Trận động đất M7.7 ngày 28 tháng 3 năm 2025 gần Mandalay, Myanmar, xảy ra do đứt gãy trượt ngang (strike-slip fault) Sagaing giữa các mảng Ấn Độ và Á-Âu, đây là một đứt gãy chính chạy dọc Myanmar theo hướng bắc-nam, với độ lớn đứt gãy khoảng 200 km x 20 km (dài x rộng).
Độ lớn (Magnitude): 7.7 mww
Vị trí tâm chấn (Epicenter): 21.996°N 95.926°E (± 7.5 km)
Độ sâu chấn tiêu (Hypocenter/ Focus): 10.0 km ± 1.7
Thời gian xảy ra: 2025-03-28 06:20:52.684 UTC tức 13 giờ 20 phút 20 giây (giờ Hà Nội)
Sự kiện này được xác định là động đất chính tiềm tàng của chuỗi 27 trận động đất tai đây. Xem 27 sự kiện trong chuỗi.
Khu vực này đã trải qua các trận động đất trượt ngang lớn tương tự, với sáu trận động đất khác có cường độ 7 độ richter trở lên xảy ra với khoảng 150 dặm (250 km) của trận động đất ngày 28 tháng 3 năm 2025 kể từ năm 1900. Trận động đất gần đây nhất là trận động đất mạnh 7,0 độ richter vào tháng 1 năm 1990, khiến 32 tòa nhà đổ sập. Một trận động đất mạnh 7,9 độ richter xảy ra ở phía nam trận động đất ngày nay vào tháng 2 năm 1912. Trong vùng biến dạng kiến tạo rộng lớn này, các trận động đất lớn khác, bao gồm trận động đất mạnh 7,7 độ richter vào năm 1988, đã gây ra hàng chục trường hợp tử vong.
Bản đồ biểu diễn vị trí động đất với chấn tâm (ngôi sao), các tiền chấn và hậu chấn (các hình tròn màu vàng, cam), đứt gãy Sagang (màu xám), các trận động đất trong quá khứ trong khu vực quan sát (hình trong lớn). Nguồn: USGS Interactive map.
Động đất ở dãy Himalaya chủ yếu là kết quả của sự va chạm lục địa giữa các mảng Ấn Độ và Á-Âu, đang hội tụ với tốc độ tương đối là 40-50 mm/năm. Sự đẩy về phía bắc của Ấn Độ bên dưới Á-Âu tạo ra nhiều trận động đất và do đó khiến khu vực này trở thành một trong những vùng nguy hiểm nhất về động đất trên Trái đất. Biểu hiện bề mặt của ranh giới mảng kiến tạo được xác định bởi các đặc điểm địa chất chính: dãy Sulaiman kéo dài theo hướng bắc-nam ở phía tây, vòng cung Indo-Burma ở phía đông và mặt trước dãy Himalaya theo hướng đông-tây ở phía bắc Ấn Độ. Các cấu trúc này phản ánh sự tương tác giữa mảng Ấn Độ và các mảng lân cận, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kiến tạo khu vực.
Cường độ động đất và các hệ quả
Trận động đất có cường độ IX/ X theo thang đo Mercalli (USGS chỉnh sửa). Theo thang này 4 thành phố chịu thiệt hại nặng nề nhất (cấp IX) là Sagaing (79 k dân), Pyinmana (97k dân), Nay Pyi Taw (925k dân) và Yamethin (60k dân); cấp VIII là Mandalay (1,208 k dân) và Taungoo (107k dân).
Nhìn chung, dân số trong khu vực này sinh sống trong các công trình dễ bị rung chuyển do động đất, mặc dù có những công trình chịu được. Các loại công trình dễ bị tổn thương chủ yếu là công trình không chính thức (kim loại, gỗ, thép mạ kẽm (GI), v.v.) và các loại công trình không xác định/lẫn lộn.
Tác động thứ cấp Các trận động đất gần đây trong khu vực này đã gây ra các mối nguy hiểm thứ cấp như lở đất có thể góp phần gây ra thiệt hại.
Báo cáo của PAGER cho thấy cường độ động đất lên đến IX (dữ dội) tại tâm chấn và một số khu vực xung quanh với thiệt hại có thể nhân mạng và kinh tế đều mức màu đỏ (mức cảnh báo cao nhất về thiệt hại do chấn động)
Dự báo về Dư chấn của trận động đất này từ USGS
USGS ước tính khả năng xảy ra nhiều dư chấn hơn trong tuần tới cho đến ngày 6 tháng 4 năm 2025 lúc 23:00 (UTC) như sau:
Có hơn 99% khả năng xảy ra dư chấn có độ lớn từ 3 trở lên trong tuần tới và nhiều khả năng xảy ra từ 21 đến 460 dư chấn. Có hơn 99% khả năng xảy ra dư chấn có độ lớn từ 4 trở lên trong tuần tới và nhiều khả năng xảy ra từ 2 đến 45 dư chấn. Có 72% khả năng xảy ra dư chấn có độ lớn từ 5 trở lên trong tuần tới và nhiều khả năng xảy ra từ 0 đến 5 dư chấn. Có 13% khả năng xảy ra dư chấn có độ lớn từ 6 trở lên trong tuần tới và nhiều khả năng xảy ra từ 0 đến 1 dư chấn. Có 1% khả năng xảy ra dư chấn có độ lớn 7 trở lên trong tuần tới, một trận động đất như vậy là có thể xảy ra nhưng với xác suất thấp. Có 1/300 khả năng (0,3%) rằng trận động đất này trở thành tiền chấn của một trận động đất lớn hơn (độ lớn 7,7 trở lên) trong tuần tới, một trận động đất như vậy là có thể xảy ra nhưng với xác suất thấp.
Tuy nhiên Dự báo của USGS thay đổi theo thời gian, đặc biệt là trong 72 giờ đầu sau một trận động đất chính. Những thay đổi này xảy ra do ba lý do: sự suy giảm thông thường của các dư chấn theo thời gian, các dư chấn lớn hơn gây ra nhiều hoạt động hơn và những thay đổi trong mô hình dự báo do quá trình thu thập dữ liệu đang diễn ra.
Vào ngày 06/10/2023, Ngày Quốc tế Đa dạng địa học sẽ được tổ chức lần thứ hai trên thế giới với chủ đề là ” Đa dạng địa học dành cho mọi người”. Chủ đề năm nay phản ánh rằng đa dạng địa học ở xung quanh chúng ta và ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả mọi người dù họ ở đâu trên thế giới. Đây cũng là cơ hội để thúc đẩy sự tham gia rộng rãi hơn vào giáo dục và nghề nghiệp khoa học địa chất. Trong bài viết dưới đây, mời các độc giả cùng Địa môi trường lý giải xem vì sao đa dạng địa học lại quan trọng đối với Trái đất và với chúng ta như vậy. Bài viết được lược dịch từ Website của geodiversity.org.
Điều hòa các quá trình tự nhiên: Đá và các quá trình địa chất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hòa. Ví dụ như, dòng chảy của một con sông được điều hòa bởi mực nước dưới đất, vì thế mùa kiệt sông vẫn có thể chảy. Đá và trầm tích cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch nước mặt trước khi vào tầng ngậm nước.
2. Hình thành đất và nông nghiệp: Phong hóa đá là quá trình cơ bản hình thành đất, nền tảng của nông nghiệp, ngành nghề cung cấp cho con người nguồn lương thực, thực phẩm. Cụ thể, đối với một số quốc gia đang phát triển ở châu Phi và những lục địa khác, nâng cao chất lượng môi trường đất và nước, giảm thiểu xói mòn đất là vô cùng quan trọng và cần thiết.
3. Sự sống trên Trái Đất: Đa dạng địa học là nền móng cho đa dạng sinh học.
4. Sự phát triển kinh tế – xã hội: Loài người cũng dựa vào sự đa dạng về tài nguyên địa chất. Họ đã biết sử dụng tài nguyên khoáng sản từ thuở sơ khai, và bây giờ chúng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội hiện đại ngày nay. Nếu sử dụng một cách bền vững, nguồn khoáng sản dồi dào tạo nên sự thịnh vượng, phát đạt, môi trường tự nhiên xã hội đầy sức sống và hòa bình.
Ngoài ra, vấn đề phát triển các siêu đô thị về số lượng và quy mô tạo ra thách thức khổng lồ. Sự ứng dụng kiến thức địa học để xây dựng, hỗ trợ công trình kiến trúc cho cơ sở hạ tầng ở mọi kích cỡ: đập, đường xá, đường hầm, tòa nhà, đường băng, bến cảng, đường ống dẫn dầu.
5. Quản lý và ngăn chặn thiên tai: Kiến thức khoa học về các quá trình địa chất địa mạo xảy ra trong tự nhiên vô cùng quan trọng trong việc ngăn chặn thiên tai với con người (động đất, sống thần, núi lửa, lũ lụt, trượt đất) và để hỗ trợ đưa ra các quyết định thông minh về quy hoạch đất đai và quản lý không gian.
6. Dự báo và thích nghi: Khoa học dựa vào đa dạng địa học góp phần hiểu biết về biến đổi khí hậu trong quá khứ. Kiến thức này có thể ứng dụng để hiểu hơn cách khí hậu có thể biến đổi trong tương lai, cho phép con người thích nghi hiệu quả hơn.
7. Lợi ích kinh tế: Đa dạng địa học đặc trưng bởi những cảnh quan tuyệt đẹp như núi, hang động, bờ biển, … phục vụ cho địa du lịch. Điều này tạo ra tiềm năng lợi ích kinh tế và dân địa phương.
8. Giáo dục và thách thức tương lai: Đa dạng địa học hiện diện đầy đủ như một phòng thí nghiệm ngoài trời, cũng là nơi minh họa cho sách giáo khoa, truyền đạt cho các thế hệ sau về lịch sử Trái Đất, làm thế nào để sử dụng bền vững nguồn tài nguyên Trái Đất và cách thức khoa học cần phải làm để vượt qua những thách thức trong tương lai.
Như vậy, có thể kết luận rằng, đa dạng địa học là nền tảng của cộng đồng, là phần nội tại trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.
Ngày 14/07/2023, Hội thảo khoa học Địa chất Đệ tứ Việt Nam, Kết quả nghiên cứu cơ bản và định hướng ứng dụng đã được tổ chức tại Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam dưới sự phối hợp tổ chức của ba đơn vị và Hội Đệ Tứ – Địa mạo Việt Nam, Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam và Phân viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản phía Nam.
