Những tác động của du lịch đến môi trường và 4) Các biện pháp bảo vệ môi trường.
Báo cáo có nội dung ngắn gọn nhưng khá đầy đủ. Các biểu đồ và hình ảnh được lựa chọn cẩn thận, có tính đại diện. Phần điều kiện tự nhiên (cơ sở nền tảng để phát triển du lịch Đà Lạt) được trình bày rõ ràng theo cấu trúc của một báo cáo cảnh quan: địa chất – địa hình – đất – thủy văn – khí hậu – sinh vật.
Các loại hình du lịch Đà Lạt được phân loại thành 6 nhóm: 1) Du lịch sinh thái; 2) Du lịch văn hóa, 3) Du lịch nghiên cứu, 4) Du lịch nghỉ dưỡng, 5) Du lịch thăm quan, giải trí và 6) Du lịch xu thế mới. Trong mỗi nhóm lại phân chia chi tiết thành các loại hình khác nhau, trong đó Du lịch nông nghiệp với mô hình Trang trại rau hữu cơ Organik Xuân Thọ (thuộc nhóm Du lịch sinh thái) và du lịch MICE (thuộc nhóm Du lịch xu thế mới) được xem là những đề xuất mới, phù hợp với đặc điểm môi trường tự nhiên Đà Lạt.
Trong phần Các biện pháp bảo vệ môi trường, báo cáo đưa ra những nhận định sau đây về xu hướng đô thị hóa Đà Lạt rất đáng để các nhà qui hoạch và các nhà quản lý quan tâm:
“Đứng trước đề tài “Đô thị hoá”, nhiều người cho rằng đây là một chiến lược rất tốt để phát triển kinh tế và du lịch. Tuy nhiên, khi đem lợi, hại đặt trên bàn cân, thì việc có nên đô thị hoá hay không cũng cần phải suy nghĩ lại. Bởi lẽ:
– Đô thị hoá thu hút dân cư, dân số tăng lên, dẫn đến các vấn đề nhà ở và chất thải sinh hoạt. Vậy phải quy hoạch và chặt đi bao nhiêu ha rừng để xây dựng công trình dân cư? Số người dân tăng lên, nhiệt độ của Đà Lạt có thể giữ được sự thanh lạnh của nó hay không? Hiện tượng đảo nhiệt tại khu dân cư có đảm bảo được là sẽ không xảy ra hay không?
– Liệu Đà Lạt có giữ được nét đẹp đặc trưng của nó khi đứng trước sự giống nhau của các đô thị mới, trung tâm và đường phố mới hay không?
– Đặc biệt là hiện tượng “Dự án thắng quy hoạch”. Các siêu thị, ngân hàng, khách sạn,… chen chúc nhau trên cùng con đường trong khi những bãi đất trống cho dự án vẫn để đó chờ khởi công. Kẹt xe giờ cao điểm, các công trình thay thế khu đất trồng,…
Rõ ràng, ĐL không tránh khỏi ô nhiễm môi trường khi đứng trước cơn bão đô thị hoá.”
Một báo cáo có nội dung phong phú, người trình bày lưu loát, súc tích đã thực sự cuốn hút người nghe.
Jonathan Tourtellot là nhà tư vấn chuyên về du lịch bền vững và quản lý điểm đến. Ông cũng là nhà báo và biên tập viên các tạp chí Du lịch, Địa lý, và Khoa học. Mong muốn của ông là khuyến khích và thúc đẩy việc bảo vệ các điểm đến. Tourtellot là người khởi đầu khái niệm địa du lịch với định nghĩa “du lịch nhằm duy trì hoặc tăng cường đặc điểm địa lý của một địa điểm bao gồm di sản, thẩm mỹ, văn hóa, môi trường và phúc lợi của những người dân tại điểm đó. “Ông đã giúp các Hiệp hội Du lịch Hoa Kỳ phát triển nghiên cứu Địa du lịch năm 2002: Xu hướng mới trong Du lịch, một cuộc khảo sát hành vi du khách Hoa Kỳ và thái độ về vấn đề phát triển bền vững mang tính bước ngoặt.
