Hiến kế “cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long”

KS. Lê Quang Cảnh – KS. Hoàng Đình Khảm

Môi trường và tài nguyên đồng bằng Sông Cửu Long bị suy giảm nghiêm trọng do các tác động nhân sinh và tự nhiên từ nhiều năm qua: phát triển hệ thống thủy điện dày đặc trong lưu vực và khai thác vật liệu đáy sông dẫn đến thiếu hụt phù sa, thiếu nguồn nước lũ làm cho đồng ruộng không được bổ sung dưỡng chất, khô hạn, xói lở bờ sông bờ biển gia tăng. Khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún mặt đất, phát sinh ô nhiễm arsen tầng nước ngầm sâu. Tác động tổng hợp nhân sinh và tự nhiên cũng đang là vấn đề lớn đối với dải đất ven biển.

Bài Hiến kế “cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Lê Quang Cảnh và Hoàng Đình Khảm là một ý tưởng hay, rất mong các nhà khoa học, nhà quản lý suy ngẫm và phát triển. Đây cũng là một chủ đề lý thú mà các bạn sinh viên ngành môi trường có thể thực hiện đề tài tốt nghiệp các cấp từ khóa luận, luận văn đến luận án tiến sỹ.

TTO – Ngày xưa tạo hóa đã ban tặng cho đồng bằng rộng lớn của Nam bộ Việt Nam sự giàu có về lúa gạo, trù phú cây trái và dồi dào tôm cá.

Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy - Ảnh: DUY KHANG
Máy bơm nhả khói nghi ngút nhưng không lên được giọt nước nào vì kênh trơ đáy – Ảnh: DUY KHANG

Từ ngàn đời, sông Mêkông là nguồn lợi, là tài nguyên chung của sáu quốc gia có dòng sông chảy qua.

Nhưng ngày nay, một số nước nằm ở thượng nguồn sông Mêkông đã xây dựng nhiều đập lớn chặn nước lại để sử dụng nước ngọt cho canh tác và làm thủy điện, nên lượng nước chảy xuống hạ lưu bị giảm rất nhiều, càng về sau càng thiếu hụt lớn hơn!

Như vậy, chúng ta chẳng còn hi vọng gì vào sự thay đổi, cải thiện tình hình cung cấp nước cho sông Cửu Long từ dòng Mêkông được nữa rồi!

Mùa mưa không có lũ về, mùa nắng hạn dòng sông Cửu Long khô cạn, lại gánh thêm tình trạng biến đổi khí hậu đã làm cho cả đồng bằng Nam bộ bị thiệt hại rất nặng nề trong năm vừa qua. Kinh tế, sinh hoạt, đời sống dân cư bị đảo lộn.

Chỉ còn cách duy nhất là chúng ta phải tự cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long để trả lại sự trù phú và phồn vinh như nó từng có. Đề xuất cải tạo bao gồm 2 việc lớn:

1- Sông Cửu Long trước đây có chức năng thải nước lũ ra biển Đông; nay không còn lũ nữa nên cải tạo làm chức năng trữ nước ngọt. Chỉ để lại con sông Hậu làm nhiệm vụ xả lũ là đủ, các sông còn lại nên xây đắp đập ở cửa sông để giữ nước ngọt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.

2- Hai vùng trũng lớn trước đây trồng lúa là Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên sẽ cải tạo thành hồ sinh thái, trữ nước ngọt giống như chức năng Biển Hồ của Campuchia.

Thực tế đã chứng minh nhờ có Biển Hồ dự trữ một lượng nước ngọt khổng lồ, Campuchia đã thoát được tình cảnh khó khăn trong mùa khô hạn, dù có bị ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, dù dòng nước ở sông Mêkông chảy về đã bị giảm thiểu.

Biển Hồ Tonle Sap ở Campuchia có diện tích thay đổi từ 10.000km2 trong mùa khô và 16.000km2 vào mùa lũ.

Diện tích của tứ giác Long Xuyên (4.890km2) và Đồng Tháp Mười (6.970km2) cộng với diện tích cải tạo 8 con sông thành hồ chứa, thì sau cải tạo ở đồng bằng Nam bộ sẽ xuất hiện các hồ lớn trữ nước ngọt, được phân bố nhiều nơi, tổng khối lượng nước ngọt tương đương Biển Hồ, nếu không muốn nói là nhiều hơn.

Nếu chúng ta thực hiện kế hoạch như trên sẽ giải quyết, khắc phục được các khó khăn cùng những tồn tại lớn sau đây:

– Đủ nước ngọt cho canh tác và sinh hoạt của cư dân đồng bằng Nam bộ, kể cả trong mùa hạn hán.

– Nhờ có các hồ lớn trữ nước ngọt phân bố rất rộng rãi ở đồng bằng sông Cửu Long, giúp cho nguồn cung và dự trữ nước ngầm (nước dưới đất) trong vùng vô cùng phong phú, không bao giờ cạn kiệt, dễ khai thác khi cần.

– Những hồ nhân tạo lớn trữ chứa khối lượng nước ngọt khổng lồ, tạo ra áp lực vô cùng lớn trên khu vực rộng, sẽ cản chặn có hiệu quả sự xâm nhập mặn vào nội đồng.

– Thủy sản, hải sản được phát triển đa dạng và phong phú trên các hồ sinh thái nước ngọt.

– Các hồ sinh thái nước ngọt lớn được phân bố trên nhiều vùng của đồng bằng Nam bộ, tạo ra trữ lượng nước ngầm vô cùng lớn. Nước mặt cùng với nước ngầm phong phú sẽ giúp phát triển cây trồng cùng thảm thực vật, tạo ra khí hậu trong lành, môi trường thiên nhiên tốt cho cả vùng đồng bằng này.

– Nếu ý tưởng cải tạo lại đồng bằng sông Cửu Long theo cách này được thực hiện thành công thì sẽ là bài học lớn, là tấm gương điển hình cho việc xây dựng các hồ trữ nước ngọt nhân tạo những nơi trọng yếu ở vùng Tây nguyên và miền Trung Việt Nam luôn chịu cảnh khô hạn.

Bằng việc cải tạo một số dòng sông ngắn và dốc chỉ làm mỗi nhiệm vụ tiêu thoát nước, “thải kiệt hết nước ngọt, rất lãng phí” xuống biển Đông trong mùa lũ, có thêm được chức năng mới là dự trữ nước ngọt cho mùa nắng hạn.

Xuất phát từ lòng yêu thương đồng bào Nam bộ ruột thịt, mặc dù đã suýt soát tuổi 80, chúng tôi cũng muốn đóng góp chút sáng kiến nhằm góp phần giúp khắc phục, tháo gỡ tình hình khó khăn hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long.

Qua phương tiện truyền thông điện tử, chúng tôi kính chuyển đến các cơ quan chức năng, đến những cán bộ làm khoa học kỹ thuật trẻ tuổi và đến những người dân Nam bộ – lực lượng trực tiếp thực hiện ý tưởng khi đã đồng tình và hưởng ứng.

Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20161005/hien-ke-cai-tao-lai-dong-bang-song-cuu-long/1182924.html

HÀ NỘI – HUẾ – SÀI GÒN CÙNG LỘI

Hà Quang Hải

I.Dẫn nhập

Hà Nội ngập nước mưa, Sài Gòn ngập mưa và triều thì biết lâu rồi, nhưng chiều 21 tháng 9 đọc báo vietnamnet và tuoitre thấy nhiều tuyến đường ở trung tâm TP Huế cũng bị ngập sau một trận mưa lớn. Chiều 26 tháng 9, Sài Gòn lại bị ngập khủng khiếp sau một trận mưa kéo dài mà theo các nhà khí tượng đây là trận mưa kỷ lục trong vòng 40 năm qua. Thiệt hại về tài sản, về môi trường do những trận mưa lụt chẳng ai tính, nhưng chắc chắn rất lớn.

Không chỉ Hà Nội, Huế, Sài Gòn ngập do mưa mà còn nhiều thành phố khác cũng ngập. Nằm thấp như thành phố Tân An (Long An), Thái Bình, Hải Dương ngập đã đành, nhưng cao như TP. Biên Hòa, Thái Nguyên, thậm chí thành phố trên cao nguyên như Đà Lạt cũng ngập.

Số tiền nhà nước bỏ ra để chống ngập hàng năm chưa ai tổng hợp được, nhưng chắc chắn là con số khủng. Chỉ riêng TP. Hồ Chí Minh, trong 10 năm qua đã tiêu khoảng 24.300 tỷ đồng để thực hiện các dự án chống ngập [3]. Thành phố tiếp tục đề xuất vay nhiều ngàn tỷ đồng để chống ngập cho những năm sắp tới [4].

Nguyên nhân ngập ở TP. Hồ Chí Minh được các nhà quản lý dẫn ra bao gồm 1) mưa lớn do biến đổi khí hậu, hệ thống thoát nước không đáp ứng, 2) triều cường do biến đổi khí hậu (mực nước biển dâng), nguyên nhân khác là do đô thị hóa, sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm, hệ thống cống thoát bị tắc nghẽn [2].

Các nguyên nhân ngập lụt nêu trên, có lẽ do hệ thống thoát nước không đáp ứng là đúng hơn cả, còn nguyên nhân do biến đổi khí hậu (do trời mưa lớn, do biển dâng) thì nghe rất hài, nói cho vui. Theo người viết bài này thì nguyên nhân cốt lõi của vấn đề là Đô thị hóa tràn lan, không kiểm soát được chu trình nước diễn ra tại hầu hết các thành phố trên cả nước.

Đô thị hóa dẫn đến sự biến đổi chu trình nước là một trong những bài học cơ bản của môn học Địa chất môi trường. Việc đô thị hóa nếu không xem xét đến tỷ lệ diện tích bê tông hóa (bề mặt không thấm) và bề mặt tự nhiên cũng như việc tính toán độ lớn kênh thoát nước mưa cho từng lưu vực nhỏ chỉ một vài km2 trong đô thị sẽ dẫn đến lũ lụt đô thị [6].

II. Đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước

Chu trình nước, còn được gọi là chu trình thủy văn, là sự trao đổi liên tục nước giữa các thể nước. Khoảng 97% lượng nước trên trái đất được lưu trữ trong các đại dương, và chỉ có một phần nhỏ của phần còn lại là nước ngọt có thể sử dụng. Khi mưa rơi trên mặt đất, nó sẽ di chuyển theo các tuyến khác nhau. Một số bốc hơi, quay trở lại bầu khí quyển, một số thấm xuống đất, và phần còn lại sẽ trở thành nước bề mặt chảy theo sông, suối đến hồ và đại dương. Các bề mặt không thấm trong các khu vực đô thị hóa sẽ làm thay đổi lượng nước tự nhiên theo từng tuyến. Hậu quả của sự thay đổi này là giảm khối lượng nước thấm vào lòng đất, gia tăng khối lượng và giảm chất lượng nước mặt (Hình 1) [7].

