Việc Bộ Tài nguyên – Môi trường cấp phép nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải xuống biển Bình Thuận, theo các chuyên gia, bản chất là xả thải.
Nhiệt điện Vĩnh Tân đang gây ra nhiều tác động về môi trường cả trên cạn lẫn đáy biển
Nó sẽ hủy hoại vĩnh viễn cả một vùng biển giàu có và độc nhất vô nhị về nhiều mặt của Việt Nam.
Ngày 23.6.2017, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường (TN-MT) Nguyễn Linh Ngọc đã ký Giấy phép số 1517/GP-BTNMT, chấp thuận cho Công ty TNHH điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm 918.533 m3 bùn, cát, vỏ sò, sạn sỏi ra vùng biển thuộc xã Vĩnh Tân, H.Tuy Phong. Trong đó, có 20% bùn, 80% cát, vỏ sò, cát pha, cát kết phong hóa, sét, bùn trầm tích… Giấy phép có hiệu lực kể từ ngày ký và hết hạn vào ngày 31.10.2017.
Trái thông lệ quốc tế
Tôi khẳng định về mặt khoa học việc cấp phép không có cơ sở nào cả. Trước đây người dân khai thác thủy sản tầng đáy bằng cào công suất lớn nhưng hoạt động này bị cấm vì gây xáo trộn hệ sinh thái tầng đáy. Bây giờ vì cấp phép xả thải họ lại nói tầng đáy chỉ có cát là điều hết sức vô lý
TS Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang
PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội Thiên nhiên và môi trường biển Việt Nam, nói: Chúng ta có luật nhưng luật không rõ ràng nên ai hiểu và vận dụng như thế nào cũng được. Chính vì vậy mà họ giải thích kiểu nào nghe cũng hợp lý. Cụ thể hoạt động nhận chìm sẽ gây tác động đến môi trường như thế nào thì báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) không nói mà chỉ chứng minh các vật chất đó không gây ô nhiễm là không đúng.
Phân tích kỹ hơn, TS Chu Hồi cho biết, theo thông lệ quốc tế nếu nhận chìm thì chất thải phải được đóng gói, thùng, túi… nếu là những chất độc nguy hại phải được đóng hộp chì và được kiểm duyệt chặt chẽ trước khi nhận chìm. Khu vực biển chứa chất được nhận chìm phải có bờ bao để tránh bị các dòng hải lưu di chuyển nó đi nơi khác. Độ sâu phải được tính bằng độ sâu của bước sóng lớn nhất ở chính vùng đổ thải. Và độ sâu của biển phải tính bằng độ cao cao nhất của đỉnh đổ thải chứ không phải độ sâu của đáy biển hiện tại. Vì khi xả thải trong mùa yên tĩnh đến mùa không yên tĩnh sẽ phát tán đi. Bên cạnh đó phải trả lời các vấn đề là xả thải này chỉ một lần hay nhiều lần và mỗi lần bao nhiêu? “Nhận thức về độ sâu xả thải của ĐTM và Bộ TN-MT là chưa đúng. “Anh” đổ vào mùa yên tĩnh chẳng qua để cho nó an toàn cho chính phương tiện xả thải của các anh. Cứ xả ra như vậy thì với quy trình hiện nay không thể giám sát được”, ông ngao ngán.
TS Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang bổ sung, về mặt kỹ thuật, hoạt động nạo vét rồi nhận chìm phải xem xét ở cả 3 giai đoạn. Thứ nhất, nạo vét như thế nào vì việc này có hại cho hệ sinh thái biển, nhất là ở vùng đặc thù như vùng biển Bình Thuận. Cái này chưa thấy nói đến trong giấy phép và về mặt khoa học chưa chấp nhận giấy phép ấy. Thứ hai, người ta chỉ nói chung chung là vận chuyển và xả thải bằng sà lan hình phễu. Vấn đề thứ ba và cũng là quan trọng nhất là vùng nhận chìm vật liệu xả thải nằm ở độ sâu nào? Vùng biển ấy có giá trị gì? Nếu có giá trị lớn về mặt hải dương học, tài nguyên, di sản quốc gia thì rõ ràng không ổn. “Nếu xem xét cả 3 khía cạnh trên thì giấy phép của Bộ TN-MT cấp không có giá trị gì cả về mặt khoa học”, TS An kết luận.