Tourtellot đã sáng lập và điều hành Trung tâm Địa lý Quốc gia về Các điểm đến Bền vững trong chín năm. Ông là tác giả chính của Điều lệ địa du lịch (Geotourism Charter) với một tập hợp các nguyên tắc quản lý được thông qua và thực hiện bởi các điểm đến khác nhau trên thế giới từ Na Uy và Guatemala đến Thung lũng Douro của Bồ Đào Nha và thành phố Montreal. Ông khởi xướng và giám sát các cuộc điều tra Quản lý Điểm đến được báo cáo hàng năm trên trang bìa ấn bản phát hành Tháng Mười Một/Mười của tạp chí National Geographic Traveler. Để mở rộng phạm vi ngành du lịch và quản lý điểm đến, ông đã viết hai câu chuyện có chủ đề “The Two Faces of Tourism” và “The Tourism Wars,” cả hai câu chuyện đã giành giải thưởng Lowell Thomas. Là biên tập viên địa du lịch cho tạp chí Traveler, ông đã viết về các chủ đề như: sự mở rộng khu nghỉ mát, du lịch tự nhiên, du lịch di sản, và biến đổi khí hậu.
Tourtellot đã xây dựng chương trình Hướng dẫn Bản đồ Địa du lịch của Hội Địa lý Quốc gia. Chương trình này độc đáo ở chỗ mời gọi sự tham gia đầy đủ của các cư dân điểm đến và vì vậy đã nâng cao nhận thức về những tài sản đặc thù của địa phương. Là nhà địa lý học, đôi khi là nhiếp ảnh gia, và thuyết minh công chúng, Tourtellot đã diễn thuyết trước rất nhiều nhóm quốc gia và quốc tế, bao gồm các Tổ chức Du lịch Thế giới, UNESCO, và Hội đồng Du lịch và Du lịch Thế giới.
Trước khi hoạt động trong lĩnh vực du lịch, ông đã viết một vài sách National Geographic và là biên tập viên dự án cho một số tạp chí khác như: Britain and Ireland, Into the Unknown, Photographer’s Field Guide, and Exploring Our Living Planet cùng với tiến sĩ Robert Ballard. Trong các sách và tạp chí, ông đã viết về các chủ đề khác nhau, từ núi lửa Iceland đến rừng mưa Amazon, từ các thung lũng sa mạc của Nevada đến các đầm lầy châu thổ Okavango của Botswana. Ông sống ở sườn núi bắc Virginia.
II. Điều lệ Địa du lịch
Dưới đây là bản mẫu được thiết kế chung cho các quốc gia, nhưng cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với các tỉnh, hoặc các vùng nhỏ hơn.
XÉT RẰNG cách tiếp cận địa du lịch là toàn diện, không chỉ tập trung vào môi trường, mà còn về sự đa dạng của các tài sản văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của _______,
XÉT RẰNG cách tiếp cận địa du lịch là khuyến khích người dân và du khách cùng tham gia thay vì chỉ là những khán giả du lịch và
XÉT RẰNG cách tiếp cận địa du lịch là giúp xây dựng một ý thức về bản sắc và niềm tự hào dân tộc, nhấn mạnh tính đích thực và duy nhất đối với________
Các bên đã ký vào Thỏa thuận này cam kết hỗ trợ các nguyên tắc địa du lịch để duy trì và tăng cường đặc điểm địa lý của _________bao gồm môi trường, văn hóa, thẩm mỹ, di sản và phúc lợi của người dân địa phương. Dưới đây là 13 nguyên tắc địa du lịch để chính quyền và các nhà khai thác du lịch áp dụng:
1.Tính toàn vẹn của địa phương: Tăng cường đặc điểm địa lý bằng cách phát triển và cải thiện nó theo những cách đặc biệt cho địa phương, phản ánh di sản thiên nhiên và văn hóa của nó, để khuyến khích sự khác biệt của thị trường và niềm tự hào văn hóa.
2.Các luật quốc tế: Tuân thủ các nguyên tắc trong Luật Toàn cầu của Tổ chức Du lịch Thế giới về Đạo đức trong Du lịch và Các nguyên tắc trong Điều lệ Du lịch Văn hóa được thiết lập bởi Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di sản (ICOMOS).