Phần 1- Phát biểu khai mạc, chào mừng Hội thảo. Giới thiệu chương trình, mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu Đệ tứ trong giai đoạn mới ở đồng bằng Nam Bộ
Phần 2- Các báo cáo Khoa học tại hội thảo. Tại hội thảo 6 bài báo cáo tham luận của các nhà Khoa học đã được trình bày.
Một số ứng dụng từ cuốn sách “ Địa chất Đệ tứ Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Tâm, 2022 – Trình bày: KS. Nguyễn Đức Tâm
Địa chất Đệ tứ Việt Nam là 01 cuốn sách lớn, hệ thống hoá kết quả nghiên cứu hơn nửa thế kỷ về địa chất Đệ tứ ở Việt nam và của chính tác giả . Nội dung vừa có tính khái quát, vừa có những điểm nhấn, cụ thể, chi tiết hoá; có phần ứng dụng và định hướng ứng dụng, đề xuất nghiên cứu tiếp. Khái quát thể hiện ở bản đồ Địa chất Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, thang địa tầng và các mặt cắt trầm tích Đệ tứ và các mô tả với rất nhiều ảnh chụp minh hoạ kèm theo ở các đồng bằng và dải đồng bằng lớn. Chi tiết và đặc biệt chi tiết khi xác định, liên hệ các tầng trầm tích, các bậc thềm biển, các di chỉ khảo cổ học với nhau và với các đợt biển tiến Yên Mô tuổi Pleistocen giữa; biển tiến Cát Lâm, Bỉm Sơn, Vĩnh Phúc tuổi Pleistocen muộn; biển tiến Đống Đa, biển lấn Quảng Xương, biển tiến hiện đại tuổi Holocen. Nhiểu vấn đề ứng dụng liên quan với kết quả nghiên cứu tài nguyên, môi trường, văn hoá – lịch sử cũng có trong cuốn sách.
Nội dung cuốn sách rất phong phú nhưng trong khuôn khổ Hội thảo, Tác giả tập trung giới thiệu 05 ứng dụng liên quan với cuốn sách của mình: 1)- Tài liệu trầm tích Đệ tứ Việt nam và ứng dụng cho Địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, tìm kiếm khoáng sản, nghiên cứu cải tạo thổ nhưỡng; 2)-Tài liệu khảo cổ học và ứng dụng cho nghiên cứu lịch sử hình thành loài người ở Việt Nam và Đông Nam Á; 3)- Tài liệu về biến đổi khí hậu hiện đại vả ưng dụng cho qui hoạch lại sản xuất – dân cư và bảo vệ môi trường vùng miền ven biển; 4)- Về đảo cực từ trường quả đất và ứng dụng để tìm hiểu ảnh hưởng đến môi trường; 5)- Những việc cần làm.
Đặc điểm các trầm tích Holocen ở đồng bằng Thừa Thiên Huế, tai biến địa chất và di sản địa chất liên quan – Trình bày: TS. Vũ Quang Lân
TS. Vũ Quang Lân, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Bắc, chủ biên, tác giả của nhiều đề án đo vẽ bản đồ địa chất, tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1/50.000; trong đó có các đề án ở đồng án ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng đồng bằng Thừa Thiên – Huế.
Báo cáo tập trung trình bày 03 vấn đề: 1)- Đặc điềm các trầm tích Holocen; 2)-Tai biến địa chất liên quan với các trầm tích Holocen; 3)- Tiềm năng di sản địa chất; du lịch địa chất; đáp ứng lịch văn hoá liên quan với các trầm tích Holocen.
Giới thiệu về Geosite và Geodiversity – Trình bày: PGS.TS Hà Quang Hải
PGS.TS. Hà Quang Hải, nguyên là Chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp Hồ Chí Minh; cùng với KS. Ma Công Cọ đồng chủ nhiệm đề án đo vẽ địa chất, tìm kiếm khoáng Tp Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000, năm 1988; chuyên gia địa mạo – địa chất, môi trường, địa chất môi trường. PGS.TS. Hà Quang Hải là một trong số ít người đã sớm tiếp cận khái niệm Geosite và Geodiversty, đưa chúng vào nghiên cứu, phổ biến, giảng dạy ở Việt Nam, đã hướng dẫn 01 NCS bảo vệ thành công luận án TS về Geosite và Geodiversty.
Báo cáo khẳng định Geosite (di sản địa chất) là 01 phần của địa quyển có ý nghĩa quan trọng đặc biệt để nhận thưc về lịch sử trái đất; là 01 dạng tài nguyên địa chất có giá trị, rất có giá trị; cần quan tâm, nghiên cứu, quy hoạch, quảng bá, bảo vệ và bảo tồn, khai thác để phát triển du lịch, kinh tế – xã hội. Các khái niệm Geosite và Geodiversity (đa dạng địa học); các tiêu chí xác định chính, các giá trị bổ sung và mối quan hệ của chúng đối với nhau được trình bày rõ ràng trong báo cáo.
Lựa chọn phương pháp mới trong Lập bản đồ địa chất khoáng sản tỉ lệ 1:50.000 vùng đồng bằng châu thổ Việt Nam – Trình bày: ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy
ThS. Nguyễn Thị Thu Thuỷ, phó phòng Kỹ thuật Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam, rất tâm huyết với việc xây dựng cơ sở dữ liệu, xử lý, chia sẻ, khai thác dữ liệu theo công nghệ tin học 4.0 và các phương pháp nghiên cứu hiện đại.
Báo cáo trình bày tại Hội thảo của ThS. Nguyễn Thị Thu Thuỷ, một mặt, nêu những hạn chế của các phương pháp nghiên cứu truyền thống, hạn chế của việc áp dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực địa chất hiện nay; mặt khác, nêu lên sự cần thiết, khả năng và hiệu quả, lợi ích to lớn của việc áp dụng triệt để công nghệ tin học và các phương pháp nghiên cứu hiện đại phục vụ cho việc nghiên cứu địa chất địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường đa mục tiêu.
Giới thiệu giải pháp sáng chế “ Đập mở để ngăn thủy triều và giữ nước sông” – Trình bày: TS Hoàng Ngọc Kỷ
TS. Hoàng Ngọc Kỷ sinh năm 1936, nhà địa chất lão thành; từng là chủ biên 4 phương án đo vẽ bản đo vẽ địa chất – khoáng sản tỷ lệ 1/200.000 cụm tờ Hà Nội, Hải Phòng – Nam Định, Thanh Hoá –Vinh và Đồng bằng Nam Bộ; là một trong các tác giả của Bản đồ địa chất và Khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 – công trình được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2005. Ông đã có 03 công trình được in ấn, xuất bản: chủ biên chuyên khảo “Loess nguồn gốc gió ở Việt Nam và Đông Nam Á”; tác giả cuốn sách “Địa chất và môi trường Đệ Tứ Việt Nam; tác giả cuốn sách “An ninh Môi trường – Hiểm họa và phương pháp phòng chống”.
Báo cáo Giới thiệu giải pháp sáng chế “Đập mở để ngăn thuỷ triều và giữ nước sông” là 01 ý tưởng khoa học liên quan với nền móng công trình; trầm tích và quá trình địa chất, địa mạo, thuỷ văn, thuỷ triều hiện đại. Mục tiêu của giải pháp là chủ động trữ nước ngọt, hạn chế ảnh hưởng của thuỷ triều, xâm nhập mặn; phục vụ sản xuất và dân sinh trên các đồng bằng và đô thi ven biển; bảo đảm giao thông thuỷ; giảm chi phí xây dựng, vận hành, bảo trì đập. Giải pháp đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN cấp bằng sáng chế độc quyền số 1901 ngày 25/4/2019; ngày 5/4/2023 đã được UBND Tp Hồ Chí Minh cho phép tổ chức nghiên cứu thử nghiệm.
Tác giả dự kiến chọn 01 trong 2 cửa kênh: Tham Lương hoặc Gò Công để tổ chức nghiên cứu thử nghiệm, kêu gọi các nhà khoa học chia sẻ, cùng hợp tác lập dự án và nghiên cứu.
Một vài vấn đề từ các kết quả nghiên cứu trượt lở đất, đứt gãy, địa mạo thủy văn – Trình bày: TS. Vũ Văn Vĩnh.
TS. Vũ Văn Vĩnh, Phó chủ tịch Hội Đệ tứ – Địa mạo Việt Nam, tác giả thành phần của hơn 15 đề án điều tra nghiên cứu địa chất – khoáng sản, lập bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000, 1/50.000; địa chất đô thị tỷ lệ 1/25.000. Là chủ biên hoặc tác giả chính của nhiều đề tài nghiên cứu về môi trường địa chất, tai biến địa chất, địa mạo thuỷ văn; phân tích địa mạo phát hiện, xác định các đứt gãy, miệng núi lửa phục vụ việc tìm kiếm nước dưới đất; xác định và dự báo trượt lở đất, lún sụt đất, biến dạng nền đất.
Nứt trượt lở đất ở Đak Nông do 2 nguyên nhân: 1)- Nguyên nhân sâu xa là điều kiện cần cho trượt lở đất – Xung yếu về địa chất và bất ổn về địa mạo. 2)- Nguyên nhân trực tiếp là điều kiện đủ – Tác động bất thường, kích thích như do mưa lớn tập trung dài ngày; do tác động nhân sinh,…Nơi xung yếu về địa chất là nơi có các miệng nón núi lửa, có các đứt gãy, đặc biệt rõ và mạnh mẽ ở nơi chúng tập trung, nơi giao nhau của chúng. Nơi bất ổn về địa mạo là nơi xâm thực sâu hoặc xâm thực ngang cắt vào chúng, cắt chân khối trượt. Các miệng nón núi lửa được nhận dạng dựa trên thuyết hiện tại luận, bắt đầu từ các miệng nón núi lửa tuổi Holocen, Pleistocen muộn. Các đứt gãy được phát hiện, xác định bằng phân tích địa mạo đều có cơ sở địa chất, tài liệu địa chất, địa vật lý kiểm chứng.
Dựa theo nguyên nhân đã được xác định năm 2005 phân tích địa mạo đã phát hiện thêm nhiểu cung trượt mới và cũ; đã dự đoán nguy cơ nứt trượt lở đất cho các địa chỉ khu, tuyến, điểm cụ thể. Kết qủa dự báo năm 2005 còn được kiểm chứng là tin cậy khi nứt trượt lở đất xảy ra ở Đak Nông vào tháng 6/2006, tháng 9/2007.