Trước lý lẽ mà Bộ TN-MT đưa ra là hoạt động “nhận chìm” đã có ĐTM và được hội đồng thẩm định (22 chuyên gia) thông qua và “nếu có sự cố sẽ dừng ngay”, TS An lập luận: Nó cũng giống như việc giao thông trên đường, thấy nguy cơ nhưng không cho xe dừng lại mà đợi đến khi tai nạn xảy ra mới dừng lại thì đã chậm rồi. Tại sao ta không dừng lại ngay từ bây giờ, xem xét thật kỹ rồi mới tiến hành?
Nguy cơ mất vĩnh viễn hệ sinh thái
Trả lời báo chí, Thứ trưởng Bộ TN-MT Nguyễn Linh Ngọc nói: khu vực đáy biển nhận xả thải chỉ có cát, không có các hệ sinh thái, sinh vật biển sinh sản cũng như các loại san hô hay cỏ biển. Nếu có thì Bộ không bao giờ cấp phép. Tuy nhiên nhận xét về ý kiến này, TS An bức xúc: giải thích kiểu đó là không khoa học vì vùng biển Bình Thuận không những là vùng nước trồi độc nhất vô nhị mà còn là ngư trường gần bờ lớn nhất của Việt Nam. Điều này có nghĩa đây là vùng biển rất quan trọng và có nhiều giá trị về tự nhiên cần phải được bảo tồn. “Vì là khu vực động lực nước trồi nên nó luôn luôn xáo trộn. Động lực mạnh nhất là từ tháng 6 đến tháng 9. Họ chọn đúng vào thời điểm có động lực mạnh nhất để đổ thải xuống thì hoàn toàn không đúng. Tôi khẳng định về mặt khoa học việc cấp phép không có cơ sở nào cả. Trước đây người dân khai thác thủy sản tầng đáy bằng cào công suất lớn nhưng hoạt động này bị cấm vì gây xáo trộn hệ sinh thái tầng đáy. Bây giờ vì cấp phép xả thải họ lại nói tầng đáy chỉ có cát là điều hết sức vô lý”. Không chỉ thế, ông An còn nghi ngại, việc doanh nghiệp nói dùng lưới để ngăn phát tán bùn “thật sự không tưởng tượng được gần 1 triệu m 3 dưới đáy biển, trên diện tích 30 ha thì ngăn lọc kiểu gì”.
TS Chu Hồi khẳng định, bất kỳ loại chất thải nào đổ ra biển sẽ phủ trùm vĩnh viễn một hệ sinh thái nền đáy (gồm cả đáy cứng và đáy mềm) và trên bề mặt diện tích đó nó đã mất vĩnh viễn hệ sinh thái nền đáy. TS Chu Hồi cảnh báo: Vùng biển nam Trung bộ rất có giá trị cả về mặt sinh thái và kinh tế. Nó nằm trong hệ sinh thái nước trồi và đi kèm là bãi cá lớn nhất của đất nước nằm ở ven bờ. Khu vực này có khu bảo tồn biển Hòn Cau tuy bé nhưng tác động lan tỏa, hiệu ứng phát tán nguồn lợi và dinh dưỡng ra bên ngoài vùng biển lại không hề nhỏ. “Vấn đề đáng lo hơn chính là hoạt động này sẽ tạo tiền lệ cho các nhà máy Vĩnh Tân 2; 3… và hàng loạt cái “Vĩnh Tân” ở những nơi khác nữa”, TS Chu Hồi lo lắng.
Nhiều chuyên gia đầu ngành không tham gia phản biện ĐTM
Cuối tháng 2.2017, Bộ TN-MT lập hội đồng thẩm định để đánh giá, cấp phép cho Công ty TNHH điện lực Vĩnh Tân 1 đổ bùn, cát sau nạo vét xuống biển. PGS-TS Võ Sĩ Tuấn, Viện trưởng Viện Hải dương học Nha Trang, cũng cho biết Viện không tham gia hội đồng thẩm định. Ngoài ra PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ tịch Hội Thiên nhiên và môi trường biển VN, người 3 lần làm chủ nhiệm quy hoạch các khu bảo tồn biển là một trong các chuyên gia được đọc ĐTM của dự án vì được mời tham gia hội đồng thẩm định. Tuy nhiên cuối cùng ông đã từ chối tham gia.