3.Chọn lọc thị trường: Khuyến khích tăng trưởng trong các phân khúc thị trường du lịch có khả năng để tăng giá trị, tôn trọng và phổ biến thông tin về các tài sản đặc biệt của địa phương.
4.Đa dạng thị trường: Khuyến khích đầy đủ loại hình các cơ sở tạm trú và thực phẩm thích hợp để thu hút toàn bộ các cấp độ du khách của thị trường địa du lịch và do đó tối đa hóa sức bật kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn.
5.Sự hài lòng du lịch: Đảm bảo làm hài lòng du khách, khuyến khích họ mang những câu chuyện kỳ nghỉ mới về nhà và gửi cho bạn bè để trải nghiệm những điều tương tự, do đó cung cấp nhu cầu tiếp tục cho điểm đến.
6.Sự tham gia của cộng đồng: Du lịch dựa vào nguồn lực cộng đồng tới mức có thể, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương và các nhóm công dân xây dựng quan hệ đối tác để thúc đẩy và cung cấp một trải nghiệm viếng thăm trung thực và bán sản phẩm địa phương một cách hiệu quả. Giúp các các doanh nghiệp phát triển phương pháp tiếp cận du lịch được xây dựng trên nền tảng tự nhiên, lịch sử và văn hóa khu vực, bao gồm thực phẩm, đồ uống, hàng thủ công và nghệ thuật biểu diễn, vv.
7.Lợi ích cộng đồng: Khuyến khích các doanh nghiệp trung bình và nhỏ và chiến lược kinh doanh du lịch trong đó nhấn mạnh lợi ích kinh tế và xã hội của cộng đồng tham gia, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo với thông tin rõ ràng về chính sách quản lý điểm đến cần thiết để duy trì những lợi ích.
8.Bảo vệ và nâng cao sức hấp dẫn điểm đến: Khuyến khích các doanh nghiệp duy trì môi trường sống tự nhiên, các điểm di sản, tính thẩm mỹ và văn hóa địa phương. Ngăn chặn suy thoái bằng cách giữ một lượng du khách trong giới hạn tối đa chấp nhận được. Tìm các mô hình kinh doanh mà có thể hoạt động có lãi trong giới hạn tối đa chấp nhận được. Thuyết phục, khuyến khích, và thực thi pháp luật khi cần thiết.
9.Sử dụng đất: Lường trước các áp lực phát triển và áp dụng các kỹ thuật để ngăn chặn phát triển quá mức và suy thoái môi trường. Kiềm chế sự mở rộng nhà nghỉ, đặc biệt là trên bờ biển và hải đảo để giữ lại sự đa dạng của môi trường tự nhiên, cảnh quan và đảm bảo sự tiếp cận của mọi người với cảnh biển. Khuyến khích các điểm tham quan du lịch khép kín, chẳng hạn như các công viên chủ đề quy mô lớn và trung tâm qui ước không liên quan đến đặc điểm của địa phương, được bố trí tại các địa điểm nghèo túng hơn mà không có tài sản sinh thái, cảnh quan, hay văn hóa quan trọng.
10.Bảo tồn các nguồn tài nguyên: Khuyến khích các doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm nước, chất thải rắn, tiêu thụ năng lượng, sử dụng nước, hóa chất cảnh quan, và ánh sáng ban đêm quá sáng. Quảng cáo các biện pháp này một cách hấp dẫn, tạo thị trường du lịch thân thiện với môi trường.
11.Qui hoạch: Công nhận và tôn trọng nhu cầu kinh tế trước mắt mà không phải hy sinh đặc điểm địa lý dài hạn và tiềm năng địa du lịch của điểm đến. Phát triển cộng đồng mới tại điểm đến trong trường hợp du lịch thu hút sự nhập cư của người lao động. Cố gắng đa dạng hóa nền kinh tế và giới hạn dòng dân tới mức bền vững. Áp dụng chiến lược thích hợp để giảm thiểu các hoạt động không phù hợp với địa du lịch và gây tổn hại đến hình ảnh của điểm đến.