Hình 1. Minh họa bề mặt không thấm và các hệ thống thoát nước đô thị làm tăng dòng chảy mặt đến sông ngòi. Khối lượng lớn, tốc độ và thời gian dòng chảy sẽ gia tăng xói mòn và vận chuyển trầm tích từ cảnh quan và bờ sông sẽ gây tắc nghẽn kênh sông và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 1. Minh họa bề mặt không thấm và các hệ thống thoát nước đô thị làm tăng dòng chảy mặt đến sông ngòi. Khối lượng lớn, tốc độ và thời gian dòng chảy sẽ gia tăng xói mòn và vận chuyển trầm tích từ cảnh quan và bờ sông sẽ gây tắc nghẽn kênh sông và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 2. Biểu đồ thủy văn minh họa lưu lượng đỉnh dòng chảy mặt do mưa trong một lưu vực trước (đường đỏ) và sau đô thị hóa (đường vàng). Với diện tích lớn bề mặt không thấm nước trong lưu vực, dòng chảy mặt sẽ có một khối lượng lớn, tốc độ nhanh hơn sẽ gây ra nhiều lũ lụt và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 2. Biểu đồ thủy văn minh họa lưu lượng đỉnh dòng chảy mặt do mưa trong một lưu vực trước (đường vàng) và sau đô thị hóa (đường đỏ). Với diện tích lớn bề mặt không thấm nước trong lưu vực, dòng chảy mặt sẽ có một khối lượng lớn, tốc độ nhanh hơn sẽ gây ra nhiều lũ lụt và thiệt hại môi trường sống [7].
Hình 3. Sự gia tăng dòng chảy mặt do đô thị hóa [7]
Hình 3. Sự gia tăng dòng chảy mặt do đô thị hóa [7]

Với mặt đất tự nhiên, 25% lượng mưa thấm vào tầng nước ngầm và chỉ 10% là dòng chảy mặt. Khi diện tích mặt không thấm tăng, nước chuyển thành dòng mặt nhiều hơn. Những khu vực đô thị hóa mạnh, hơn một nửa lượng nước mưa trở thành dòng chảy bề mặt, chỉ một phần nhỏ xâm nhập vào tầng nước ngầm. Sự gia tăng dòng chảy bề mặt đòi hỏi gia tăng hệ thống thoát nước để giảm thiểu lũ lụt [7].

Như vậy, đô thị hóa sẽ làm thay đổi chu trình nước, tùy theo mức độ đô thị hóa mà cường độ và tần suất lũ sẽ khác nhau trong các diện tích lưu vực nhỏ chỉ một vài cây số vuông. Tỷ lệ gia tăng này là hàm số của phần trăm mặt đất bị che phủ bởi mái nhà, vỉa hè, và bề mặt xi măng (bề mặt không thấm nước) và phần trăm diện tích có hệ thống thoát nước thích hợp. Hệ thống thoát nước rất quan trọng vì chúng cho phép dòng chảy mặt đô thị từ các bề mặt không thấm nước đến các kênh sông nhanh hơn nhiều so với môi trường tự nhiên. Do đó có thể xem bề mặt không thấm nước và hệ thống cống thoát là tiêu chuẩn đánh giá mức độ đô thị hóa [6, 7].

III. Một ví dụ về đô thị hóa và ngập lụt ở TP. Hồ Chí Minh

Đô thị hóa ở TP. HCM tràn lan, thu hẹp diện tích đất tự nhiên, nâng cao địa hình vùng đất thấp, san lấp nhiều kênh rạch, thu hẹp dòng chảy, chèn thêm công trình vào diện tích đất trống ít ỏi còn sót lại, nâng cấp đường xá …đều ảnh hưởng đến chu trình nước, dẫn đến sự biến động về điểm ngập, diện ngập kể cả xuất hiện những dòng lũ đô thị như cuối tháng 9 vừa qua (dòng lũ khá mạnh, cuốn trôi cả xe máy). Ngập lụt sân bay Tân Sơn Nhất vừa qua là một trong những ví dụ do đô thị hóa ảnh hưởng đến chu trình nước.

1) Sân bay Tân Sơn Nhất – một điểm ngập mới

“Lúc 18h (ngày 26 tháng 8) một trận mưa lớn khiến cho khu vực đường băng của sân bay bị ngập lụt gây ảnh hưởng đến việc cất, hạ cánh…đường lăn M1 của sân bay phải dừng hoạt động hơn một tiếng do nước ngập khoảng 30 cm. Sự cố này khiến 70 chuyến bay đến Tân Sơn Nhất bị ảnh hưởng. Trong đó có 2 chuyến bị hủy, 14 chuyến phải hạ cánh xuống các sân bay lân cận như Liên Khương, Cam Ranh… 4 chuyến bay quốc tế không hạ cánh được phải đáp xuống sân bay của Campuchia, Thái Lan” [9]. Như vậy có thể xem sân bay Tân Sơn Nhất là điểm ngập mới xuất hiện.

Hình 4. Bãi đỗ của sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nặng. Theo báo cáo của Cuc Hàng không thì có chỗ ngập đến 50cm (Ảnh: Hoàng Lân/Vietnamnet)
Hình 4. Bãi đỗ của sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nặng. Theo báo cáo của Cuc Hàng không thì có chỗ ngập đến 50cm (Ảnh: Hoàng Lân/Vietnamnet)

2) Về địa điểm xây dựng sân bay

Sân bay Tân Sơn Nhất do người Pháp xây dựng vào năm 1930, dài hơn 1500 m bằng đất đỏ. Năm 1956 người Mỹ xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m bằng bê tông [8]. Bản đồ địa chất TP. HCM tỉ lệ 1:50.000 [1] cho thấy địa điểm chọn xây dựng sân bay là tối ưu:

Địa chất công trình: nền móng cấu tạo bằng aluvi cổ (cát, sét , laterit) rất thuận lợi cho xây dựng các công trình nặng.

Địa mạo: địa hình cao 5,0 m (vị trí cao nhất khu vực), dạng hơi vòm (vòm Tân Sơn Nhất) được bao bọc xung quanh bởi các kênh, rạch tự nhiên: phía tây là rạch Cầu Mới đổ ra rạch Bến Cát chảy bọc phía bắc, vòng xuống đông nam rồi ra sông Sài Gòn. Phía nam là kênh Nhiêu Lộc đổ ra sông Sài Gòn ở Thị Nghè (Hình 5).

Hình 5. Bản đồ địa hình khu vực Tân Sơn Nhất năm 1968
Hình 5. Bản đồ địa hình khu vực Tân Sơn Nhất năm 1968
Hình 6. Ảnh hàng không khu vực sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968 Các khu vực có tôn ảnh màu đen là vùng thấp (ẩm) và thực vật. (Nguồn Internet)
Hình 6. Ảnh hàng không khu vực sân bay Tân Sơn Nhất năm 1968 Các khu vực có tôn ảnh màu đen là vùng thấp (ẩm) và thực vật. (Nguồn Internet)

Trên bản đồ địa hình và ảnh hàng không năm 1968 (Hình 5, 6) dễ dàng nhận thấy sân bay được xây dựng trên đỉnh vòm. Một vùng đệm bao quanh khá rộng có độ dốc nghiêng thoải về xung quanh vừa tạo thuận lợi cho dòng nước mặt thoát về các rạch vừa đảm bảo an ninh sân bay. Hơn nữa, bề mặt aluvi cổ chủ yếu là các trầm tích hạt thô làm cho nước mưa dễ thấm xuống sâu.

3) Đô thị hóa dẫn đến ngập lụt sân bay

Với những bức ảnh vệ tinh có thể tính toán tỉ lệ bê tông hóa bề mặt địa hình Vòm Tân Sơn Nhất theo thời gian một cách dễ dàng, từ đó có thể xác định được mối quan hệ giữa bê tông hóa và tình trạng ngập nước đô thị.

Để có cái nhìn trực quan về đô thị hóa (bê tông hóa) khu vực sân bay, tôi xoay và cắt ảnh Google Earth (Hình 7) có khung hình tương tự như ảnh hàng không năm 1968. Hình 7 cho thấy các công trình gần như phủ kín vùng đệm, tiến sát tới đường biên sân bay. Diện tích vùng thấp (ẩm ướt) và cây xanh trên Hình 7 chỉ còn lại không đáng kể.

Hình 7. Ảnh Google Earth khu vực Tân Sơn Nhất ngày 24 tháng 3 năm 2015
Hình 7. Ảnh Google Earth khu vực Tân Sơn Nhất ngày 24 tháng 3 năm 2015

Kiểm tra độ cao trên ảnh Google Earth nhận thấy: độ cao sân bay trung bình trong khoảng 5 – 8 m. Các công trình bao quanh có độ cao 8-12 m. Khu vực sân golf phía bắc có độ cao khoảng 8 – 10 m.

Như vậy, một vùng đệm thấp hơn sân bay đã không còn, các công trình xây dựng xung quanh cao hơn (nền công trình cao, nóc mái nhà cao) đã biến sân bay thành vùng trũng (Hình 8), vì vậy việc ngập nước mưa trong sân bay là đương nhiên. Có thể gọi hiện tượng này là nghịch đảo địa hình nhân tạo.

Hình 8. Do đô thị hóa, Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành vùng trũng. Ảnh Google Earth 24.03.2015
Hình 8. Do đô thị hóa, Sân bay Tân Sơn Nhất trở thành vùng trũng. Ảnh Google Earth 24.03.2015

IV.Kết luận

Không chỉ Hà Nội – Huế – Sài Gòn ngập lụt mà nhiều thành phố khác cũng đang chịu cảnh ngập lụt. Các thành phố nằm trên địa hình thấp – ngập, trên địa hình cao – ngập, năm ngoái không ngập, năm nay ngập, năm nay không ngập nhưng có thể sang năm ngập.

Đường phố trở thành những dòng nước lũ cuốn theo các chất ô nhiễm – đó là lũ lụt đô thị chứ không chỉ là ngập lụt. Lũ lụt do đô thị hóa là tên gọi mà các giáo trình cơ bản về Địa chất môi trường vẫn thường sử dụng.

Mất vài chục ngàn tỷ chống ngập trong nhiều năm như TP.Hồ Chí Minh nhưng thành phố vẫn ngập, thêm vài chục ngàn tỷ nữa chắc cũng chẳng giải quyết được ngập nếu như tình trạng quản lý đô thị vẫn như những năm qua.

Xin trích một đoạn kèm theo bức hình từ bài đăng trên Vietnamnet của Lê Nguyễn Duy Hậu sáng nay (30 tháng 09 năm 2016) để kết thúc cho bài viết này.

“Tôi chợt nhớ hồi tháng 6/2016, sân bay Đào Viên của Đài Loan bị ngập.  Ngay lập tức, người đứng đầu sân bay này xin từ chức. Riêng mùa mưa năm nay, sân bay Tân Sơn Nhất đã ngập hai lần, vẫn chưa thấy quan chức nào đứng ra xin lỗi và nhận trách nhiệm cả” [5].

Rốt cuộc thì vai trò và trách nhiệm của cơ quan chức năng ở đâu sau trận lụt lịch sử vừa qua?. Ảnh: Phúc Lập/Nongnghiep.vn. nguồn [7]
Rốt cuộc thì vai trò và trách nhiệm của cơ quan chức năng ở đâu sau trận lụt lịch sử vừa qua?. Ảnh: Phúc Lập/Nongnghiep.vn. nguồn [5]

Tham khảo   

[1] Hà Quang Hải và nnk. 1989. Báo cáo lập bản đồ Địa chất và khoáng sản TP. Hồ Chí Minh tỷ lệ 1:50.000.

[2] Đức Hà. TP Hồ Chí Minh: Gian nan chống ngập. http://antg.cand.com.vn/Kinh-te-Van-hoa-The-Thao/TP-Ho-Chi-Minh-Gian-nan-chong-ngap-398074/

[3] Hữu Nguyên. Đầu tư hơn 24.000 tỷ đồng, TP HCM vẫn chưa hết ngập. http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/dau-tu-hon-24-000-ty-dong-tp-hcm-van-chua-het-ngap-3246983.html

[4] Hữu Nguyên. TP HCM muốn vay 422 triệu USD tiếp tục chống ngập. http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/tp-hcm-muon-vay-422-trieu-usd-tiep-tuc-chong-ngap-3223863.html

[5] Lê Nguyễn Duy Hậu. Dân lội nước, quan chức ở đâu?. http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/331383/dan-loi-nuoc-quan-chuc-o-dau.html

[6] Edward A. Keller. 2012. Introduction to Environmental Geology. Pearson Prentice Hall.

[7] How Urbanization Affects the Water Cycle. http://www.coastal.ca.gov/nps/watercyclefacts.pdf.