Có thể xem nguyên nhân nứt trượt lở đất ở Đak Nông là công thức chung cho việc xác định nguyên nhân, dự báo nứt trượt lở đất ở những vùng phát triển các đá không phải là bazan, dự báo sạt lở bờ sông.
Chụp hình lưu niệm tại Hội thảo
Đến với Hội thảo, thay mặt tập thể tác giả, PGS. TS Tạ Hòa Phương (Chủ biên) và PGS.TS Đặng Văn Bào đã gửi tặng các đơn vị ấn phẩm “ Kỳ quan hang động Quảng Bình Việt Nam”.
Hội thảo sẽ là một bước quan trọng trong việc thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ kiến thức và có thể sẽ tạo ra cơ hội để các nhà khoa học lão thành, đã có tuổi và các thế hệ trẻ thuộc nhiều hướng chuyên sâu khác nhau có thể hợp tác với nhau trong giải quyết các nhiệm vụ quan trọng trong điều tra cơ bản về địa chất nói chung, địa chất Đệ tứ – địa mạo, hướng tới sử dụng bền vững các dạng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai.
Hội thảo kết thúc với một số kết luận về những gợi mở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về địa chất Đệ tứ. Trong bối cảnh hội nhập, các kỹ thuật mới không ngừng phát triển sẽ là cơ hội và cũng là thách thức cho ngành Địa chất. Một tín hiệu vui là các vấn đề liên quan đến “địa di sản” đã được trình bày và thảo luận qua hầu hết các chủ đề báo cáo và hứa hẹn sẽ là một định hướng nghiên cứu được các nhà địa chất quan tâm trong thời gian tới đây.
Phương Chi ghi từ Các kết quả của Hội thảo.
Phần 2: Khám phá hang động núi lửa và cánh đồng dung nham Nâm B’lang
Khác với những hang động Karst kỳ vĩ ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam hình thành từ hoạt động ngoại sinh, hệ thống hang động của CVĐC toàn cầu Đắk Nông được hình thành từ hoạt động nội sinh của Trái Đất – phun trào núi lửa. Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện ra ít nhất 50 hang động núi lửa (lava tube), liên quan chặt chẽ đến hoạt động của núi lửa Nâm B’lang ở xã Buôn Chóah, huyện Krông Nô. Nổi bật nhất là hang C7 dài 1.217m (vừa mới được phát hiện thêm 150m) dài nhất khu vực Đông Nam Á.
ĐN04, 05 – Hệ thống hang động núi lửa C3-C4, C6.1
Trong chuyến thực địa này, các nhóm khám phá sẽ được chia nhỏ ra để lần lượt vào các hang khác nhau, tùy vào khả năng tiếp cận của hang (có hang cửa vào là hố sụt nên cần phải có thang dây leo vào) và kinh nghiệm của du khách (thể lực và biết sử dụng thiết bị SRT). Nhóm chúng tôi được xếp vào các nhóm hang dễ tiếp cận đó là: C3-C4 và C6.1 vào ngày 25 tháng 11, và C8, C9 vào ngày 26 tháng 11.
9g sáng, chúng tôi xuống xe và đi bộ vào rừng khoảng 3km để đến được cửa hang C3-C4. Đoàn chúng tôi được anh Tuấn từ Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản dẫn đường đến các cửa hang.
Hang C3-C4 thông nhau và có 2 cửa riêng biệt. Hang cao 20m và rộng khoảng 15m, tổng chiều dài 903,7m. Các cửa hang hình thành do trần của ống dung nham sập xuống để lại những khối đá khổng lồ nên dễ dàng cho chúng tôi leo vào.
Mỗi thành viên trong đoàn được trang bị 1 nón bảo hiểm và 1 đèn pin để quan sát và di chuyển trong hang. Mỗi một chi tiết bên trong hang động, trên tường hang hoặc trên trần hang đều thể hiện các dấu vết của dòng dung nham đã từng chảy qua và từ đó các nhà khoa học biết được đặc tính của dung nham.
Hình 1. Cửa hang C3 Hình 2. Các chuyên gia trong hang động khám phá trong hang C3
Hang C6.1: Sau bữa ăn trưa ở trại láng, chúng tôi tiếp tục khám phá hang 6.1, nơi có dấu vết của người tiền sử.
Hang 6.1 được tìm ra vào năm 2015. Cửa hang hình thành do sập trần nhà có chiều rộng 20m và nằm ở độ sâu 7m, ngăn lối đi ở phía nam. Hang khá ngắn, trần hang có nhiều nơi yếu và hiện đang được bảo vệ nghiêm ngặt. Các ngấn dung nham dễ dàng tìm thấy ở cửa hang. Hệ sinh thái tại cửa hang rất phong phú và ấn tượng với cây môn khổng lồ. Trong hang có rất nhiều dơi nên người dân cũng từng đến đây khai thác phân dơi. Vô tình, họ tìm thấy nhiều đồ tạo tác khảo cổ như: rìu bầu dụng, mảnh gỗ và đồ gốm. Năm 2018, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đã tiến hành khai quật và phát hiện di cốt người tiền sử đầu tiên ở Tây Nguyên.
Hình 3. Phương Khanh tại cửa hang C6.1 có ngấn dung nham Hình 4. Di tích khai quật mộ của người tiền sử ở hang C6.1, trần hang yếu
ĐN06 – Thác Gia Long
Thác Gia Long trước kia có tên là Dray Sap Thượng. Trong một lần dạo thăm, vua Bảo Đại đã đặt tên là thác Gia Long. Cũng như Dray Sap, thác Gia Long được hình thành từ dòng chảy basalt của núi lửa Nâm B’lang. Đứng từ trên, chúng tôi dễ dàng quan sát các dạng basalt cột tách rời bao quanh bởi dòng nước màu ngọc bích đặc trưng.
Hình 6. Thác Gia Long
Ngày 26 tháng 11: Tham quan núi lửa Nam B’lang và hang C8, C9
ĐN07 – Núi lửa Nâm Blang và cánh đồng núi lửa.
Buổi sáng thức dậy, sau khi check out phòng, xe đưa chúng tôi đến địa điểm tập kết tại khách sạn Quốc Huấn. Tại đây, chúng tôi được nhập đoàn mới và trekking băng qua cánh đồng núi lửa Nâm B’lang để đi đến hang C8 và C9 tại xã Buôn Choah, huyện Krông Nô .
Con đường băng qua cánh đồng vô cùng nên thơ. Xa xa là những luống ngô đã thu hoạch xong, điểm xuyến cùng đồng hoa xuyến chi reo mình trong gió. Trên đường đi, chúng tôi cũng được ngắm núi lửa mẹ Nâm B’lang có tuổi Pleisstocen giữa (trẻ nhất là 199 nghìn năm và cổ nhất là 689 nghìn năm).
Hình 7. Núi lửa Nâm B’lang nhìn từ xa
ĐN 08,09 – Hang động núi lửa C8, C9
Hang C8 và C9 được đánh giá là khá đẹp và dễ dàng đi vào. Chúng tôi mất khoảng hơn 45 phút mới tiếp cận được miệng hang. Hang C8 có cơ chế hình thành vô cùng phức tạp nhưng cũng rất thú vị. Nơi đây như một bảo tàng sống động về nội thất bên trong hang núi lửa như: thạch nhũ nguyên sinh, thạch nhũ thứ sinh, pahoehoe, gò than đá (dấu tích của cây cối đã bị đốt), giếng trời “skylight”, vòm hang, …
Hang C9 ngắn hơn (dài 131,7 m). Điểm đặc biệt của hang là có 1 hố sụt rất lớn và hệ sinh thái khổng lồ tại cửa hang động.
Hình 8. Pahoehoe trong hang C8 Hình 9. Thạch nhũ thứ sinh calciteHình 10. Cửa hang C9 Hình 11. Cửa hang C8
Lời kết
Nhóm đã có một hành trình tuyệt vời cùng những trải nghiệm khó quên trong cuộc đời. Các di sản địa chất – địa mạo cũng như văn hóa lịch sử là kho báu vô cùng đáng giá của CVĐCTC Đắk Nông. Chuyến đi này là tài nguyên rất hữu ích cho những bài giảng trong giáo dục địa môi trường về sau.
Trong lần băng rừng đến hang C3, tôi đã có dịp trò chuyện cùng một chuyên gia người Anh vô cùng thân thiện. Bác kể rất nhiều về vấn đề phát triển bền vững, làm thế nào để có tiếng nói chung về lợi ích kinh tế và môi trường. “It’s about for the long-term”- “Nó dành cho một quá trình dài lâu”. Điều quan trọng là sự lựa chọn cho sự tồn tại lâu dài của những tài nguyên mà bạn đang sử dụng để phục vụ cho mình. Phát triển địa du lịch chính là sự lựa chọn cho tính bền vững này.
Lời cảm ơn
Qua đây, nhóm địa môi trường xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Quản lý CVĐCTC Đắk Nông, chị Tôn Thị Ngọc Hanh, cũng như các anh chị trong ban tổ chức, điều hành tour, cộng tác viên: anh Ngọc Bảo, chị Thu Nguyên, anh Hưng, anh Nhật Linh, chị Hoàng Anh, chị Bạch Vân, chị Hằng, chị Diệu,.. cùng tất cả các anh chị khác đã hỗ trợ vô cùng nhiệt tình.
Nhóm cũng xin cảm ơn đến các anh chị đã đồng hành cùng 2 cô trò trong chuyến thực địa 3 ngày 2 đêm khám phá CVĐCTC Đắk Nông: chị Hạnh, anh Tuấn, anh Hưng, chị Inna, chị Alice, bà Julia cùng tất cả các chuyên gia địa chất, núi lửa học, khảo cổ học,…Tất cả là sự động viên tinh thần to lớn dành cho cô trò qua hành trình chinh phục các hang động tuyệt vời này.
Hình 12. Những người bạn đồng hành Hình 13. Anh Ngọc Bảo, một trong những thành viên chính trong ban tổ chức.
Bài viết trước cho thấy con người đã nhận ra được tầm quan trọng của Đa dạng sinh học (ĐDSH) và ra sức bảo tồn ĐDSH từ lâu, trong khi chỉ mới gần đây chúng ta mới bắt đầu có sự nhận thức toàn cầu về Đa dạng địa học (ĐDĐH) và vẫn đang trên con đường tiến tới các hoạt động bảo tồn chúng. Một thực tế chính là nếu không có “cái nền phi sinh” – ĐDĐH thì sẽ không có ĐDSH – thế giới hữu sinh bên trên. Các nghiên cứu đã cho thấy có một sự tương đồng giữa ĐDĐH và ĐDSH. ĐDĐH và ĐDSH đều là hai yếu tố cấu trúc và động lực của «đa dạng tự nhiên», với các liên kết và các mối quan hệ phức tạp.