12.Giải thích tương tác: Khuyến khích cả du khách và chủ nhà tìm hiểu về địa phương. Khuyến khích cư dân khoe các di sản thiên nhiên và văn hóa cộng đồng của họ để du khách có được một kinh nghiệm phong phú hơn và người dân bộc lộ niềm tự hào về địa phương của họ.
13.Đánh giá: Thiết lập một quy trình đánh giá và được tiến hành thường xuyên bởi một ủy ban độc lập đại diện cho mọi lợi ích các bên liên quan và công bố công khai các kết quả đánh giá.
Huyện Định Quán phân bố ở phía đông bắc tỉnh Đồng Nai, nơi có sự hiện diện một số dạng địa hình khá độc đáo như các miệng núi lửa dạng chữ “C”, dạng trũng (miệng âm), dạng vòm (miệng dương); bazan dòng chảy phủ trên các bậc thềm sông; các khối đá xâm nhập bóc mòn chồng lên nhau; các thung thũng xâm thực tạo nên cảnh quan đẹp. Một số dạng địa hình đã được khai thác phục vụ du lịch như Đá Ba chồng, Thác Mai, Bầu Nước Sôi.
Theo quốc lộ 20 từ Ngã ba Dầu Giây đi Đà Lạt qua khu vực Định Quán, ngồi trong ô tô hành khách có thể thấy thoáng qua một vài dạng địa hình đẹp hoặc kỳ lạ như Thung lũng sông khu vực Cầu La Ngà, cột Đá ba chồng, hai chồng, miệng núi lửa phân bố rải rác.
Bài viết này trích từ Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường K_12. Đây là kết quả bước đầu trong việc nghiên cứu các geosite phục vụ thăm quan, giải trí, nghiên cứu và học tập về địa du lịch ở khu vực Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
II. Địa hình có tiềm năng phát triển địa du lịch
Địa hình có tiềm năng phát triển địa du lịch ở khu vực Định Quán gồm: địa hình núi lửa, địa hình đá xâm nhập bóc mòn, cảnh quan thung lũng sông.
II.1 Địa hình núi lửa
Địa hình núi lửa liên quan đến hai giai đoạn hoạt động gồm vòm núi lửa do phun nổ – phun trào và dòng chảy dung nham.
1) Vòm núi lửa
Một vòm núi lửa có đường kính khoảng 10 km, phân bố ở khu vực Túc Trưng với độ cao 60 – 70 m ở chân vòm đến 100 m ở phần trung tâm. Nhô cao trên vòm là các miệng núi lửa có độ chênh cao 100 – 150 m. Trong các văn liệu địa chất, các đá hình thành địa hình vòm núi lửa được xếp vào hệ tầng Xuân Lộc, chủ yếu la bazan tholeit, tuổi Pleistocen giữa. Bazan hệ tầng Xuân Lộc phong hóa tạo đất đỏ, vàng.
Ở đông bắc Định Quán cũng có khá nhiều núi lửa cũng được xem là hình thành trong giai đoạn Pleistocen muộn như cụm 6 núi lửa ở khu vực Phú Lợi, Phú Hòa và rải rác ở Gia Canh.
2) Dòng chảy dung nham
Địa hình dòng chảy dung nham có bề mặt khá bằng phẳng, phân bố rộng rãi ở phía đông huyện Định Quán. Đó là lớp phủ mỏng (trong lòng sông, trên thềm sông); chủ yếu là bazan olivine màu đen có nhiều lỗ rỗng, phong hóa cơ học tạo nên các khối nứt vỡ. Các đá bazan dòng chảy được xếp vào hệ tầng Phước Tân, hoặc Cây Gáo, tuổi Pleistocen muộn. Khu vực Tân Phú, Cát Tiên cũng phổ biến loại bazan này.
Trong khu vực Định Quán đã xác định được 17 miệng núi lửa, chủ yếu là miệng dương; một số miệng trũng có dạng chữ “C” khá rõ. Bàu nước sôi là kiểu miệng núi lửa âm có tuổi Pleistocen muộn.
