Một số Hình ảnh tại Cửa Lộc An 23.04.2017

Một đoạn bờ kè kiên cố đang được triển khai. Doi cát phía đông cửa Lộc An tiếp tục phát triển về phía tây nam. Các khối đá chắn tạm đoạn bờ tây xói lở được kéo dài thêm khi các stabiplage không còn tác dụng. Xói lở bờ tiếp tục dịch dần về phía tây, lấn sâu vào đất liền.

Dường như các cơ quan chức năng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn chưa đưa ra được giải pháp thích hợp để ngăn chặn tai biến bồi tụ – xói lở tại đây.

Trước khi xem những hình ảnh ngày 23.04.2017 tại cửa Lộc An, hãy đọc đoạn trích dẫn dưới đây từ bài: Công trình chống xói lở bờ biển Lộc An: Nhà thầu nước ngoài lỗi hẹn:

Nguồn: http://www.baobariavungtau.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/201611/cong-trinh-chong-xoi-lo-bo-bien-loc-an-nha-thau-nuoc-ngoai-loi-hen-706873/

“Dự án đầu tư xây dựng công trình thí điểm xử lý chống xói lở bờ biển bằng công nghệ mềm Stabiplage tại vùng biển Lộc An, huyện Đất Đỏ được triển khai thực hiện theo Quyết định số 432/2011/QĐ của UBND tỉnh. Theo đó, Sở KH-CN được giao làm chủ đầu tư; Tổ chức tư vấn lập dự án là Công ty Espace Pur – CH Pháp; Chủ nhiệm lập dự án là ông Jean Cornic – Giám đốc kỹ thuật Công ty Espace Pur. Dự án có tổng mức đầu tư hơn 32 tỷ đồng từ nguồn ngân sách tỉnh chi cho hoạt động khoa học – công nghệ. Ngày 10-5-2011, Sở KH-CN ký kết Hợp đồng số 26/SKH-CN với Công ty Espace Pur thực hiện dự án chống xói lở bờ biển bằng công nghệ mềm Stabiplage tại xã Lộc An, huyện Đất Đỏ. Công trình đã được thi công và hoàn thành vào ngày 26-10-2011, đã được hai bên nghiệm thu đưa vào sử dụng và chuyển sang chế độ bảo hành”

Sau vài năm đưa vào sử dụng, công trình đã xuống cấp trầm trọng, cần phải duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ. Tuy nhiên, nhà thầu tư vấn nước ngoài cứ hẹn lần hẹn lữa, đến nay vẫn chưa thực hiện yêu cầu sửa chữa công trình này”.

Xói lở tại vị trí đang kè bê tông là do doi cát phía đông phát triển. Stabiplage (S) cửa sông cũng góp phần làm tăng xói lở (nơi đang được kè)
Bờ kè kiên cố đang dần hoàn thiện, thực ra có những giải pháp hiệu quả hơn để kiểm soát đoạn bờ xói lở này.
Các mỏ hàn vuông góc với kè bê tông thực hiện tại đây là không thích hợp
Doi cát tiếp tục phát triển về tây nam là nguyên nhân trực tiếp gây xói lở bờ tây.
Các ghe đánh bắt cá phải chạy vòng qua doi cát ngầm để vào “cảng cá Lộc An”
Stabiplage này chỉ còn là di tích
Kè bờ tạm bằng đá khối, nơi các Stabiplage gần như đã bị phá hủy hoàn toàn
Đoạn bờ không có kè đá bị xói lở
Hàng dương bị phá hủy bởi sóng biển
Các Stabiplage còn lại đang mất dần tác dụng
Các bao cát có bảo vệ được điểm du lịch khỏi xói lở?
Có thể Stabiplage này sẽ không còn trong năm sau?

H & H

Phá ghềnh đá trên dòng Mê Kông: mở mang hay phá hủy

BVR&MT – Suốt bề dài lịch sử, dòng Mê Kông hùng vĩ đã hút hồn bao du khách với những ghềnh xoáy, những dải cù lao và cồn rải rác. Tuy nhiên, đến nay những dải đá ngầm dưới lòng sông bị cho là đang cản trở hoạt động giao thông thủy trên dòng sông. Và cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học của dòng sông vĩ đại này đang bị đe dọa bởi kế hoạch phá mỏm đá và cù lao để mở đường cho giao thương xuyên biên giới.

Hàng trăm tổ chức phi chính phủ Thái đang vận động chiến dịch cứu lấy những cù lao sinh thái cũng như các ghềnh thác quý giá ở Khon Pi Luang (Ảnh: Tom Fawthrop)

Kế hoạch mở rộng giao thông thủy

Việc chính quyền Thái Lan xúc tiến kế hoạch phá đá ngầm và cù lao trên sông Mê Kông nhằm giúp các tàu hàng từ Trung Quốc di chuyển thuận lợi đang gây phẫn nộ trong giới môi trường.

Kế hoạch phát triển trên dòng Lan Thương – Mê Kông (2015-2025) bao gồm ba bước: khảo sát ban đầu, thiết kế và đánh giá môi trường và xã hội đã được Thái Lan phê duyệt tháng 12/2016.

Theo kế hoạch, Trung Quốc, Lào, Myanmar và Thái Lan sẽ lập đội khảo sát trên sông Mê Kông trước khi phát triển tuyến đường giao thông thủy để các tàu chở hàng lớn có thể di chuyển từ Vân Nam (Trung Quốc) sang Luang Prabang, thủ đô cũ của Lào, di sản thế giới cách Vân Nam 630 km về phía hạ lưu.

Kế hoạch yêu cầu chính phủ Thái Lan cho nổ mìn phá đá một dải dài 1,6 km dọc sông Mê Kông ở biên giới Lào. Tuy nhiên, chính quyền Thái Lan cho biết sẽ chưa phê duyệt dự án cho tới khi có kết quả khảo sát và đánh giá tác động môi trường (EIA).

Ảnh chụp (bằng máy điều khiển từ xa) các cù lao ở biên giới Thái-Lào (Ảnh: Shinshiro Kenji Authur).

Các nhà môi trường rất phẫn nộ trước đề xuất dự án này. Bà Painporn Deetes, giám đốc chiến dịch Thái Lan của Tổ chức Sông ngòi Quốc Tế (IR) cho rằng thật là vô lý nếu đánh đổi dòng sông tuyệt vời nhất thế giới, nơi cung cấp nguồn thủy sản nuôi sống hơn 60 triệu người để lấy con đường thương mại vận chuyển hàng hóa trong khi đường bộ có thể đáp ứng điều này.

Các chuyên gia Trung Quốc lại khẳng định chưa có bằng chứng nào cho thấy kế hoạch này sẽ gây hại cho hệ sinh thái của con sông. Giáo sư Chu Chân Minh (Học viện Khoa học Xã hội Vân Nam), chuyên gia về Đông Nam Á, cho rằng những người phản đối nên đợi kết quả nghiên cứu môi trường kỹ càng trước khi đưa ra phán xét. Đối với các hiểm họa tiềm tàng với các loài cá, ông này cho biết đã có nhiều trường hợp phá ghềnh đá và cù lao tương tự ở Vân Nam và chúng đều không gây ảnh hưởng gì lớn.

Tổ chức Sông ngòi Quốc tế không đồng tình với luận điểm trên. Tổ chức này khẳng định các cù lao, ghềnh đá và thủy sản đem lại nhiều lợi ích cho người dân bản địa: “Ghềnh đá và các dải đá ngầm là môi trường sống ven sông lý tưởng, là khu vực sinh sản và nơi trú ẩn an toàn cho cá. Việc nổ mìn phá các ghềnh đá sẽ đe dọa thu nhập và an ninh lương thực của dân cư ở các khu vực xung quanh” .

Lịch sử dự án

Chiến lược phát triển này bắt nguồn từ năm 1992 khi Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) khởi xướng chương trình 40 tỉ USD nhằm xây dựng đường cao tốc, lưới truyền tải điện, các đập nước lớn và phát triển du lịch ở khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông.