“Khi đi đến một thắng cảnh tuyệt đẹp, việc đầu tiên bạn sẽ làm gì?” Đó là câu hỏi tôi đã hỏi qua hầu như tất cả các lớp tôi dạy và đa phần các bạn ấy trả lời việc đầu tiên bạn có thể làm là đưa máy ảnh/ điện thoại lên chụp hình. Nhưng… tại sao bạn không để cái giây phút tuyệt vời nhất đó để đánh thức các giác quan của bạn.
Trên hẻm vực Grand Canyon (Hoa Kỳ) có ghi một câu rất hay: “Một phút thôi, Không đọc, không nói, không chụp hình, chỉ có nhìn và ngắm….”
Và đến với Lý Sơn hãy sử dụng hết tất cả các giác quan của bạn trong du lịch chứ không chỉ đơn thuần là chiếc máy ảnh.
Hãy sử dụng thị giác của bạn để thưởng thức hết tất cả vẻ đẹp của vách biển hiện đại Hang Câu – Chùa Hang: đó là một mắt cắt địa chất vĩ đại của một nón núi lửa phun nổ có tuổi khoảng 2000 năm. Hay hãy thu vào tầm mắt bạn hết cả đất – trời – biển hùng vĩ của Lý Sơn từ trên đỉnh Thới Lới. Hay một bãi biển trong vắt đến ngỡ ngàng tương phản trên nền đen nhánh của dòng bazan tại bãi Tiên trên Đảo Bé. Thị giác bạn sẽ cực kỳ thoả mãn mà không có chiếc máy ảnh nào có thể đem lại được.
Vách biển hiện đại Hang Câu
Hãy sử dụng thính giác để lắng nghe đất trời biển đảo. Là tiếng sóng vỗ vào hốc đá hang núi lửa tạo âm thanh khò khè, hay tiếng gió reo vi vu qua hàng dừa nơi cù lao Bờ Bãi, hay thú vị hơn nữa là tiếng giòn tan lách tách trong miệng khi bạn thưởng thức món gỏi rong biển – một đặc sản tại đảo.
Cù lao Bờ Bãi (Đảo Bé)
Hãy sử dụng khứu giác của bạn để ngửi thấy mùi vị tươi nguyên trong lành không tạp chất của gió biển, hay cái mùi cay nồng trên ruộng tỏi Lý Sơn, hay tuyệt vời hơn là hương thơm thoang thoảng của hoa bàng vuông nở bung như những chùm pháo hoa vào buổi tối.
Hoa bàng vuông trên Đảo lớn
Hãy sử dụng vị giác của bạn để nếm hết tất cả các vị mặn, ngọt, chua, cay… của các đặc sản nơi đây như các loại cá, sò, ốc, nhum, rong, tỏi,… Đó sẽ là những hương vị tươi nguyên nhất, tuyệt vời nhất làm cho chuyến hành trình của bạn thêm phần khó quên.
Gỏi rong biển tươi mát giòn tan trong miệng
Và hãy để xúc giác của bạn cảm nhận hết tất cả không gian trời, biển, núi non và cả con người miền biển đảo dân dã, chân chất, thật thà.
Lý Sơn nhìn từ đỉnh núi Thới Lới
Tất cả những trải nghiệm tuyệt vời này có lẽ sẽ luôn theo bạn và mãi trong ký ức của bạn để chỉ chờ cho đến mùa hè sẽ bung ra hối thúc chúng ta lại xách ba lô lên và tiếp tục rong ruổi trên những nẻo đường đất nước. Hãy đến Lý Sơn để cảm nhận nhé!
Cuối cùng, hãy đồng hành cùng Cổng thông tin Địa Môi trường của chúng tôi, sẽ cung cấp thêm cho bạn những kiến thức về khoa học trái đất để hiểu thêm vì sao lại có những cảnh quan tuyệt vời đến như vậy để chúng ta cứ mãi được đi khám phá và chinh phục./.
TTO – Với tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris, Tổng thống Donald Trump tiếp tục chính sách “Nước Mỹ trên hết”, để lại một tương lai bất định cho nỗ lực lớn nhất của thế giới chống lại biến đổi khí hậu.
Tổng thống Mỹ Donald Trump: “Để thực hiện nhiệm vụ cao cả bảo vệ đất nước và người dân Mỹ, tôi quyết định rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu” – Ảnh: Reuters
Nhà Trắng đang gặp sức ép lớn từ quốc tế sau tuyên bố bị coi như hành động ích kỷ, phục vụ chính sách “Nước Mỹ trên hết” của Tổng thống Trump.