II.2 Đá xâm nhập bóc mòn
Định Quán có khá nhiều các khối đá xâm nhập (granodiorit) lộ rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung ở thị trấn Định Quán với diện tích khoảng 2,5 ha.
Về hình thái: các khối đá có dạng cột, dạng tường và dạng khối.
Về kích thước: các khối đá có kích thước to nhỏ khác nhau từ vài m đến 30 – 40 m, độ cao các khối thuộc ba mức: 5 – 7 m, 10 – 12 m, và 21 – 25 m.
Về nguồn gốc: các khối đá được hình thành do sông xâm thực, các khối đá cao 20 – 25 m tương đương với bậc thềm cùng độ cao phổ biến ở vùng hạ lưu sông Đồng Nai, có tuổi vào Pleistocen muộn.
Các khối đá chồng lên nhau, chênh vênh như Đá Ba Chồng, Đá Dĩa được giải thích bởi nguyên lý cân bằng đá. Vận động nâng tân kiến tạo và phong hóa, bóc mòn các vận liệu rời rạc, mềm bở xung quanh đã tạo nên các cột đá như hiện nay.
II. 3 Cảnh quan thung lũng sông
Hoạt động núi lửa, xâm thực và hoạt động nhân sinh đã hình thành nên sự đa dạng địa hình thung lũng sông khu vực Định Quán như: thác nước, ghềnh, thềm sông, thung lũng cắt qua…Điểm du lịch Thác Mai do sông La Ngà xâm thực trên nền đá xâm nhập; trong khi đoạn sông khu vực cầu La Ngà, nơi có làng cá bè được hình thành sau khi có công trình thủy điện Trị An.
III. Khảo sát sơ bộ các geosite
Kết quả khảo sát sơ bộ các geosite lý thú về mặt địa mạo (có giá trị về khoa học, thẩm mỹ) được trình bày trong Hình 1 và Bảng 1.
Hình 1: Các geosite khu vực Định Quán
IV. Các geosite đại diện
IV.1 Geosite núi lửa
1) Núi lửa Đông Bắc (G_6)
Địa danh: ấp 5, xã Gia Canh, huyện Định Quán; Tọa độ: 1109’38’’B_107025’48’’Đ
Núi Đông Bắc cao 233 m, nhô trên bề mặt đồng bằng cao 120 m. Phần đỉnh có miệng trũng dạng chữ C hướng hướng về phía nam, nơi có lưỡi dung nham tiếp giáp với núi Hang Dơi (Hình 2). Đá bazan cấu tạo núi Đông Bắc thuộc hệ tầng Xuân Lộc. Địa hình miệng trũng phong hóa đất đỏ được trồng cây ngắn ngày (bắp, đậu, mè); phần sườn dốc lộ đá được trồng cây công nghiệp như điều, tràm. Đỉnh Núi lửa Đông Bắc cao nhất khu vực đông nam Định Quán nên có thể là điểm nhìn (viewpoint) tốt, quan sát vùng đồng bằng Gia Canh.
Hình 2: Núi lửa Đông Bắc nhô cao trên đồng bằng Gia Canh
2) Bàu Nước Sôi (G_9)
Địa danh: ấp 9, xã Gia Canh, huyện Định Quán. Tọa độ: 1106’13’’B_107024’28’’Đ.
Bàu có dạng trũng kéo dài bắc nam, là miệng núi lửa âm, diện tích khoảng 2 ha; nằm trong vùng phân bố lớp phủ bazan dòng chảy tuổi Pleistocen muộn. Lớp phủ bazan rộng, bằng phẳng thuộc khu rừng phòng hộ của Lâm trường Tân Phú.
Gọi là bàu nước sôi, nhưng nhiệt độ nước khoảng 30-40oC. Điểm nước nóng này đã được khai thác du lịch (Hình 3) gồm hệ thống kênh ngâm chân, bể tắm, vịt đạp, nhà nghỉ dưỡng, nhà hàng, bãi giữ xe. Tuy vậy hoạt động du lịch vắng vẻ, các công trình đang dần xuống cấp.
