KHOÁNG VẬT OPAL

Hôm nay trên vietnamnet.vn có bài “Báu vật đá quí 14 tấn của đại gia Quảng Nam”. Bài báo giới thiệu khối đá Ô ban (nên viết là opal) của ông Trương Quốc Sỹ mua từ người dân khai thác tại huyện Đắc Min, tỉnh Đắc Nông vào năm 2009 với giá 2,5 tỷ đồng. Khối đá này đã được “Bộ VH-TT &DL cấp bằng công nhận Đá cảnh quí hiếm của Việt Nam, sau khi ông đưa khối đá ra triển lãm tại Hà Nội nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long”. Khối đá này đã được nhiều người trả giá 7,5 tỷ đồng nhưng ông Sỹ từ chối.

Vậy chúng ta nên tìm hiểu sơ bộ về khoáng vật opal và giá trị của nó.

Khoáng vật Opal: là khoáng vật thủy ngưng giao điển hình [1].

Thành phần hóa học: giống thạch anh nhưng chứa một lượng nước (SiO2.nH2O) và là chất vô định hình. Lượng nước không cố định, từ 1 đến 34%.

Hình dạng tinh thể: thường thành khối đặc xít giống thủy tinh, bề ngoài giống thạch nhũ. Đọc tiếp “KHOÁNG VẬT OPAL”

QUAN TRẮC XÓI MÒN ĐẤT TRỒNG CÂY CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI BẰNG CẦU XÓI MÒN

Vũ Thị Thu Hòa

I. Giới thiệu cầu xói mòn

Năm 1978, Gerald E. Ranger và Franklin F. Frank thuộc Bộ Lâm nghiệp California đã phát triển công cụ cầu xói mòn thông qua chương trình “Range Improvement Studies” [3]. Cầu xói mòn có tên là “ The 3 – F Erosion Bidge” lần đầu tiên được sử dụng tại Oregon để xác định xói mòn kiểu bóc trôi bề mặt (sheet erosion). Quan trắc lượng đất mất bằng cầu xói mòn đã được Hà Quang Hải áp dụng cho khu vực Đồng Xoài, Bù Đăng tỉnh Bình Phước [1].

1) Cấu trúc cầu xói mòn

Trong nghiên cứu này, cầu xói mòn là thanh nhôm dài 1.2m gồm 37 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 6mm, khoảng cách giữa các lỗ là 2.5 cm. Để thuận tiện cho việc đo đạc và tránh nhầm lẫn khi đo, các lỗ được ghi số thứ tự từ 1 đến 37. Khi đo, cầu sẽ được đặt trên 2 đinh thép cố định trên mặt đất.

2) Các phụ kiện cần thiết kèm theo cầu xói mòn

– Các đinh thép đỡ cầu có đường kính 1.5cm, dài 30 cm, một đầu có gắn thanh ngang để giữ thăng bằng cho cầu.

– Thước bọt nước và dây dọi

– Búa đóng

– Đũa inox dài 30 cm, có đường kính 4mm vừa lọt lỗ khoan trên cầu xói mòn

– Bìa kẹp hồ sơ và bảng dữ liệu có định dạng phù hợp để ghi chép

– Thước đo chia milimet

Hình 1. Cầu xói mòn
Hình 1. Cầu xói mòn

Đọc tiếp “QUAN TRẮC XÓI MÒN ĐẤT TRỒNG CÂY CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI BẰNG CẦU XÓI MÒN”

ĐỊA LÝ KHAI THÁC CÁT VÀ SỎI Ở HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG – Khảo sát và đánh giá tác động đầu tiên

Jean-Paul Bravard, Marc Goichot et Stéphane Gaillot

Giới thiệu

Các dòng sông cung cấp cát và sỏi để xây dựng cơ sở hạ tầng, các tòa nhà, nâng cao nền đất tại các khu vực ngập lụt, tạo các con đê ngăn lũ…Nguồn tài nguyên giá rẻ này có nhiều công dụng và nhu cầu sử dụng đang gia tăng nhanh chóng. Khai thác cát, sỏi lòng sông đã phát triển vào cuối những năm 1800 ở các nước công nghiệp để xây dựng đường và làm bê tông. Cát, sỏi có giá trị đặc biệt ở những nơi mặt bằng xây dựng thấp, cấu tạo bởi bùn và sét như trường hợp ở hạ lưu sông Mê Công.