[8] Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n_bay_qu%E1%BB%91c_t%E1%BA%BF_T%C3%A2n_S%C6%A1n_Nh%E1%BA%A5t

[9] Vũ Điệp. Mưa ngập sân bay Tân Sơn Nhất, hơn 70 chuyến bay bị ảnh hưởng. http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/323531/mua-ngap-san-bay-tan-son-nhat-hon-70-chuyen-bay-bi-anh-huong.html

 

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG 2016

Chủ nhật, ngày 18 tháng 9 Bộ môn Khoa hoc môi trường tổ chức cho sinh viên KMT 14 báo cáo kết quả môn học Thực tập môi trường đại cương tại giảng đường 1, trường Đại học KHTN. Tham gia hội đồng gồm thày Hải (chủ tịch), cô Tuyến (thư kí), thày Tự Thành, cô Huệ, cô Dung (ủy viên).

Năm nay, Khoa Môi trường chủ trương đưa điểm môn học này sớm hơn 1 học kỳ, vì vậy ngay sau đợt thực tập ngoài trời vào cuối tháng 7, các nhóm đã được bộ môn yêu cầu hiệu chỉnh tài liệu cá nhân, chuẩn bị báo cáo nhóm ngay trong tháng 8. Đầu tháng 9, các nhóm làm việc trực tiếp với thày, cô phụ trách để hoàn thiện tài liệu.

Năm nay cũng là năm có số sinh viên theo học ngành khoa học môi trường đông nhất. Tổng cộng 187 sinh viên được chia thành 20 nhóm. Bộ môn đã bổ sung một số đề tài do số lượng nhóm gia tăng cũng như một vài thay đổi vị trí và nội dung thực tập ngoài trời do điều kiện khách quan. Những đề tài mới như “ Tác động nông nghiệp đến cảnh quan sơn nguyên Đà Lạt”, “Lưu vực sông Cái Nha trang và các vấn đề môi trường liên quan”, “Liệt kê và đánh giá sơ bộ các giá trị khoa học và bổ sung của các geosite theo tuyến lộ trình”.

Trước giờ báo cáo
Trước giờ báo cáo

Sau một ngày nghe đại diện các nhóm báo cáo, xem tài liệu nhóm, tài liệu cá nhân và mẫu vật, Hội đồng có một số nhận xét sau đây:

Ưu điểm:

Các nhóm hoàn thành khối lượng công việc theo yêu cầu môn học gồm: báo cáo tổng hợp theo chủ đề, mẫu vật (đá, đất, thực vật), bản đồ, mặt cắt cảnh quan, bình đồ ô tiêu chuẩn, nhật ký cá nhân.

Báo cáo chuyên đề được thực hiện bằng việc tham khảo các tài liệu thứ cấp từ nhiều nguồn (internet, giáo trình, bài giảng từ đợt tập huấn…) và các tài liệu do các nhóm thu thập ngoài trời trong đợt thực tập.

Các mẫu thực vật (thảo tập) và mẫu đất (lấy theo phẫu diện) được giáo viên phụ trách đánh giá tốt (đầy đủ, đúng qui định).

Phần lớn đai diện nhóm báo cáo đúng giờ, lưu loát, trả lời được các câu hỏi của hội đồng. Nhìn chung các bạn nắm khá vững nội dung chuyên đề do nhóm thực hiện.

Nhược điểm:

Một số báo cáo chuyên đề có nội dung dàn trải, chưa tập trung trọng tâm chủ đề. Báo cáo có sự thiếu cân đối giữa phần tổng quan (quá chi tiết) và vấn đề khu vực hoặc tỉnh (còn sơ lược). Một số trích dẫn từ internet nhưng thiếu đánh giá và kiểm chứng, ít sử dụng những tài liệu ngoài trời.

Phần lớn các mặt cắt, bình đồ chưa đáp ứng qui chuẩn như thiếu chỉ dẫn, tỷ lệ và phương vị.

Phần lớn nhật ký cá nhân được ghi chép sơ sài, thiếu hình vẽ, ghi chú và chưa thể hiện được sự chủ động quan sát các đặc điểm, hiện tượng (tự nhiên và xã hội…) ngoài trời của từng sinh viên.

Mẫu đá thu thập thiếu tính đại diện, không đảm bảo qui cách theo yêu cầu (kích thước, tên đá …).

Một số đại diện nhóm trình bày quá giờ qui định, trả lời câu hỏi dài dòng. Các bài trình bày (PPT) chưa hấp dẫn.

Một báo cáo nổi trội

Nổi trội trong buổi báo cáo kết quả Thực tập MTĐC năm nay là chuyên đề “Hoạt động du lịch ở Đà Lạt và đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường” của nhóm 10 do bạn Linh Chi (trưởng nhóm) trình bày.

Báo cáo có cấu trúc hợp lý gồm 4 phần: 1) Điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch Đà Lạt; 2) Các loại hình du lịch ở Đà Lạt; 3) Những tác động của du lịch đến môi trường và 4) Các biện pháp bảo vệ môi trường.

Báo cáo có nội dung ngắn gọn nhưng khá đầy đủ. Các biểu đồ và hình ảnh được lựa chọn cẩn thận, có tính đại diện. Phần điều kiện tự nhiên (cơ sở nền tảng để phát triển du lịch Đà Lạt) được trình bày rõ ràng theo cấu trúc của một báo cáo cảnh quan: địa chất – địa hình – đất – thủy văn – khí hậu – sinh vật.

Các loại hình du lịch Đà Lạt được phân loại thành 6 nhóm: 1) Du lịch sinh thái; 2) Du lịch văn hóa, 3) Du lịch nghiên cứu, 4) Du lịch nghỉ dưỡng, 5) Du lịch thăm quan, giải trí và 6) Du lịch xu thế mới. Trong mỗi nhóm lại phân chia chi tiết thành các loại hình khác nhau, trong đó Du lịch nông nghiệp với mô hình Trang trại rau hữu cơ Organik Xuân Thọ (thuộc nhóm Du lịch sinh thái) và du lịch MICE (thuộc nhóm Du lịch xu thế mới) được xem là những đề xuất mới, phù hợp với đặc điểm môi trường tự nhiên Đà Lạt.

p1100310_organik

Trong phần Các biện pháp bảo vệ môi trường, báo cáo đưa ra những nhận định sau đây về xu hướng đô thị hóa Đà Lạt rất đáng để các nhà qui hoạch và các nhà quản lý quan tâm:

“Đứng trước đề tài “Đô thị hoá”, nhiều người cho rằng đây là một chiến lược rất tốt  để phát triển kinh tế và du lịch. Tuy nhiên, khi đem lợi, hại đặt trên bàn cân, thì việc có nên đô thị hoá hay không cũng cần phải suy nghĩ lại. Bởi lẽ:

– Đô thị hoá thu hút dân cư, dân số tăng lên, dẫn đến các vấn đề nhà ở và chất thải sinh hoạt. Vậy phải quy hoạch và chặt đi bao nhiêu ha rừng để xây dựng công trình dân cư? Số người dân tăng lên, nhiệt độ của Đà Lạt có thể giữ được sự thanh lạnh của nó hay không? Hiện tượng đảo nhiệt tại khu dân cư có đảm bảo được là sẽ không xảy ra hay không?

– Liệu Đà Lạt có giữ được nét đẹp đặc trưng của nó khi đứng trước sự giống nhau của các đô thị mới, trung tâm và đường phố mới hay không?

– Đặc biệt là hiện tượng “Dự án thắng quy hoạch”. Các siêu thị, ngân hàng, khách sạn,… chen chúc nhau trên cùng con đường trong khi những bãi đất trống cho dự án vẫn để đó chờ khởi công. Kẹt xe giờ cao điểm, các công trình thay thế khu đất trồng,…

Rõ ràng, ĐL không tránh khỏi ô nhiễm môi trường khi đứng trước cơn bão đô thị hoá.”

do-thi

Một báo cáo có nội dung phong phú, người trình bày lưu loát, súc tích đã thực sự cuốn hút người nghe.

H & H

Jonathan B. Tourtellot – Nhà tư vấn Du lịch, Tác giả chính của Điều lệ Địa du lịch

jonathan

I. Nhà tư vấn du lịch

Jonathan Tourtellot là nhà tư vấn chuyên về du lịch bền vững và quản lý điểm đến. Ông cũng là nhà báo và biên tập viên các tạp chí Du lịch, Địa lý, và Khoa học. Mong muốn của ông là khuyến khích và thúc đẩy việc bảo vệ các điểm đến. Tourtellot là người khởi đầu khái niệm địa du lịch với định nghĩa “du lịch nhằm duy trì hoặc tăng cường đặc điểm địa lý của một địa điểm bao gồm di sản, thẩm mỹ, văn hóa, môi trường và phúc lợi của những người dân tại điểm đó. “Ông đã giúp các Hiệp hội Du lịch Hoa Kỳ phát triển nghiên cứu Địa du lịch năm 2002: Xu hướng mới trong Du lịch, một cuộc khảo sát hành vi du khách Hoa Kỳ và thái độ về vấn đề phát triển bền vững mang tính bước ngoặt.

Tourtellot đã sáng lập và điều hành Trung tâm Địa lý Quốc gia về Các điểm đến Bền vững trong chín năm. Ông là tác giả chính của Điều lệ địa du lịch (Geotourism Charter) với một tập hợp các nguyên tắc quản lý được thông qua và thực hiện bởi các điểm đến khác nhau trên thế giới từ Na Uy và Guatemala đến Thung lũng Douro của Bồ Đào Nha và thành phố Montreal. Ông khởi xướng và giám sát các cuộc điều tra Quản lý Điểm đến được báo cáo hàng năm trên trang bìa ấn bản phát hành Tháng Mười Một/Mười của tạp chí National Geographic Traveler. Để mở rộng phạm vi ngành du lịch và quản lý điểm đến, ông đã viết hai câu chuyện có chủ đề “The Two Faces of Tourism” và “The Tourism Wars,” cả hai câu chuyện đã giành giải thưởng Lowell Thomas. Là biên tập viên địa du lịch cho tạp chí Traveler, ông đã viết về các chủ đề như: sự mở rộng khu nghỉ mát, du lịch tự nhiên, du lịch di sản, và biến đổi khí hậu.

Tourtellot đã xây dựng chương trình Hướng dẫn Bản đồ Địa du lịch của Hội Địa lý Quốc gia. Chương trình này độc đáo ở chỗ mời gọi sự tham gia đầy đủ của các cư dân điểm đến và vì vậy đã nâng cao nhận thức về những tài sản đặc thù của địa phương. Là nhà địa lý học, đôi khi là nhiếp ảnh gia, và thuyết minh công chúng, Tourtellot đã diễn thuyết trước rất nhiều nhóm quốc gia và quốc tế, bao gồm các Tổ chức Du lịch Thế giới, UNESCO, và Hội đồng Du lịch và Du lịch Thế giới.

Trước khi hoạt động trong lĩnh vực du lịch, ông đã viết một vài sách National Geographic và là biên tập viên dự án cho một số tạp chí khác như: Britain and Ireland, Into the Unknown, Photographer’s Field Guide, and Exploring Our Living Planet cùng với tiến sĩ Robert Ballard. Trong các sách và tạp chí, ông đã viết về các chủ đề khác nhau, từ núi lửa Iceland đến rừng mưa Amazon, từ các thung lũng sa mạc của Nevada đến các đầm lầy châu thổ Okavango của Botswana. Ông sống ở sườn núi bắc Virginia.

II. Điều lệ Địa du lịch

Dưới đây là bản mẫu được thiết kế chung cho các quốc gia, nhưng cũng có thể được điều chỉnh cho phù hợp với các tỉnh, hoặc các vùng nhỏ hơn.