Hình 3: Một phần diện tích Bàu Nước Sôi (miệng núi lửa âm)
IV.2 Geosite đá xâm nhập bóc mòn
1) Công viên đá Ba Chồng (G_3)
Khu vực này là một quần thể đá rộng tới 2,5 ha. Các khối đá, cột đá, tường đá tập trung ở thị trấn Định Quán. Cột đá ba chồng nằm rìa trái quốc lộ 20 (từ Dầu Giây đi Đà Lạt) được dùng đặt tên cho Công viên Đá Ba Chồng – một danh thắng cấp quốc gia.
Ngoài cột đá ba chồng cao 22 m (Hình 4), các khối đá ấn tượng trong khu công viên này còn có Đá Voi (Bạch Tượng) gồm Voi đực cao 22 m, Voi cái cao 20m (Hình 5); Đá Dĩa cao khoảng 23 m.
Trên lưng Voi đực có tượng phật Thích Ca. Đây cũng là vị trí thích hợp để quan sát một diện tích rộng lớn Công viên Đá Ba Chồng, các núi lửa ở khu vực Phú Lợi, núi lửa Đông Bắc (G_6), Núi Hang Dơi (G_7) trên đồng bằng Gia Canh và núi lửa Đồi Mười Hai (G_4).
Cách Đá Voi khoảng 60 m về phía đông nam là chùa Thiên Chơn. Chùa được xây dựng năm 1957 trên diện tích khoảng 4000 m2. Năm 2000 chùa được đại trùng tu nhưng vẫn bảo lưu những đường nét kiến trúc cổ và hệ thống thờ tự truyền thống. Chùa Thiên Chơn thường xuyên đón tiếp du khách, Phật tử đến thăm, lễ bái nhất là vào ngày lễ Phật Đản, Vu Lan và Tết Nguyên Đán. Sự hiện diện chùa Thiên Chơn đã bổ sung thêm giá trị tâm linh cho geosite Đá Ba Chồng.
Hình 4: Tường đá và cột Đá Ba ChồngHình 5: Đá Voi (Bạch Tượng)
2) Đá Xuân Sơn (G_2)
Địa danh: ấp 114, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán. Tọa độ: 11011’23’’B_107020’50’’Đ.
Đá Xuân Sơn là hai cột đá hình trụ đứng sát nhau, có cùng độ cao, khoảng 25 m. Đường kính mỗi cột trung bình là 30 m. Mỗi cột đá gồm hai khối: khối dưới cao khoảng 20 m, khối trên nhỏ hơn cao khoảng 5 m (cột đá hai chồng) (Hình 6). Cột đá Xuân Sơn nằm bên rìa phải quốc lộ 20, cách cột Đá Ba Chồng khoảng 800 m. Đá Xuân Sơn cũng có thành phần, nguồn gốc thành tạo như các khối đá, cột đá trong công viên Đá Ba Chồng.
Tại chân cột đá Xuân Sơn có lớp phủ đá bazan tuổi Pleistocen muộn (Hình 7). Đá có màu đen, nhiều lỗ rỗng, phong hóa vỡ khối giống với đá bazan khu vực Bàu Nước Sôi, Tân Phú và Cát Tiên. Điều thú vị được ghe bác chủ nhà giải thích: “đá bazan này được thổi ra từ núi lửa Đồi 118 ở phía bắc”.
Đá Xuân Sơn cùng với lớp phủ bazan (dòng chảy) là một điểm lộ đẹp, một geosite có giá trị về khoa học địa mạo, địa tầng. Tiếc thay, việc xây dựng nhà cửa đã che lấp gần như toàn bộ hình dáng của geosite này.
Hình 6: Cột đá Xuân Sơn
Hình 7: Lớp phủ bazan tuổi Pleistocen muộn ở chân cột đá Xuân Sơn
IV.3 Cảnh quan thung lũng sông
1) Điểm nhìn cầu La Ngà (G_5)
Lòng sông tại cầu La Ngà nay là một phần diện tích hồ Trị An. Từ năm 1993, những người dân chài đến đây lập nghiệp dần tạo nên một làng nổi xếp thành dải uốn lượn theo dòng chảy dài tới 3 km, tạo nên cảnh sông nước thơ mộng hấp dẫn du khách mỗi lần đi qua. Làng cá bè này thường xắp xếp theo lòng cũ của sông La Ngà và luôn thay đổi hình dạng (xắp xếp lại) phụ thuộc vào mực nước hồ theo mùa trong năm.