Cái lý của ông Trump
Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu 2015 (COP 21) ở Paris (Pháp), tổng cộng 195 nước đã đồng ý thỏa thuận biến đổi khí hậu với mục tiêu chung duy trì nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng từ 2°C trở xuống tính tới hết thế kỷ này.
Thỏa thuận xuất phát từ giả thuyết do các nhà khoa học đồng thuận và các quốc gia chấp nhận: hiện tượng Trái đất nóng lên do khí gây hiệu ứng nhà kính, trong đó có CO2, tạo ra nhiều hệ lụy như lũ lụt, hạn hán dẫn tới khủng hoảng an ninh lương thực.
Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia cam kết cắt giảm lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính trong từng giai đoạn. Như Mỹ cam kết giảm 26-28% đến năm 2025, Trung Quốc giảm 18% đến năm 2030.
Khác với Nghị định thư Kyoto, thỏa thuận tại COP 21 không có tính ràng buộc, mà theo tinh thần tự nguyện của mỗi quốc gia cả về chỉ tiêu giảm phát thải lẫn mức tài chính đóng góp cho thỏa thuận.
Cứ sau mỗi 5 năm, họ sẽ họp lại để đánh giá, nhưng những quốc gia không hoàn thành chỉ tiêu sẽ không phải chịu bất kỳ chế tài nào.
Ngoài ra, COP 21 thống nhất kêu gọi các nước giàu/phát triển có nhiệm vụ “huy động” 100 tỉ USD/năm từ công quỹ và các khu vực tài chính tư nhân để giúp các nước nghèo tính tới năm 2025, trước khi đặt ra một cột mốc đóng góp mới với số tiền đóng góp tăng lên.
Trong tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris tại Nhà Trắng hôm 1-6, ông Trump khẳng định các thỏa thuận này thiếu công bằng và làm tổn hại nền kinh tế Mỹ.
Tổng thống Mỹ nói rằng để giảm khí thải, Mỹ phải giảm sản xuất, đóng cửa bớt nhà máy, người dân mất việc làm, doanh nghiệp tốn thêm chi phí và Mỹ sẽ tiêu tốn “hàng tỉ, hàng tỉ, hàng tỉ USD” trong khi “chúng ta còn nợ công 20.000 tỉ USD”.
Thực tế việc rút khỏi Thỏa thuận Paris (mà tổng thống Obama ký tham gia năm 2005) là lời hứa của ông Trump trong cuộc bầu cử 2016. Ông đã chỉ trích thỏa thuận này là “trò lừa đảo”, và rằng tại sao Mỹ phải trả tiền cho một thỏa thuận không có tính ràng buộc.
Tương lai mông lung
Số phận của Thỏa thuận Paris sau khi không có Mỹ đang là vấn đề đáng quan tâm. Sự hiện diện của Mỹ trước hết là nguồn cung tài chính, do Mỹ nằm trong số các nước phải “huy động” 100 tỉ USD cho các nước nghèo.
Nhưng báo Telegraph (Anh) chỉ ra thực tế rằng ngay từ thỏa thuận của Liên Hiệp Quốc năm 1992 đã mập mờ về khái niệm “quốc gia phát triển” dẫn tới đóng góp không đồng đều, mà ông Trump cho rằng “đặt Mỹ vào thế bất lợi so với nước khác”.
Năm 1992, có 6 trên 10 nước hiện nay là giàu nhất thế giới được xếp vào dạng “nước đang phát triển”, điển hình là Trung Quốc và Ấn Độ.
Trong phát biểu của mình, ông Trump nói thẳng rằng Mỹ đã bất lợi khi phải trả tiền, phải thi hành, còn Trung Quốc “có 13 năm muốn làm gì thì làm (tới 2030)” và Ấn Độ “nhận hàng tỉ, hàng tỉ tiền tài trợ” cho vấn đề môi trường của nước này.
Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia “mạnh miệng” nhất trong cam kết về biến đổi khí hậu sau khi ông Trump tuyên bố rút lui. Dư luận quốc tế cũng bày tỏ sự thất vọng với quyết định của ông Trump, từ Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Âu đến những quốc đảo như Fiji… .