Kế hoạch nạo vét sông để các tàu thương mại di chuyển thuận lợi của Trung Quốc được khởi xướng vào thời điểm ký kết Hiệp định Giao thông thủy thương mại gồm 3 giai đoạn giữa Trung Quốc, Lào, Myanmar và Thái Lan hồi tháng 4/2001 mà không tham khảo ý kiến của Campuchia và Việt Nam.

Giai đoạn đầu của kế hoạch sẽ nổ mìn 11 ghềnh đá và 10 dải đá ngầm ven sông để tàu 100 -150 tấn di chuyển từ Vân Nam đến Chiang Saen, tỉnh Chiang Rai, Thái Lan. Hoạt động nổ mìn bắt đầu ở Thái Lan vào năm 2002 với sự cho phép của Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra.

Tuy nhiên, sau một đánh giá độc lập của Ủy ban Mê Kông (MRC), bản đánh giá tác động môi trường của Trung Quốc về hoạt động nổ mìn đã bị bác bỏ do thiếu gần như toàn bộ dữ liệu về cá và sinh thái.

Năm 2003, sau khi Bộ Quốc phòng Thái Lan phản đối dự án và khẳng định nếu tiếp tục dược triển khai dự án sẽ phá vỡ đường phân định biên giới Thái-Lào giữa dòng Mê Kông, Trung Quốc đã ngừng kế hoạch phá đá sau giai đoạn đầu.

Tháng 12/2016, Hiệp định này lại được tái xem xét nhưng chính phủ Thái Lan đề xuất cần có thêm khảo sát.

Tuy các nhà chức trách của Thái Lan nhận định rằng vận chuyển đường sông sẽ giảm chi phí 20% so với đường bộ nhưng Saowaruj Rattanakhamfu, chuyên gia kinh tế cấp cao của Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan bày tỏ hoài nghi sâu sắc về lợi ích của các dự án này: “Với tư cách một nhà kinh tế, tôi không nghĩ cho nổ đá để phục vụ thương mại trên sông là hợp lý. Chính phủ nên nghiên cứu xem có thật sự nên đầu tư hay không vì dự án này sẽ tác động rất xấu đến những người dân nghèo”.

Các nhà phê bình cũng nhận định Luang Prabang, di sản văn hóa được UNESCO công nhận, khu du lịch sinh thái có sức hút mạnh trong khu vực, sẽ sớm trở thành một tuyến thương mại nhộn nhịp và ô nhiễm của Trung Quốc, phá hỏng không gian yên bình và sự cuốn hút nổi tiếng của nó. Mặc dù vậy cũng có ý kiến cho rằng vận tải phát triển sẽ khiến nơi này thu hút nhiều du khách du lịch và thịnh vượng hơn.

Khủng hoảng trên sông Mê Kông

Nếu vẫn được triển khai, dự án phá đá sẽ là đòn giáng mạnh vào sông Mê Kông, con sông quan trọng nhất Đông Nam Á, đang hứng chịu nhiều hậu quả môi trường tích lũy từ các công trình xây đập lớn.

Một dãy 7 đập của Trung Quốc đã được xây ở thượng nguồn sông Mê Kông. Hai đập khác hiện đang được xây ở hạ lưu, trên lãnh thổ của Lào và dự kiến còn con đập thứ ba trên phần đất Lào, Pak Beng, cũng sẽ được khởi công trong năm 2017.

Thủy văn của dòng sông đã chịu nhiều biến đổi lớn. Nhịp lũ mùa mưa hàng năm bị gián đoạn nghiêm trọng do lưu lượng dòng chảy giảm.

Phù sa, trầm tích bị giữ lại ngày càng nhiều ở sau các con đập, kết quả là không đến được đồng bằng phía hạ lưu ở Việt Nam. Các nhà khoa học cho biết đồng bằng Sông Cửu Long đang vừa bị thu hẹp, vừa bị nhấn chìm dần.

Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược năm 2011 nhận định rằng cần trì hoãn 10 năm với tất cả các công trình thủy điện trên sông Mê Kông vì hậu quả của các đập này. Tuy nhiên, sau đó vẫn đã có thêm hai đập lớn tiếp tục được xây dựng ở hạ lưu sông Mê Kông – đập Xayaburi và đập Don Sahong – bất chấp cảnh báo của các nhà khoa học và sự phản đối kịch liệt của cộng đồng dân cư ven sông.

Báo cáo gần đây của WWF cảnh báo rằng việc vội vã xây 11 đập ở hạ lưu sông Mê Kông là một ví dụ điển hình “của phát triển không bền vững, đẩy hệ thống sông đến ‘bờ vực thẳm’.”

Bản đồ sông Mê Kông và các đập trên sông

Dữ liệu của MRC cho thấy nguồn cá nội địa lớn nhất thế giới của sông Mê Kông là nguồn lợi kinh tế quan trọng của khu vực. Đánh bắt cá ở bốn quốc gia MRC đem lại nguồn thu nhập trị giá 11 tỉ USD (giá trị này lên tới 17 tỉ USD nếu tính cả cá nuôi thả). Cơ chế quản lý lưu vực sông còn nhiều bất cập và chưa hợp lý đang đe dọa an ninh lương thực của 60 triệu người sống quanh khu vực.

Ở Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long cung cấp 50% lương thực cả nước và 90% lượng gạo xuất khẩu. Ông Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia uy tín về quản lý nguồn nước và lưu vực sông lo lắng rằng nếu không thể đảo ngược xu thế hiện tại thì Việt Nam sẽ mất hoàn toàn đồng bằng sông Cửu Long: Nếu cả 11 đập được xây ở hạ lưu sông Mê Kông, Việt Nam sẽ không còn là quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập vì thiếu trầm tích và phù sa. Trong 20-30 năm nữa, đồng bằng sông Cửu Long sẽ không thể dung dưỡng dân số 18 triệu người. Người dân sẽ bị buộc di cư đi nơi khác, dẫn đến nhiều bất ổn và tị nạn môi trường.

Hàng trăm tổ chức phi chính phủ của Thái đang vận động một chiến dịch cứu lấy những cù lao sinh thái cùng những ghềnh thác quý giá ở Khon Pi Luang. Lãnh đạo chiến dịch Niwat Roykaew đã nộp đơn lên Ủy ban Nhân quyền Quốc gia (NHRC) để phản đối quyết định của chính phủ Thái.

Cách duy nhất để các quốc gia Mê Kông cùng tiến bộ và phát triển là phải vượt ra ngoài cái “tâm lý ao nhỏ. Cứ với “cái tâm lý ao nhỏ” thì không thể hiểu được bức tranh lớn của việc chia sẻ tài nguyên nước và tôn trọng cả dòng sông.” Tiến sĩ Trần Đình Thiện, Viện trưởng Viện Kinh tế Hà Nội, bình luận.

Hồng Việt (Theo thethirdpole.net)

Nguồn: http://baovemoitruong.org.vn/pha-ghenh-da-tren-dong-me-kong-mo-mang-hay-pha-huy/

Bản tiếng Anh: https://scroll.in/bulletins/56/how-the-dream-of-low-cost-housing-in-india-can-become-a-reality

Biển tiến Flandrian và dấu ấn để lại vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Hà Quang Hải

Biển tiến Flandrian (còn gọi là Biển tiến Sau Băng hà) đã để lại vùng đồng bằng Sông Cửu Long một hệ tầng trầm tích biển dày 15 – 20 m trải khắp đồng bằng; các bậc thềm ven rìa vùng Tri Tôn – Tịnh Biên, các giồng cát biển ở Cai Lậy và các hõm gặm mòn cao 5.0 m trên vách núi đá vôi Kiên Lương. Những di chỉ địa chất, địa mạo này là những minh chứng cho sự kiện biến đổi khí hậu qui mô toàn cầu – đó là sự tan rã băng hà khởi phát từ khoảng 21000 năm trước dẫn đến sự dâng cao mực biển lên hàng trăm mét. Biển tiến cực đại Flandrian trong thời đoạn 5600 – 4200 năm trước với mức cao 5 m so với mực biển hiện nay đã biến phần lớn diện tích đồng bằng Sông Cửu Long thành biển nước, chỉ còn những khối núi nhỏ bé nhô lên như những hòn đảo.