XÉT RẰNG cách tiếp cận địa du lịch là toàn diện, không chỉ tập trung vào môi trường, mà còn về sự đa dạng của các tài sản văn hóa, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của _______,

XÉT RẰNG cách tiếp cận địa du lịch là khuyến khích người dân và du khách cùng tham gia thay vì chỉ là những khán giả du lịch và

XÉT RẰNG cách tiếp cận địa du lịch là giúp xây dựng một ý thức về bản sắc và niềm tự hào dân tộc, nhấn mạnh tính đích thực và duy nhất đối với________

Các bên đã ký vào Thỏa thuận này cam kết hỗ trợ các nguyên tắc địa du lịch để duy trì và tăng cường đặc điểm địa lý của _________bao gồm môi trường, văn hóa, thẩm mỹ, di sản và phúc lợi của người dân địa phương. Dưới đây là 13 nguyên tắc địa du lịch để chính quyền và các nhà khai thác du lịch áp dụng:

1.Tính toàn vẹn của địa phương: Tăng cường đặc điểm địa lý bằng cách phát triển và cải thiện nó theo những cách đặc biệt cho địa phương, phản ánh di sản thiên nhiên và văn hóa của nó, để khuyến khích sự khác biệt của thị trường và niềm tự hào văn hóa.

2.Các luật quốc tế: Tuân thủ các nguyên tắc trong Luật Toàn cầu của Tổ chức Du lịch Thế giới về Đạo đức trong Du lịch và Các nguyên tắc trong Điều lệ Du lịch Văn hóa được thiết lập bởi Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di sản (ICOMOS).

3.Chọn lọc thị trường: Khuyến khích tăng trưởng trong các phân khúc thị trường du lịch có khả năng để tăng giá trị, tôn trọng và phổ biến thông tin về các tài sản đặc biệt của địa phương.

4.Đa dạng thị trường: Khuyến khích đầy đủ loại hình các cơ sở tạm trú và thực phẩm thích hợp để thu hút toàn bộ các cấp độ du khách của thị trường địa du lịch và do đó tối đa hóa sức bật kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn.

5.Sự hài lòng du lịch: Đảm bảo làm hài lòng du khách, khuyến khích họ mang những câu chuyện kỳ nghỉ mới về nhà và gửi cho bạn bè để trải nghiệm những điều tương tự, do đó cung cấp nhu cầu tiếp tục cho điểm đến.

6.Sự tham gia của cộng đồng: Du lịch dựa vào nguồn lực cộng đồng tới mức có thể, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương và các nhóm công dân xây dựng quan hệ đối tác để thúc đẩy và cung cấp một trải nghiệm viếng thăm trung thực và bán sản phẩm địa phương một cách hiệu quả. Giúp các các doanh nghiệp phát triển phương pháp tiếp cận du lịch được xây dựng trên nền tảng tự nhiên, lịch sử và văn hóa khu vực, bao gồm thực phẩm, đồ uống, hàng thủ công và nghệ thuật biểu diễn, vv.

7.Lợi ích cộng đồng: Khuyến khích các doanh nghiệp trung bình và nhỏ và chiến lược kinh doanh du lịch trong đó nhấn mạnh lợi ích kinh tế và xã hội của cộng đồng tham gia, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo với thông tin rõ ràng về chính sách quản lý điểm đến cần thiết để duy trì những lợi ích.

8.Bảo vệ và nâng cao sức hấp dẫn điểm đến: Khuyến khích các doanh nghiệp duy trì môi trường sống tự nhiên, các điểm di sản, tính thẩm mỹ và văn hóa địa phương. Ngăn chặn suy thoái bằng cách giữ một lượng du khách trong giới hạn tối đa chấp nhận được. Tìm các mô hình kinh doanh mà có thể hoạt động có lãi trong giới hạn tối đa chấp nhận được. Thuyết phục, khuyến khích, và thực thi pháp luật khi cần thiết.

9.Sử dụng đất: Lường trước các áp lực phát triển và áp dụng các kỹ thuật để ngăn chặn phát triển quá mức và suy thoái môi trường. Kiềm chế sự mở rộng nhà nghỉ, đặc biệt là trên bờ biển và hải đảo để giữ lại sự đa dạng của môi trường tự nhiên, cảnh quan và đảm bảo sự tiếp cận của mọi người với cảnh biển. Khuyến khích các điểm tham quan du lịch khép kín, chẳng hạn như các công viên chủ đề quy mô lớn và trung tâm qui ước không liên quan đến đặc điểm của địa phương, được bố trí tại các địa điểm nghèo túng hơn mà không có tài sản sinh thái, cảnh quan, hay văn hóa quan trọng.

10.Bảo tồn các nguồn tài nguyên: Khuyến khích các doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm nước, chất thải rắn, tiêu thụ năng lượng, sử dụng nước, hóa chất cảnh quan, và ánh sáng ban đêm quá sáng. Quảng cáo các biện pháp này một cách hấp dẫn, tạo thị trường du lịch thân thiện với môi trường.

11.Qui hoạch: Công nhận và tôn trọng nhu cầu kinh tế trước mắt mà không phải hy sinh đặc điểm địa lý dài hạn và tiềm năng địa du lịch của điểm đến. Phát triển cộng đồng mới tại điểm đến trong trường hợp du lịch thu hút sự nhập cư của người lao động. Cố gắng đa dạng hóa nền kinh tế và giới hạn dòng dân tới mức bền vững. Áp dụng chiến lược thích hợp để giảm thiểu các hoạt động không phù hợp với địa du lịch và gây tổn hại đến hình ảnh của điểm đến.

12.Giải thích tương tác: Khuyến khích cả du khách và chủ nhà tìm hiểu về địa phương. Khuyến khích cư dân khoe các di sản thiên nhiên và văn hóa cộng đồng của họ để du khách có được một kinh nghiệm phong phú hơn và người dân bộc lộ niềm tự hào về địa phương của họ.

13.Đánh giá: Thiết lập một quy trình đánh giá và được tiến hành thường xuyên bởi một ủy ban độc lập đại diện cho mọi lợi ích các bên liên quan và công bố công khai các kết quả đánh giá.

Hạnh Nhi

Nguồn: http://www.nationalgeographic.com/explorers/bios/jonathan-tourtellot/

http://travel.nationalgeographic.com/travel/geotourism/about

 

NHẬT KÝ LỘ TRÌNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG – 2016

Ngày 23.07.2016

Hôm nay là ngày cuối của đợt thực tập. Đoàn thực tập sẽ trở về thành phố HCM. Các bạn từ Nha Trang trở ra và trên vùng Tây Nguyên được tách đoàn về nhà sau khi có đơn xin phép. Một số bạn xuống dọc đường cũng phải đăng kí trước để giáo viên phụ trách xe biết và được yêu cầu để hành lý trên xe cho thuận tiện.

5:00 xách máy ảnh ra bãi biển, bình minh tuyệt vời, đã thấy Nhóm 7 (Khánh Linh trưởng nhóm) ngồi ngắm bình minh. Khánh Linh và mình tìm góc đẹp chụp ảnh, sau đó là phần chụp ảnh điệu của cả nhóm với thày. Mình được các bạn hướng dẫn một số kiểu mà TEEN hay sử dụng, nhưng không hiểu và không biết làm, ví dụ như kiểu I love you, Tim Hàn, Chu mỏ…nhưng cũng tham gia đầy đủ.

6:00 cả đoàn mang theo hành lý xuống ăn sáng. Sáng nay nghe nói chỉ có bún riêu. Món này không thích hợp với thày Tự Thành, nên thày ra ngoài kiếm món khác. Các thày cô còn lại đang phân vân thì lại được thông báo có bánh mì ốp la. Thế là hầu hết đều chọn bánh mì ốp la (thực ra mọi người chọn ốp lết).

6:40 nhóm các thày cô ra uống cà phê rồi chia tay thày Ngân (đi Tuy Hòa) và cô Thu Dung (ở lại chờ gia đình để đi dự đám cưới). Do thày Ngân và cô Thu Dung phụ trách xe 3 có việc bận nên thày Tự Thành sang xe 3 để quản sinh viên, mình ở lại xe 1 để cùng các bạn từ nhóm 1 đến nhóm 4 trở về thành phố.

7:00 đoàn xe lăn bánh rời Nha Trang. 9:00 đoàn xe ghé Trạm dừng chân Hạnh Vy để các bạn mua các sản phẩm từ nho (rượu nho, siro nho, mật nho, nho xanh, nho đỏ…), hành, tỏi…làm quà cho người thân.

10:00 dừng ăn cơm trưa tại Hưng Phát 2 (Cà Ná). Năm nay đặt cơm đĩa thay vì mang cơm hộp như mọi năm. Hỏi mấy bạn sinh viên, các bạn cho biết cơm trưa tại Hưng Phát thích hơn cơm hộp. Như vậy, có thể từ sang năm đoàn sẽ đặt cơm trưa cho những ngày di chuyển.

Tại Cà Ná, mình cùng thày Tự Thành tranh thủ chụp ảnh dải núi bóc mòn, bậc thềm biển mài mòn – tích tụ cao 15?. Thày Tự Thành giới thiệu cho mình cây NEEM. Lá và quả cây này được pha chế để trị sâu rầy rất hiệu quả.

13:00 ghé trạm Dừng chân Hải Thắng (chuyên bán đồ hải sản). 15:45 ghé trạm dừng chân Bò sữa Long Thành.

Đoàn xe bon bon trên đường cao tốc Long Thành – Dầu Giây, nhưng đến bùng binh Phú Hữu thì phải chờ đợi khá lâu. Xe qua hầm Thủ Thiêm và đến Cơ sơ Nguyễn Văn Cừ, trường Đại học KHTN lúc 18:00.

18: 20, mọi người chia tay nhau. Thêm một đợt hướng dẫn sinh viên thực tập kết thúc an toàn với nhiều kỷ niệm đẹp giữa thày, cô và trò. Với mình đây là năm thứ 9 liên tục đồng hành cùng các bạn sinh viên.

Một vài hình ảnh hôm nay:

Bình minh trên biển Nha Trang
Bình minh trên biển Nha Trang
Nhóm 7 (Khánh Linh trường nhóm) đón hoàng hôn trên biển Nha Trang
Nhóm 7 (Khánh Linh trưởng nhóm) đón bình minh trên biển Nha Trang
Trạm Dừng chân Hạnh Vy
Trạm Dừng chân Hạnh Vy
Mua qua cho người thân
Mua quà cho người thân
Núi bóc mòn và thềm biển mài mòn-tích tụ cao 15 m tại Cà Ná
Núi bóc mòn và thềm biển mài mòn-tích tụ cao 15 m tại Cà Ná
Cây neem (nim) ở Cà Ná
Cây neem (nim) ở Cà Ná

Ngày 22.07.2016

5:45 đi ra bãi biển, lúc này đã có một số du khách nữ (người Tàu) dạo biển, chụp ảnh. Chụp vài kiểu ảnh buổi sáng biển Nha Trang rồi trở lại khách sạn uống cà phê sáng với vợ chồng Liên-Lợi và thày Ngân.

6:15 ăn sáng tại khách sạn Thành Đạt. Cô Tuyến thông báo sáng nay chỉ có hai món: 1) bánh mì ốp la và 2) bún bò. Đầu tiên định chọn bánh mì trứng chiên (thay vì ốp la), sau thống nhất mọi người cùng chọn bún bò. Món bún bò cực mặn. Mọi người chỉ vớt vài miếng thịt bò mỏng (hình như 3 miếng) và những sợi bún to trong tô “nước muối” để ăn. Ăn xong tô bún, thày Nghị uống liền hai chai nước suối. Với mình, đây là lần thứ hai trong đời ăn mặn. Lần đầu lúc còn là sinh viên năm 3, được bạn gái nấu cho ăn món đậu sào cực mặn.

7: 20 xe 1 xuống tàu Con Sẻ Tre để ra Hòn Mun. Khác với mọi năm, năm nay hướng dẫn viên du lịch làm hoạt náo viên nên con tàu vui nhộn hơn, vì vậy thời gian tới Hòn Mun dường như nhanh hơn.