Sự tương đồng giữa ĐDĐH – ĐDSH
Đa dạng địa học được minh họa bởi 5.000 khoáng vật đã được phát hiện trên thế giới, trong đó có một số khoáng vật rất quý (Hình 1). Các khoáng vật được đặc trưng bởi cấu trúc tinh thể hoặc kích thước hạt, hình dạng, màu sắc và khi kết hợp với nhau sẽ tạo ra hàng ngàn kiểu đá được gọi tên khác nhau. Khoảng một triệu loài hóa thạch đã được xác định, hàng triệu loài chưa được phát hiện [1], [2]. Trên bề mặt trái đất, các quá trình vật lý vẫn tiếp tục diễn ra và đã tạo nên sự đa dạng về địa chất và địa mạo rất lớn (ví dụ: bờ biển, băng hà, sườn dốc, gió, dòng chảy, phong hóa, núi lửa, kiến tạo…).
Hình 1. Các khoáng vật trên thế giới
Khoa học ghi nhận học thuyết Tiến hóa của Charles Darwin lý giải cho sự phát triển của muôn loài nhưng ít ai biết rằng Darwin chính nhờ đọc sách “Các nguyên lý địa chất” (1830) của Charles Lyell mới có thể hình thành được học thuyết của mình. Căn cứ vào sự ảnh hưởng của đa dạng địa học đối với đa dạng sinh học và sự tiến hóa của nó, có thể nhận thấy đa dạng địa học là nền tảng cho sự sống phức tạp phát triển. Các nhà khoa học trái đất ở Tasmania đã đưa ra những nhận xét về sự tương đương ĐDĐH và ĐDSH trong thế giới phi sinh (Bảng 1).
Bảng 1. Sự tương đương giữa đa dạng địa học và đa dạng sinh học
Đa dạng địa học là nền tảng của Đa dạng sinh học
ĐDĐH đã tồn tại lâu đời bắt nguồn từ sự tiến hóa ban đầu của lớp vỏ lục địa cách đây khoảng 3 tỷ năm, trong khi sự gia tăng đột biến lớn về ĐDSH phù hợp với sự phát triển của cuộc sống phức tạp, đa bào chỉ dưới 1 tỷ năm về trước [4] (Hình 2). Cần lưu ý rằng cả hai đường cong này đều dựa trên dữ liệu địa chất. Đường cong ĐDSH (Benton & Harper, 2009) dựa trên hồ sơ hóa thạch và minh họa một thời kỳ dài của sự sống đơn bào từ khoảng 3,4 tỷ đến 550 triệu năm trước (mặc dù có bằng chứng cho thấy sự sống đa tế bào có thể lâu hơn một triệu năm) tiếp theo là sự bùng nổ của các dạng sống trong kỷ Cambri và sự gia tăng đa dạng sinh học tiếp theo được nhấn mạnh bởi nhiều dòng chảy do một loạt các sự kiện tuyệt chủng. Đường cong ĐDĐH (Gray, 2008,2013) sử dụng công trình của một số tác giả trong việc tái tạo lại sự phát triển của lớp vỏ lục địa làm đại diện cho ĐDĐH vì điều này sẽ chỉ phát triển mạnh mẽ khi các khối lục địa đáng kể ra đời cách đây khoảng 3 tỷ năm. Cũng cần lưu ý rằng khi sự bùng nổ sự sống ở kỷ Cambri xảy ra, phần lớn ĐDĐH của Trái đất đã có sẵn, do đó sự đa dạng của môi trường vật chất cho phép sự đa dạng hóa các loài xảy ra trong những môi trường sống khác nhau này.
Hình 2. Đường cong ĐDSH và ĐDĐH theo thời gian [5]
Dịch vụ Đa dạng địa học
Giá trị của ĐDSH được đánh giá bằng các “Dịch vụ hệ sinh thái:, và dựa vào cách tiếp cận này, Murray Gray (2012) [9] đã đề xuất cách đánh giá “Dịch vụ địa học” cho phép chúng ta có một cách nhìn nhận toàn diện hơn về giá trị mà thế giới phi sinh đã đem lại cho chúng ta.
Các giá trị tổng hợp của ĐDĐH là đáng kể và cùng nhau cung cấp cho xã hội một loạt các “dịch vụ hệ thống địa học” (geosystem services), tương đương thành phần phi sinh của “các dịch vụ hệ sinh thái”. Chúng hoàn toàn cần thiết để duy trì các xã hội hiện đại về cả mặt vật chất và tinh thần và xứng đáng được xã hội và đặc biệt là những người ra quyết định hiểu rõ hơn. Chúng ta cần một cách tiếp cận toàn diện hơn để đánh giá, bảo tồn và quản lý thiên nhiên bao gồm cả ĐDĐH và ĐDSH và điều này đặc biệt đúng vào thời điểm các mối đe dọa đối với thiên nhiên ngày càng gia tăng do các hành động của con người và biến đổi khí hậu.
Hình 3 minh họa một sơ đồ tóm tắt có “đa dạng địa học” là điểm khởi đầu của các hàng hóa và dịch vụ phi sinh, vì điểm cơ bản là tất cả những lợi ích có được này là do sự đa dạng của nền – yếu tố phi sinh – đã mang đến cho chúng ta một loạt các vật liệu, quy trình và giá trị phục vụ cho tồn tại và phát triển, đó là: 1) Dịch vụ điều tiết, 2) Dịch vụ hỗ trợ, 3) Dịch vụ Văn hóa, 4) Dịch vụ và hàng hóa cung cấp, 5) Dịch vụ kiến thức.
Hình 3. Sơ đồ phác thảo các hàng hóa và dịch vụ phi sinh học từ sự đa dạng địa học của hành tinh.
Như vậy rõ ràng, nếu không có ĐDĐH thì cũng sẽ không thể có ĐDSH trong tự nhiên. Do đó, bảo tồn ĐDĐH sẽ là điều tất yếu trong bảo tồn thiên nhiên nói chung và bảo tồn địa học nói riêng. Ngày Quốc tế ĐDĐH sắp tới đây sẽ là một dịp để chúng ta, những nhà khoa học cũng như cộng đồng cùng nâng cao sự hiểu biết về ĐDĐH và gìn giữ chúng bởi những giá trị hệ thống địa học mà chúng ta đang thụ hưởng trong cuộc sống hàng ngày bắt nguồn từ chính sự đa dạng của thế giới phi sinh mà từ lâu nay chúng ta không hề hay biết.
Tài liệu tham khảo
1. Murray Gray (2004), Geodiversity: valuing and conservating abiotic nature, John Wiley & Sons Ltd, The Atrium, Southern Gate, Chichester, West Sussex PO19 8SQ, England.
2. Gray – 2005 – Geodiversity and Geoconservation What, Why, and H.pdf. .
3. Ng S., Li J., Fang S. và cộng sự. (2010). Geodiversity and Geoconservation in Hong Kong. Asian Geographer, 27(1–2), 1–11.
4. Chakraborty A. và Gray M. (2020). A call for mainstreaming geodiversity in nature conservation research and praxis. Journal for Nature Conservation, 56, 125862.
Trong khuôn khổ chào mừng ngày Quốc tế Đa dạng địa học đầu tiên 06/10/2022, Cổng thông tin Địa môi trường xin được giới thiệu chuỗi các bài viết với hy vọng sẽ chuyển tải đến các nhà khoa học, quý thầy cô và các bạn sinh viên cùng các độc giả những nội dung cơ bản nhất về Đa dạng địa học và các vấn đề liên quan.
Bảo tồn tự nhiên là một trong những vấn đề đã được quan tâm từ rất sớm, khi con người nhận thức được giá trị mà chúng mang lại. Khái niệm bảo tồn thiên nhiên đã hình thành từ khá lâu, vào khoảng năm 680 sau CN với hình thức Khu bảo tồn Động vật hoang dã tại Anh [1]. Bảo tồn sinh học – bảo tồn thế giới sự sống đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học nhất là từ thế kỷ 18 tại các quốc gia châu Âu, đặc biệt là Anh Quốc. Khái niệm về sự đa dạng sinh học lần đầu tiên (biological diversity) đã được đề cập trong tác phẩm The Variable Desert từ năm 1916 [2]. Cho đến năm 1972, bảo tồn tự nhiên cũng được nhắc đến trong Công ước di sản Thế giới về bảo vệ thiên nhiên và văn hóa thế giới của UNESCO. Đến năm 1988, thuật ngữ Đa dạng sinh học (ĐDSH) – “biodiversity” chính thức được Edward Osborne Wilson (cha đẻ của ĐDSH [4]) đề xuất và sử dụng trong các công bố khoa học [5]. Và đến 1992, Công ước về Đa dạng sinh học ra đời và ngày Quốc tế Đa dạng sinh học cũng được tổ chức đầu tiên vào năm 1993.
Bảo tồn sinh học và sự hình thành khái niệm đa dạng sinh học
Còn về mảng địa học, mặc dù ý thức về bảo tồn địa học cũng được hình thành từ lâu, ví dụ như bảo tồn Hang động tại Đức (1668), hay hình thành Công viên Quốc gia Yellowstone tại Mỹ để bảo tồn thiên nhiên (chủ yếu là bảo vệ giá trị địa di sản) (1872) hay các hoạt động bảo tồn tại Tasmania (Úc) trong những năm 1990s [2], nhưng khái niệm về Đa dạng địa học (ĐDĐH) và tầm quan trọng của nó đối với Trái đất vẫn chưa được thực sự quan tâm chú ý. Phần lớn trọng tâm bảo tồn thiên nhiên trong giai đoạn đó là về sinh vật – đa dạng sinh học chứ chưa nhà khoa học nào nói đến sự quan trọng của yếu tố nền – địa học. Sự phát triển của ĐDSH đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học địa chất với câu hỏi đặt ra rằng họ cũng nên nghiên cứu sự đa dạng địa học trên trái đất này. Mãi đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, các Chương trình, tổ chức với mục tiêu bảo tồn địa học mới lần lượt ra đời như GEOSITES của IUGS (1996) và Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu của UNESCO (2004). Và một cột mốc quan trọng là ngày Quốc tế Đa dạng địa học đã được thông qua vào năm 2021 và sẽ tổ chức lần đầu tiên vào 06/10/2022.