Khai thác cát sỏi lòng sông có tác động đặc biệt mạnh đến động lực học và hệ sinh thái sông. Các nước châu Âu đã trải qua những tác động bất lợi từ việc khai thác cát và sỏi vào đầu những năm 1950, đặc biệt là ở miền bắc Italia, nơi khai thác quy mô lớn để mở rộng mạng lưới đường cao tốc. Tại Pháp, các tác động do khai thác cát và sỏi được xem là bất lợi vào cuối những năm 1970, không bền vững vào những năm 1980 và cuối cùng khai thác cát lòng sông đã bị cấm vào đầu những năm 1990.

Hiện tượng phổ biến liên quan đến khai thác cát và sỏi là sự khoét sâu lòng sông. Các giải pháp cho hiện tượng này đã được nghiên cứu rộng rãi dựa trên sự phục hồi cân bằng trầm tích. Các quy định khai thác cát và sỏi lòng sông đã được soạn thảo và thực thi ở các nước công nghiệp phát triển, nhưng chưa được thực hiện trong các nền kinh tế phát triển nhanh ở khu vực Đông Nam Á.

Khai thác cát và sỏi quy mô lớn bắt đầu trong những năm 1990 dọc theo hạ lưu Mê Công để cải tạo các vùng đất ngập nước và gia cố bờ sông, đặc biệt khu vực xung quanh Phnom Penh. Xói mòn đã trở nên nghiêm trọng ở châu thổ Mê Công. Xói mòn quy mô lớn này có thể do các yếu tố khác nhau bao gồm các tác động của chuỗi đập Lan Thương và các đập trên các phụ lưu, sự kiểm soát xói mòn đất nông nghiệp tốt hơn và trồng rừng được cải thiện, biến đổi khí hậu và tất nhiên là hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông.

Đánh giá này nhằm cung cấp định lượng ban đầu về khối lượng cát và sỏi khai thác từ ​​sông Mê Công, xác định các vị trí và xu thế khai thác. Kết quả cho thấy việc khai thác cát đóng một vai trò quan trọng trong quĩ trầm tích sông Mê Công và hoạt động này có thể là một trong những nguyên nhân gây xói lở bờ biển châu thổ.

Đọc tiếp “ĐỊA LÝ KHAI THÁC CÁT VÀ SỎI Ở HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG – Khảo sát và đánh giá tác động đầu tiên”

CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN RÙA XANH TẠI HÒN BẢY CẠNH – VQG CÔN ĐẢO

Nguyễn Ngọc Linh

Giải nhì SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EUREKA lần XVII năm 2015, lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường

Linh Ngoc

Tóm tắt:

Rùa Xanh, tên thường gọi là Vích (Chelonia mydas), là một trong 7 loài rùa biển, hiện còn xuất hiện và sinh sản tại Côn Đảo. Qua nghiên cứu, tác giả ghi nhận số lượng Vích mẹ về đẻ trứng tăng ổn định theo thời gian (>300 cá thể/mỗi năm), cũng như tỉ lệ trứng nở thành công (80 %), và số cá thể Vích con được thả về tự nhiên tăng lên đáng kể trong thời gian 10 năm (1994 -2014), từ 6442 cá thể lên đến 118423 cá thể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt hạn chế trong công tác bảo tồn, đó là: 1) Chưa tìm được mối liên hệ giữa yếu tố môi trường trong trạm ấp so với bãi tự nhiên (thời gian ấp trứng, vận tốc bò trên bãi cát, vận tốc bơi của rùa con và so sánh các thông số trên giữa các rùa con nở từ trạm ấp và từ tổ tự nhiên trên bãi cát), 2) Các nội quy về du lịch còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, những tác động từ thiên nhiên và ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động của con người cũng chi phối đến sự tồn tại của quần thể loài Rùa biển này. Do vậy, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn và các hành động ưu tiên trong việc bảo vệ sinh vật biển quý hiếm này trong tương lai.