Phía đông cầu La Ngà có một đồi cao 25 m. Đây là đồi thềm xâm thực trên đá phiến sét thuộc hệ tầng La Ngà – một vị trí thích hợp để quan sát, lập mặt cắt cảnh quan qua thung lũng sông La Ngà. Từ nhiều năm nay, đồi thềm xâm thực này là điểm dừng học tập đầu tiên trong tuyến lộ trình Thực tập môi trường Đại cương hàng năm của Khoa Môi trường.
Trên đỉnh đồi thềm có tượng đài Chiến Thắng La Ngà nơi diễn ra trận thắng vang dội của quân và dân Đông Nam Bộ vào ngày 1 tháng 3 năm 1948. Tượng đài là một trong những công trình của Cụm di tích Chiến thắng La Ngà đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng di tích, lịch sử cấp quốc gia vào 1986.
Điểm nhìn Cầu La Ngà cùng với Cụm di tích Chiến thắng La Ngà là nơi thích hợp cho việc thăm quan, nghiên cứu, học tập về địa chất, địa mạo núi lửa, thung lũng sông cũng như tìm hiểu về lịch sử của địa danh này.
Hình 8: Sáng sớm trên làng cá bè La NgàHình 9: Hoàng hôn trên làng cá bè La NgàHình 10: Làng cá bè La Ngà (Nguồn: Dungsilk)Hình 11: Quăng lưới (Nguồn: DungSilk)
2) Thác Mai (G_8)
Địa danh: ấp 9, xã Gia Canh, huyện Định Quán. Tọa độ: 1106’37’’B_107027’9’’Đ.
Thác Mai được hình thành bởi dải đá granodiorit chắn ngang lòng sông La Ngà. Dải đá này dài khoảng 130 m, kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam (Hình 12). Bờ tây bắc là thềm cao 5 m gồm cát, sạn (aluvi) phủ trên đá granodiorit. Bờ đông nam là vách thềm cao khoảng 7 m lộ đất đỏ bazan. Độ chênh cao Thác Mai không lớn như các thác ở vùng Tây Nguyên do thác được hình thành nơi sông chảy qua nền đá xâm nhập có độ cứng lớn các nền đá khác.
Tại khu vực Thác Mai còn quan sát được hiện tượng đá chồng (Hình 13) làm cơ sở giải thích cho sự hình thành các khối đá chồng ở khu vực thị trấn Định Quán. Tại đây khá phổ biến hiện tượng phá hủy đá do thực vật. Các rễ cây phát triển theo các hệ khe nứt dần tách các khối đá xâm nhập rắn chắc thành các mảng nhỏ hơn (Hình 14), rồi bị dòng chảy mang đi.
Thác Mai đã được khai thác phục vụ du lịch. Ngoài việc ngắm nhìn cảnh quan thác, một số dạng địa hình khác cũng được sử dụng như đảo giữa dòng (Nhất Đảo Mai), nền đá xâm thực, bãi tắm phía trên thác. Tuy vậy, điểm du lịch này đang dần xuống cấp, một vài công trình không còn được sử dụng hoặc không đảm bảo an toàn cho du khách.
Hình 12: Dải đá granodiorit chắn ngang sông La Ngà tạo nên Thác MaiHình 13: Đá chồng ở Thác MaiHình 14: Hệ thống rễ cây đang tách khối đá xâm nhập
V. Kết luận
Có vị trí địa lý thuận lợi (gần các thành phố, các khu đô thị lớn), các geosite địa chất, địa mạo – nguồn tài nguyên địa du lịch đầy tiềm năng khu vực Định Quán nếu được nghiên cứu chi tiết, được khai thác hiệu quả sẽ góp phần phát triển kinh tế địa phương cũng như nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc tìm hiểu khoa học Trái đất, từ đó sẽ có trách nhiệm trong việc việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên quí giá này.