8: 20 đoàn đến Hòn Mun. Anh Tài (cán bộ khu bảo tồn vịnh Nha Trang) bố trí cho các nhóm lần lượt xem san hô bằng tàu đáy kính. Lúc này những lều có view đẹp (ven biển) du khách Tàu đã chiếm hết. Đoàn Khoa Môi trường đành chấp nhận những túp lều có vị trí khiêm tốn, nằm sau dãy lều ven biển.

Chẳng mấy chốc bờ biển đảo Hòn Mun đầy người, toàn du khách Tàu, không gian bỗng trở lên ngột ngạt, toàn tiếng Tàu. Nghe nói Trung Quốc có chính sách du lịch cộng đồng, chính phủ hỗ trợ cho dân đi du lịch, các công ty du lịch Trung Quốc thực hiện qui trình khép kín, họ không dùng hoặc hạn chế dùng sản phẩm, dịch vụ của Việt Nam.

Sinh viên rất khó khăn trong việc tìm kiếm được du khách Việt để phỏng vấn. Có khoảng trên một ngàn du khách, phần lớn là người Tàu, du khách Việt chỉ chiểm khoảng 5 – 10%. Các thày cô đang ngao ngán với cảnh du lịch tại khu bảo tồn thì bỗng vang lên tiếng Việt nam, Việt nam!. Sau này nghe nói lại mới biết, anh Tuấn (hướng dẫn viên du lịch) cùng với sinh viên trên tàu đáy kính đã hô to Chúng tôi là Việt Nan, Việt Nam.

10:20 các nhóm hoàn tất việc đi tàu đáy kính. Toàn đoàn tập trung để nghe anh Tài giới thiệu về Khu bảo tồn Vịnh Nha Trang.

11:30 ăn trưa đơn giản với bánh mì, chả giò (cô Phương Chi đặt) tuyệt ngon. Vừa ăn các thày cô vừa trao đổi về việc chọn Khu bảo tồn rừng Quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận thay cho Khu bảo tồn vịnh Nha Trang, nơi đang mất dần những giá trị cốt lõi của việc bảo tồn.

13:00 rời Hòn Mun, một giờ sau (14:00) đoàn đã có mặt tại Viện biển Nha Trang. Các nhóm được cán bộ của Viện thuyết minh, hướng dẫn thăm quan sinh vật biển nuôi trong bể, trong các bồn kính.

15:00 về khách sạn Thành Đạt, thả sinh viên xong anh Lợi chở mình cùng thày Thành, thày Ngân đi Hòn Chồng thăm quan. Hòn Chồng là một trong những điểm đá chồng mà mình rất muốn đến từ lâu.

Đến khu thắng cảnh Hòn Chồng lại tràn ngập du khách Tàu. Để chụp được bức hình tảng đá kẹp giữa hai khối đá phải chờ rất lâu để đoàn người đi qua. Hòn chồng Nha Trang là khối đá granit cao khoảng 5 m nằm trên nền đá mài mòn cũng là granit cao hơn mực biển khoảng 8 m. Như vậy, Hòn Chồng Nha Trang cao hơn mực nước biển khoảng 13 m.

19:30 là buổi tổng kết và liên hoan văn nghệ. Thày Tự Thành nhận xét việc học tập của các bạn sinh viên trong chuyến thực tập, nhắc nhở mọi người kế hoạch làm văn phòng và lịch báo cáo môn học. Cô Tuyến đọc lại tên các đề tài mà các nhóm phải thực hiện trong tháng 8 và tuần đầu tháng 9 và một số lưu ý cho chuyến trở về ngày mai.

Buổi văn nghệ diễn ra thật sôi động, nhiều tiết mục hay, ban giám khảo gồm thày Tự Thành, cô Bích Huệ và thày Nghị. Hai MC tươi trẻ, đẹp, xinh và rất dí dỏm làm cho buổi văn nghệ thêm hào hứng. Các nữ diễn viên cực kỳ đẹp làm thày Nghị lúng túng không nhận được ai là ai. Kết thúc buổi văn nghệ là phần trao giải thưởng cho các bạn đạt giải leo núi Langbiang và văn nghệ.

Một vài hình ảnh hôm nay:

Chuẩn bị ra đảo Hòn Mun
Chuẩn bị ra đảo Hòn Mun
Thăm quan, học tập tại Viện biển
Thăm quan, học tập tại Viện biển
Hòn chồng Nha Trang
Hòn chồng Nha Trang
Khối đá kẹt tại khu vực Hòn chồng
Khối đá kẹt tại khu vực Hòn chồng
Ban giám khảo cho buổi biểu diễn văn nghệ
Ban giám khảo cho buổi biểu diễn văn nghệ
Diễn viên (giữa) và hai MC (bìa)
Diễn viên (giữa) và hai MC (bìa)
Nhận giải leo núi
Nhận giải leo núi
Nhận giải văn nghệ
Nhận giải văn nghệ

Ngày 21.07.2016

6:45 sau khi chụp ảnh chia tay Công Thành, đoàn xe rời trường Trung cấp Văn thư Lưu trữ.

8:20 tới Trạm N/C cá nước lạnh Tây Nguyên. Các bạn sinh viên nhanh chóng tập trung tại nhà nuôi cá giống. Anh Hùng cán bộ kỹ thuật của Trạm trình bày ngắn gọn về môi trường sống của cá hồi, cá tầm (nhiệt độ, oxy, nước suối trong…) và kỹ thuật nuôi cá giống và cá thương phẩm. Sinh viên đặt một số câu hỏi, sau đó đi thăm quan các hồ cá.

9:20 đoàn xe di chuyển xuống đèo Khánh Lê – một con đường đèo thật hùng vĩ, thật đẹp. Yêu cầu sinh viên quan sát và chụp ảnh qua cửa sổ. Duy nhất xe 1 (có thày Thành, thày Hải) chạy chậm để sinh viên có điều kiện quan sát, chụp ảnh. Tại một số điểm, thày Thành xuống xe để có được những bức hình ưng ý. Khoảng 10: 30 xe 2, 3, 4 và 5 đã tới chân đèo, dừng ở quán Chân Đèo. Xe 1 đúng 11:00 mới tới.

Quán Chân Đèo được thày Cảnh giới thiệu “đây là bạn tôi mà bây giờ mới biết”. Thay vì ăn cơm hộp như mọi năm, năm nay đặt cơm trưa tại quán Chân Đèo. Bữa cơm trưa có món gà kho (gà ta), rau muống xào, trứng chiên, canh rau thập cẩm và đặc biệt có món cá suối chiên dòn. Bữa cơm thật ngon, giá cả hợp lý. Sau khi lo xắp xếp 20 bàn ăn cho đoàn, ông chủ quán mang bình rượu mời thày cô mỗi người một ly, hỏi thăm thày Cảnh.

Nghe nói biết ngay ông chủ quán là người Nam Định, mọi người gọi thày Nghị vào tiếp chuyện đồng hương. Chủ quán sơ lược vài nét về lịch sử bản thân và việc mở quán tại chân đèo vì sự mê mẩn vẻ đẹp của đèo Khánh Lê. Chủ quán là người yêu thích thơ, hay làm thơ, nhất là những bài thơ về vẻ đẹp tự nhiên của núi, đồi, sông suối. Ông đọc cho mọi người nghe bài thơ Con đường, bài thơ mô tả cảnh đẹp đèo Khánh Lê – con đường đèo đã cuốn hút ông đến lập nghiệp.

Mình đang nghiên cứu về geosite, đèo Khánh Lê xứng đáng là một geosite cảnh quan địa mạo. Nghe ông chủ quán Nguyễn Luật đọc thơ, thích quá, yêu cầu ông chép vào nhật ký của mình bài thơ này.

Chép bài thơ Con đường xong, lại đọc thơ; rồi lại gọi đứa con trai 9 tuổi ra đọc thơ. Cháu đọc thuộc lòng bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến. Bố thích thơ, con cũng thích thơ, thích đọc thơ, thích làm thơ; thơ gắn chủ và khách không dứt ra được.

Rồi cũng phải xin phép để dẫn sinh viên đi khảo sát bãi bồi thượng nguồn sông Cái tại Bến Lội, cách quán Chân Đèo khoảng 500 m. Thế là Nguyễn Luật lại đọc cho mọi người bài thơ Bến Lội.

12:00 sinh viên di chuyển đến Bến Lội để khảo sát, chơi trò xếp đá cân bằng và chụp ảnh.

Một vài hình ảnh hôm nay:

Tại Trạm nghiên cứu cá nước lạnh Tây Nguyên
Tại Trạm nghiên cứu cá nước lạnh Tây Nguyên
Một đoạn đèo Khánh Lê (ảnh: Tự Thành)
Một đoạn đèo Khánh Lê (ảnh: Tự Thành)
Quán Chân Đèo của công Nguyễn Luật
Quán Chân Đèo của ông Nguyễn Luật
Chủ quán Nguyễn Luật đang chép bài thơ "Con Đường" vào nhật ký của Hà Quang Hải
Chủ quán Nguyễn Luật đang chép bài thơ “Con Đường” vào nhật ký của Hà Quang Hải
Bài thơ "Con Đường"
Bài thơ “Con Đường”
Tại Bến Lội - Thượng nguồn sông Cái
Tại Bến Lội – Thượng nguồn sông Cái
Thực hành Đá cân bằng tại Bến Lội
Thực hành Đá cân bằng tại Bến Lội

Bến Lội

Bến Lội ở dưới chân đèo

Cà phê thơm nức, suối reo rì rào

Nhiều đêm cứ nghĩ chiêm bao

Ánh trăng nhảy múa chảy vào suối thơ

Em ơi chưa đến bao giờ

Anh bên Bến Lội đang chờ đợi em.

Ngày 20.07.2016

7:00 lớp 14 KMT đã có mặt tại vườn Bích Câu (ven hồ Xuân Hương) để thực tập xác định chất lượng nước bằng teskit. Đây là công việc làm bù cho ngày hôm qua. Thày Tự Thành dự kiến thực hiện 30 phút, song thực tế kéo dài tới gần 1 giờ.

8:00 xe 1, 2 và 3 đi trang trại Organik. Xe 4 và 5 đi Trạm xử lý nước thải. Năm nay đi trang trại Organik là do vào giờ chót lãnh đạo Trạm xử lý nước Đan Kia không đồng ý cho tham quan. Cô Bích Huệ là người đề xuất và trực tiếp liên hệ để đoàn đến thăm quan và học tập tại trang trại Organik.

Từ Đà Lạt theo còn đường đang sửa chữa đi về phía Xuân Trường, Xuân Thọ. Con đường này trước đây thuộc tuyến thực tập MTĐC qua hồ Đơn Dương, đèo Ngoạn Mục, Phan Rang, đến Nha Trang. Từ năm 2009, khi đèo Ngoạn Mục sửa chữa, tuyến thực tập theo con đường mới mở qua đèo Khánh Ly – Bi Đup đi Nha Trang.

9:00 đoàn tới trang trại của Công ty TNHH liên doanh ORGANIK DALAT tại thôn Đa Thọ, xã Xuân Thọ, TP. Đà Lạt. Trang trại nằm trong một thung lũng rộng 4 ha, được bao quanh bởi các đồi thông. Công ty được nhà nước giao quản lý một vành đai rừng 20 ha.

Anh Nguyễn Lê Minh Triết, cán bộ kỹ thuật của Công ty giảng giải cho các bạn sinh viên về nông nghiệp organic. Những yêu cầu về giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc…nông nghiệp Organic với điều kiện tiên quyết đó là sự cân bằng sinh thái. Sản phẩm đến người tiêu dùng có mức độ an toàn cao.

Mình đề nghị thày Thành cho đoàn thưởng thức sản phẩm nông nghiệp organic trong bữa cợm chiều nay. Sinh viên và thày cô đều nhiệt tình ủng hộ sáng kiến này.