Nhìn lại sự kiện biển tiến Flandrian để thêm một lần nữa thấy rằng con người thật sự nhỏ bé so với thiên nhiên, để từ đó tìm kiến những giải pháp ứng xử với hiện tương được xem là biến đổi khí hậu đang diễn ra một cách hài hòa, không thờ ơ, nhưng cũng không nên la hoảng.

I.Biển tiến Flandrian qui mô toàn cầu

Tên gọi biển tiến Flandrian đã được áp dụng cho sự dâng cao mực nước biển ảnh hưởng đến các vùng ven bờ biển trên qui mô toàn cầu bắt đầu cách ngày nay khoảng 20000-21000 năm trước. Sự dâng cao mực nước biển này liên quan trực tiếp đến sự tan chảy sau Băng hà Cực đại Cuối cùng (LGM-Last Glacial Maximum) bao gồm các băng hà Wisconsin (ở Bắc Mỹ); Wurm (ở alpine)… Tuy nhiên, tỷ lệ tan băng và mực nước biển dâng không ổn định theo thời gian. Mực biển tăng nhanh trong các thời kỳ ấm, tạm dừng hoặc thậm chí giảm trong các thời kỳ lạnh, nhưng xu hướng là tăng lên tới mức hiện tại [11].

Trong thời kỳ LGM, mực nước biển phân bố ở mức -70 đến – 150 m (tùy theo giải thích của từng tác giả) so với mực biển hiện nay. Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng mực nước biển thấp nhất tương ứng với vị trí gần “điểm gấp khúc” ở rìa ngoài thềm lục địa. Điểm gấp khúc này xảy ra khoảng 100 mét dưới mực nước biển hiện tại ở các thềm lục địa ổn định kiến tạo trên khắp thế giới [11].

Đường cong biểu diễn đợt biển tiến Flandrian (Hình 1) cho thấy mực nước biển thấp hơn hiện nay khoảng 120 m vào LGM. Sự tan rã các lớp phủ băng hà đã làm mực nước biển tăng lên với tốc độ trung bình 1m/thế kỷ, tốc độ lên đến 16 mm/năm trong thời gian khoảng 18000-15000 năm trước; đạt tốc độ đỉnh khoảng 5 m/thế kỷ tại các xung tan chảy (meltwater).

Hình 1. Đường cong biến đổi mực biển sau băng hà (21.000 năm qua). Nguồn [9]

 II.Biển tiến Flandrian trên Sunda Shelf

Loạt bản đồ màu trên cơ sở phân tích không gian Mô hình Độ cao Số (DEM) từ Dữ liệu Độ cao của ETOPO2 Global đã mô tả địa hình Sunda Shelf (thềm lục địa Đông nam Á) bị biển tiến Flandrian nhận chìm từ LGM [7]. Sunda Shelf dần bị nhận chìm khi mực nước biển bắt đầu tăng từ -116 m (so với mức hiện tại) vào khoảng 21 nghìn năm trước (Hình 2, 3) đến mức tối đa + 5 m trên mực biển hiện tại vào Holocen giữa (4200 năm trước) (Hình 2, 4). Như vậy, vào 4200 năm trước, gần như toàn bộ diện tích đồng bằng sông Cửu Long nằm dưới nước biển.

Hình 2. Đường cong dâng mực biển từ 21.000 đến 4.200 năm trước. Nguồn [7]
Hình 3. Thềm Sunda 21 ngàn năm trước ngày nay, mực biển là -116 m so với mực biển hiện tại. Nguồn [7]
Hình 4. Mực biển cực đại 4.200 năm trước (Holocen giữa) là +5 m so với mực biển hiện nay. Nguồn [7]

III. Các dấu ấn của biển tiến Flandrian vùng đồng bằng Sông Cửu Long

III.1 Các trầm tích biển

Biển tiến Flandrian có nhiều tên, tùy thuộc vào khu vực và khoảng thời gian nghiên cứu. Tên gọi Flandrian lần đầu tiên được đề xuất vào cuối thế kỷ XIX để chỉ “trầm tích cát Campinian” của vùng Flanders và Campers của Anvers. Dubois (1924) xếp vào giai đoạn Flandrian tất cả các trầm tích biển và lục địa đặc trưng cho sự dịch chuyển bờ biển từ mực biển tối thiểu tương ứng với LGM đến hiện tại [6].

Vùng đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng và các đồng bằng thấp ven biển Việt Nam đều ghi nhận sự hiện diện các trầm tích biển hình thành vào giai đoạn biển tiến Flandrian cực đại.

Tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Tây Nam Bộ), Nguyễn Ngọc Hoa và nnk. đã thiết lập hệ tầng Hậu Giang dày 15 m (lỗ khoan Cần Thơ) gồm các trầm tích bột, sét, cát. Các trầm tích này chứa các hóa thạch biển như: Asterorotalia pulchella, Ammonia annectens, Pseudorotalia schroeteriana, Elphidium crispum. Hệ tầng Hậu Giang có tuổi C14: 5550 ± 80 năm và 8200 ± 100 năm, được hình thành trong giai đoạn biển tiến Holocen trung [4].

Ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, các trầm tích hệ tầng Bình Chánh (lỗ khoan Chợ Đệm, Bình Chánh) [3] gồm sét bột, cát sạn phân bố ở độ sâu 5 – 27 m chứa phong phú hóa thạch foraminifera gồm các loài như: Asterorotalia pulchella multispinora, Asterorotalia pulchella, Ammonia japonica, Elphidium crispum.

Chúng tôi đề nghị tên gọi biển tiến Hậu Giang cho vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng Sông Cửu Long) và biển tiến Bình Chánh cho vùng Đông Nam Bộ. Biển tiến Hậu Giang và Bình Chánh tương đương với biển tiến toàn cầu Flandrian.

III. 2 Thềm biển rìa tây đồng bằng

Các trầm tích biển tuổi Holocen sớm – giữa chủ yếu là cát, sạn sỏi dày trung bình 1,5 m cấu tạo thành bậc thềm 1 cao 2-4 m, phân bố rộng quanh vùng Tri Tôn – Tịnh Biên. Ở khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia qua kênh Vĩnh Tế, bề mặt thềm 1 rộng tới 5 km. Trầm tích thềm 1 được mô tả chi tiết tại thị trấn Hà Tiên [1, 2]. Một nghiên cứu thềm biển vùng Nam Bộ mới đây cho thấy thềm biển vùng Tri Tôn – Tịnh Biên thuộc mức thềm 2, cao 4 – 6 m (phổ biến độ cao 5.0 m) có tuổi Holocen giữa [5].

III.3 Giồng cát biển Cai Lậy

Kết quả phân tích tuổi các giồng cát vùng đồng bằng Sông Cửu Long bằng OSL cho thấy các giồng Cai Lậy có tuổi từ 5600 đến 4600 năm. Tuổi này tương đồng với tuổi C14 trầm tích bãi triều trong lõi khoan TA (4500-4880 năm). Các trầm tích bãi triều trong lõi khoan GGM cách Cai Lậy khoảng 50 km về phía Tây Bắc (Hình 5A và 5B) có tuổi C14 là 6370-6720 năm [10].

Những tuổi trên cho thấy ở phần bắc của đồng bằng Sông Cửu Long, đường bờ đã bồi đắp trong thời kỳ nước đứng cao của mực biển Holocene giữa để tạo thành giồng Cai Lậy (Hình 5c) [10].

Hình 5. A, B: Tuổi OSL giồng cát và tuổi C14 trầm tích lõi khoan. C: Đường cong mực biển tương đối đồng bằng Sông Cửu Long từ 10 ngàn năm. Nguồn [10].

III.4 Các hõm gặm mòn (notch)

Trên các vách đá vôi vùng Kiên Lương có nhiều mức hõm gặm mòn, là các dấu ấn mực nước biển trong quá khứ. Tại núi Hang Cây Ớt, ba mức hõm gặm mòn song song kéo dài hàng km tạo nên một dạng địa hình lý thú (Hình 6). Do hoạt động khai thác vật liệu, các hõm gặm mòn nay chỉ còn một phần phía tây núi Hang Cây Ớt, ấn tượng nhất là các hõm gặm mòn tại hang Cá Sấu.