Từ khóa: Vích, bảo tồn Vích, Côn Đảo, Du lịch sinh thái. Đọc tiếp “CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN RÙA XANH TẠI HÒN BẢY CẠNH – VQG CÔN ĐẢO”

NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỊA MẠO ĐƯỢC THẤY TRƯỚC TỪ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐẬP TRÊN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG

Zan K. Rubin, George Mathias Kondolf & Paul A. Carling

Mê Công là con sông lớn thứ ba Châu Á và thứ 11 trên thế giới. Phần thượng lưu thuộc lãnh thổ Trung Quốc còn có tên gọi là sông Lan Thương (Lancang river). Hạ lưu sông Mê Công gồm Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Với tiềm năng thuỷ điện to lớn, các hoạt động xây dựng đập trên lưu vực sông Mê Công đang được xúc tiến và mở rộng nhanh chóng. Chỉ tính riêng trên sông Lan Thương thuộc Trung Quốc, đã có đến 7 con đập đã hoặc đang được xây dựng trên dòng chính. Phần hạ lưu, 38 đập phụ lưu chắc chắn được xây dựng, cộng thêm 95 đập khác đang lên kế hoạch xây dựng trên cả phụ lưu và dòng chính (hình 1).

Tải lượng trầm tích lơ lửng trung bình của toàn sông Mê Công ước tính là 160 triệu tấn/năm, một nửa trong số này được tạo ra từ 20% thượng lưu thuộc sông Lan Thương, Trung Quốc. Khi 7 đập trên dòng Lan Thương hoàn tất, khoảng 83% lượng trầm tích của thượng lưu vực trên sẽ bị giữ lại. Gần một nửa tải lượng trầm tích tự nhiên của Mê Công sẽ bị bẫy lại tại các hồ chứa trên dòng Lan Thương. Do đó, khả năng các con đập sẽ làm thay đổi tải lượng trầm tích sông Mê Công và thay đổi đặc điểm hình thái dòng chảy và đồng bằng hạ lưu là một vấn đề rất cấp bách. Hiện có khoảng 20 triệu người sinh sống trên đồng bằng cùng với hoạt động kinh tế của họ sẽ gặp rủi ro do sụt lún, lũ lụt gia tăng và những biến động khác trên đồng bằng.

 Hinh 1_Mekong dams

Hình 1: Vị trí các đập trên lưu vực sông Mê Công (Zan Rubin và ctv, 2014)

Các nhà khoa học gồm: Zan Rubin, George Mathias Kondolf, Paul Carling thuộc Đại Học California, Berkeley, Mỹ và Đại học Road, Southampton, Anh đã tiến hành đánh giá địa mạo dòng chảy Mê Công dựa trên các mô hình bẫy trầm tích (models of sediment trapping) trong các hồ chứa nhằm dự báo các biến động địa mạo trên lưu vực. Kết quả nghiên cứu được đăng tại “International Journal of River Basin Management” ngày 11/12/2014.

Đọc tiếp “NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỊA MẠO ĐƯỢC THẤY TRƯỚC TỪ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐẬP TRÊN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG”

KARST VÀ HANG ĐỘNG

Hà Quang Hải

Sắp tới, lớp Khoa học Môi trường 13KMT có đợt thực tập Môi Trường Vùng – Đồng bằng sông Cửu Long. Các bạn sẽ được thăm quan và tìm hiểu đặc điểm môi trường các cảnh quan nổi tiếng như Đồng Tháp Mười, Đê thiên nhiên ven sông Tiền – sông Hậu, Đồng bằng ven biển với các đồi, núi sót Hà Tiên – Kiên Lương. Các bạn hãy quan sát, mô tả cẩn thận giá trị của các dạng địa hình karst cũng như những tác động nhân sinh đối với karst ở Hà Tiên – Kiên Lương nhé. Bài này giúp các bạn tiếp cận một trong những nội dung thực tập dễ hơn. Hình số 7 của Goldscheider (ở cuối bài) rất hay, các bạn xem và vận dụng vào thực tế nhé.