11:00 rời trang trại, đến Viện sinh học Nhiệt đới lúc 11:45. Khác với mọi lần, năm nay cán bộ Viện cho sinh viên vào cửa trước. Cùng với thày Thành dạo qua một vài phòng, xem xét xung quanh thấy cơ sở của Viện ngày càng xuống cấp.

Chiều nay xe 1, 2 và 3 đi thăm quan Trạm xử lý nước thải thành phố Đà Lạt. Mình cùng thày Ngân đi khảo sát khu vực hồ Tuyền Lâm, đích đến là Đường hầm Điêu khắc. Hai thày trò thuê một xe máy chạy gần như vòng quanh hồ Tuyền Lâm trên một con đường trải nhựa khá đẹp.

Đường hầm Điêu khắc là một đoạn hào cắt vào vỏ phong hóa ryodaxit thuộc phức hệ Đơn Dương. Hào dài khoảng 500 m, rộng khoảng 20 m, sâu 7 – 8 m. Người ta khắc họa những nét thiên nhiên đặc thù và kiến trúc đặc trưng của Đà Lạt trên vách hào qua hai giai đoạn: thiên nhiên hoang dã và thời thuộc Pháp.

Một vài hình ảnh hôm nay:

Thực tập xác định chất lượng nước bằng testkit
Thực tập xác định chất lượng nước bằng testkit
Cô Bạch Linh chuẩn bị ăn thử hoa của trang trại Organik
Cô Bạch Linh chuẩn bị ăn thử hoa của trang trại Organik
Anh Nguyễn Lê Minh Triết giảng, giải cho sinh viên về nông nghiệp organic
Anh Nguyễn Lê Minh Triết giảng, giải cho sinh viên về nông nghiệp organic
Rời trang trại Organik Dalat cùng nhóm 5
Rời trang trại Organik Dalat cùng nhóm 5
Đà Lạt hoang sơ tại Đường hầm Điệu khắc
Đà Lạt hoang sơ tại Đường hầm Điêu khắc
Đà Lạt thời thuộc Pháp tại Đường hầm Điêu khắc
Đà Lạt thời thuộc Pháp tại Đường hầm Điêu khắc
Hôm nay có thêm món rau sống từ trang trại Organik Dalat
Hôm nay có thêm món rau sống từ trang trại Organik Dalat

Lưu ý:

1. Ngày mai đoàn sẽ đi Nha Trang qua đèo Khánh Lê – Bi Đúp. Con đường đèo khá dài (trên 30 km), cheo leo, hiểm trở nhưng rất đẹp. Do không có vị trí thích hợp để dừng trên đường đèo nên các bạn quan sát và chụp các bức hình qua cửa sổ.

2. Sau khi ăn trưa xong, các bạn xuống bãi cuội thượng nguồn sông Cái để khảo sát. Xác định thành phần, hình dạng, kích thước cuội. Các nhóm chụp ảnh với cảnh quan bãi bồi và thử nghiệm kỹ thuật Đá cân bằng từ các hòn cuội xem.

Ngày 19.07.2016

7:15 đoàn thực tập tới bãi xe jeep của khu du lịch Langbiang. Nhắc lại thời gian triển khai các việc tại đỉnh Radar cho các nhóm.

Đúng 7:30 thày Tự Thành phát lệnh leo núi, các nhóm nhanh chóng di chuyển dọc theo con đường ngược sườn dốc lên đỉnh Radar.

Nhóm đi bằng xe jeep để vận chuyển đồ (loa, nước uống…) gồm có thày Hải, Công Thành, Ngọc Tuyến, Bạch Linh).

Tại đỉnh Radar, mua hai thẻ, cùng cô Tuyến xem cảnh quan bằng kính viễn vọng (năm ngàn 3 phút). Lên đây nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên sử dụng loại dịch vụ này do gần đây mình quan tâm nhiều đến điểm nhìn (viewpoint) trong địa du lịch.

Giới thiệu cho cô Tuyến, thày Công Thành, cô Bạch Linh xem cảnh quan bằng ống nhòm hiệu National Geographic. Mọi người đều thích thú, công nhận xem rõ hơn kính viễn vọng.

8:40 bạn Lê Nguyễn Đức Linh (nhóm 14) và Bùi Thị Kim Thủy (nhóm 6) lên tới đỉnh, giành giải leo núi cá nhân (nhất nam và nhất nữ).

9:00 các nhóm 14 (toàn trai), nhóm 19 (toàn gái) và nhóm 7 (gái và trai) cùng tới đỉnh.Như vậy cả ba nhóm cùng đoạt giải nhất leo núi đồng đội.

10:00 tất cả các nhóm đều lên tới đích. Các thày cô giảng bài, sau đó các nhóm triển khai đo vẽ phẫu diện đất, đo vẽ ô thực vật tiêu chuẩn, lấy mẫu đá, đất và thực vật. Sau khi hoàn thành công việc trên đỉnh Radar, các nhóm sẽ xuống núi và tập trung tại bãi xe vào lúc 15:00.

Các thày cô trở lại chân núi bằng xe jeep. Lúc 14:00 thày Hải đề nghị trưởng đoàn (thày Tự Thành) cho các thày cô đến thăm trang trại cà phê hữu cơ của vợ chồng anh, chị Josh Guikema – Rolan Co Lieng (mọi người gọi là Rolan). Trang trại thuộc phố Boneur’C, Lạc Dương, cách bãi xe du lịch Langbiang 3 km.

Mười thày cô đi hai xe taxi. Cô Rolan (dân tộc K’Ho) vui vẻ đón tiếp mọi người, giới thiệu thương hiệu K’Ho Coffee. Giới thiệu kỹ thuật trồng, thu hoạch, chế biến cà phê của Công ty TNHH Sản xuất, Thương mại, Dịch vụ K.Ho. Rolan pha cà phê mời mọi người cùng thưởng thức. Mọi người đều công nhận cà phê tuyệt ngon.

Rolan dẫn mọi người thăm trang trại cà phê, thăm căn nhà nhỏ bằng gỗ với nội thất đơn giản nhưng thật dễ thương. Rolan biểu diễn đàn Tơ Rưng với bản nhạc Tiếng chày trên sóc Bom Bo thật điêu luyện. Câu chuyện trang trại Cà phê hữu cơ sẽ còn dài dài.

Chia tay trang trại, mọi người không quyên mua cà phê K’Ho. Rolan xay, đóng gói cà phê và hẹn mọi người trở lại.

15:00 đoàn rời bãi xe Langbiang, trời mưa lớn, thày Tự Thành quyết định chuyển thực hành đo chất lượng nước hồ Xuân Hương bằng Teskit sang sáng hôm sau.

Giới thiệu vài bức hình hôm nay:

Lớp 14 KMT trên đỉnh Radar
Lớp 14 KMT trên đỉnh Radar
Thày, cô bô môn KHMT hướng dẫn thực tập MT đại cương lớp 14 KMT
Thày, cô bô môn KHMT hướng dẫn thực tập MT đại cương lớp 14 KMT
Cô Ngọc Tuyến đang thích thú quan sát các dạng địa hình từ điểm nhìn Radar
Cô Ngọc Tuyến đang thích thú quan sát các dạng địa hình từ điểm nhìn Radar
Lê Nguyễn Đức Linh, Bùi Thị Kim Thủy giải nhất cá nhân leo núi
Lê Nguyễn Đức Linh, Bùi Thị Kim Thủy giải nhất cá nhân leo núi
Nhóm 14, 19 và 7 đồng giải nhất đồng đội leo núi
Nhóm 14, 19 và 7 đồng giải nhất đồng đội leo núi
Làm phẫu diện đất tại vách đã phủ cỏ (bị ban quản lý khu du lịch la)
Làm phẫu diện đất tại vách đã phủ cỏ (bị ban quản lý khu du lịch la)
Thày Trường Ngân hướng dẫn đo vẽ ô thực vật tiêu chuẩn
Thày Trường Ngân hướng dẫn đo vẽ ô thực vật tiêu chuẩn
Tại trang trại cà phê hữu cơ của vợ chồng chị Ro Lan
Tại trang trại cà phê hữu cơ của vợ chồng anh, chị Josh Gui kema -Rolan
Tại quán cà phê của vợ chồng chị Ro Lan (trong ảnh, thày Tự Thành đang xay cà phê)
Chị Rolan đang giới thiệu về K’Ho Coffee (trong ảnh, thày Tự Thành đang xay cà phê)

Ngày 18.07.2016

5:30 đoàn xe bị khởi hành. Cũng như năm trước, đoàn xe đi theo tuyến cao tốc Long Thành – Dầu Giây, đến 8:00 đã tới điểm khảo sát đầu tiên – Đồi tượng đài La Ngà. Hướng dẫn các nhóm thủ tục triển khai khảo sát mô tả tại một điểm bao gồm định điểm vị trí khảo sát trên bản đồ, đo phương vị mặt cắt, mô tả các hợp phần cảnh quan, lấy mẫu vật…

Từ lý thuyết đến thực tế là cả một vấn đề. Hầu hết các nhóm đều lúng túng khi xác định vị trí khảo sát, định hướng bản đồ, xác định tọa độ kinh độ, vĩ độ, X, Y…nhiều bạn lấy mảnh bản đồ A4 để định điểm, có nhóm thiếu tờ Vĩnh An nên không thể xác định được tên núi lửa và phương vị từ núi lửa đến điểm khảo sát.

Cuối cùng nhóm 13 các bạn cũng xác định được vị trí khảo sát, định được tên núi lửa là đỉnh cao 240 m có dạng chữ “C”, phương vị mặt cắt 260o, độ cao tương đối đồi thềm tượng đài khoảng 25 m.

11:30 đoàn đến mỏ bauxit Bảo Lộc. Cơm hộp xong đoàn di chuyển ra khu tuyển rửa quặng. Xí nghiệp đã ngừng sản xuất 2 năm, trong khi chờ đợi bán cho đơn vị khác, chú Trí (giám đốc) vẫn chịu trách nhiệm quản lý. Vẫn như mọi năm, chú Trí nhiệt tình giảng cho các bạn về qui trình khai thác, tuyển rửa quặng, các vấn đề về môi trường và hoàn thổ sau khai thác. Sau đó các nhóm tiến hành khảo sát mặt cắt vỏ phong hóa bauxit, phẫu diện đất bazan…

13:30 đoàn rời mỏ bauxit. 15:30 đến điểm khảo sát tại cầu Đại Ninh, nghe giảng về hệ thống bậc thềm, về thủy điện Đại Ninh và các vấn đề môi trường liên quan. Các nhóm tiến hành khảo sát, mô tả, lấy mẫu trên các thềm bậc 3, 4 và 5. Trên thềm 5, quan sát thung lũng sông Da Queyon tuyệt đẹp.

18:00 đoàn đến Trường Trung cấp Văn thư và Lưu trữ trung ương, ăn cơm tối xong cô Bích Huệ hướng  dẫn các nhóm ép mẫu.

Kết thúc ngày đầu thực tập, lộ trình dài, nhiều nội dung phải thực hiện nhưng xem như kết quả đạt yêu cầu.

Nhóm 13 định điểm vị trí khảo sát trên bản đồ
Nhóm 13 định điểm vị trí khảo sát trên bản đồ
Nghe giảng qui trình khai thác và tuyển rửa quặng bauxit
Nghe giảng qui trình khai thác và tuyển rửa quặng bauxit
Đầm lầy hóa lòng sông dưới đập Đại Ninh
Đầm lầy hóa lòng sông dưới đập Đại Ninh
Trên thềm bậc 5 tại khu vực cầu Đại Ninh
Trên thềm bậc 5 tại khu vực cầu Đại Ninh

Ngày mai sẽ đi Langbiang, các nhóm lưu ý mấy điểm sau:

1. Từ Trường Trung cấp Văn thư và Lưu trữ trung ương đến chân núi Langbian quan sát hoạt động nông nghiệp trên sơn nguyên Đà Lạt (rau và hoa) với các mảnh ruộng bậc thang trên sườn đồi. Khác với các ruộng bậc thang ở vùng Tây Bắc (công trình mang tính nghệ thuật), ruộng bậc thang ở Đà Lạt làm các sườn đồi nham nhở, nhiều hình dạng, nhiều kích thước.