Bảo tồn địa học và sự hình thành khái niệm đa dạng địa học
Tương tự về quá trình bảo tồn địa học, các định nghĩa về ĐDĐH cũng xuất hiện khá lâu sau khi có khái niệm ĐDSH. Một số định nghĩa ĐDĐH được ghi nhận dưới đây.
Các định nghĩa của Úc (1980s – 1990s)
Vào những năm 1980, một số khái niệm đầu tiên về các đối tượng phi sinh đã được tác giả Kevin Kiernan (Đại học Tasmania) sử dụng. Trong các nghiên cứu của mình, ông đưa các thuật ngữ như “đa dạng địa hình” (landform diversity), “đa dạng địa mạo” (geomorphic diversity), và đã vẽ sự tương đồng giữa khái niệm ĐDSH đối với các loài theo địa hình (landform species) và cộng đồng theo địa hình (landform communities) [3].
Và không lâu sau đó, trong nghiên cứu năm 1993, Sharples đã đưa ra thuật ngữ “Đa dạng địa học” (geodiversity) và thuật ngữ này được chính thức công nhận vào tại Malvern International Conference cũng trong năm 1993 [4] [5].
Định nghĩa phổ biến nhất về Đa dạng địa học (ĐDĐH) được đưa ra bởi Hiến chương Di sản Thiên nhiên Úc (AHC 2002): ĐDĐH có nghĩa là phạm vi tự nhiên (đa dạng) của địa chất (đá gốc), địa mạo (địa hình) và các đặc điểm, tổ hợp, hệ thống và quá trình của đất. Đa dạng địa học bao gồm bằng chứng về cuộc sống trong quá khứ, các hệ sinh thái và môi trường trong lịch sử trái đất cũng như một loạt các quá trình khí quyển, thủy văn và sinh học hiện đang tác động lên đá, địa hình và đất. [6]
2. Murray Gray (2004)
Khái niệm ĐDĐH được giới thiệu vào đầu những năm 1990 và được phát triển đầy đủ như một dạng mô hình một thập kỷ sau bởi Murray Gray trong tác phẩm Geodiversity được xuất bản lần đầu tiên năm 2004, tái bản lần hai 2013 và ĐDĐH cũng được ông định nghĩa qua các công bố năm 2005, 2012, 2013 [7], [8], [9], [10].
Murray Gray (2004 và 2013) định nghĩa rằng:
“Đa dạng địa học là sự đa dạng phạm vi tự nhiên của thành phần địa chất (đá, khoáng sản, hóa thạch), địa mạo (địa mạo, địa hình, các quá trình vật lý), đất và đặc điểm thủy văn. Chúng bao gồm các tập hợp, cấu trúc, hệ thống và những đóng góp của chúng đối với cảnh quan”. [11]
3. UNESCO (2021)
Đến năm 2021, đa dạng địa học được định nghĩa một cách hoàn chỉnh và thống nhất trong đề xuất của UNESCO trong dự thảo đề xuất ngày Quốc tế Đa dạng địa học đầu tiên của Thế giới [12]: “Đa dạng địa học được định nghĩa là sự đa dạng của các yếu tố phi sinh vật của tự nhiên – bao gồm khoáng vật, đá, hóa thạch, đất, trầm tích, địa mạo, địa hình, các quá trình địa chất và hình thái, và các đặc điểm thủy văn như sông, hồ. Đa dạng địa học làm nền tảng cho đa dạng sinh học và là cơ sở của mọi hệ sinh thái, nhưng có những giá trị riêng độc lập với đa dạng sinh học ”. [13]
4. Sharples C. (1993), A Methodology for the identification of significant landforms and geological sites for geoconservation purposes, Report, Forestry Commission Tasmania, Hobart, Tasmania.
5. O’Halloran D., Geological Society of London, và Malvern International Conference on Geological and Landscape Conservation (1994), Geological and landscape conservation: proceedings of the Malvern International Conference 1993, Geological Society, London.
6. Goudie A., btv. (2004), Encyclopedia of geomorphology, Routledge : International Association of Geomorphologists, London ; New York.
7. Murray Gray (2004), Geodiversity: valuing and conservating abiotic nature, John Wiley & Sons Ltd, The Atrium, Southern Gate, Chichester, West Sussex PO19 8SQ, England.
8. Gray M. (2005). Geodiversity and Geoconservation: What, Why, and How?. The George Wright Forum, 22(3), 9.
9. Gray M. (2012). Valuing Geodiversity in an “Ecosystem Services” Context. Scottish Geographical Journal, 128(3–4), 177–194.
10. Gray M., Gordon J.E., và Brown E.J. (2013). Geodiversity and the ecosystem approach: the contribution of geoscience in delivering integrated environmental management. Proceedings of the Geologists’ Association, 124(4), 659–673.
11. Murray Gray (2013), Geodiversity: Valuing and Conserving Abiotic Nature, John Wiley & Sons.
Đã bao giờ bạn nghe đến “Tứ Bình” – được ví như tiểu Maldives ở Việt Nam? Đó là bốn địa danh bao gồm: Bình Hưng, Bình Ba và Bình Lập (thuộc xã Cam Bình và Cam Lập, Cam Ranh, Khánh Hòa) cùng với Bình Tiên (xã Công Hải, Huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận).
Mất thời gian dài do giãn cách xã hội vì dịch COVID, mãi đến cuối tháng 6, chúng tôi – 4 cô trò (Phương Chi, Ngọc Nhi, Mai Quỳnh, Hà Giang) mới thực hiện được chuyến thực địa khảo sát đã có kế hoạch từ trước Tết. Chuyến đi thật thú vị, được chiêm ngưỡng cảnh quan biển đẹp, hoang sơ với sự giúp đỡ của người dân biển trong suốt hành trình.
Sau khi phân tích tài liệu và các bản đồ ở nhà, chúng tôi dự kiến chọn lựa các geosite tiềm năng cho dải ven biển Tứ Bình. Nhiệm vụ của chuyến thực địa này được cô trò vạch ra là đến các điểm để mô tả, đo, vẽ, chụp ảnh và lấy mẫu đá, cuội.
Ngày 1, Bình Tiên – Bình Hưng, chuyến phượt bằng xe bán tải vi diệu
7 giờ sáng, chú Bình – dù không phải dân địa phương nhưng làm việc ở Cam Ranh và đã có biết bao kinh nghiệm “phượt“ các bãi biển đến đón chúng tôi ở nhà Mai Quỳnh.
Chưa đầy 45 phút di chuyển, chúng tôi đã có mặt ở Bãi Bà Bóng. Các bãi biển thuộc Bình Tiên nhỏ hẹp rải rác ven theo Núi Chúa hùng vĩ. Bình Tiên có 3 bãi biển chính là Bãi biển Bà Bóng, giáp Mũi Cà Tiên; Bãi biển Bình Tiên – dải cát trắng mịn, cong mềm mại hơn 2.2km và Bãi biển Chà Là.
Hình 1. Khu vực biển Bà Bóng nhận dòng chảy từ đất liền ra. Ảnh: Đ.D.T.Bình
Hình 2. Bãi Bình Tiên trải dài hơn 2,2km, rộng hơn 30m, cát trắng, mịn. Ảnh: Đ.D.T.Bình
Theo Tỉnh lộ 702 về phía nam, chúng tôi tiếp tục khảo sát dải ven biển từ bắc Ninh Hải, Ninh Thuận đến đường ra đảo Bình Hưng. Biển Ninh Hải cũng có những bãi nổi tiếng là hoang sơ, đẹp.
Hình 3. Điểm nhìn bải biển Bình Tiên trên tỉnh lộ 702
Hình 4. Ngọc Nhi bên chiếc xe bán tải có thể đi khắp các địa hình
9g15 chúng tôi đến con đường mòn đi vào hai bãi biển ít dấu chân du khách, đó là Bãi Chà Là và Bãi Nước Ngọt. Điểm đặc biệt của Bãi Nước Ngọt đó là có sự hiện diện dòng suối quanh năm bắt nguồn từ Núi Chúa. Chính vì thế nên trầm tích bãi biển tại đây ngoài dải cát mịn còn có trầm tích cuội, đá thô.
Hình 5. Bãi Nước Ngọt. Ảnh: Đ.D.T.Bình
Hình 6. Mai Quỳnh tại Bãi nước Ngọt.
Tiếp tục đi theo tỉnh lộ 702 về hướng Tây Nam, chúng tôi khảo sát Bãi Kinh – một bãi biển dài hơn 200m, nơi rộng nhất chừng 25m, cát trắng, mịn, mặt biển phẳng lặng.
Hình 7. Toàn cảnh Bãi Kinh. Ảnh: Đ.D.T.Bình
Hình 8. Bãi Kinh rất thích hợp cho gia đình nghỉ dưỡng, tắm biển, vui chơi dưới nước.
Đúng 12 giờ trưa, khi nắng lên đỉnh đầu, chúng tôi dùng cơm trưa tại khu du lịch Bãi Kinh và chờ tàu sang Bình Hưng.
Bình Hưng
Nắng Cam Ranh thật khủng khiếp, gần 14g nhưng mặt cô, trò vẫn nóng rát khi rời bãi Kinh đi Bình Hưng. Chỉ mất khoảng 10 phút, chúng tôi đã tới Bình Hưng – một thôn thuộc xã đảo Cam Bình rộng gần 2 km2. Bình Hưng còn có tên là Hòn Chút, hay Hòn Tý. Bình Hưng là núi đá xâm nhập có đỉnh cao khoảng 100m. Tại Bình Hưng, mấy cô trò khảo sát các điểm Hải Đăng Hòn Chút, Bãi Cây Me, Bãi Đá Trứng.
(Trước khi cập bến tàu Bình Hưng, chú Chín Lên – lái tàu ở đảo chở chúng tôi sang Bãi tắm Cây Me. Đây là Bãi tắm chỉ có thể đến bằng đường biển, nước trong vắt, cát mịn, sau lưng là vách núi với hệ thống khe nứt chia cắt dầy đặc).
Hình 9. Bãi Cây Me – Bình Hưng. Bãi biển này chỉ có thể đến bằng đường biển.
Hình 10. 5 màu nước biển Cây Me trước mặt Hà Giang.
Trên đảo, phương tiện di chuyển phổ biến là xe điện chạy xăng bởi địa hình khá dốc, lái xe nói “động cơ điện không thể nào chở khách được ở đây”. Khu vực Hải đăng Hòn Chút không cho du khách tiếp cận vì lý do quân sự, nhưng nhờ giấy giới thiệu của trường, chúng tôi được lên quan sát toàn cảnh từ điểm nhìn khá thú vị này.