1. Karst là gì?

Karst là một cảnh quan riêng biệt bao hàm tổng thể các dạng địa hình, các yếu tố thủy văn độc đáo và các quá trình tạo ra chúng, chủ yếu là sự hòa tan của nước trên mặt và nước ngầm đối với các loại đá có nhiều khe nứt, lỗ hổng, có thể hòa tan được như đá vôi, dolomit, cẩm thạch. Đọc tiếp “KARST VÀ HANG ĐỘNG”

LIÊN QUAN GIỮA SỤT LÚN ĐẤT DO KHAI THÁC NƯỚC NGẦM VÀ GIẢI PHÓNG ASEN VÀO TẦNG CHỨA NƯỚC SÂU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, VIỆT NAM

Laura E. Erban, Steven M. Gorelick, Howard A. Zebker, Scott Fendorf

Việc gia tăng khai thác nước tại các tầng chứa nước sâu ở vùng Nam và Đông Nam Á được giả thuyết sẽ gây ô nhiễm Asen (As) trong tầng này vốn không bị ô nhiễm tự nhiên. Mặc dầu vậy, quá trình có khả năng gây tổn thương lâu dài này ít được biết đến.

Theo kết quả thống kê của Laura et at. (2013), từ dữ liệu khảo sát hàm lượng As trong các giếng khoan của Cục quản lý tài nguyên nước từ năm 2002 đến 2008, gần 900 giếng khoan ở độ sâu từ 200-250m (tầng chứa nước sâu Pliocene-Miocene) trên một vùng rộng lớn (>1000 km2) thuộc đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam bị ô nhiễm As trên diện rộng. Số lượng giếng khoan có nồng độ As trên 10 mg/L ở tầng sâu (Pliocene–Miocene) cao gấp 7 lần so với ở các tầng nông (Holocene–Pleistocene). Nồng độ As trung bình trong các giếng khoan ở tầng sâu là 20 mg/L, cao gấp 5 lần so với ở các tầng nông (4 mg/L). Tuy nhiên, quy mô và cơ chế của ô nhiễm As trong nước tầng sâu vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Đặc biệt trong vùng nghiên cứu (focus area), 1059 giếng có hàm lượng As vượt quá 10 mg/L và 84% các giếng bị ô nhiễm As là giếng nằm ở độ sâu từ 170-500m. Đọc tiếp “LIÊN QUAN GIỮA SỤT LÚN ĐẤT DO KHAI THÁC NƯỚC NGẦM VÀ GIẢI PHÓNG ASEN VÀO TẦNG CHỨA NƯỚC SÂU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, VIỆT NAM”

NGUỒN GỐC VÀ SỰ TIẾN HÓA ĐỒNG BẰNG CHÂU THỔ PHÂN LƯU; NHỮNG HIỂU BIẾT TỪ CHÂU THỔ SÔNG MÊ CÔNG

Toru Tamura, Yoshiki Saito, V. Lap Nguyen, T.K. Oanh Ta, Mark D. Bateman, Dan Matsumoto, Shota Yamashita

TÓM TẮT

Hình thái châu thổ sông phản ánh sự tương tác của các quá trình bờ biển, lưu lượng sông, và cung cấp phù sa. Khoảng 25% dân số thế giới sống trên vùng đồng bằng châu thổ thấp, vì vậy việc dự báo sự phát triển châu thổ là rất quan trọng. Kiến thức về hình thái học châu thổ chưa được xác lập, mặc dù đó là kiến ​​thức rất quan trọng để quản lý rủi ro của việc sử dụng đất và các khu định cư trên vùng châu thổ. Châu thổ sông Mê Công là một trong những châu thổ lớn nhất thế giới và là nơi cung cấp cơ hội duy nhất để hiểu sự tiến hóa trầm tích của châu thổ với ưu thế triều và sóng.