2. Đất ở Đà Lạt và sườn núi Langbiang có màu đỏ vàng nhưng không phải phong hóa từ đá bazan như ở Dầu Giây và Bảo Lộc (có người nhầm lẫn rồi đấy). Đất ở sơn nguyên Đà Lạt chủ yếu phong hóa từ trầm tích Jura (hệ tầng La Ngà). Đất ở Langbian g phong hóa từ ryodacit, ryolit thuộc hệ tầng Đơn Dương.

3. Có nhiều vết trượt đất mới và cũ có thể quan sát được trên đường đến Langbian. Chân núi Langbian có nhiều vết trượt và rãnh xâm thực.

4. Tại đỉnh Radar cao 1900 m, có thể quan sát được sơn nguyên Đà Lạt, hồ Đan Kia và đoạn sông uốn khúc trước khi nhập vào lòng hồ Đan Kia. Sử dụng ống nhòm có thể quan sát các dạng địa hình trượt đất rất rõ. Có thể xem đỉnh Radar là một điểm nhìn (viewpoint) ấn tượng của Đà Lạt.

Ngày 17.07.2016

Ngày mai, sinh viên ngành Khoa học môi trường (Lớp 14 KMT) cùng các thày cô tham gia đợt thực tập MT đại cương 2016 sẽ khởi hành lúc 5:00 tại Cơ sở Nguyễn Văn Cừ. Đến hôm nay, công tác chuẩn bị cho chuyến đi đã hoàn tất.

Ngày mai, lộ trình khá dài (trên 300 km, từ TP.HCM đi Đà Lạt), khởi hành sớm, công việc khá nhiều (khảo sát tại 3 điểm). Tại các điểm dừng, các bạn được nghe các thày cô giảng bài. Tuy vậy, cũng có một số điểm lưu ý để các bạn sinh viên chủ động quan sát, chụp ảnh, ghi chép để tài liệu thu thập phong phú hơn (nhất là những đặc điểm cảnh quan theo tuyến lộ trình mà đoàn không có điều kiện dừng lại để mô tả).

Ngoài những nội dung đã trình bày trong giáo trình, các bạn lưu ý những nội dung dưới đây tại các điểm khảo sát và theo lộ trình

1. Từ Dầu Giây đến cầu La Ngà, lộ trình chủ yếu đi qua vùng đất đỏ bazan; các bạn lưu ý quan sát và chụp ảnh. Khi dừng tại cây xăng Huyền Hậu (nghỉ giải lao), các bạn tranh thủ mô tả cảnh quan cho dạng địa hình này. Cách cầu La Ngà khoảng 2 km, các thày cô phụ trách xe yêu cầu các bác lái xe đi chậm để sinh viên quan sát, mô tả, chụp ảnh để có tài liệu xây dựng mặt cắt cảnh quan qua thung lũng sông La Ngà.

2.Tại điểm khảo sát Đồi tượng đài Bắc cầu La Ngà

Các bạn xác định tên núi lửa (mũi tên trên hình 1). Xác định phương vị mặt cắt từ đỉnh núi lửa này đến Đồi tượng đài và lập mặt cắt theo phương này.

Tìm góc thích hợp để có bức hình đẹp về làng Chài tại cầu La Ngà (tham khảo hình 2)

Lập mặt cắt cảnh quan từ đỉnh núi lửa tới Đồi tượng đài La Ngà
Hình 1. Lập mặt cắt cảnh quan từ đỉnh núi lửa tới Đồi tượng đài La Ngà
Sáng sớm mù sương trên Làng chài La Ngà (a. Tự Thành)
Hình 2. Sáng sớm mù sương trên Làng chài La Ngà (a. Tự Thành)

3.Từ Đồi tượng đài đi khoảng 9 km sẽ gặp khối đá Ba Chồng bên trái. Các bác tài đi chậm để sinh viên chụp ảnh. Đi tiếp khoảng 0,8 km là khối đá Hai Chồng bên phải.

4. Khi xe chạy qua đèo Bảo Lộc, các bạn ngồi bên trái quan sát và chụp ảnh đá phun trào trung tính thuộc hệ tầng Đèo Bảo Lộc.

5. Tại mỏ Bauxit Bảo Lộc (điểm khảo sát 2), các bạn cần xác định ranh giới giữa các đới của vỏ phong hóa. Mô tả và chụp ảnh cận cảnh đới laterit bauxit và các khối bazan phong hóa bóc cầu. Tìm vị trí thích hợp để chụp ảnh toàn cảnh cao nguyên Bảo Lộc.

6. Tại cầu Đại Ninh (Điểm khảo sát 3), các bạn quan sát hình thái, độ cao, cấu tạo các bãi bồi và bậc thềm. Cũng cần ghi nhận các yếu tố nhân sinh (nhà, chùa, hoạt động canh tác…) trên các dạng địa hình này. Tham khảo hình 3 và 4.

Bãi bồi thấp và thềm bậc 1 ở bờ trái sông Đa Quyeon
Hình 3. Bãi bồi thấp và thềm bậc 1 ở bờ trái sông Đa Quyeon
Bãi bồi cao và các bậc thềm ở bờ phải sông Đa Queyon
Hình 4. Bãi bồi cao và các bậc thềm ở bờ phải sông Đa Queyon

7. Từ cầu Đại Ninh đi khoảng 3 km sẽ thấy núi Chai (miệng núi lửa) nhô cao trên bề mặt cao nguyên. Bác tài đi chậm để các bạn quan sát và chụp ảnh.

H & H

LỚP 12 KMT BẢO VỆ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP

Sau 4 năm học tập, từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 7 năm 2016 các bạn sinh viên lớp 12 KMT gồm các chuyên ngành Khoa học môi trường, TNTN và Môi trường, Môi trường và  TN. Biển, Tin học MT, Quản lý môi trường, Viễn thám và GIS trong quản lý TN và MT đã lần lượt bảo vệ đề tài tốt nghiệp.

Hội đồng Chuyên ngành TNTN và Môi trường (15/07/2016)

Theo sự phân công của Khoa, mình tham gia hội đồng chuyên ngành TNTN và Môi trường với chức danh là chủ tịch. Hội đồng còn có sự tham gia của cô Phương Chi (thư kí), cô Ái Lê và thày Ngân (trường Bách khoa). Có tám bạn sinh viên thực hiện khóa luận và 5 bạn thực hiện tiểu luận. Trong 13 đề tài khóa luận, tiểu luận có tới 9 đề tài liên quan đến Địa chất môi trường và Địa du lịch.

  1. Đánh giá chất lượng nước ngầm tại khu vực phường Tân Tạo A, Q. Bình Tân (SV. Nguyễn Minh Đoàn)
  2. Áp dụng phân tích chi phí, lợi ích nhằm lựa chọn giải pháp nâng cấp, mở rộng nhà máy nước xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (Đỗ Thị Mỹ Linh)
  3. Nhu cầu sử dụng nước cho hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt huyện Eah’leo, tỉnh Đaklak (Trần Thị Ánh Nguyệt)
  4. Ảnh hưởng xâm nhập mặn đến vụ Đông Xuân 2016 khu vực Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang (Trần Thị Huỳnh Như)
  5. Tiềm năng địa du lịch khu vực huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (Phạm Thị Thu)
  6. Tài nguyên nước lưu vực sông Cái – Phan Rang (Phạm Thị Dung)
  7. Xói mòn đất huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (Trịnh Thị Hoa)
  8. Định hướng sử dụng hợp lí bờ biển ở Phú Yên (Nguyễn Thị Thu Thủy)
  9. Chất lượng nước ngầm tầng nông khu vực An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương (Trần Thị Tuyết Vân).
Bạn Ánh Nguyệt trình bày đề tài Nhu cầu sử dụng nước nông nghiệp và sinh hoạt huyện Eah'leo, tỉnh Đaklak
Bạn Ánh Nguyệt trình bày đề tài Nhu cầu sử dụng nước cho hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt huyện Eah’leo, tỉnh Đaklak

Nhìn chung các khóa luận, tiểu luận được thực hiện nghiêm túc, có nội dung và hình thức tốt. Các báo cáo trước hội đồng được chuẩn bị công phu, sinh viên trình bày lưu loát và trả lời đầy đủ, ngắn gọn các câu hỏi của thày, cô nhận xét và của hội đồng.

Lớp TNTN và Môi trường sau buổi bảo vệ
Lớp TNTN và Môi trường cùng với hội đồng sau buổi bảo vệ

Nghe sinh viên chuyên ngành Viễn thám và GIS bảo vệ

Sáng nay (16/07/2016), là người hướng dẫn bạn Duyên (bảo vệ đầu tiên), nên đến nghe báo cáo và đọc nhận xét của giáo viên hướng dẫn. Đây là chuyên ngành mới mở của Khoa Môi trường, và cũng là lần đầu tiên mình nghe các bạn sinh viên chuyên ngành này trình bày. Hội đồng này gồm có thày Tuấn Tú (chủ tịch), cô Bích Châu (thư kí), thày Tuấn và cô Hà. Mình dành thời gian nghe được bốn đề tài:

  1. Xây dựng bản đồ tiềm năng lũ quét huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (Nguyễn Mỹ Duyên)
  2. Ứng dụng viễn thám trong ước lượng sinh khối và CO2 hấp thụ của rừng trồng tại Cần Giờ (Lê Thị Thúy Hoa)
  3. Diễn biến hạn hán ở lưu vực sông Cái, Phan Rang, Ninh Thuận (Đào Thị Thu Huyền)
  4. Lập bản đồ dư lượng kim loại nặng trong đất ở ngoại thành TP. Hồ Chí Minh (Võ Thanh Mai)

Bốn đề tài trên (đều liên quan đến Địa chất môi trường) được các bạn trình bày rất tốt. Các bạn đều nắm khá vững kỹ thuật viễn thám và GIS để giải quyết được mục tiêu của đề tài.

Bạn Võ Thanh Mai trình bày đề tài Lập bản đồ dư lượng kim loại nặng ở ngoại thành TP. HCM
Bạn Võ Thanh Mai trình bày đề tài Lập bản đồ dư lượng kim loại nặng ở ngoại thành TP. HCM
Các bạn SV chuyên ngành VT và GIS
Các bạn SV chuyên ngành VT và GIS

H & H

 

HÃY DỪNG DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN DU KHÁCH BẰNG XE JEEP TẠI SUỐI TIÊN

Giới thiệu

Suối Tiên là một địa điểm không thể bỏ qua khi đến tham quan Mũi Né, Phan Thiết. Suối Tiên chảy theo ranh giới giữa dải đồi phía đông cấu tạo bởi cát màu trắng xám và dải đồi phía tây là cát đỏ phủ lên cát trắng xám. Cát màu đỏ thuộc hệ tầng Phan Thiết có tuổi 85.000 ± 9.000 năm hình thành vào giai đoạn biển tiến Pleistocene muộn (MIS-5), cát trắng xám thuộc hệ tầng Mũi Né có tuổi > 204.000 năm hình thành trong giai đoạn biển tiến Pleistocene giữa (MIS-7). Đây là vết lộ địa tầng tương ứng với hai giai đoạn biển tiến được định tuổi tuyệt đối duy nhất ở Việt Nam*.