Hình 11. Từ Hải đăng Hòn Chút nhìn về phía tây của đảo.
Hình 12. Hải Đăng Hòn Chút. Ảnh: Wikimapia
15 giờ, cái nóng khô của miền Trung đã làm con đường từ Hải Đăng đến Bãi Đá Trứng dường như dài và khó hơn. Đến 15g15, trước mặt chúng tôi là một bãi đá cuội – bãi đá trứng khổng lồ.
Hình 13. Bãi Đá Trứng – Bình Hưng. Ảnh: Đ.D.T. Bình
Hình 14. Du khách có lẽ cũng đến đây và thử sức với xếp đá cân bằng.
Sau khi đo đạc kích thước ‘đá Trứng’ xong, chúng tôi về bến tàu để trở lại Bãi Kinh lúc 16g30.
Kết thúc ngày đầu tiên, chúng tôi được ba mẹ Mai Quỳnh mời ăn tối ở Đồng Cừu – Suối Tiên, thuộc Công Hải, Thuận Bắc Ninh Thuận.
Đồng cừu là cánh đồng cỏ và ruộng lúa, phía sau là núi Bà trùng điệp. Tại đây, ngoài chơi với cừu, du khách có thể thăm Suối Tiên, nhà gỗ, vườn hoa.
Hình 15. Sinh viên vui chơi với cừu.
Hình 16. Buổi tối ở Đồng cừu – Suối Tiên
Ngày 2, Bình Lập – Bình Ba, cảm giác vượt trùng khơi cùng tàu cá và thuyền thúng
Ngày thứ hai của hành trình khởi đầu thật sự háo hức bởi chúng tôi được đi bằng tàu cá của Chú Sanh – dượng của Mai Quỳnh. Lộ trình được dự định vòng quanh bán đảo Bình Lập (thuộc xã Cam Lập) và một số điểm tại Bình Ba, Cam Bình (Cam Ranh, Khánh Hòa).
Xuất phát từ cảng cá Ba Ngòi lúc 7g30, nghe chú Sanh và anh Bi nói “mình sẽ đi thuyền thúng ra tàu, rồi khi đến các bãi biển, sẽ neo tàu ở xa”. Khi đẩy thuyền thúng xuống các bãi, chúng tôi có cảm giác sợ, nhưng thú vị với trải nghiệm mới mẻ này.
Hình 17. Khởi hành từ cảng Ba Ngòi
Hình 18. Từ tàu xuống thúng, rồi từ thúng lên tàu. Qua mấy bận là mấy cô trò có thể di chuyển nhịp nhàng ^^
Bình Lập có hai khu nghỉ dưỡng là Ngọc Sương và Sao Biển luôn hấp dẫn du khách. Cạnh đó có Bãi Nhỏ (Robinson), và Bãi Cồn – một dải cát trắng trải dài lộ các khối đá chồng, đá phong hóa có hình dạng ngộ nghĩnh. Khí hậu và môi trường nơi đây cực kỳ khắc nghiệt, theo thời gian, các khối đá granite rắn chắc cũng bị nắng, gió, sóng biển phá hủy, bào mòn.
Hình 19. Muôn hình thù địa hình phong hóa trên đá xâm nhập phức hệ Cà Ná.
Chúng tôi dừng và khảo sát tại các Bãi Lao Lớn, Bãi Lao, quan sát các mũi đá và các bãi từ xa như Mũi Hời (Mũi Sộp), Bãi Mã, Bãi Bình Châu, Bãi Tàu Bể, Bãi Hõm.
Tại Bãi Nhỏ – Bãi Robinson. Chúng tôi được chú Sanh đãi một bữa thịnh soạn với tôm, cá tươi rói; vừa ăn vừa nghe chú kể những câu chuyện đi biển.
Hình 20. Bữa ăn ngon ngoài sức tưởng tượng của mấy cô trò.
Hình 21. Cùng nhau ngồi dưới mấy cây dứa biển, nghe tiếng sóng vỗ hòa với tiếng rì rào của lá, thấy như mình được tiếp thêm nguồn năng lượng từ thiên nhiên. @Bãi nhỏ – Robinson
Chúng tôi rời Bãi nhỏ lúc 13g, vòng sang Mũi Cà Tiên (ranh giới của Ninh Thuận và Khánh Hòa) rồi tới Bình Ba.
Bình Ba (xã đảo Cam Bình) như một chú bướm khổng lồ đậu trên tấm gương xanh vừa chắn bão cho Vịnh Cam Ranh (Bình Ba có nghĩa là bức bình phong che chắn phong ba bão táp), vừa chấn giữ một vùng biển quan trọng của đất nước, vì vậy từ xa xưa, Bình Ba đã là một khu vực quân sự cực kỳ quan trọng. Làng đảo Bình Ba nằm yên ả ở phía Nam, được che chắn bởi 4 ngọn núi theo hướng đông là Núi Bãi Vò (cao hơn 100m), Hòn Cò (cao hơn 120m), và phía tây – tây nam là Mao Giư (hay Mao Du) (cao 106m) và Ba Dũ (cao 206m).
Bình Ba có khá nhiều Bãi biển ấn tượng như Bãi Nồm, Bãi Chướng, Bãi Nhà Cũ, Bãi Hòn Rùa (Bãi Cây Me), Bãi Hòn Cò, Bãi Yến…. từ tháng 3 đến tháng 9, nước biển buổi sáng trong đến mức có thể thấy tận đáy. Ven đảo Bình Ba có nhiều san hô và dễ dàng ngắm nhìn khi triều xuống.
Đến Bình Ba vào khoảng 14g, chú Sanh đưa chúng tôi vào Bãi Cây Me hay còn gọi là Bãi Hòn Rùa bởi từ trên cao nhìn xuống, mũi đá nhô ra biển giống như chú rùa. Bãi biển phần lớn là cát thô hình thành từ vụn san hô, thạch anh, cuội và đá tảng. Điểm nổi bật của Bãi chính là dải san hô sát bờ dần lộ ra khi triều xuống.
Hình 22. Bãi Hòn Rùa (Bãi Cây Me) với dải san hô ven bờ
Hình 23. Hòn Rùa nhìn từ điểm nhìn trên đảo Bình Ba.
Mùa này chú Sanh bảo không cập tàu phía đông nam đảo được do gió mạnh nên tàu chúng tôi cập Bãi Nhà Cũ lúc 15g. Bãi Nhà Cũ cũng là một bãi biển đẹo, nước trong vắt, san hô dầy đặc. Khu vực bãi Nhà Cũ là khu quân sự quản lý nên việc di chuyển, tham quan của du khách bị hạn chế.
Hình 24. Tháp quân sự tại cửa ngõ vào Bãi Nhà Cũ.
Hình 25. Di chuyển bằng thúng cập bến bãi Nhà Cũ, Bình Ba.
17:00, chúng tôi nhận phòng tại một nhà nghỉ ở khu Bãi Nồm. Chiều tối mấy cô trò khảo sát quanh Bãi Nồm, ngắm một thế giới san hô lung linh, huyền ảo.
Ngày 3, khám phá Bình Ba, trở về đất liền
Ngày thứ ba của chúng tôi bắt đầu thật sớm (từ 5g15) ở bãi Chướng, phía đông của đảo để đón bình minh. Đây là một bãi biển dạng túi chắn bởi 2 mũi đá xâm nhập nhưng là vị trí hứng gió “độc” nên ít người tới tắm. Ngắm bình minh ở một nơi xa, giữa không gian trời – biển bao la, khi những tia sáng đầu tiên ló lên, chúng tôi cảm nhận được hết cái tuyệt diệu của sự khởi đầu.
Dùng bữa sáng xong, chúng tôi tiến hành khảo sát Lô Cốt cũ, điểm ngắm Bãi Hòn Rùa. Bãi đá Lô Cốt là một thềm biển cao khoảng 50-60m, trên bề mặt có các khối đá lớn nhỏ đủ mọi kích thước. Đây cũng là một vị trí thích hợp để quan sát Cửa Bé, Vịnh Cam Ranh.
Hình 26. Bình minh trên Bãi Chướng – nơi đón bình minh sớm nhất Bình Ba.
Hình 27. Đường đèo lên Lô Cốt Cũ.
Hình 28. Bãi đá Lô Cốt cũ.
Hình 29. Bãi Nồm buổi sáng – Bãi tắm chính của Bình Ba.
Cô, trò quyết định tắm để một lần in dấu tại Bãi Nồm nước xanh biếc. Bình Ba không chỉ có Bãi Nồm, còn nhiều điểm ấn tượng chưa khám phá được, thất tiếc nuối.
Buổi chiều tiến hành thăm quan Chùa Ốc – chùa Từ Vân, ngang qua Đầm Thủy Triều, thăm đài tưởng niệm Gạc Ma, Bãi Dài, và điểm cuối là nhà Ngọc Nhi ở tít tận chân núi Hàm Rồng, thuộc xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm.
Hình 30. Chùa Ốc – ngôi chùa được trang trí tinh xảo từ vỏ ốc.
Hình 31. Trên đầm Thủy triều.
Hình 32. Đài tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma.
Hình 33. Bãi Dài – Cam Ranh. Một bãi biển đang được khai thác phát triển hàng loạt dự án khu nghỉ dưỡng, resort cao cấp của Cam Ranh.
Chuyến đi khảo sát của bốn cô trò kết thúc an toàn. Tài liệu chuyến đi sẽ là những tư liệu quý cho các bài báo cáo cũng như nghiên cứu của mình, ngoài ra chúng tôi còn có những kỉ niệm thật vui và ý nghĩa nữa. Càng đi chúng tôi càng được rèn luyện nhiều điều và nhất là cảm thấy thêm yêu đất nước mình.
Xin chân thành cảm ơn gia đình Mai Quỳnh, gia đình Ngọc Nhi, gia đình chú Sanh, và chú Bình đã giúp đỡ cho hành trình của mấy cô trò an toàn và thuận lợi./.
Nhìn thế giới từ trên cao, George Steinmetz từ một nhiếp ảnh gia, vô tình trở thành nhà hoạt động vì môi trường.
Năm 1997, George Steinmetz, nhiếp ảnh gia đến từ New Jersey, quyết định học bay khi đảm nhận một dự án chụp ảnh tại vùng trung tâm Sahara và phi công riêng của ông đã xin rút. Nhưng thứ George chọn không phải là máy bay, mà là một chiếc dù lượn gắn động cơ.