Hình 6: Ba hõm gặm mòn (mũi tên đỏ) tại dãy núi Hang Câu Ớt kéo dài khoảng 1 km, nay phần phía đông đã là mỏ đá đang khai thác

Tại hang Cá Sấu,  ba mức hõm gặm mòn được đo đạc, lấy bề mặt đồng bằng cao 0.5 m làm cơ sở. Độ cao và bề rộng các hõm gặm mòn như sau (Hình 7).

Hõm 3 (cao): cao 4.8 m, bề rộng hõm 0.7 m

Hõm 2 (giữa): cao 2.9 m, bề rộng hõm 0.7 m

Hõm 1 (thấp): cao 0.9 m, bề rộng hõm 0.8 m

Hình 7: Độ cao và bề rộng ba mức gặm mòn tại hang Cá Sấu

Tuổi hình thành các hõm gặm mòn tại hang Cá Sấu được so sánh với hõm gặm mòn ở Chùa Hang và tuổi thềm biển các đảo ở Nam Bộ.

Tại Chùa Hang (Hòn Chông), mẫu C14 vỏ sò (Hình 8) gắn trong hõm cao 2.0 – 3.0 có tuổi 3100 ± 80 năm [1, 2].

Hình 8: Vò sò tại hõm gặm mòn Chùa Hang có tuổi C14 là 3100 ± 80 năm. Nguồn [1, 2]

Ở Côn Đảo, Phú Quốc và Thổ Chu, nơi một số mẫu C14 (san hô, vỏ sò) được thu thập và phân tích theo các mức thềm biển [8]:

Thềm cao 5.0 m có tuổi: 5480 ± 82 năm (trung bình 12 mẫu),

Thềm cao 2-4 m có tuổi 3180 ± 100 (trung bình 6 mẫu)

Thềm cao 1.0 m là 1025 ± 45  (trung bình 2 mẫu).

Như vậy có thể xếp:

– Hõm 3 cao 4.8 m tương đương với thềm biển cao 5.0 m (có tuổi trung bình là 5480 năm) và có cùng mức tuổi với giồng cát Cai Lậy (5600 – 4600 năm).

– Hõm 2 cao 2.9 m tương đương với thềm biển cao 2 – 4 m (tuổi trung bình là 3180 năm), mức này có thể cùng tuổi giồng cát Trà Vinh (3570 và 3330 năm), giồng khởi đầu cho giai đoạn biển lùi vào đầu Holocen muộn.

– Hõm 1 cao 0.9 m tương đương với thềm biển cao 1.0 m (1025 năm) có cùng tuổi với các giồng cát phân nhánh ở trung tâm đồng bằng Bến Tre và Trà Vinh (1500 – 1100 năm).

 IV.Kết luận

Biển tiến Flandrian đã để lại đồng bằng Sông Cửu Long những dấu ấn rõ nét bao gồm một hệ tầng trầm tích chứa phong phú các hóa thạch biển, bậc thềm biển ven rìa, giồng cát biển và hõm gặm mòn còn hằn sâu trên vách núi đá vôi ở Kiên Lương. Biển tiến Flandrian cực đại vào khoảng 5600 – 4200 năm cách ngày nay (Holocen giữa) với mực biển cao hơn mực biển hiện tại khoảng 5.0 m đã nhận chìm phần lớn diện tích đồng bằng Sông Cửu Long.

Sự rút lui của biển (biển thoái) đã dần để lộ và mở rộng đồng bằng với sự hình thành các thế hệ giồng cát trẻ hơn về phía biển. Hoạt động biển thoái diễn ra trong suốt Holocen muộn (từ khoảng 3.600 năm đến nay), có những thời đoạn dừng để hình thành giồng cát và các hõm gặm mòn trên vách đá vôi. Như vậy, xét theo qui mô nghìn năm, biển thoái Holocen muộn đã để lộ và mở rộng vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Huy Dũng và nnk. 2003, Phân chia địa tầng N – Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất đồng bằng Nam Bộ. Lưu trữ Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[2] Trương Công Đượng và nnk. 1998, Đo vẽ Địa chất và tìm kiếm Khoáng sản nhóm tờ Hà Tiên – Phú Quốc tỉ lệ 1:50.000. Lưu trữ Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam.

[3] Hà Quang Hải và nnk. 1987. Báo cáo lập bản đồ Địa chất và tìm kiếm Khoáng sản T.P. Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:50.000.

[4] Nguyễn Ngọc Hoa và nnk trong Sách tra cứu các phân vị địa chất Việt Nam. http://idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/Anpham/Tracuu_PVDC/Mucluc.htm

[5] Lê Hoài Nam. 2017. Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng. Luận án tiến sĩ khoa học Môi trường. Lưu trữ thư viện Trường Đại học KHTN. Đại học QG. TP.HCM.

[6] A.S. Goudie. 2004. Encyclopedia of Geomorphology. Routledge.

[7] Edlic Sathiamurthy, Harold K. Voris. 2006. Maps of Holocene Sea Level Transgression and Submerged Lakes on the Sunda Shelf. Chulalongkorn University.

[8] Korotky M., et al. (1995), “Late Pleistocene – Holocene coastal development of islands of Vietnam”, Journal of Southeast Asian Earth Sciences, 11(4), pp. 301-308.

[9] Robert A. Rohde: Changing Sea levels During the Past 25,000. Yearshttps://www.fws.gov/slamm/Changes%20in%20Sea%20Level_expanded%20version_template.pdf

[10] Toru Tamura et al. 2012. Origin  and      evolution         of         interdistributary          delta plains;            insights            from    Mekong           River   Delta. GEOLOGY, April 2.

[11] The Flandrian Transgression. https://3dparks.wr.usgs.gov/nyc/moraines/flandrian.htm

BÀI 2: XÓI LỞ – BỒI TỤ BỜ BIỂN ĐẢO PHÚ QUỐC

Lê Hoài Nam, Hà Quang Hải

Các phương pháp nghiên cứu xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc được áp dụng bao gồm: 1) xử lý tư liệu ảnh Landsat (1973-2013), 2) giải đoán ảnh Google (2005-2015), 3) khảo sát thực địa (2012-2016) và 4) phân tích DSA (hỗ trợ tính toán thống kê các thông số biến đổi đường bờ theo chuỗi thời gian tại các mặt cắt vuông góc với đường bờ biển).

I.Đặc điểm xói lở – bồi tụ theo phân bố địa lý đường bờ

I.1 Bờ Tây – xói lở ưu thế

Hầu hết bờ biển thuộc các tế bào bờ Tây đều bị xói lở, trong đó tế bào Dương Tơ (TB_T6) có mức xói lở lớn nhất. Bờ biển tế bào Dương tơ phân bố từ Mũi Ngàn Sao đến mũi Đất Đỏ (H.1), dài 16,6 km, gồm 2 kiểu bờ: KB_1 và KB_3.

– Kiểu bờ KB_1: thuộc bờ mài mòn (mũi nhô đá gốc), dài 2,2 km, phân bố hạn chế tại các mũi nhô nhỏ như mũi Ngàn Sao và mũi Đất Đỏ.

– Kiểu bờ KB_3: dài 14,4 km, bờ biển cát bị xói lở tạo vách cao 0,5-1,0 m cắt vào thềm biển bậc 1 cấu tạo bởi cát xám trắng, mịn. Bờ biển Dương Tơ có tốc độ xói lở mạnh. Tại điểm mặt cắt TM42, xói lở trong 10 năm có tốc độ trung bình 1,0 m/năm), xói lở đã làm các tượng đá khu du lịch Ngàn Sao nằm tách xa bờ biển (H.2). Tại điểm mặt cắt TM56, xói lở tạo nên các vách xâm thực cao 0,3-1,0 m (H.3).

H.1: Tế bào bờ biển Dương Tơ (TB_T6)
H.2: Tượng đá tách khỏi bờ biển tại TM42   H.3: Các vách xâm thực tại TM56

Nhận xét:

– Thuộc bờ Tây, các tế bào có kiểu bờ KB_3 càng dài thì xói lở càng mạnh (TB_T6 xói lở với tốc độ 1,6 m/năm, TB_T2 là 1,4 m/năm, TB_T5 là 1,2 m/năm và TB_T3 là 1,1 m/năm) hay nói cách khác các tế bào có khoảng cách giữa các mũi nhô càng ngắn thì xói lở càng yếu (TB_T1 và TB_T7).

– Bồi tụ chỉ xuất hiện hạn chế ở cửa sông Cửa Cạn và Dương Đông thuộc tế bào TB_T4 và TB_T5, nơi có vật liệu được cung cấp từ các lưu vực có diện tích rộng, chiều dài dòng chảy lớn.

Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ Tây được trình bày trên H.4 và Bảng 1.

H. 4: Xói lở, bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Tây
Bảng 1. Tốc độ xói lở-bồi tụ bờ biển trung bình các tế bào bờ Tây

I. 2 Bờ Đông – bồi tụ ưu thế

Hầu hết bờ biển thuộc các tế bào bờ Đông bồi tụ, lớn nhất là bờ biển tế bào Hàm Ninh (TB_Đ3). Bờ biển tế bào Hàm Ninh phân bố từ mũi Gành Giao đến mũi Đền Phách (H.5), dài 16,5 km, gồm 2 kiểu bờ là KB_1 và KB_4.

– Kiểu bờ KB_1: dài 6,0 km, xói mòn yếu đến rất yếu tại các mũi đá gốc nhô ra biển.

– Kiểu bờ KB_4: dài 10,5 km, bờ biển bồi tụ mạnh tạo nên các bãi bồi rộng (H.6), có nơi lấn mạnh ra biển như mũi Dương (H.7).

H.5: Tế bào bờ biển Hàm Ninh (TD_ Đ3)
H.6: Bờ bồi tụ tại bãi Hàm Ninh (ĐM31)    H.7: Bãi bồi tại Mũi Dương (ĐM36)

Trên ảnh viễn thám thấy rất rõ các dải cát ngầm gần như song song với đường bờ biển, kéo dài và mở rộng từ mũi Đá Bạc đến mũi Dương (H.8). Sự phân bố các dải bồi tụ này cho thấy tác động của sóng hướng Đông chiếm ưu thế, nguồn cấp trầm tích chủ yếu từ rạch Hàm Ninh và rạch Cá.

H. 8: Bồi tụ tại tế bào Hàm Ninh (TD_ Đ3)

Nhận xét:      

– Ngoại trừ các mũi nhô đá gốc thuộc kiểu bờ KB_1 (xói mòn yếu), kiểu bờ KB_5 và KB_4 (bồi tụ) có mối liên quan rõ rệt với diện tích lưu vực. Ba tế bào phía Bắc (TB_Đ1, TB_Đ2) có tốc độ bồi tụ trung bình đến mạnh, trong đó lớn nhất là tế bào Hàm Ninh (> 1,0 m/năm), nơi có diện tích lưu vực lớn hơn.

– Các tế bào phía Nam (TB_Đ4, TB_Đ5, TB_Đ6) có tốc độ bồi tụ yếu hơn do nguồn cung cấp vật liệu hạn chế, lưu vực nhỏ, độ dốc thấp.

Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ Đông được trình bày trong H.9 và Bảng 2.

H.9: Xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Đông
Bảng 2. Xói lở-bồi tụ bờ biển trung bình các tế bào bờ Đông

I.3 Bờ Bắc – xói lở và bồi tụ yếu

Bờ biển Bắc có tốc độ xói mòn rất yếu tại các bờ đá gốc (KB_1) và bồi tụ yếu (< 0,5 m/năm) tại cửa rạch Vẹm và rạch Tràm (kiểu bờ KB_5). H.10 biểu diễn xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Bắc.

H.10: Xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Bắc

I.4 Bờ Nam – ổn định

Bờ biển thuộc tế bào TB_N1 có mức xói lở và bồi tụ yếu, nhiều đoạn bờ ổn định do được bảo vệ bởi các bờ kè bê tông. H.10 biểu diễn xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Nam.

H.11: Xói lở – bồi tụ bờ biển tế bào bờ Nam

II. Nhận xét chung

Bờ biển đảo Phú Quốc dài 153,3 km, trong 40 năm qua (1973-2013), xói lở ưu thế với tổng chiều dài là 100,8 km chiếm 65,8 %.

– Bờ Tây dài 54,0 km, xói lở 52,3 km (97 %), trong đó xói lở kiểu KB_3 là 27,8 km (51,5 %)

– Bờ Đông dài 66,9 km, bồi tụ 40,1 km (60 %), xói lở yếu tại các mũi nhô.

– Bờ Bắc có tốc độ xói mòn yếu tại các bờ đá gốc và bội tụ hạn chế tại các cửa sông nhỏ.

– Bờ Nam khá ổn định do được bảo vệ bởi các công trình bờ biển.

Tổng hợp kết quả nghiên cứu xói lở, bồi tụ bờ biển đảo PQ được trình bày trên H. 12, H. 13 và Bảng 3.

H. 12: Xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc
Bảng 3 Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc
H.13: Xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc

Dòng sông đầu tiên trên thế giới được đối xử như người

Sông Whanganui ở New Zealand được công nhận là một “thực thể sống”, trở thành dòng sông đầu tiên trên thế giới hưởng những quyền lợi pháp lý như một con người.

Theo NZ Herald, quyết định vô tiền khoáng hậu được quốc hội New Zealand thông qua hôm 15/3, kết thúc vụ kiện tụng dai dẳng nhất lịch sử nước này về mối quan hệ giữa cộng đồng người Iwi, một tộc người Maori, và dòng sông Whanganui.

Người Iwi đã đấu tranh để dòng sông được công nhận tư cách pháp nhân như hiện tại trong suốt 160 năm. Dòng sông giờ đây sẽ được đại diện về quyền và lợi ích hợp pháp bởi 2 cá nhân: một đến từ cộng đồng Iwi và một là đại diện hoàng gia.

“Tôi biết ấn tượng đầu tiên của một số người là cảm thấy vô cùng kỳ lạ khi trao cho một thành phần của tự nhiên tính chất con người về mặt pháp luật”, Bộ trưởng Đàm phán Hiệp ước Chris Finlayson nói. “Song chẳng có gì lạ hơn niềm tin của gia đình, hay các nhóm người, các xã hội gắn kết”.

Sông Whanganui được cư dân bản địa sùng bái. Ảnh: Radio New Zealand.

Quyết định của quốc hội New Zealand cũng bao gồm 80 triệu USD đền bù tài chính và 30 triệu USD gây quỹ nhằm cải thiện “sức khỏe” của dòng sông.

BBC tường thuật cộng đồng người Maori tại quốc hội New Zealand đón nhận tin vui trong nước mắt và âm nhạc.

“Dưới góc nhìn của một người sống ở Whanganui, tình trạng tốt đẹp của dòng sông liên quan trực tiếp đến hạnh phúc, thịnh vượng của người dân và vì vậy việc công nhận dòng sông đúng như bản chất của nó là điều quan trọng”, nghị sĩ Adrian Rurawhe nói.

Với người Maori, việc đối xử với một dòng sông như một con người là chuyện bình thường. Điều đó được phản ánh qua câu tục ngữ nổi tiếng của họ: “Tôi là sông và sông là tôi”.

Sông Whanganui là dòng sông dài thứ 2 ở New Zealand. Đây không phải là lần đầu tiên nước này trao tư cách pháp nhân cho một thành phần tự nhiên. Năm 2013, vườn quốc gia Tu Urewera cũng được công nhận tương tự.

Hành trình dòng sông được công nhận là ‘người’ ở New Zealand, Con sông dài thứ 2 New Zealand – sông Whanganui, vừa được quốc hội nước này công nhận là “con người hợp pháp”.

(Theo NZ Herald, Zing)

BÀI 1:TẾ BÀO BỜ BIỂN VÀ KIỂU BỜ BIỂN ĐẢO PHÚ QUỐC

Lê Hoài Nam, Hà Quang Hải

Đọc loạt bài điều tra xuyên quốc gia “Đường đi của cát Việt ra nước ngoài” trên báo tuổi trẻ mấy số gần đây, thật sự không thể tưởng tượng nổi về hoạt động khai thác và nạo vét cát biển đang diễn ra tại một số nơi.

Cát biển là vật liệu phản ánh sự cân bằng động lực biển. Bờ biển bị xói lở về cơ bản là do sự thiếu hụt nguồn cấp trầm tích, nhất là trong điều kiện mực nước biển dâng. Việc khai thác cát sẽ gia tăng sự thiếu hụt trầm tích dẫn đến xói lở bờ biển sẽ trầm trọng hơn.

Trong khi bờ biển, bờ đảo của chúng ta ở nhiều nơi đang bị thu hẹp dần do sự xâm lấn của biển; nhiều tỉ đồng phải đầu tư để xây dựng các công trình chống xói lở, vậy tại sao lại có hoạt động mang cát biển của Việt Nam đi bán?

Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc cho thấy xói lở bờ biển đã gia tăng từ nhiều năm qua, nhất là bờ tây đảo.

I.Tế bào bờ biển

1. Khái niệm

Tế bào bờ biển (TBBB) là một đơn vị tương đối khép kín nơi mà trầm tích lan truyền trong đó. Mỗi TBBB chứa một chu kỳ trầm tích đầy đủ bao gồm các nguồn, đường vận chuyển và bồn chứa. Bờ biển có thể được phân chia thành một số TBBB với ranh giới là các mũi đá nhô tự nhiên (hoặc các mỏ hàn dài – mũi nhô nhân tạo). Mỗi TBBB có một quá trình vật lý độc lập [1].

Áp dụng qui luật của TBBB là rất cần thiết cho việc thiết lập một quỹ trầm tích (Sediment Budget), tức là một sự cân bằng khối lượng đầu vào và đầu ra của trầm tích cho TBBB. Các nguồn trầm tích đầu vào có thể là sông, vận chuyển về phía bờ từ trầm tích biển ngoài khơi và từ các tế bào lân cận thông qua dòng dọc bờ (H. 1) hoặc sự can thiệp của con người (thông qua hoạt động nuôi bãi). Các TBBB cũng bị mất vật liệu theo những cách khác nhau, bao gồm bị bẫy trong các hẻm sâu ngoài khơi, được vận chuyển đến các cửa sông, đầm phá và biển nội địa hoặc do khai thác của con người. Các dòng dọc bờ cũng có thể vận chuyển trầm tích đến các tế bào lân cận.

Hình 1. Tế bào bờ biển và các hướng vận chuyển, trao đổi trầm tích (Nguồn: [1])
H. 1  Nhận thức về tế bào bờ biển (Nguồn [1])
Đọc tiếp “BÀI 1:TẾ BÀO BỜ BIỂN VÀ KIỂU BỜ BIỂN ĐẢO PHÚ QUỐC”

Đồng bằng Sông Cửu Long: Những thách thức hiện nay và ngày mai

Hiện nay và trong thời gian tới, ĐBSCL phải đương đầu với ít nhất hai thách thức toàn cầu, một thách thức khu vực và một thách thức từ chính sự khai thác đồng bằng. Toàn cầu, đó là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế. Các thách thức đó không tác động riêng lẻ mà cùng nhau và liên hoàn tác động, nhân lên hậu quả của các tác hại là thách thức tổng hợp đối với sự phát triển bền vững của đồng bằng.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở ngoài cùng của châu thổ sông Mekong giáp với biển, được hình thành từ khoảng 6000 năm nay, từ trầm tích mà sông Mekong tải ra biển cộng với quá trình biển lùi. Nước và trầm tích là hai yếu tố thuộc về bản chất của đồng bằng.

Là một châu thổ trẻ, mẫn cảm với các tác động từ bên ngoài và từ bên trong, đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng và từ việc sử dụng nguồn nước từ thượng nguồn. Gọi là kép vì hai tác động này không tách biệt nhau mà quyện vào nhau1.

Hệ lụy từ việc khai thác Đồng bằng Sông Cửu Long

Sau năm 1975, Việt Nam bắt tay vào quy hoạch khai thác ĐBSCL. Các vấn đề cần hiểu rõ và giải quyết cho được và đúng quy luật, là phèn, chua và mặn để khai thác ba tiểu vùng đất rộng người thưa lúc bấy giờ là Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau.

Thách thức khi đó đối với đồng bằng, đặc biệt trong ba tiểu vùng, là vào mùa mưa thì thừa nước, lũ ngập mênh mông, nhưng vào mùa khô thì thiếu nước trầm trọng, đất nứt nẻ, phèn xì lên từ những lớp đất phèn bên dưới bị oxy hóa. Lại thêm vào mùa khô, nước mặn theo triều xâm nhập sâu vào đồng bằng. Đầu mùa mưa, phèn được rửa, chảy vào kênh rạch kéo độ pH xuống thấp. Phải chờ cho đất bớt phèn mới canh tác lúa được.

Ở Việt Nam, không có “Vạn lý trường thành” nhưng ĐBSCL có “Vạn lý đường kênh”. Chỉ tính riêng trong tiểu vùng Đồng Tháp Mười và tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên, từ năm 1975 đến cuối thập niên 1990, hơn hai vạn km kênh các loại đã được đào, để “ém phèn” cắt đứt oxy hóa các tầng jarosite và pyrite, để thau chua, rửa mặn và đưa phù sa sông Mekong vào sâu trong Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. (Hình 1).

Hình 1. Mạng lưới kênh rạch ở ĐBSCL năm 1964 (trái) và năm 2011 (phải).
Hình 1. Mạng lưới kênh rạch ở ĐBSCL năm 1964 (trái) và năm 2011 (phải).

Một mặt khác, chính quyền các cấp và nhân dân cũng đã xây dựng rất nhiều cống ngăn mặn, nhằm giữ ngọt và “ngọt hóa” những vùng bị nhiễm mặn như các vùng Gò Công, Nam Măng Thít, sông Ba Lai, vùng trung tâm của Bán đảo Cà Mau, … Mục đích là để tăng diện tích canh tác lúa hai vụ nơi nào có thể.

Cái giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ “vựa lúa của cả nước” là diện tích rừng tràm biến mất nhanh chóng trong Đồng Tháp Mười, trong Tứ giác Long Xuyên và tại rừng U Minh (Thượng và Hạ). Hơn thế nữa các vùng trũng bị “chắt nước” cạn để tăng vụ. (Hình 2). Mất rừng là mất nước. Chắt cạn nước chứa đựng nguy cơ mực nước thủy cấp trong khu vực sẽ xuống thấp khi nước sông Mekong về đồng bằng không còn dồi dào như trước nữa.

Hình 2. Diễn biến của Đồng Tháp Mười năm 1979 (trái) và năm 2005 (phải).
Hình 2. Diễn biến của Đồng Tháp Mười năm 1979 (trái) và năm 2005 (phải).

Không ngừng lại ở hai vụ, nhiều tỉnh, bắt đầu từ An Giang, Đồng Tháp, bao đê vượt lũ để làm lúa vụ ba từ những năm 1990. Tổng diện tích lúa vụ ba có đến trên 300.000 ha. Tăng thêm thu nhập được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong thì độ phì của đất giảm sút, môi trường suy thoái.

Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, kể cả thủy sản biển còn khiêm tốn trong thập niên 1980. Nay, diện tích nuôi tôm lớn lên từng ngày. Quy hoạch diện tích nuôi tôm cho năm năm đã được các tỉnh ven biển từ Bến Tre đến Kiên Giang hoàn thành trong một đến hai năm, thậm chí có nơi còn nhanh hơn. Có cả những cống ngăn mặn trước đây được xây để canh tác lúa, bị bửa ra để lấy nước mặn nuôi tôm. Có nhiều cống ngăn mặn trong vùng ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được mở ra để cho nước mặn vào các vuông tôm trong vùng ngọt hóa.

Cái giá phải trả còn là mất rừng ngập mặn để đào vuông nuôi tôm. Thiếu nước ngọt để giữ độ mặn trong ao phù hợp cho nuôi tôm, nước ngầm đã được bơm lên. Ở một số nơi trong vùng đã ngọt hóa, người dân còn khai thác nước ngầm mặn để đảm bảo độ mặn trong vuông cho tôm phát triển.

Hình 3. Diễn biến rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh vệ tinh từ trái qua phải 1973, 1983 và 2010.
Hình 3. Diễn biến rừng ngập mặn ở Cà Mau. Ảnh vệ tinh từ trái qua phải 1973, 1983 và 2010.

Có phải chúng ta đã hiểu hết về đồng bằng, hiểu rõ những phản ứng của vùng đất này để khai thác nó đúng quy luật? Tôi cho là chưa. Tiếp tục theo dõi, điều tra nghiên cứu (không chỉ về khoa học tự nhiên mà còn cả về kinh tế xã hội) vẫn là cần thiết. Nếu không, lợi sẽ bất cập hại, cái lợi trước mắt sẽ không bù được cái hại trong trung và dài hạn về tài nguyên nước và môi trường nói chung. Nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ môi trường, một cột trụ của phát triển bền vững là một thách thức khác.

Những thách thức hiện nay và ngày mai

Châu thổ sông Mekong được đánh giá là một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu. Trái đất càng ấm lên, băng tan càng nhanh, ĐBSCL càng phải đối đầu với ngập, lún chìm, bờ biển bị xâm thực và mặn ngày càng xâm nhập vào sâu. Trong bối cảnh bị đe dọa như vậy, thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế buộc nền kinh tế đồng bằng phải có sức cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thách thức khu vực đó là việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, trong đó có việc chuyển nước sang lưu vực sông khác, và nhất là việc khai thác thủy điện trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống trong khi nhu cầu về nước ngày càng tăng.

Theo Ủy hội sông Mekong (MRC) (2009), sáu đập thủy điện của Trung Quốc + 11 đập ở hạ lưu vực + 30 đập trên các chi lưu sẽ tích lại một lượng nước của sông Mekong vào năm 2030 là 65,5 tỷ m3 trong khi đó nhu cầu về nước trong hạ lưu vực vào năm này sẽ tăng 50% so với năm 2000.

Nhóm chuyên gia về trầm tích, trong Phụ lục của Báo cáo SEA của MRC đã đánh giá: “Tác động của các đập của Trung Quốc đối với trầm tích sông Mekong là rất to lớn, trong hàng trăm năm, một khi tất cả các đập đi vào hoạt động. Lượng trầm tích của sông Mekong ước tính sẽ bị các đập Trung Quốc giữ lại vào khoảng từ ⅓ đến ½ của tổng lượng trầm tích bình quân chảy về châu thổ sông Mekong”2.

Các đập thủy điện giữ lại trầm tích trong hồ, gây nên thâm hụt trong cán cân trầm tích ở hạ du, làm thay đổi địa mạo lòng sông, đáy sông, cửa biển. Sự sạt lở nghiêm trọng đê biển ở Gành Hào, đường phòng hộ ven biển ở Bạc Liêu mà tôi vừa chứng kiến trong tháng 2.2016 là một minh họa cụ thể của tác động kép lên đồng bằng từ biến đổi khí hậu và từ khai thác nguồn nước ở thượng nguồn.
Trong thách thức khu vực, còn có việc xây dựng 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong ở hạ lưu vực (chín trên đất Lào và hai trên lãnh thổ Campuchia), và dự án của Thái Lan chuyển một lượng nước từ sông Mekong sang lưu vực sông Chao Phraya.

Tác động kép sẽ càng mãnh liệt hơn. Đồng bằng bị đe dọa trong chính sự tồn tại của mình.
Thách thức tại địa bàn, ngoài việc mất rừng ngập mặn và rừng tràm, còn là việc khai thác cát trên sông Tiền, sông Hậu, làm trầm trọng thêm sự thâm hụt cán cân trầm tích3; là việc khai thác quá mức nước ngầm làm mặt đất sụt lún kéo theo mực nước biển dâng thực tế ngày càng nhanh hơn4,5. Hình 4) còn là phát triển nông nghiệp vẫn thiên về chiều rộng hơn chiều sâu, vẫn thiên về số lượng hơn chất lượng, dẫn đến lãng phí tài nguyên, đặc biệt tài nguyên đất và tài nguyên nước.

Hình 4. Khai thác cát, sỏi và cuội trong hạ lưu vực.
Hình 4. Khai thác cát, sỏi và cuội trong hạ lưu vực.

Thách thức tại địa bàn còn do năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực rất thấp, là cơ giới hóa và hạ tầng cơ sở chưa tương xứng với tiềm năng của đồng bằng và nhất là do thiếu một cơ chế phát triển vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả vùng; do thiếu sự liên kết chuỗi nên giá trị các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam thấp, sức cạnh tranh yếu.

Hình 5. Tốc độ tụt của mực nước ngầm (trái) và tốc độ sụt lún bề mặt của đồng bằng (phải).
Hình 5. Tốc độ tụt của mực nước ngầm (trái) và tốc độ sụt lún bề mặt của đồng bằng (phải).

Hành động

1.Đã đến lúc sáu nước trong lưu vực phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực, với tinh thần hợp tác để cùng phát triển. Hội nghị cấp cao hợp tác Mekong – Lan Thương lần thứ nhất tại Tam Á (Trung Quốc) liên quan đến sử dụng nguồn nước sông Mekong ngày 23.3.2016 là bước đi đầu tiên, cần được thể hiện bằng những hành động, dự án cụ thể, chân thực đúng với tinh thần này.

2. Các bộ, Ủy ban Quốc gia sông Mekong, cùng các nhà khoa học cần phát hiện, theo dõi, đánh giá tác động của các dự án khai thác nguồn nước ở thượng nguồn từ khi chúng mới manh nha, chỉ ra kịp thời các tác hại để chính phủ có cơ sở đàm phán vì lợi ích của đồng bằng và vì lợi ích của cả lưu vực.

3.Hơn bao giờ, trong bối cảnh mới, phải rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, và các quy hoạch phát triển ngành, địa phương theo hướng phải tiết kiệm nước ngọt, chung sống với hạn và mặn, khai thác nước mặn như là một tài nguyên như nhiều nước đã làm thành công, đảm bảo nước ngọt cho sinh hoạt của người dân. Mô hình phát triển ở đồng bằng phải chuyển dần, nhưng tích cực nhất có thể được, sang chiều sâu. Mảng công việc này đang chờ đợi sự cống hiến của các nhà khoa học.

4.Các bộ, các địa phương phải phối hợp chặt chẽ với nhau để đối diện với các thách thức. Vấn đề đổi mới thể chế và xác định cơ chế phối hợp là bức thiết.

5.Hơn bao giờ, về cơ chế, sự liên kết chuỗi, liên kết vùng, phát triển kinh tế vùng là bức thiết. Để phát triển bền vững, phải giải quyết tình trạng đồng bằng đang là vùng trũng về giáo dục. Cần đầu tư nhiều hơn nữa cho hạ tầng cơ sở ở đồng bằng.

Sau hội nghị COP 21, nhiều nước sẵn sàng góp sức cùng Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu. Khai thác có hiệu quả hay không sự sẵn sàng này tùy thuộc ở chúng ta.

——–
* GS.TSKH. Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chuyên gia cao cấp Hội đồng Chính sách KH&CN QG.

1 Nguyễn Ngọc Trân, 2010, Tác động kép của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long, Hội thảo khoa học “Khoa học Địa lý và vấn đề biến đổi khí hậu: nghiên cứu và giảng dạy”, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, trong Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, trang 132-151, Nhà XB Trẻ, 2011.

2 C.Thorne, G.Annandale, J.Jensen, Review of Sediment Transport, Morphology, and Nutrient Balance, Part of The MRCS Xayaburi Prior Consultation Project Review Report, March 2011.
3 J.P. Bravard, M. Goichot, S. Gaillot, Geography of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River, First Survey and Impact Assessment, EchoGeo, 26 (2013), 10-12.2013.

4 J.P. Ericson, C.J. Vorosmarty, S.L. Dingman, L.G. Ward, M. Meybaeck. Effective sea-level rise and deltas: Causes of change and human implications. Global and Planetary Change, vol. 50, Issues 1-2, pp. 63-82, 02.2006.

5 Laura E Erban, Steven M Gorelick and Howard A Zebker, Groundwater extraction, land subsidence, and sea-level rise in the Mekong Delta,Vietnam  Environ. Res. Lett. 9 (2014) 084010 (6pp).

Nguồn: http://tiasang.com.vn/-dien-dan/dong-bang-song-cuu-long-nhung-thach-thuc-hien-nay-va-ngay-mai-9531

4 thách thức đe dọa đồng bằng sông Cửu Long

Toàn cầu hóa kinh tế, tác động kép từ biến đổi khí hậu, phát triển các dự án thiếu trách nhiệm trên dòng Mekong và khai thác bất hợp lý tài nguyên đang đe dọa sự tồn tại của miền Tây.

Các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước đưa ra nhận định trên khi đánh giá các thách thức đã và đang diễn ra đối với đồng bằng sông Cửu Long.

Vắt kiệt nước vùng trũng để tăng vụ

Nằm ở tận cùng của châu thổ sông Mekong, đồng bằng sông Cửu Long được hình thành khoảng 6.000 năm nay từ trầm tích của dòng sông này chảy ra biển cộng với quá trình biển lùi.

Sau 1975, Việt Nam bắt tay vào quy hoạch và khai thác vùng đất này. Các vấn đề cần hiểu rõ, giải quyết cho được và đúng quy luật để khai thác 3 tiểu vùng “đất rộng người thưa” Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau là: phèn, chua và mặn.

Việt Nam vượt qua khá thành công thách thức này. Cụ thể là sau một thời gian quyết liệt đầu tư khai phá, miền Tây có “vạn lý đường kênh” cho phép ém phèn để canh tác lúa, tháo chua, rửa mặn. Mặt khác, chính quyền và người dân xây dựng nhiều cống ngăn mặn, giữ ngọt và ngọt hóa những vùng nhiễm mặn. Mục đích là để tăng diện tích lúa 2 vụ… Tổng sản lượng lúa năm 1986 của đồng bằng sông Cửu Long khoảng 7 triệu tấn, nay xấp xỉ 25 triệu tấn, chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước.

Theo GS Nguyễn Ngọc Trân (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Chuyên gia cao cấp của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia), cái giá phải trả cho nỗ lực đẩy mạnh sản xuất lúa gạo, làm tròn nhiệm vụ “vựa lúa của cả nước” là diện tích rừng tràm biến mất nhanh chóng ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, tại vùng U Minh Thượng và Hạ.

“Các vùng trũng bị chắt nước để tăng vụ, chứa đựng nguy cơ mực nước thủy cấp trong khu vực sẽ hạ thấp khi nước Mekong về đồng bằng không dồi dào như trước”, GS Trân nói.

Tiếp tục tăng trưởng theo chiều rộng, từ những năm 1990, nhiều địa phương trong vùng, bắt đầu từ An Giang, Đồng Tháp… bao đê vượt lũ để làm lúa vụ 3 với tổng diện tích có khi đến 600.000 ha. “Tăng trưởng được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong đê thì độ màu của đất giảm sút, môi trường suy thoái”, GS Trân chỉ rõ.

Quy hoạch diện tích nuôi tôm 5 năm được các tỉnh ven biển hoàn thành trong một, hai năm. Nhiều cống ngăn mặn bị tháo ra để lấy nước mặn nuôi tôm…. Rừng ngập mặn bị mất dần; đáng quan ngại nhiều nơi trong vùng ngọt hóa, người dân khoan giếng bơm nước ngầm mặn lên nuôi tôm…

Những thách thách đe dọa miền Tây

GS Trân nêu rõ: “Hiện nay và trong thời gian tới, miền Tây phải đương đầu với ít nhất 4 thách thức cấp toàn cầu, khu vực và chính trong sự khai thác của đồng bằng“.

Hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở miền Tây làm hàng trăm nghìn ha lúa bị thiệt hại. Chuyên gia xác định ngoài biến đổn khí hậu, các đập thủy điện ở Trung Quốc, Lào, Campuchia không thể ngoài cuộc. Ảnh: Cửu Long
Hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng ở miền Tây làm hàng trăm nghìn ha lúa bị thiệt hại. Chuyên gia xác định ngoài biến đổi khí hậu, các đập thủy điện ở Trung Quốc, Lào, Campuchia không thể ngoài cuộc. Ảnh: Cửu Long

Đọc tiếp “4 thách thức đe dọa đồng bằng sông Cửu Long”

Năm Dậu vài nét về gà trong Địa môi trường

Tản mạn về gà

Từ lâu, gà luôn xuất hiện trong đời sống văn hóa nhiều nước trên thế giới. Từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, gà đã trở thành biểu tượng xuyên văn hóa, mang sức mạnh biểu trưng cho ý niệm đa diện, đa chiều về vũ trụ, thiên nhiên, nhân sinh, tâm linh, nhân tính. Danh xưng “gà” đã đi vào ngôn ngữ đời sống qua lời ăn, tiếng nói hằng ngày, qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao và trở thành hình tượng đặc sắc, sinh động trong nhiều sáng tác văn chương Việt.

Năm nay “Tản mạn về gà” có nhiều bài hay như: Năm Dậu nói chuyện gà http://vanvn.net/tim-toi-the-nghiem/nam-dau-noi-chuyen-ga/1092; Chuyện vui: Tết Đinh Dậu – tản mạn chuyện… gà (http://pcbinhdinh.com.vn/detail.aspx?ChannelID=12&ID=1512); Bí mật chưa biết về gà (http://suckhoedoisong.vn/bi-mat-chua-biet-ve-ga-n127152.html)…

Văn – Võ – Dũng – Nhân – Tín

Trong văn hóa Việt Nam, gà trống là biểu tượng của 5 phẩm chất tốt đẹp:

– Gà trống có mào trên đỉnh đầu, cùng 2 cái mào ở dưới giống như chiếc mũ cánh chuồn của các Tiến sỹ thời xưa, biểu tượng cho Văn.

– Cựa gà như thứ vũ khí, tượng trưng cho .

– Gà trống luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đàn của mình, biểu tượng cho Dũng.

– Gà trống đầu đàn khi được ăn thì luôn gọi cả đàn đến chứ không ăn một mình, tượng trưng cho chữ Nhân.

– Mỗi buổi sáng sớm, gà trống luôn cất tiếng gáy đúng canh, tượng trưng cho sự Tín.

Nguồn: Internet
Nguồn: Internet

Đọc tiếp “Năm Dậu vài nét về gà trong Địa môi trường”

Các hòn đá chạm khắc ở Peru: Một thư viện thời tiền sử?

Cormelia Ritter, Epoch Times

Thoạt nhìn, Ica, một thị trấn nhỏ bé ở Peru tọa lạc trên sa mạc Nazca, cách thủ đô Lima 5 giờ xe buýt, không có bất cứ điều gì ấn tượng. Nhưng ngay khi bước chân vào Bảo tàng Cabrera, nơi trưng bày những hòn đá chạm khắc của Ica, một thế giới hoàn toàn khác biệt sẽ hiện lên trước tầm mắt.

Hơn 10.000 hòn đá với kích thước khác nhau được trưng bày chật kín trong bảo tàng. Chúng đều có một bề mặt trơn nhẵn, màu đen, bên trên chạm khắc các hình tượng. Khi nhấc chúng lên, bạn sẽ cảm nhận thấy chúng nặng hơn rất nhiều so với những hòn đá  cùng kích cỡ thông thường.

Hình vẽ trên hòn đá này cho thấy một con khủng long đang ăn thịt một người, khiến một số người cho rằng con người đã có mặt trên Trái Đất từ 65 triệu năm trước (thời đại khủng long). (Ảnh: Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Hình vẽ trên hòn đá này cho thấy một con khủng long đang ăn thịt một người, khiến một số người cho rằng con người đã có mặt trên Trái Đất từ 65 triệu năm trước (thời đại khủng long). (Ảnh: Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Bao phủ trong một loại chất liệu: Những hòn đá Ica là loại đá andexit được phủ một lớp chất liệu chưa được xác định. (Ảnh: Tư liệu của Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)
Bao phủ trong một loại chất liệu: Những hòn đá Ica là loại đá andesit được phủ một lớp chất liệu chưa được xác định. (Ảnh: Tư liệu của Eugenia Cabrera/Museo Cabrera)

Đọc tiếp “Các hòn đá chạm khắc ở Peru: Một thư viện thời tiền sử?”