Suối Tiên được đánh giá là một geosite có giá trị cao về mặt khoa học địa chất, địa mạo và giá trị thẩm mỹ (Hà Quang Hải và nnk). Trên sườn phía tây suối, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các dạng vi địa hình phản ánh đặc điểm thạch học của hai hệ tầng. Trên cát đỏ (hệ tầng Phan Thiết) xuất hiện các khe rãnh xâm thực, vết trượt, cát trôi. Trên cát trắng xám (hệ tầng Mũi Né) có các “tháp cát, nấm cát” kiểu giả karst, các vách thẳng đứng, các hàm ếch xâm thực và thác nước.

7Hình 1: Vách đồi phía tây, cát đỏ phủ lên cát trắng gồm các dạng địa hình độc đáo

Lội bộ dọc suối – con đường mòn địa chất (geotrail) thú vị

Nước suối Tiên mát rượi, mực nước thường đến cổ chân, đôi chỗ đến nửa gối và nơi sâu nhất cũng không quá đầu gối. Đáy suối cát có màu đỏ cam do trầm tích sườn đồi phía tây chảy xuống. Từ lâu, Suối Tiên đã là một điểm tham quan của du khách trong và ngoài nước. Việc tham quan trải nghiệm tại nơi đây chủ yếu là đi bộ dọc theo suối để ngắm các dạng vi địa hình cũng như cảnh quan độc đáo và việc lội bộ trên nền suối cát êm chân làm cho du khách cảm thấy khá thú vị nhất là trong cái tiết trời oi ả của đồi cát miền Trung rộng lớn.

Lội bộ từ cửa suối đến thác nước, du khách sẽ thật sự thú vị khi thấy ranh giới rõ ràng giữa hai hệ tầng (cát đỏ phủ trên cát trắng), sự xuất hiện các bậc thềm suối, các tháp cát giả karst (Hình 2), các delta (Hình 3), các vết trượt, các hàm ếch và cuối lộ trình là thác nước với hố xoáy chân thác.

          Hình 2,3,4,5: Du khách đi dọc suối để ngắm cảnh quan độc đáo

Suối Tiên đang trong quá trình suy thoái

Những dạng địa hình nói trên (trượt đất, cát chảy, hàm ếch…) phản ánh quá trình suy thoái của suối Tiên. Đi dọc theo suối, có thể dễ dàng nhận thấy các vết trượt dày đặc, có kích thước khác nhau. Tại một số vị trí trên sườn dốc còn quan sát được rãnh xâm thực sâu, khá lớn; các vết trượt lòng máng thường hình thành trên cát đỏ. Trên cát trắng xám thường là các vách dốc đứng, các khe rãnh xâm thực hẹp, các “carư” dạng lưỡi mác có kích thước khác nhau; chân cát xám trắng có các hàm ếch xâm thực khá rõ, một số vị trí các hàm ếch này đã sập xuống đáy suối.

15Hình 6: Toàn cảnh một cung trượt.

Cung truot_26.4.2010Hình 7: Trên ảnh Google Earth 26/4/2010, ta có thể quan sát hàng loạt cung trượt khá rõ trên sườn tây

Địa hình (độ dốc cao của sườn), đặc điểm trầm tích (chủ yếu là cát bở rời hoặc gắn kết yếu), lớp phủ thực vật trơ trụi là những yếu tố chính dẫn đến sự suy thoái của Suối Tiên (Hình 8).

Hình 8: Tác động xâm thực đang làm Suối Tiên suy thoái

Hoạt động du lịch cũng góp phần gia tăng sự suy thoái của Suối Tiên. Du khách đến đây ngày một nhiều. Một số du khách trèo trên sườn cát chảy, ngồi lên các khối giả karst (Hình 9), di chuyển dọc suối làm gia tăng xói mòn, kết quả là lòng suối ngày một mở rộng và khoét sâu hơn. So sánh cùng một vị trí trong 3 thời kỳ cho thấy bề rộng suối mở rộng gấp 3-4 lần (Hình 10).

11Hình 9: Một hàm ếch khoét sâu vào khối giả karst. 12/2015

Hình 10: Khúc suối bị mở rộng do tác động du lịch (12/2012-12/ 2014-6/2016)

Dịch vụ xe jeep dọc Suối Tiên là không thích hợp

Cách nay khoảng 2-3 tháng, xuất hiện các xe Jeep chở khách dọc Suối Tiên. Việc đưa se jeep vào Suối Tiên sẽ dẫn đến những hệ lụy không tốt cho điểm đến “bồng lai tiên cảnh” này.

Hình 11: Ngay tại khu vực xuất phát đã bắt gặp dịch vụ chở bằng xe Jeep vào thác

Chiều dài của con suối chưa đầy 1 km, phương tiện di chuyển bằng xe Jeep hoàn toàn không phù hợp. Ngồi trên xe, du khách sẽ không cảm nhận được những điều lý thú xuất hiện liên tục theo vách suối. Lòng suối khá hẹp, nước nông, nền cát mịn, nếu lội bộ sẽ làm tăng thêm sự thích thú của du khách. Khi những chiếc xe Jeep đi qua, bấm còi inh ỏi, các du khách phải vội vàng nhường lối (nép vào vách suối), nước bắn lên người, khiến cho những cảm nhận về một cảnh quan tự nhiên không còn nữa. Cũng không loại trừ những tai nạn giao thông có thể xảy ra.

Khi xe Jeep di chuyển, lòng suối sẽ bị khoét sâu, sóng sẽ tác động đến vách suối; tức là quá trình xâm thực sẽ gia tăng (cả sâu và ngang); kết quả là các dạng vi địa hình, địa mạo độc đáo ven suối sẽ bị phá hủy nhanh chóng.

Hình 12: Việc di chuyển bằng xe Jeep qua những khúc hẹp như thế này sẽ làm tăng xói lở hai bên bờ

Thay lời kết

Geosite Suối Tiên thuộc tiêu chí độc đáo (duy nhất) và phức hợp (địa mạo-địa tầng), đã được đề xuất là geosite cấp Quốc gia. Loại hình thích hợp tham quan geosite này là đi bộ, đi dọc theo lòng suối (geotrail) du khách có trải nghiệm thú vị về địa chất, địa mạo nơi đây. Đưa xe jeep vào Suối Tiên sẽ làm cho geosite này suy thoái nhanh hơn, các du khách thích thú đi bộ sẽ xa lánh dần. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng tỉnh Bình Thuận nên dừng ngay hoạt động dịch vụ xe Jeep tại nơi này. Hơn thế nữa, Suối Tiên cần được quy hoạch thành một điểm du lịch, có hướng dẫn viên thuyết minh các hiện tượng địa chất, địa mạo và cần có giải pháp bảo tồn geosite này – một tài nguyên vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây.

Phương Chi.

* Đọc thêm bài Các geosite ven biển Bình Thuận trong diamoitruong.com

TÀI LIỆU TẬP HUẤN CHUYÊN MÔN PHỤC VỤ THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG 2016

Nhằm giúp sinh viên chuẩn bị tốt cho chuyến thực tập sắp tới (tháng 07/2016), các thầy cô Khoa Môi trường đã tổ chức cho sinh viên 2 ngành: Khoa học Môi trường và  Công nghệ Môi trường buổi tập huấn chuyên môn ngày 25/06/2016. Bên dưới là các file bài giảng trong buổi tập huấn vừa qua.

1/ Giới thiệu Lộ trình Thực tập Môi trường đại cương do Thầy Hà Quang Hải biên soạn. Bài giảng cung cấp cho sinh viên các kiến thức khái quát nhất về môn học bao gồm: Cơ sở môn học, mục đích môn học, phương pháp nghiên cứu, yêu cầu chuyên môn, lộ trình khảo sát và công tác chuẩn bị.

Lo trinh thuc tap Moi truong dai cuong

DKS Mo bauxite

DKS Langbian

Link: Gioi thieu lo trinh Thuc tap MTDC_2016

2/ Hướng dẫn đo vẽ Ô tiêu chuẩn thực vật và lát cắt Môi trường tổng hợp do Thầy Nguyễn Trường Ngân biên soạn. Bài giảng hướng dẫn sinh viên công tác nội nghiệp và ngoại nghiệp để đo vẽ ô mẫu thực vật tại Lang Biang. Đồng thời tài liệu cung cấp cách thức vẽ Lát cắt tổng hợp các vấn đề Tài nguyên Môi trường theo lộ trình thực địa.

Do ve o tieu chuan

Do ve o tieu chuan 2 Đọc tiếp “TÀI LIỆU TẬP HUẤN CHUYÊN MÔN PHỤC VỤ THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG 2016”

CÁC BẬC ĐỊA HÌNH CƠ BẢN THEO LỘ TRÌNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG

Hà Quang Hải

Bài viết này trình bày khái lược các bậc địa hình cơ bản theo tuyến lộ trình mà trên đó phân bố những điểm khảo sát để các bạn sinh viên có thể nhìn nhận một cách trực quan sự biến đổi các hợp phần cảnh quan theo độ cao.

Ba vùng tự nhiên

Lộ trình được bố trí qua 3 tỉnh thuộc ba vùng tự nhiên: 1) Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai (vùng Nam Bộ), 2) Lâm Đồng (vùng Tây Nguyên) và 3) Khánh Hòa (vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ). Các hợp phần cấu tạo nên ba vùng tự nhiên (địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, sinh vật, khí hậu) và các yếu tố nhân sinh (con người, sử dụng đất, hoạt động kinh tế…) được phản ánh khá rõ theo tuyến lộ trình.

Bốn bậc địa hình cơ bản

Theo tuyến hành trình, có thể phân chia thành bốn bậc địa hình cơ bản

Mặt cắt cảnh quan tổng hợp theo tuyến lộ trình thực tập
Mặt cắt cảnh quan tổng hợp theo tuyến lộ trình thực tập

Đọc tiếp “CÁC BẬC ĐỊA HÌNH CƠ BẢN THEO LỘ TRÌNH THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG”

BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG TẬP HUẤN CHUYÊN MÔN TRƯỚC CHUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG 2016

Đến hẹn lại lên, cứ sau kỳ thi tuyển sinh đại học vào đầu tháng 7 hàng năm là chúng ta (Khoa Môi trường, Trường Đại học KHTN, ĐHQG. TPHCM) lại thực hiện môn học Thực tập môi trường đại cương theo tuyến lộ trình TP.HCM – Đồng Nai – Lâm Đồng – Khánh Hòa. Khác với mọi năm, năm nay khoa tổ chức thành 2 đoàn:

1) Đoàn Công nghệ MT gồm các bạn học năm thứ 2 và 3. Từ sang năm khoa sẽ đưa môn học vào năm 2. Đoàn Công nghệ MT do cô Hiền (trưởng khoa, trưởng bộ môn CNMT làm trưởng đoàn).

2) Đoàn khoa học MT có lịch trình thực tập như mọi năm. Năm nay số lượng sinh KHMT khá đông (gần 200), thày Tự Thành (phó khoa, trưởng bộ môn KHMT làm trưởng đoàn).

Công tác chuẩn bị (công văn gửi địa phương, liên hệ địa điểm học tập, nơi ăn ở, xe vận chuyển… đã được các thày, cô thuộc hai bộ môn triển khai trong tháng 5 và tháng 6, nay đã hoàn tất).

Để sinh viên có điều kiện làm quen với công tác ngoài trời, sáng thứ bảy (25.06) Bộ môn KHMT tổ chức buổi tập huấn cho lớp KMT_14. Như vậy, các nhóm có khoảng ba tuần để chuẩn bị mọi công việc cho chuyến đi. Việc tập huấn tập trung vào hai nội dung: 1) Công tác chuyên môn và 2) Công tác tổ chức.

Dưới đây là một số hình ảnh buổi tập huấn.

Thày Hải trình bày khái quát tuyến lộ trình thực tập
Thày Hải trình bày khái quát tuyến lộ trình thực tập

Đọc tiếp “BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG TẬP HUẤN CHUYÊN MÔN TRƯỚC CHUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG 2016”