“Ban đầu tôi tìm hiểu về dù lượn vì muốn bay ở Sahara, và đó là nơi gần như tôi có thể cất cánh hay hạ cánh ở bất kỳ đâu, vì nó là một địa hình khá an toàn để dùng một phương tiện gắn mô-tơ không đáng tin cậy”, George nói.
George Steinmetz bay dù lượn tại Giza, Ai Cập. Ảnh: Gaetan Hutter.
Ông ví dù lượn như “chiếc ghế vải bay”, để ông có thể bay thấp và chậm trên mặt đất mà không làm phiền người khác hay động vật bên dưới. Nó có thể được tháo dỡ dễ dàng và chia thành ba kiện, mỗi cái nặng chưa đến 20 kg. Do đó, George có thể mang theo “phi cơ của riêng mình” trên bất kỳ chuyến bay thương mại nào.
Từ đó, George, còn có biệt danh là “nhiếp ảnh gia bay”, ghi lại những khung cảnh đẹp nhất vòng quanh thế giới và tập hợp lại trong cuốn sách The Human Planet: Earth at the Dawn of the Anthropocene (tạm dịch là Hành tinh của con người: Trái Đất vào buổi bình minh của kỷ Nhân Sinh).
Với dù lượn, trực thăng và những chiếc drone chuyên nghiệp, George không chỉ hé lộ những kỳ quan thiên nhiên độc đáo, mà còn ghi lại dấu vết khổng lồ của cuộc sống thường ngày. Nhiếp ảnh gia bay chụp ảnh từ những bể muối sặc sỡ tại Teguidda-n-Tessoumt, Nigeria, cho đến cảnh người nông dân trồng lại cây cọ ở Sapi, Malaysia; hay buổi chôn cất hàng loạt nạn nhân của đại dịch Covid-19 trên đảo Hart, New York, Mỹ – độc giả sẽ không thể thấy những hình ảnh này vì cảnh sát đã tịch thu drone của ông.
Từ dù lượn của mình, George chụp được một bức tranh màu sắc tạo nên từ những hố cạn do người dân tự đào để lấy chất khoáng rắn cho gia súc. Màu sắc của từng hố phụ thuộc vào hỗn hợp bùn, tảo và muối ở Teguidda-n-Tessoumt, Nigeria. Ảnh: George Steinmetz.
Dù drone hỗ trợ ông quay chụp phần lớn thời gian do tính năng vượt trội và đảm bảo an toàn, George thực sự quý trọng những tấm ảnh tự mình thực hiện khi bay dù lượn. “Bạn có thể mang theo camera lên cao, song thật khác biệt khi dùng drone. Nhưng drone như một chiếc kính tiềm vọng bay trên trời, và bạn chỉ có thể nhìn thấy những thứ hiển thị trên màn hình chứ không bao quát mọi thứ bên ngoài”, nhiếp ảnh gia Mỹ nhận định.
Ông cũng cho rằng: “Dù lượn thực sự tuyệt vời vì tầm nhìn của bạn không bị giới hạn dù theo bề ngang hay phương thẳng đứng. Như một chiếc môtô bay vậy, mọi thứ ở xung quanh, và bạn cũng có mặt giữa không gian đó”.
Nông dân trồng cây sử dụng giếng tưới nhân tạo ngoài rìa sa mạc Rub’ al Khali, Saudi Arabia. Ảnh: George Steinmetz.
Đồng bằng nơi sông Colorado đổ ra vịnh California, đây là khu vực từng có hệ sinh thái phong phú. Tuy nhiên khi các con đập, dự án thuỷ lợi được xây dựng để đưa nước về các thành phố vào thế kỷ 20, lưu vực sông đã thay đổi. Ảnh: George Steinmetz.
Đồn điền cọ tại Sapi, Sabah, Malaysia. Việc phá rừng mưa để trồng đồn điền cọ lấy dầu đã tàn phá hệ sinh thái tự nhiên. Ảnh: George Steinmetz.
Những nhà kính lợp mái nhựa ở miền nam Tây Ban Nha. Nơi này chủ yếu trồng cà chua, ớt ngọt, dưa chuột, cà tím… canh tác tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, mô hình nông nghiệp này bị chỉ trích vì khai thác cạn kiệt nước ngầm, gây ô nhiễm nitrat và bóc lột lao động nhập cư. Ảnh: George Steinmetz.
Trang trại bò sữa ở Wisconsin, Mỹ với hơn 3.300 chuồng nuôi nhốt. Ảnh: George Steinmetz.
George đánh giá cao những trải nghiệm trực tiếp giúp mở mang tầm mắt. Ông viết trong cuốn sách của mình: “Tôi cho rằng sự thật là điều tối quan trọng, và tôi cần tự mình trải nghiệm nhiều thứ”. Và những điều đã trải qua tạo ra một thay đổi, để ông vô tình trở thành một nhà bảo vệ môi trường.
“Tôi nhận ra dân số toàn cầu đang gia tăng, và nơi ở của động vật hoang dã dần biến mất, và con người đang tiêu tốn tài nguyên của trái đất ở tốc độ chóng mặt… Nó dần trở nên rõ ràng rằng con người đang bước vào một thời kỳ của những giới hạn – bởi chúng ta không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên ở tốc độ như hiện nay nếu có mong muốn thế hệ sau còn một hành tinh để sống”, ông nhìn nhận.
Nghiên cứu của Trường Y, Đại học Harvard, sử dụng ảnh vệ tinh và xu hướng tìm kiếm trên mạng cho thấy Covid-19 có thể đã lây lan ở Trung Quốc từ tháng 8/2019.
Nghiên cứu mới chỉ ra số lượng ôtô trong bãi đậu xe 5 bệnh viện ở Vũ Hán từ đầu tháng 8/2019 cao đáng kể so với mùa hè và mùa thu năm trước. “Lượng xe tăng mạnh từ tháng 8/2019 và đạt đỉnh vào tháng 12/2019”, nhóm nghiên cứu do giám đốc sáng tạo Bệnh viện Nhi Boston John Brownstein dẫn đầu, viết trong một bản tin được đăng trên cổng thông tin DASH của Đại học Harvard, Mỹ, hôm 8/6.
Trong ảnh vệ tinh tháng 10/2018, các nhà nghiên cứu đếm được 171 ôtô trong các bãi đậu ở Thiên Hựu, bệnh viện lớn nhất Vũ Hán. Ảnh vệ tinh một năm sau cho thấy 285 ôtô trong cùng các bãi đậu, tăng khoảng 67%, cũng như lưu lượng giao thông tăng 90% cùng thời điểm tại các bệnh viện khác ở Vũ Hán.
“Các bệnh viện riêng lẻ ghi nhận số ngày có lượng xe tương đối cao trong cả mùa thu và mùa đông 2019. Tuy nhiên, từ tháng 9 đến tháng 10/2019, 5 trong số 6 bệnh viện cho thấy lượng xe đậu trong bãi hàng ngày cao nhất trong loạt phân tích, trùng thời điểm mức độ tìm kiếm trên Baidu tăng cao đối với các từ khóa ‘tiêu chảy’ và ‘ho'”, nhóm nghiên cứu viết.
Số lượng xe trong các bãi đậu tại bệnh viện Thiên Hựu tại hai thời điểm tháng 10/2018 và tháng 10/2019. Ảnh: ABC News.
“Đây là tất cả những gì nỗ lực ghép mảnh một câu đố phức tạp về những gì đang diễn ra vào thời điểm đó”, Brownstein nói. “Dữ liệu đặc biệt hấp dẫn bởi chúng tôi thấy sự gia tăng tìm kiếm bệnh về đường tiêu hóa, tiêu chảy, ở mức độ chúng tôi chưa từng thấy trong lịch sử. Bây giờ chúng tôi biết chắc rằng các triệu chứng về tiêu hóa là triệu chứng ban đầu quan trọng của Covid-19. Một tỷ lệ lớn người dương tính nCoV ở Vũ Hán thực sự có triệu chứng tiêu chảy”.
Brownstein và nhóm của ông đã dành hơn một tháng để cố gắng xác định các dấu hiệu khi dân số tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc bắt đầu bị ảnh hưởng. Logic dự án nghiên cứu của Brownstein rất đơn giản: các bệnh về đường hô hấp dẫn đến các loại hành vi rất đặc trưng trong các cộng đồng chúng lây lan. Vì vậy, những bức ảnh thể hiện những kiểu hành vi đó có thể giúp giải thích những gì đang xảy ra ngay cả khi người bị bệnh không nhận ra vấn đề rộng lớn hơn.
“Những gì chúng tôi đang cố gắng làm là xem xét các hoạt động, một bệnh viện bận rộn như thế nào”, Brownstein nói. “Và cách chúng tôi làm là đếm xe ở bệnh viện đó. Bãi đậu xe sẽ đầy ắp khi bệnh viện bận rộn. Vì vậy, nhiều xe hơi trong bệnh viện, bệnh viện bận rộn hơn, có khả năng do điều gì đó đang xảy ra trong cộng đồng, sự lây nhiễm gia tăng và mọi người phải đi khám bác sĩ”.
Sử dụng “luồng dữ liệu hợp lệ” để giám sát bệnh hô hấp không mới và nó cũng là một kỹ thuật được các cơ quan tình báo sử dụng.
“Cả hai ý tưởng bãi đậu xe bệnh viện hoặc doanh nghiệp có thể được sử dụng có thể là dấu hiệu tương đối cho điều gì đó xảy ra trong dân số”, Brownstein cho hay. “Chúng tôi đã công bố những năm trước việc phát hiện các bệnh viện ở Mỹ Latinh đông đúc trong mùa cúm. Bạn có thể dự đoán cúm mùa chỉ cần nhìn vào các bãi đậu xe. Và đó là ý tưởng trong nghiên cứu này”.
Theo Brownstein, nhóm hiện chưa thể chứng minh rõ ràng điều gì đã dẫn đến những tín hiệu này nhưng nó làm tăng thêm bằng chứng cho thấy điều gì đó đang xảy ra trước khi nó chính thức được thừa nhận.
Sự thay đổi số lượng xe trong các bãi đậu tại bệnh viện Trung Nam ở Vũ Hán vào tháng 10/2018 và tháng 10/2019. Ảnh: ABC News.
“Dù chúng tôi không thể xác nhận liệu sự tăng số lượng có liên quan trực tiếp đến Covid-19, bằng chứng của chúng tôi hỗ trợ công việc gần đây khác rằng virus đã xuất hiện trước khi được xác định tại chợ hải sản Hoa Nam”, theo Brownstein và nhóm của ông. “Những phát hiện này cũng chứng thực giả thuyết virus xuất hiện tự nhiên ở miền nam Trung Quốc và có khả năng đã lây lan cùng thời điểm cụm dịch Vũ Hán”.
Brownstein cho rằng những dấu hiệu ban đầu của đại dịch đã bị bỏ qua dễ dàng. “Nếu điều tương tự xảy ra ở Mỹ, rất có thể chúng ta cũng bỏ lỡ những tín hiệu này. Vì vậy, tôi nghĩ rằng chúng ta cần tăng cường các nỗ lực y tế công cộng và giám sát sức khỏe cộng đồng”, nhà nghiên cứu cho hay.
Covid-19 đã xuất hiện tại hơn 210 quốc gia, vùng lãnh thổ, khiến gần 7,2 triệu người nhiễm và gần 409.000 người tử vong. Mỹ, vùng dịch lớn nhất thế giới, phát hiện ca nhiễm đầu tiên hồi tháng 1 tại thành phố Seattle, bang Washington.
Theo Mạng lưới Dấu chân Toàn cầu (GFN), quá tải dân số (overpopulation) xảy ra khi nhu cầu của con người vượt quá khả năng cung cấp hoặc tái tạo tài nguyên của sinh quyển [4]. Quá tải dân số không chỉ phụ thuộc ở kích cỡ hay mật độ dân số, mà còn vào tỷ lệ giữa dân số so với khả năng cung cấp hay tái tạo tài nguyên trái đất khu vực đó. Một khi quá tải dân số xảy ra, sự tàn phá môi trường sẽ diễn ra nhanh hơn khả năng phục hồi của tự nhiên.
Phương pháp tính toán sự quá tải dân số phổ biến trên thế giới hiện nay là đo lường thông quá việc so sánh giữa Dấu chân sinh thái (Ecological Footprint) và Sức tải sinh học (Biocapacity) của một khu vực tại một thời điểm.
Dấu chân sinh thái (EF): Đo lường diện tích bề mặt đất và nước cần để sản xuất tất cả các tài nguyên cần thiết và hấp thụ toàn bộ chất thải của một cá nhân/địa phương/quốc gia tại thời điểm tính toán [5].
Sức tải sinh học (BC) Đo lường khả năng sản xuất các tài nguyên của đáp ứng nhu cầu của con người và hấp thụ chất thải do con người tạo ra của hệ sinh thái tại khu vực nghiên cứu vào thời điểm tính toán [5].
Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh học đều được đo lường bằng đơn vị hecta toàn cầu (global hectare – gha) và đều căn cứ vào công nghệ khai thác và năng lực quản lý tài nguyên vào thời điểm tính toán tại khu vực nghiên cứu. Hecta toàn cầu (gha) là khả năng cung cấp sinh học của một loại đất quy ra năng suất sinh học trung bình trên thế giới tại một thời điểm. Ví dụ, đất trồng trọt có năng suất sinh học cao hơn đất đồng cỏ, do vậy, 1ha đất trồng trọt sẽ có diện tích lớn hơn 1ha đất đồng cỏ khi quy đổi sang gha. Tương tự vậy, đất trồng trọt ở Việt Nam có năng suất sinh học cao hơn đất trồng trọt ở Indonesia, do vậy khi quy đổi cùng một diện tích vật lý, đất trồng trọt tại Việt Nam sẽ có giá trị gha lớn hơn tại Indonesia.
Năm 2016, GFN đã đề xuất 5 thành phần để tính toán EF và BC cho quy mô quốc gia và khu vực, bao gồm: (i) trồng trọt và chăn nuôi, (ii) lâm nghiệp, (iii) thủy sản, (iv) xây dựng, và (v) phát thải carbon (hình 1)
Hình 1. Năm thành phần của Dấu chân sinh thái. Nguồn: GFN, 2016 [2]
Năm 2019, GFN công bố bản đồ thiếu hụt/dư thừa sinh học quy mô quốc gia cho 234 quốc gia và vùng lãnh thổ (hình 2). Từ kết quả tính toán, GFN đã kết luận: “Con người hiện đang sử dụng một lượng bằng 1,75 lần trái đất để cung cấp tài nguyên và chứa đựng chất thải. Điều này nghĩa là trái đất phải mất một năm và chín tháng để tái tạo lại những gì chúng ta sử dụng trong một năm”. Theo kết quả này, Việt Nam với tỷ lệ thiếu hụt – 110%, thuộc nhóm phân loại thiếu hụt cao (quá tải dân số cao).
Hình 2. Bản đồ thiếu hụt/ dư thừa sinh học năm 2019 quy mô quốc gia. Nguồn: GFN, 2019 [3]2.Mục tiêu
Nghiên cứu này sử dụng số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 2018 để tính toán Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh học, từ đó phân tích mức độ quá tải dân số và thành lập bản đồ mức độ quá tải dân số. Việc tính toán chi tiết tới đơn vị hành chính cấp tỉnh (tỉnh, thành phố thuộc trung ương).
3.Phương pháp
Lưu đồ thu thập và xử lý số liệu được thực hiện qua các bước như hình 3.
Hình 3. Lưu đồ quy trình nghiên cứu
Bước 1. Thu thập dữ liệu. Các dữ liệu thu thập ở 5 lĩnh vực sử dụng tài nguyên và 3 quy mô.
– Quy mô toàn cầu: hệ số quy đổi từ ha về gha (EQF) của các lĩnh vực sử dụng tài nguyên (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng) [4] và phát thải carbon [1].
– Quy mô cả nước: các số liệu về năng suất trung bình các lĩnh vực sử dụng tài nguyên [6] và hệ số phát thải carbon trung bình [1].
– Quy mô cấp tỉnh: số liệu về diện tích, tổng sản lượng, năng suất [6], [7].
– Bản đồ hành chính 63 tỉnh thành, tỷ lệ 1: 1.000.000.
Bước 2. Tính toán Dấu chân sinh thái (EF) theo công thức sau:
Bước 3. Tính toán Sức tải sinh học (BC) theo công thức
Các lĩnh vực để tính EF và BC sử dụng các số liệu thống kê như bảng sau:
Bảng 1. Chỉ dẫn nguồn số liệu tính toán EF và BC
Một số lưu ý trong tính toán EF và BC:
– Đối với lĩnh vực xây dựng: theo lý giải của GFN, do phần lớn đất xây dựng có nguồn gốc từ đất trồng trọt, do đó: YF xây dựng = YF trồng trọt và EQF xây dựng = EQF canh tác [4].
– Phát thải CO2: chỉ tính EF, giá trị BCCO2 = 0 [4].
Bước 4. Tính tỷ lệ thiếu hụt và phân cấp mức độ quá tải dân số (OD) theo công thức:
OD (%) sau đó được phân cấp thành 5 cấp độ như bảng sau:
4.Kết quả và thảo luận
Kết quả tính toán và biên tập được trình bày thành sản phẩm cuối như hình sau:
Hình 4. Bản đồ mức độ quá tải dân số của 63 tỉnh thành Việt Nam năm 2018
4.1. Dấu chân sinh thái EF
Dấu chân sinh thái của cả nước năm 2018 tính được là 95,35 triệu gha (tương đương 1,0 gha/người). Tỉnh có dấu chân lớn nhất là Hà Nội (4,5 triệu gha) và TP.HCM (4,3 triệu gha). Tỉnh có dấu chân nhỏ nhất là Bắc Kạn (0,35 triệu gha). Tuy nhiên, nếu tính dấu chân bình quân đầu người thì tỉnh có dấu chân lớn nhất là Tây Ninh (2,19 gha/người) và tỉnh có dấu chân nhỏ nhất là TP.HCM (0,5 gha/người).
4.2. Sức tải sinh học BC
Sức tải sinh học cả nước năm 2018 tính được là 54,74 triệu gha (tương đương 0,58 gha/người). Tỉnh có sức tải lớn nhất là Đăk Lăk (3,05 triệu gha). Tỉnh có sức tải nhỏ nhất là TP.HCM (0,2 triệu gha). Nếu tính sức tải bình quân đầu người thì tỉnh có sức tải lớn nhất vẫn là Đăk Lăk (1,59 gha/người) và tỉnh có sức tải nhỏ nhất vẫn là TP.HCM (0,02 gha/người).
4.3. Mức độ quá tải dân số
Xét tổng thể cả nước, tỷ lệ quá tải OD = -74,17%, mức độ quá tải trung bình. Kết quả tính toán này thấp hơn một cấp so với kết quả tính toán của GFN.
Chưa quá tải dân số (cấp I): có 8 tỉnh (Hà Giang, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đăk Lăk và Đắc Nông), chiếm 8,2% về dân số và 18,9% về diện tích của cả nước. Tỉnh có mức độ quá tải thấp nhất là Quảng Bình với giá trị OD là 31,25%.
Quá tải dân số rất cao (cấp V): có 11 tỉnh (Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Bắc Ninh, TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bến Tre), chiếm 7,48% về diện tích nhưng lại chiếm đến 34,64% về dân số của cả nước. Tỉnh có mức độ quá tải cao nhất là TP.HCM với OD = – 2.400%.
5.Kết luận
Cũng như nhận định của GFN đối với thế giới, tại Việt Nam, Người dân hiện đang sử dụng một lượng bằng 1,75 lần diện tích lãnh thổ để cung cấp tài nguyên và chứa đựng chất thải. Điều này nghĩa là tự nhiên phải mất một năm và chín tháng để tái tạo lại những gì chúng ta sử dụng trong một năm.
Ở quy mô địa phương, TP.HCM đã sử dụng đến 25 lần khả năng của tự nhiên, nghĩa là tại đây, tự nhiên phải mất 25 năm để tái tạo lại những gì chúng ta đã sử dụng trong 1 năm. Con số này tương ứng ở Hà Nội là 5 năm.
[4] Lin, D., 2019. Working Guidebook to the National Footprint and Biocapacity Accounts, working paper, Version 1.3, Global Footprint Network.
[5] Schaefer, F., 2006. Ecological Footprint and Biocapacity: The world’s ability to regenerate resources and absorb waste in a limited time period, European Communities.
[6] Tổng cục thống kê, 2019, Niên giám thống kê Việt Nam, NXB. Thống kê.
[7] Tổng cục thống kê, 2020, Tư liệu kinh tế – xã hội 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, NXB Thống kê.