Các tác giả đã xác định sự tiến hóa trầm tích đồng bằng châu thổ dựa vào tuổi phát quang kích thích quang học (OSL) các giồng cát và tuổi carbon phóng xạ các trầm tích trong lõi khoan. Kết quả cho thấy đường bờ biển ở đồng bằng châu thổ thấp đã khởi đầu cách nay 3,5 ngàn năm bằng sự bồi đắp các dải cát ngầm cơ sở. Đồng bằng châu thổ đã chuyển dịch về một phía trong Holocen muộn, phát triển từ các đê cát dẫn đến sự phân nhánh bất đối xứng của cửa sông. Sự bất đối xứng là do dòng trầm tích ven bờ hướng tây nam được tăng cường bởi gió mùa mùa đông.

Đọc tiếp “NGUỒN GỐC VÀ SỰ TIẾN HÓA ĐỒNG BẰNG CHÂU THỔ PHÂN LƯU; NHỮNG HIỂU BIẾT TỪ CHÂU THỔ SÔNG MÊ CÔNG”

ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI ĐẶC ĐIỂM VÙNG VEN BIỂN TẠI ĐBSCL BẰNG DỮ LIỆU LANDSAT VÀ ẢNH GOOGLE EARTH

Hak, K. Nadaoka và A. Collin đã nghiên cứu sự thay đổi đặc điểm tại dải ven biển tỉnh Kiên Giang dựa trên dữ liệu ảnh Landsat và Google Earth. Các kết quả nghiên cứu giải thích sự biến đổi đường bờ, thay đổi lớp phủ trong nhiều năm và ảnh hưởng của hoạt động nhân sinh đến sự thay đổi này.

1. Khu vực nghiên cứu

Khu vực ven biển tỉnh Kiên Giang từ Hòn Đất xuống An Minh  có đường bờ biển dài 113 km và  1.780 km2 đất liền (hình 1). Độ cao trung bình vùng ven biển này tương đối thấp, dao động từ 0.2 – 0.5 m trên mức trung bình của khu vực. Nơi đây có một vành đai rừng ngập mặn mỏng và một hệ thống đê kè rất hạn chế. Chính vì vậy vùng này dễ bị tác động bởi sóng và thủy triều mặc dù chiều cao sóng trung bình (0.3m) và biến đổi thủy triều (0.56m) ở khu vực này không lớn. Những tác động  sẽ ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế xã hội chủ yếu là nuôi trồng thủy sản, trồng lúa kết hợp nuôi tôm, trồng mía và các cây trồng khác.

Đọc tiếp “ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI ĐẶC ĐIỂM VÙNG VEN BIỂN TẠI ĐBSCL BẰNG DỮ LIỆU LANDSAT VÀ ẢNH GOOGLE EARTH”

Ô NHIỄM FLUORIDE TRONG NƯỚC NGẦM VÀ ĐÁNH GIÁ PHƠI NHIỄM FLUORIDE CHO NGƯỜI DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Phan Như Nguyệt

Nước là một thành phần thiết yếu của cuộc sống, nước có vai trò vô cùng quan trọng và lợi ích to lớn, nhưng nó cũng là nguồn gây bệnh cho con người nếu nguồn nước đó bị ô nhiễm. Ngày nay, khoảng 80% các bệnh trên thế giới có nguyên nhân từ nguồn nước uống kém chất lượng.

Ô nhiễm Fluoride trong nước uống chiếm tới 65% trong tất cả các nguyên nhân gây ra hiện tượng nhiễm độc Fluoride răng trên thế giới hay còn gọi là bệnh Fluorosis – là bệnh gây ra do sử dụng nước uống có nồng độ Fluoride cao làm răng bị nhiễm độc mãn tính bởi tác nhân Fluoride. Biểu hiện của bện này là sự xuất hiện những đốm nâu, đen trên răng và có thể hình thành các mảng, lỗ gây hại cho men răng) [7] [3]. Fluoride là một vi chất dinh dưỡng tham gia vào các quá trình phát triển răng, tạo ngà răng và men răng [2].

Đọc tiếp “Ô NHIỄM FLUORIDE TRONG NƯỚC NGẦM VÀ ĐÁNH GIÁ PHƠI NHIỄM FLUORIDE CHO NGƯỜI DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH”