HÔM NAY QUỐC HỘI DỪNG DỰ ÁN ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN

Trước chủ trương xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận đã có hai luồng ý kiến, cả tán thành và không tán thành. Thế rồi Quốc hội đã biểu quyết thông qua chủ trương đầu tư dự án vào ngày 25 tháng 11 năm 2009. Hôm nay ngày 22 tháng 11 năm 2016, thiếu 3 ngày là tròn 7 năm, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc dừng dự án điện hạt nhân Ninh Thuận trong phiên họp kín.

Hỏi một cán bộ công tác tại Ninh Thuận (là học trò cũ) cảm nhận về việc Quốc hội dừng dự án điện hạt nhân, câu trả lời thật ngắn gọn: Mừng quá thày ơi!

Mô hình nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Nguồn internet
Mô hình nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Nguồn internet

Dự án được xây dựng trên nền mạo hiểm quá lớn

Đã có những ý kiến của chuyên gia hạt nhân, đại biểu quốc hội về việc chưa nên triển khai dự án nhà máy điện hạt nhân vì nhiều lý do: Việt Nam phải dựa vào nước ngoài, từ nhân lực, nguyên liệu, vốn đầu tư (75-85% phải vay), đến thiết bị công nghệ…Dưới đây là một trong những ý kiến đó [1].

“Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn) phát biểu, không tán thành chủ trương đầu tư dự án trong lúc này vì Việt Nam chưa đủ tiềm lực, chưa sẵn sàng làm điện hạt nhân. Nguồn nguyên liệu Uranium để hoạt động trong 10 năm đầu trông chờ hoàn toàn vào nước ngoài, theo đại biểu phân tích là quá bấp bênh.

Không thể coi những thanh nguyên liệu này như các loại hàng hóa khác. Có 100 lý do đối tác có thể đưa ra để không bán và 101 lý do khác để trì hoãn bán. Về giá bán, giai đoạn đầu theo tính toán cần đến 900 triệu USD mua nguyên liệu và cứ sau 18 tháng lại thêm 320 triệu USD nữa”, ông Thuyết lo lắng về bài toán giá thành. Hội đồng thẩm định quốc gia ước tính, giá bán điện hạt nhân sẽ cao gấp 3 lần giá điện hiện tại, không cạnh tranh, có đáng để bỏ tiền xây dựng nhà máy?

Việt Nam hiện chỉ có khoảng 30-40 nhân lực nắm được về điện hạt nhân. 10 năm nữa nhà nước có chuẩn bị được đủ ít nhất 1000 cán bộ nhân viên để vận hành 1 nhà máy?. Đại biểu Thuyết cho rằng, dự án được xây dựng trên nền mạo hiểm quá lớn. “Cho đến giờ phút này tôi không dám bấm nút để thông qua dự án” – ông Thuyết chốt lại. Đọc tiếp “HÔM NAY QUỐC HỘI DỪNG DỰ ÁN ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN”

ĐẾN CAO NGUYÊN LÂM VIÊN MÙA HOA DÃ QUÌ 2016

Bao quanh sân bay là cánh đồng hoa dã qùi
Bao quanh sân bay là cánh đồng hoa dã qùi
Sân bay Liên Khương được thiết kế theo hình ảnh hoa cúc quỳ (dã quì), loài hoa đặc trưng của cao nguyên Lâm Viên.
Sân bay Liên Khương được thiết kế theo hình ảnh hoa cúc quỳ (dã quì), loài hoa đặc trưng của cao nguyên Lâm Viên.
Đồi trà Cầu Đất, Xuân Trường
Đồi trà Cầu Đất, Xuân Trường

Đọc tiếp “ĐẾN CAO NGUYÊN LÂM VIÊN MÙA HOA DÃ QUÌ 2016”

Tổng hợp những ý kiến phản biện của một số chuyên gia, nhà khoa học Hóa học và Môi trường

Nguyễn Đức Thắng, ngày 18/11/2016, ndthangndt@yahoo.com

Kính gửi những người yêu môi trường và khoa học,

Liên quan đến sự cố môi trường, nguyên nhân cá chết và độc học, tôi đã viết tất  cả 5 bài; mục đích cho một phổ rộng người đọc với những chuyên ngành khác nhau có thể tự đưa ra kết luận đúng sai,  trong đó có bài    “Cần trả lại chân lý khoa học cho  Kết luận về nguyên nhân cá chết”.  Tôi  cũng  đã in gửi  các  lãnh đạo một số  cơ quan Bộ, ngành liên quan. Chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng, xã hội dân chủ và kỷ nguyên thông tin, Internet. Sau gần 3 tháng tôi đã nhận được một số ý kiến phản hồi. Trước tiên tôi xin chân thành cám ơn tất cả bạn đọc đã bớt chút thời gian quí báu của mình để đọc những bài tôi viết. Tôi có nhiều bạn bè  làm việc ở những chuyên môn như kinh tế,  điện tử, công nghệ thông tin, tài chính v.v.. đọc sẽ bị vất vả.  Trong các bài viết đó tôi đã trình bầy  khá  nhiều qui luật, chân lý, định nghĩa, qui chuẩn, thực tiễn  và thông lệ của thế giới rất là thú vị,  bạn nào thích nên đọc chậm một vài lần, sẽ có “vốn” để tự mình có thể giải thích một số hiện tượng xảy ra trong môi trường.   Ví dụ: Biển  mênh mông và đại dương gồm 96,7% là nước tinh khiết (H2O), 3% là muối ăn (NaCl), được sóng thủy triều và các dòng hải lưu xáo trộn đồng đều  với phần còn lại 0,3% cho tất tật mọi chất khác mà loài người đã đổ vào cả ngàn năm nay.  Vì vậy, ra biển mênh mông thì không nên nói đến nồng độ của một độc tố nào đó làm cá chết tức tưởi được. Hay có một qui tắc vàng trong nhân dân “Một chất độc hay không độc còn tùy thuộc vào nồng độ của nó”.  Hay nồng độ oxy hòa tan (DO) trong nước ao, hồ,  biển  vào  buổi  tối  thường  rất  nhỏ,  trong  khoảng  0,0002%  –  0,0004%  (2ppm  –4ppm, phần triệu),  luôn là yếu tố sinh thái  giới hạn (ecological limiting  factor. “khắc tinh”)  của  mọi  loài  tôm  cá.  Chỉ  cần  có  một  yếu  tố  nào  đó  “ăn”  cạn  kiệt  oxy  về 2,5ppm (hay mg/L, nồng độ của vùng dead zone) thì  sáng hôm sau sẽ thấy  cá chết nổi trắng mặt hồ. Tôi muốn kết thúc/khép lại vấn đề này bằng phần tổng hợp nguyên văn những ý kiến phản đối và ủng hộ của  một số  chuyên gia, nhà khoa  học Hóa học và Môi trường, trong đó có cả ý kiến của Bộ trưởng TN&MT (tôi để ở dưới cùng).

I.Ý kiến phản đối:

Duy nhất chỉ có 1. Đó là của GS.TS Phạm Hùng Việt,  Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Công nghệ Môi trường và Phát triển bền vững  (Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội),  là Phó Chủ tịch của Hội đồng KH&CN quốc gia về xác định nguyên  nhân  cá  chết;  là  tác  giả  của  “Tấm  chăn  di  động  hút  nhả  độc  tố  phenol  và xianua” làm cá chết. GS.TS Việt  có  biết tôi học chuyên sâu về  “quantum chemistry” (Hóa lượng tử) và có giai đoạn làm việc tại MPI (Bộ KH&ĐT). Dưới đây là  toàn văn thư phản biện của anh:

Than gui ban Thang,

Toi lau nay van theo doi viec anh ban khoan ve nguyen nhan ca chet, anh da viet bai nay dang tren trang mang “anh Ba Sam”, da tranh luan voi anh To Van Truong,… Va den nay anh van giu chinh kien do. Minh voi tu cach la nguoi nghien cuu ve hoa hoc va doc chat hoc moi truong, hieu biet sau sac ve van de nay, chi mim cuoi va   nghi: anh ban Thang cua toi dung la thieu thong tin, suy luan theo kieu duy y chi, dung la mot nha khoa hoc “quantum chemistry” nen hoi phien dien, thanh thu di qua xa ve suy dien theo kieu “ech ngoi day gieng” nhu anh da tu nhan trong cac viet. Neu thuc su anh muon hieu day du va sau sac, luc nao ghe qua toi, chi can toi giai thich cho anh sau 15 phut, anh se tu go bai viet cua anh khoi mang va co loi xin loi cong dong vi su ngo nhan cua minh, day la loi khuyen chan thuc voi tu cach la nguoi ban biet nhau  tu lau. Dung tiep tuc gui bai viet nua Thang a, neu khong muon bi gioi khoa hoc, nhung nguoi hieu biet va co trach nhiem ve su mang nay, danh gia sai lech ve minh, ve dong co hoac kien thuc, deu la bat loi cho anh.

Theo minh hieu, nha nuoc co the se to chuc hoi thao khoa hoc ve van de nay vao thoi diem thich hop, luc do minh se moi anh den du cung de chia se thong tin tu goc do khoa hoc. Anh chi can gap toi mot luc thi toi tin la anh se tam phuc khau phuc thoi, nhung bay gio chua phai la luc trao doi chi tiet qua email duoc, mong anh thong cam nhe. Moi viec deu can duoc giai quyet va cong khai tuong minh vao cac thoi diem thich hop. Anh da tung cong tac o Vu giao duc, khoa hoc va moi truong cua MPI, anh cang hieu viec nay ( van de nhay cam va dang hot hien  nay) nen thong tin den dau, vao thoi diem nao theo lo trinh cua nha nuoc cho phu hop va toi uu. Dung vi nong voi lai thieu thong tin dan dat minh den nhung phat bieu cong luan thieu chinh xac va lech lac,……Minh noi the thi chac anh hieu. Neu anh van tin cay o toi nhu ngay xua, it nhat la la ve goc do hieu biet sau sac ve chuyen mon, thi mong anh nen im lang va tim hieu them cho day du,…

Chuc anh luon manh khoe, tuy nghi huu roi nhung van quan tam den thoi cuoc voi trach nhiem positive den cong dong, van luon la mot nha khoa hoc luon tim hieu, luon hoc hoi, hoc ca doi nhu chung ta van lam, van luon thay la cang hoc thi cang thay minh van dot, van phai hoc hoi va tim hieu, do la dieu thu vi trong doi song cua nhung  nguoi  nhu  chung  ta,  nhung  nguoi  luon  thay  minh  mac  no  voi  nha  nuoc  va nguoi dan, khi ca nuoc dang trong giai doan chien tranh thi chung ta duoc cu di hoc nuoc ngoai truoc 1975. Anh tha loi cho loi, neu anh thay toi hoi dai dong va co ve nhu dang “len lop” cho anh nhe.

Than men, Pham Hung Viet

II.Ý kiến ủng hộ:

1.GS.TS Lê Trình, Giám đốc của Trung tâm VESDEC, Tp.  HCM.  TS.  Trình đã có 20 năm gắn bó với Bộ Tài Nguyên và Môi trường như là cố vấn, chuyên gia thâm niên của Bộ về lĩnh vực  EIA, SEA, độc tố học, ô nhiễm công nghiệp, môi trường nước và  những công nghệ liên quan. Trong một thư riêng động viên, khích lệ tôi, có đoạn nguyên văn như sau:

“Tôi đã U70 rồi, định hết năm nay “rửa tay gác kiếm, tập dưỡng sinh” nhưng thấy ông Trump, bà Clinton cùng tuổi, hiểu nghề tổng thống USA là công việc bận rộn, căng thẳng nhất thế giới vậy mà còn muốn làm nên chắc tôi cũng cố thêm chút ít nữa.”

Hơn thế nữa, TS Trình còn viết hẳn một thư khác để kêu gọi mọi người ủng hộ tôi. Toàn văn như sau:

Thân gửi tất cả anh em

Tôi biết anh Nguyễn Đức Thắng: năm 1981-1983 anh là trưởng phòng Hóa Lý tôi là trưởng phòng CN Hữu cơ  –  thuộc Viện Kỹ thuật quân sự. Sau đó tôi vào Nam, anh Thắng còn làm tiếp vài năm rồi ra Bộ KH&ĐT. Hồi đó anh Anh Cường (nay là Cục trưởng Cục Đa dạng sinh học), GSTS Lê Quốc Hùng, TS Lê Văn Cát còn  sỹ quan  -cán bộ nghiên cứu ở Viện cùng chúng tôi.

Bài  anh  Thắng  rất  nghiêm  túc,  công  phu,  tham  khảo  nhiều  tài  liệu  quốc  tế, trong nước và nhiều nhận xét rất đáng xem xét. Bài này nên được lãnh đạo và chuyên gia các cơ quan quản lý và KHCN môi trường đọc và thảo luận. Chúc anh chị em sức khỏe.

Lê Trình

2.PGS.TS Trần  Hồng  Côn,  là  một  cây  đa  hóa  học  (Khoa  Hóa,  Đại  học  KHTN. ĐHQG Hà Nội) người mà  hầu hết TV, đài báo đều tín nhiệm, thường xuyên phỏng vấn hỏi về độc tố hóa học, về môi trường. TS Côn cũng đã viết “tôi đồng ý với những ý kiến và phân tích của anh”.

3.TS. Phạm Văn Hội, Giám đốc Trung tâm Nông nghiệp sinh thái (Học viện Nông nghiệp Việt Nam), đang có nhiều năm hợp tác với ĐH Wageningen (Hà Lan) ủng hộ tôi, thông qua toàn văn thư gửi GS.TS Việt:

Kính gửi GS.TS. Phạm Hùng Việt,

Được anh N.Đ.Thắng chia sẻ thư của anh, em có vài lời sau: Em  đang  đi  công  tác  nên  cũng  chỉ  check  rất  nhanh  xem  anh  là  ai  trong  google scholar. Thấy tên anh có xuất hiện ở mấy bài viết, nhưng chỉ là tác giả 3, 4… Trong học  thuật,  bọn  em  gọi  là:  tác  giả  ma  (ghost  author)  hoặc  tác  giả  ăn  theo  (gọi  là parasite cũng được)… (đến giờ, em đứng tên tác giả 1 của 5 bài ISI, em hiểu điều đó).

Em chưa từng nghe đến tên anh, chưa đọc bài viết nào của anh, và cũng chẳng có GS nào mà em biết  nói về anh như là 1 nhà độc tố học MT danh tiếng anh ơi. Em đang  cùng  với  GS  Paul  van  den  Brink  (ĐH  Wageningen)  viết  bài  về  pesticide toxicology (tất nhiên, em chỉ lo được phần review on pesticide uses in VN, and policy implications, vì không có chuyên môn toxicology)…15 năm qua làm việc cùng Paul, chưa bao giờ Paul nói về bất kỳ NHÀ ĐỘC TỐ học VN mà anh ta biết đến – không lẽ vĩ đại như anh mà đám học thuật thế giới chưa biết đến???

Học thuật là học thuật, không liên quan gì đến cái danh GS, hoặc bằng TS  đâu anh. Em kính trọng người nông dân, hoặc doanh nghiệp có ý tưởng sáng tạo, chứ không bao giờ bận tâm mấy chức danh A, B…

Bọn em đánh giá con người, bởi vậy, bằng tài năng thực sự của họ – rất công bằng. Anh hãy viết 1 bài về nguyên nhân ô nhiễm biển miền Trung, để anh Thắng và cả những người như em tâm phục, khẩu phục đi anh ơi. Em chờ anh đấy!

Kính thư,

Phạm Văn Hội

P/S. GS hướng dẫn em hiện là hiệu trưởng ĐH Wageningen: Arthur P. J. Mol  –  1 trong 3 người khởi xướng thuyết Ecological Modernization Theo ry. 10 năm qua, em chưa  từng  có  trải  nghiệm  nào  v/v  GS  có  ý  kiến  như  ý  kiến  của  anh  (đối  với  anh Thắng)  –  dù em chỉ là học trò (hiện vẫn liên lạc và viết chung bài với em).   Em đọc thư anh, thêm phần thất kinh về GS Viêt Nam! Rảnh em sẽ tìm anh trên web of sciences để biết thêm về anh.

4.Nhà khoa học nữ Hải Yến, CHLB  Đức,  cũng ủng hộ tôi, thông qua thư gửi cho

GS.TS Việt, toàn văn như sau:

Dear GS Phạm Hùng Việt

Yến cũng là người làm về sinh thái môi trường, thạc sỹ của yến là về coastal zone yến đủ hiểu để đau cho các hệ sinh thái ven biển, bất thần vì cảm thấy các hệ sinh thái này đã nuôi sống hàng bao thề hệ người An Nam từ khi có sự sống trên dải đất hình chữ S này đã vụt tan biến. Vì thế, yến rất quan tâm theo dõi và cũng cố gắng viết và chia sẻ những  gì trong phạm vi kiến thức của mình. Và thật sự rất lấy thất vọng với hàng loạt   kết luận ban đầu của các bộ ngành trong đó có GS là cá chết do thủy  triều  đỏ,  ko  phải  do  Formosa,  là  do  cyanide  và  phenol  và  một  “tầm  đệm  di động” này nọ. Đến mức yến cũng phải có bài viết rằng các nhà KH VN đang làm ngược quy trình khi xác định nguồn thải, và càng nực cười khi giải thích “tấm đệm” di động. Yến ko chuyên sâu về ecotoxicology nhưng vì công việc liên quan, đặc biết 2 năm yến cùng vật vã với Dr. Hakan Berg của Thụy Điển giám sát chương trình toxic contanination của low mekong phần nào cũng hiểu đc về ecotoxicology.

Vì thế khi đọc bài của TS. Thắng về nguyên nhân cá chết, yến thấy nó thuyết phục, và rất cảm kích với những đóng góp về mặt khoa học cũng như place out  phần nào đó về bức tranh vể thảm họa Formosa VA. Vậy mà không hiểu sao GS lại có những lời lẽ bất nhã với TS Thắng về bài viết đó. Yến không quan tâm đến lý lịch của bất cứ author nào, nhưng vì lời lẽ trong email của GS đồi với TS Thắng, nó không chỉ riêng với TS Thắng ở đó, mà nó còn là một cú tát của GS đối với những ai có quan điểm và nhận thức khoa học nghiêm túc, nên yến có search trên mạng với key words là Prof. Pham Hung Viet thì đc một trang scholar đưa tin (tiếng anh) các bài báo đăng tạp chí qt có tên GS, nhưng GS không phải là first author. Còn các trang tiếng việt thì chỉ đưa tin GS có nc phân tích về asen, ngay cả trường DH nơi GS công tác, cũng chỉ  ghi  quá  trình  đào  tạo  của  GS:  ĐH  ở  Đức,  ThS  và  TS  ở  Thụy  Sỹ,  còn  phần publication thì rỗng. Yến muốn có mấy câu hỏi với GS như sau:

1) phần publication của 1 GS là phần rất quan trọng thề hiện khả năng cũng như đóng góp của cá nhân GS ấy, nó cũng như một credit để minh chứng chất lượng của một  viện  trường  và  lòng  tin  của  người  đọc.  tại  sao  GS  lại  để  phần  này  “rỗng”?

2)  Như tt  trên internet và  publication,  thì  có  lẽ  GS đang đang  nhầm  lẫn giữa hóa phân tích và ecotoxicology. Một người với hóa phân tích có thể phân tích đc asen hoặc các kim loại nặng hay độc tố trong môi trường, sinh viên đại học của yến nó cũng phân tích đc kim loại năng trong mt đấy thôi. Nhưng ko có nghĩa là những cái đó đủ để GS vơ vào mình là ecotoxicology. GS có thể đc tham gia phân tích mẫu từ thảm họa VA cho ra các độc tố. Nhưng cái giải thích nguyên nhân cá chết nó ko chỉ dừng lại ở mấy cái hóa chất mà GS có đc kia đâu. GS đã tu nghiệp ở Đức, Thụy Sỹ,

Chắc GS biết ở Đức cũng như Châu Âu người ta có hẳn một ủy ban về toxcicology, và nhìn vào các chương trình đào tạo cũng như training kiến thức về toxicology của họ nó không chỉ là mấy cái hóa phân tích kia đâu ạ.

3)  quyền  biểu  đạt  chính  kiến,  thông  qua  các  bài  viết  của  TS  Thắng  là  quyền  con người, GS giỏi thì phản biện lại bài viế đó của TS Thắng, chứ tại sao GS lại trách TS Thắng là tại sao vẫn bảo lưu quan điểm và lại còn trịnh thượng khuyên TS Thắng là đừng viết nữa? Nước Đức đã phải trả giá rất đắt cho chế độ độc tài của Hitle. GS đủ hiểu chính người Đức cũng rất quyết tâm gột rửa sự độc tài. Độc tài bị cả nhân loại lên án, mà độc tài trong trí thức và trong phản biện trí th ức thì còn kinh tởm và đáng kinh bỉ đến thế nào.

4) nếu GS tự tin là chuyên gia độc tố học và chỉ cần 15 phút giải thích thì TS Thắng sẽ tâm phục khẩu phục thế tại sao ngay sau khi quan chính phủ họp báo công bố kết quả này nọ, người dân và nhiều trí thức dậy sóng phản bác sao GS không viết bài để dân “tâm phục khẩu phục”?, sao GS không bước ra ánh sáng mà “cho lũ dân một bài học” việc gì phải nấp trong bóng tối lên giọng và hăm dọa 1 mình TS Thắng?.

5) Thảm họa VA xãy ra đã 4 tháng, cả nước người dân vẫn còn ngơ ngác với nguồn thực phẩm truyền thống ‘cá biển”, hàng ngàn ngư dân mất việc, môi trường biển chết đứng, thế giới áp lệnh kiểm tra ngặt nghèo hàng thủy sản XK của VN thế mà GS lại viết “Moi viec deu can duoc giai quyet va cong khai tuong minh vao cac thoi diem thich hop. Anh da tung cong tac o Vu giao duc, khoa hoc va moi truong cua MPI, anh cang hieu viec nay ( van de nhay cam va dang hot hien nay) nen thong tin den dau, vao thoi diem nao theo lo trinh cua nha nuoc cho phu hop va toi uu.” vậy thử hỏi  GS lúc nào là thời điểm thích hợp?   Trí thức Đức họ không để lâu thế đâu.   Vụ giá đỗ nhiễm Ecoli, họ cập nhật tt liên tục trên mọi kênh truyền thông để người dân tránh đc rủi ro càng nhiều càng tốt. Chắc GS cũng hiều đc ethnic trong khoa học chứ? vì thế hãy trở về là người trí thức đúng nghĩa với đạo đức của người trí thức.

yến hy vọng 1 ngày nào đó GS có thể ngẩng mặt quay lại Đức, yến sẽ đc tiếp kiến GS cùng với GS cũng như đồng nghiệp của yến ở đây để tranh luận thêm về vấn đề này.

Viết từ CHLB Đức

Kính thư,

Hải Yến

5.PGS.TS Hà Quang Hải, Khoa Môi trường (Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG Tp. HCM), đã viết “Tôi sẽ giới thiệu bài viết của anh cho sinh viên tham khảo”.

Kính gửi anh Thắng,

Tôi là giảng viên tại Khoa Môi trường, chuyên ngành Địa mạo học. Tôi có giảng dạy môn  Địa  chất  môi  trường  và  Quản  lý  tổng  hợp  đới  bờ  cho  sinh  viên  Khoa  môi trường. Trong vụ việc cá chết ở biển miền Trung tôi thường xuyên xem tin tức. Tôi gọi vụ cá chết hàng loạt ở miền Trung là “Thảm họa Vũng Áng” hay “Thảm họa biển Bắc  Trung Bộ” do con người thay vì gọi là “Sự cố” như các vị quan chức đang nói hiện nay.

Ý kiến của tôi về nguyên nhân gây cá chết theo như chính phủ công bố và bài viết

“Cần trả lại chân lý khoa học cho Kết luận về nguyên nhân cá chết” của anh như sau”

– Khi nói về nhiễm độc cần phải nêu rõ liều gây chết (LC50), thời gian phơi nhiễm và trọng lượng cơ thể. Qua thông tin tôi biết được cá to, nhỏ đủ kích cỡ đều chết, thậm chí có con tới 30 kg cũng chết. Công bố của chính phủ không thuyết phục bởi lẽ cá chết hàng  loạt, chết “Tức tưởi” khó có thể xảy ra với liều lượng phenol và, xianua quá nhỏ như vậy, nhất là đối với con cá lớn.

– Trong bài viết của anh, nguyên nhân cá “chết ngạt” làm cho tôi tin hơn, có lẽ đây là nguyên nhân làm cá chết hàng loạt; cả to lẫn nhỏ, nếu không đủ ô xy là chết.

Hy vọng những người có trách nhiệm lắng nghe ý kiến của anh và nhiều ý kiến khác để  cân nhắc, kiểm  chứng trước khi  công  bố nguyên nhân  cá chết  một  cách thuyết phục. Tôi  nghĩ, nếu như cá chết hàng loạt do NGẠT thì vấn đề môi trường ở miền Trung sẽ đi theo hướng khác.

Cảm ơn anh về nội dung bài viết và về phong cách tranh luận khoa học. Tôi sẽ giới thiệu bài viết của anh cho sinh viên tham khảo trong  các môn học liên quan.

Chào anh, chúc anh sức khỏe.

Hà Quang Hải Đọc tiếp “Tổng hợp những ý kiến phản biện của một số chuyên gia, nhà khoa học Hóa học và Môi trường”

XIN ĐƯỢC HỎI VÀI CÂU, HỐ HÔ ƠI!

Hà Quang Hải

Hố Hô là nhà máy thủy điện nhỏ, rất nhỏ nhưng tác động tiêu cực tới môi trường, kinh tế và xã hội không nhỏ chút nào. Chỉ cần vào Google tìm kiếm theo từ khóa 1) Hố Hô; 2) Thủy điện Hố Hô; và 3) Thủy điện Hố Hô xả lũ sẽ cảm nhận được những tác động của thủy điện này đến mức nào.

Lũ và xả lũ của thủy điện Hố Hô trong tháng 10 vừa qua đã thu hút sự quan tâm rất lớn của cả nước do những thiệt hại mà nó gây ra cho huyện Hương Khê, Hà Tĩnh. Đây là lần thứ 4 người dân Hương Khê phải hứng chịu họa “lũ chồng lũ” kể từ khi thủy điện Hố Hô xây dựng cách nay 10 năm.

Thủy điện Hố Hô có chắc chắn những sự cố tương tự, thậm chí thảm họa không xảy ra trong tương lai?. Để trả lời câu hỏi này, trước hết xin được hỏi Hố Hô và các cơ quan chức năng vài câu dưới đây.

Câu 1: Địa hình sườn Đông Trường Sơn Bắc có thích hợp để phát triển thủy điện không?

Các dãy núi ở Trường Sơn Bắc có hướng kéo dài tây bắc – đông nam, bắt đầu từ bắc Xiêng Khoảng (Lào) và kết thúc bằng núi Bạch Mã. Đường phân thủy Trường Sơn Bắc trùng với biên giới Việt Lào, cao trung bình 1000 – 2000 m, đỉnh cao nhất là Phu Xai Lai Leng (2711 m), tiếp theo là Rào Cỏ (2235 m).

Mô hình DEM (Hình 1) cho thấy sườn Đông Trường Sơn Bắc thuộc lãnh thổ Việt Nam hẹp và rất dốc. Các dòng chảy cắt ngang sườn núi dốc rồi chuyển đột ngột xuống đồng bằng thấp.

Việc chặn các lòng sông trên sườn núi dốc để làm hồ, đập thủy điện sẽ tiềm ẩn rủi ro cho dải địa hình thấp, nhất là khi lớp phủ rừng trên sườn núi, đồi đã suy giảm.

Hình 1: Địa hình, sông suối chính sườn Đông Trường Sơn Bắc.
Hình 1: Địa hình, sông suối chính sườn Đông Trường Sơn Bắc.

Câu 2: Các hồ thủy điện có giảm thiểu được những dòng lũ hung hãn không?

Lượng mưa trung bình năm trên sườn Đông của Trường Sơn Bắc khá cao (2400 – 2800), trong đó lượng mưa trung bình tháng IX, tháng X cao nhất nước, khoảng 500 – 600 mm (Hình 2), có năm tới 800 – 900 mm [2].

Hình 2: Bản đồ khí hậu Việt Nam. Nguồn [1]
Hình 2: Bản đồ khí hậu Việt Nam. Nguồn [1]

Lê Bá Thảo [7] mô tả mưa ở sườn Đông Trường Sơn Bắc như sau:

 “Trường Sơn Tây thì thoải, Trường Sơn Đông thì dốc. Hiện tượng đó có nhiều hậu quả lớn. Dù là núi đã già và thấp đi nhiều nhưng vách dốc phía đông của nó vẫn tạo thành một bức tường quan trọng về mặt khí hậu: mưa mùa xảy ra vào mùa thu – đông (từ tháng VIII đến tháng I) được điều kiện địa hình này giúp sức nên trút xuống ở đây những lượng mưa rất lớn, trong đó mưa trong hai tháng VIII và IX chủ yếu là mưa đường hội tụ và mưa bão. Ai đã từng ở Huế cũng biết rằng mưa ở đó “trắng trời trắng đất” và kéo dài liên miên hàng tuần lễ như thế nào, nhưng ở trên núi mưa càng nhiều hơn. Hình như trong mùa này chưa hề ai đã trông thấy sườn phía đông Trường Sơn không có mây che phủ, còn về mùa nắng khô thì cứ đến trưa, mây lại ùn ùn từ chân núi kéo lên tận đỉnh và bọc lấy cho đến chiều”.

Và lượng mưa lớn trên sườn núi dốc đã tạo nên những dòng chảy mạnh, Lê Bá Thảo [7] mô tả “những dòng chảy hung hãn” như sau:

“Ít nhất là có trên 200 sông và suối dài từ 10 km trở lên nhưng có lưu vực không lớn lắm chảy từ sườn đông xuống đồng bằng, trừ ở khu vực đá vôi Kẻ Bàng. Chẳng khác gì những lưỡi dao sắc bén, các sông suối này cắt lòng xuống rất sâu, tạo nên những thung lũng hẹp, ngắn và dốc. Vào mùa mưa bão những cơn lũ rừng ở đây thực sự đáng sợ: chúng lên một cách đột ngột, kéo dài trong một, hai ngày rồi hạ xuống cũng đột ngột không kém. Chỉ riêng trong một vài tháng, nhất là vào tháng IX và tháng X, các cơn lũ này vận chuyển một lượng nước gần bằng tổng lượng nước trong năm (có năm đến 90%), còn các tháng khác thì có khi khô kiệt”.

Dưới những tác động của con người như chặt phá rừng, phát triển giao thông và xả lũ của thủy điện sẽ làm cho các dòng lũ vào tháng IX và X hung hãn hơn. Đọc tiếp “XIN ĐƯỢC HỎI VÀI CÂU, HỐ HÔ ƠI!”

MỘT SỐ HÌNH ẢNH HÔM NAY (NGÀY 11, THÁNG 11, NĂM 2016)

Dưới đây là một số hình ảnh trong HNKH lần thứ X, trường Đại học KHTN, Đại học Quốc gia TP.HCM – Tiểu ban Khoa học Môi trường.

Nghe báo cáo tại phân ban Khoa học Môi trường
Nghe báo cáo tại phân ban Khoa học Môi trường
Nguyễn Ngọc Diễm_Mô hình đô thị sinh thái thông minh trong phát triển đô thị bền vững: các thách thức đặt ra cho TP.HCM
Nguyễn Ngọc Diễm_Mô hình đô thị sinh thái thông minh trong phát triển đô thị bền vững: các thách thức đặt ra cho TP.HCM
Phan Kỳ Trung_Nước dưới đất và thực trạng công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất tại tỉnh Bạc Liêu
Phan Kỳ Trung_Nước dưới đất và thực trạng công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất tại tỉnh Bạc Liêu
Hoàng Phương Chi_Geosite Suối Tiên và hoạt động du lịch
Hoàng Phương Chi_Geosite Suối Tiên và hoạt động du lịch
Báo cáo poster tại Tiểu ban Môi trường
Báo cáo poster tại Tiểu ban Môi trường

Đọc tiếp “MỘT SỐ HÌNH ẢNH HÔM NAY (NGÀY 11, THÁNG 11, NĂM 2016)”

LIÊN HỆ GIỮA XÓI LỞ NHANH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI

Edward J. Anthony *, Guillaume Brunier *, Manon Besset *, Marc Goichot **, Philippe Dussouillez *& Van Lap Nguyen ***

Đại học Aix-Marseille, CEREGE UMR 34, 13545 Aix en Provence, France, Institut Universitaire de France;

**Trưởng quản lý Chương trình thủy điện bền vững và lưu vực sông, WWF – Greater Mekong, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam;

*** Phân viện Địa Lý tại TP. Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), Số 01 Mạc Đĩnh Chi, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam;

Liên hệ người chịu trách nhiệm chính Edward J. Anthony (email:anthony@cerege.fr)

Bài đăng tại http://www.nature.com/scientificreports

Tiếp nhận: 12-05-2015
Phê duyệt: 04-09-2015
Công bố : 08-10-2015

Trong khi dư luận quốc tế đang ngày càng quan tâm đến sự sống còn của các đồng bằng, thì Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới, với dân số đông đúc, được xem như vùng sản xuất lương thực quan trọng nhất của khu vực Đông Nam Á và là nơi tập trung đa dạng sinh học quy mô thế giới đang ngày càng bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của con người và đang xuất hiện hiện tượng sụt lún và xói lở bờ biển. Ở thượng nguồn sông Mê Kông, đã có khá nhiều đập thủy điện được xây dựng và nhiều đập thủy điện khác đang nằm quy hoạch. Từ ảnh vệ tinh SPOT 5 có độ phân giải cao, chúng tôi đã định lượng được sự xói lở bờ biển và mất đất trên quy mô lớn trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến 2012, và sự ảnh hưởng đang diễn ra đối với hơn 50% của 600 km chiều dài bờ biển vốn đã và đang bị xâm thực mạnh mẽ. Hiện tượng xói lở xảy ra, mặc dù không có ghi nhận nào về sự thay đổi lưu lượng trên sông cũng như các điều kiện về sóng và gió trong thời gian nêu trên, được cho là có liên quan đến (1) Sự suy giảm đáng kể trầm tích lơ lửng từ sông Mê Kông đến vùng ven bờ biển và sự suy giảm này có thể có mối liên hệ với việc các đập giữ lại trầm tích, (2) Hoạt động khai thác cát vì mục đích thương mại trên quy mô lớn trên sông và dọc các kênh rạch ở vùng đồng bằng, và (3) Lún đất do khai thác nước ngầm. Sự xói lở bờ biển đã là nguyên nhân gây ra sự di dân ở vùng ven biển. Đây chính là mối hiểm họa khác nữa đối với sự toàn vẹn của vùng đồng bằng rộng lớn này của châu Á, giờ đây còn được xem là đặc biệt dễ bị tổn thương do hiện tượng sụt lún gia tăng, nước biển dâng, và tình trạng này trong tương lai sẽ nghiêm trọng hơn do các đập thủy điện.

Các vùng đồng bằng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn trầm tích ổn định để duy trì đường bờ biển và bù lún. Vì lượng trầm tích trên sông ngày càng thiếu hụt do bị giữ lại sau các các đập thủy điện, nhiều đồng bằng trên thế giới đang phải đối mặt với hiện tượng lún và xói lở nhanh hơn, mất đất trên diện rộng và dễ bị tác động hơn bởi lũ lụt và nước biển dâng [1, 2].Tính dễ bị tổn thương tăng lên gây nên các hậu quả về các mặt chính trị, kinh tế và môi trường cho nhiều vùng đồng bằng trên thế giới, và đòi hỏi các nỗ lực quốc tế trong việc phối hợp nghiên cứu và hoạch định chính sách hướng tới việc duy trì và phục hồi các vùng đồng bằng bền vững [3, 4]. Một thí dụ, các mối quan ngại trên đã được thể hiện, khi Hội đồng khoa học Quốc tế (ICSU) phê chuẩn sáng kiến ―Đồng bằng Bền vững 2015. Hình thành muộn hơn gần một thế kỷ so với các đồng bằng lớn khác ở Châu Á, Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với thách thức lớn về tính bền vững của nó khi trở nên dễ bị tổn thương bởi tình trạng xói lở, nước biển dâng và lũ lụt từ hậu quả của việc xây dựng các đập thủy điện vào những thập niên 70 và 80. Lưu vực ĐBSCL (hình 1) nằm trên lãnh thổ của 6 quốc gia, là lưu vực sông có diện tích lớn thứ 12 trên thế giới. Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn thứ 3 trên thế giới [6], là nơi định cư của gần 20 triệu dân [7], có vai trò rất quan trọng đến an ninh lương thực của khu vực Đông Nam Á, cung cấp 50% sản lượng lương thực của Việt Nam [8]. Đặc biệt, Đồng bằng sông Cửu Long cung cấp 90% sản lượng lúa xuất khẩu nhờ đó Việt nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới, cung cấp 60% thủy sản xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ đô la. Ngoài ra Đồng bằng sông Cửu Long là một khu vực phát triển năng động về nông nghiệp nói chung và chăn nuôi gia súc nói riêng [8]. Bên cạnh đó, vùng hạ lưu sông cũng là nơi có mức độ đa dạng sinh học về cá trên một đơn vị diện tích cao hơn so với bất kỳ lưu vực sông lớn nào trên thế giới, về mức độ đa dạng chung chỉ đứng sau sông Amazon [9].

hinh-1

Đọc tiếp “LIÊN HỆ GIỮA XÓI LỞ NHANH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI”

CHI NÊ – THÁNG 11 NĂM NGOÁI

Đầu tháng 11 năm ngoái (2015), sau khi mở trang Diamoitruong.com được mấy ngày, có công việc gấp của gia đình mình trở lại Chi Nê, Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Trở lại nơi mình sống và học tập tại trường cấp II (Lạc Long) và cấp III (Lạc Thủy).

Trở lại lần này, Chi Nê đã có những đổi thay, rõ nhất là hai bờ sông Bôi kè đá, đường 21 đã nâng cao, trải nhựa, nhiều nhà tầng đã mọc lên…Nhưng những địa danh quen thuộc như xóm Chéo Vòng (nơi gia đình mình sống trước đây), xóm Tay Ngai, Đồng Bàu, đồi Hoa, dốc Bòng Bong, … chắc không bao giờ đổi thay.

Trở lại Chi Nê lần này, nhìn núi, đồi, sông, đầm, bãi bờ… mình có thể giải thích được sự hình thành những dạng địa hình này mà thời nhỏ không bao giờ tìm hiểu sự tồn tại của chúng. Tranh thủ thăm mấy anh, chị bạn học đã nghỉ hưu và ghi lại những hình ảnh của một thời từng gắn bó.

Vài dòng viết trên và những hình ảnh dưới đây xem như kỷ niệm hai trong một – Diamoitruong.com tròn một năm tuổi (01.11.2015) với 22 ngàn lượt view và 1 năm ngày trở lại Chi Nê.

Sông Bôi đoạn qua thị trấn Chi Nê
Sông Bôi đoạn qua thị trấn Chi Nê đã kè đá không còn cảnh quan xưa với bờ sông bên lở, bên bồi với hàng tre, trúc
Sông Bôi đoạn qua Nhiễm Hạ
Sông Bôi đoạn qua Nhiễm Hạ với núi đá, thềm sông in hình trên mặt nước
Sông Bôi qua Khoan Dụ (nhìn từ cầu Cả, xóm Chéo Vòng). Sông Bôi thời trước vào mùa lũ nước cuộn trôi, thỉnh thoảng có người ngồi trên nóc nhà giữa dòng lũ kêu cứu. Bên Khoan Dụ có núi đá vôi vách dựng đứng kéo dài phương TB-ĐN theo một đường thẳng băng. Thềm I cao khoảng 5 m (có nhà dân), thềm II cao khoảng 10 m là đồi đất đỏ (đầu cầu Cả)
Sông Bôi qua Khoan Dụ (nhìn từ cầu Cả, xóm Chéo Vòng). Sông Bôi thời trước vào mùa lũ nước cuộn trôi, thỉnh thoảng có người ngồi trên nóc nhà giữa dòng lũ kêu cứu. Bên Khoan Dụ có dải núi đá vôi vách dựng đứng kéo dài phương TB-ĐN theo một đường thẳng băng (đường đứt gẫy kiến tạo). Thềm I cao khoảng 5 m (có nhà dân), thềm II cao khoảng 10 m là đồi đất đỏ (đầu cầu Cả).
Bãi bồi trên đường từ xóm Chéo Vòng vào xóm Tay Ngai vẫn trồng rau lang và ngô như ngày xưa
Bãi bồi ven đường từ xóm Chéo Vòng vào xóm Tay Ngai vẫn trồng rau lang và ngô như ngày xưa
Đỉnh dốc Bòng Bong - ranh giới giữa Hòa Bình và Hà Nam. Dốc này được xem là cao nhất tuyến đường Chi Nê - Phủ Lý, không thể leo bằng xe đạp. Nay xe máy coi như không có dốc.
Đỉnh dốc Bòng Bong – ranh giới giữa Hòa Bình và Hà Nam. Dốc này được xem là cao nhất tuyến đường Chi Nê – Phủ Lý, không thể leo bằng xe đạp. Nay xe máy coi như không có dốc.
Núi đá vôi dạng tháp. Con đường từ Chi Nê đi Phú Lý tráng nhựa đẹp. Đây cũng là con đường mà bà xã mình cách đây 30 (năm 1986) từng đi bộ (Phủ Lý - xóm Chéo Vòng 30 km). Kết thúc hành trình là đôi chân xưng vù.
Núi đá vôi dạng tháp và con đường từ Chi Nê đi Phú Lý tráng nhựa đẹp. Đây cũng là con đường mà bà xã mình cách đây 30 (năm 1986) từng đi bộ (Phủ Lý – xóm Chéo Vòng 30 km). Kết thúc hành trình với đôi chân xưng vù và hai dòng nước mắt.

Đọc tiếp “CHI NÊ – THÁNG 11 NĂM NGOÁI”

Cồn cát ven biển – Một hệ sinh thái quan trọng

Nguyễn Đình Hòe

ThienNhien.Net – Cồn cát ven bờ có chức năng sinh thái không gì thay thế được. Chúng không phải là vùng đất hoang. Phát triển bền vững vùng cồn cát đòi hỏi phải hiểu biết đúng đắn quy luật sinh thái vùng cồn.

Cát đỏ Phan Thiết
Cát đỏ Phan Thiết

Những vùng bờ biển giàu nguồn cát mịn (đường kính hạt trong khoảng từ 0,2 đến 2 mm ), bị khô khi thủy triều rút, bị sấy nóng do mặt trời, lại có gió mạnh thường xuyên trên 15 km/giờ đều xuất hiện cồn cát.Từ khi xuất hiện đến khi ổn định, cồn cát không hình thành đơn lẻ mà tạo thành một dãy cồn song song với mép nước biển như những làn sóng cát. Từ mép nước biển hướng về đất liền có thể gặp một tập hợp 5 dãy cồn cát với mức độ ổn định tăng dần, đó là cồn sơ khai – cồn tiền tiêu – cồn màu vàng – cồn màu xám – và cồn trưởng thành. 5 dãy cồn tạo thành một thế hệ cồn cát.

Cồn sơ khai là những đống cát nhỏ do gió vun lên nhờ sự có mặt một loại vật cản nào đấy như mảnh gỗ trôi bị kẹt lại. xác chim biển chết, đống xác tảo biển, mảnh tàu đắm dạt vào bờ,…Cồn sơ khai chưa có thực vật cư trú. Chúng có thể nhanh chóng biến mất cũng như nhanh chóng xuất hiện, cho đến khi những dạng thực vật thân cỏ đầu tiên xuất hiện cố định chúng lại, biến chúng thành cồn tiền tiêu.

Đọc tiếp “Cồn cát ven biển – Một hệ sinh thái quan trọng”

Quy trình xả nước của thủy điện Hố Hô ‘bất cập’

Tô Văn Trường

Việc thủy điện Hố Hô ở Hương Khê (Hà Tĩnh) xả lũ khiến nhiều người rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” gây ý kiến trái chiều. Theo giới chức địa phương, thủy điện này xả lũ không đúng quy trình. Trong khi chủ đầu tư cho rằng “hồ thủy điện dung tích 38 triệu m3, nước đổ về thời điểm đó khoảng 1.800 m3/s, nếu không xả thì lòng hồ tăng lên 7 triệu m3 nước, nguy cơ mất an toàn đập rất cao”.

Theo quy định, tùy theo loại công trình sẽ có quy trình xả lũ khác nhau. Nếu là đập dâng thì nước về đến đâu xả đến đó, với loại có dung tích phòng lũ thì trước khi lũ về phải đưa hồ về mực nước đón lũ nhằm giảm lũ cho hạ du. Quy trình xả lũ thủy điện được tính toán để đưa ra mực nước lũ thiết kế, mực nước lũ kiểm tra nhằm đảm bảo an toàn hồ đập và hạ du. Dung tích chống lũ cho công trình được tính từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lũ thiết kế.

Quy trình cũng chỉ rõ khi mực nước hồ đạt đến mức độ nào đó, mà nước từ thượng lưu tiếp tục về thì phải mở tràn xả lũ để đảm bảo an toàn. Quy trình phải chỉ rõ phương án phối hợp với cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong việc cảnh báo, thông báo việc xả lũ bao gồm thời gian xả và lượng xả dự kiến.

Các phương án xử lý tình huống ở hạ du được nêu tại Quy trình đảm bảo an toàn hạ du khi xả lũ.

Nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ vào sáng 15/10. Ảnh: Đức Hùng
Nhà máy thủy điện Hố Hô xả lũ vào sáng 15/10. Ảnh: Đức Hùng

Đập thủy điện Hố Hô dài 102 m, bề mặt rộng 5 m nhưng lại cao tới 50 m. Về địa thế, đập nằm ở phía cuối của sườn núi, trước khi sông Ngàn Sâu đổ xuống đồng bằng. Đây là vị trí hứng chịu lượng nước lớn và nhanh từ thượng nguồn sông Ngàn Sâu (trên diện tích lưu vực 278,6 km2). Như vậy, Hố Hô sẽ chịu rất nhiều nguy hiểm khi lũ lớn ở thượng nguồn đổ về.

Đọc tiếp “Quy trình xả nước của thủy điện Hố Hô ‘bất cập’”

VÀI HÌNH ẢNH VỀ ĐỢT KHẢO SÁT ĐỊA MÔI TRƯỜNG ĐẢO PHÚ QUỐC LẦN ĐẦU – THÁNG 06, 2010

Từ năm 2010 đến nay đã bốn lần tới đảo Phú Quốc, trong đó 3 lần hướng dẫn sinh viên khảo sát thực địa làm đề tài và 1 lần đưa gia đình thăm quan đảo. Mỗi lần đến đảo đều chụp khá nhiều ảnh về cảnh quan, môi trường đảo. Mỗi lần đến đều có những kỷ niệm riêng, nhưng đáng nhớ nhất là chuyến khảo sát lần đầu tại đảo.

Tháng 06, năm 2010 dẫn ba sinh viên nghiên cứu thực địa theo các lộ trình quanh đảo. Phú Quốc lúc đó còn hoang sơ, lộ trình khảo sát chủ yếu trên những con đường đất lầy lội, những cầu tre trơn, trượt khi mưa.

Nghiên cứu địa môi trường đảo Phú Quốc thật thú vị, các hệ thống bậc thềm được bảo tồn khá tốt, cấu trúc cuesta hình thành sự bất đối xứng giữa sườn đông và tây đảo. Các di sản địa chất, địa mạo như mũi đá Dinh Cậu, đá chồng An Thới, các bãi biển cát mịn, đẹp làm du khách say đắm.

Cùng chung một lộ trình ban đầu, nhưng ba sinh viên thực hiện ba đề tài theo ba cấp độ khác nhau:

Nguyễn Thanh Thúy (khóa luận) với đề tài “Nghiên cứu giá trị địa chất, địa mạo vùng Hà – Kiên – Phú phục vụ cho việc xây dựng công viên địa chất”

Nguyễn Ngọc Tuyến (luận văn cao học) với đề tài “Đánh giá tổn thương đới ven biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”

Lê Hoài Nam (luận án tiến sỹ) với đề tài “Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”.

Thúy đã bảo vệ khóa luận vào năm 2010, Tuyến bảo vệ luận văn vào năm 2012, và ngày 14 tháng 10 năm 2016 Nam đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ Khoa học môi trường. Việc bảo vệ đề tài luận án tiến sỹ của Nam xem như thày trò đã hoàn thành nhiệm vụ học tập ban đầu, tạm kết thúc một giai đoạn nghiên cứu đảo Phú Quốc kéo dài khoảng 6 năm.

Những hình ảnh dưới đây là kỉ niệm đợt khảo sát lần đầu tại Phú Quốc.

Nam, Tuyến, Thúy khảo sát xói lở
Nam, Tuyến, Thúy khảo sát xói lở
Nam khảo sát xói lở bờ biển
Nam khảo sát xói lở bờ biển
Tuyến, Thúy khảo sát thềm biển Holocen
Tuyến, Thúy khảo sát thềm biển Holocen
Nam khảo sát thềm biển Pleistocen
Nam khảo sát thềm biển Pleistocen
Bốn thày trò trên lộ trình khảo sát
Bốn thày trò trên lộ trình khảo sát

Đọc tiếp “VÀI HÌNH ẢNH VỀ ĐỢT KHẢO SÁT ĐỊA MÔI TRƯỜNG ĐẢO PHÚ QUỐC LẦN ĐẦU – THÁNG 06, 2010”