Họ lo lắng khi Mỹ rút lui, ngoài yếu tố tài chính, sẽ khiến các nước nhỏ hơn làm theo, New York Times cho biết. Khi ấy, nhiều nước sẽ cảm thấy bất lợi khi phải tiết giảm sản xuất bằng năng lượng hóa thạch, phải chi trả chi phí cho vấn đề môi trường trong khi khoản đóng góp dành cho họ sẽ ít đi.
Về mặt khoa học, việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận sẽ tổn hại tới môi trường. Mỹ hiện chiếm tỉ lệ phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính cao thứ hai thế giới (18%) chỉ sau Trung Quốc.
Trong năm 2015, Mỹ thải ra 5,1 triệu kilotons CO2, cao gấp đôi Ấn Độ, gấp 4 lần Nhật Bản, gấp 15 lần Pháp và gấp… 1.007 lần Iceland.
Đài CNN dẫn lời các chuyên gia về biến đổi khí hậu ước tính việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận sẽ khiến nhiệt độ Trái đất tăng thêm 0,3 độ so với trường hợp họ tôn trọng thỏa thuận.
ThienNhien.Net – Theo Thoả thuận Paris, Mỹ và 187 quốc gia khác cam kết sẽ duy trì nhiệt độ toàn cầu “thấp hơn” mức thời tiền công nghiệp cộng 2 độ C, và “nỗ lực hạn chế” ở mức thấp hơn nữa, chỉ cộng 1,5 độ C.
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry bế cháu gái Isabelle khi ký thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Ảnh: AFP
Trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ Khoa học Công nghệ năm 2017 do Chi cục Bảo vệ Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang chủ trì, từ ngày 15 đến ngày 18, tháng 05 nhóm khảo sát đã thực hiện đợt khảo sát sơ bộ theo lộ trình Óc Eo – Bảy Núi – Châu Đốc. Đợt khảo sát nhằm đề xuất hướng nghiên cứu địa du lịch vùng đồi núi tỉnh An Giang.
Tham gia khảo sát gồm thày Hải cùng Hạnh và Tiên (hai học viên cao học đang thực hiện đề tài về địa du lịch), phía tỉnh An Giang có anh Cẩn (cán bộ truyền thông thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường) là người tổ chức và điều phối lịch trình, ngoài ra có sự tham gia của các cán bộ tại Ban quản lý Di tích văn hóa Óc Eo (anh Giềng giám đốc, anh Thảo phó giám đốc và các cán bộ phòng ban), anh Tân, anh Chanh, chị Trinh, anh Trung là cán bộ phòng tài nguyên huyện Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên và Châu Đốc.
Điểm khảo sát đầu tiên là khu Di tích văn hóa Óc Eo. Tại đây, anh Giềng, anh Thảo và các cán bộ phòng ban đã giới thiệu ngắn gọn về Ban quản lí khu di tích Óc Eo, về biến đổi khí hậu liên quan đến văn hóa Óc Eo, lên đỉnh núi Ba Thê, đỉnh Thạch Đại Đao, Chót Ông Tà, thăm quan Gò Cây Thị và Linh Sơn Cổ tự (chùa phật bốn tay).
Tại Tri Tôn quan sát núi Cô Tô, khảo sát khu mỏ đá đã ngưng khai thác Tà Pạ (nơi được đặt tên cho hệ tầng Tà Pạ), khu du lịch Tức Dụp, cánh đồng Trên Châu Lăng và quan sát núi Xa lon, núi Dài.
Tại Tịnh Biên khảo sát khu du lịch Núi Cấm (theo đường cáp treo), quan sát núi Két, núi Trà Sư và núi Phú Cường.
Tại Châu Đốc khảo sát núi Sam, làng nổi Châu Đốc, thánh đường Et Sang, làng Chăm, An Phú.
Dưới đây là một số nhận xét từ kết quả của đợt khảo sát:
Giá trị của các yếu tố địa chất, địa mạo
– Nền đá gốc có sự hiện diện các đá trầm tích, magma phun trào và xâm nhập, trong đó các đá xâm nhập chiếm diện tích lớn hơn cả. Magma xâm nhập thường tạo nên địa hình khối, đỉnh cao, các đá trầm tích có dạng địa hình thấp, kéo dài. Các núi nhô cao trên bề mặt địa hình đồng bằng thấp, bằng phẳng tạo nên cảnh quan đồi núi sót ấn tượng, nhất là khi quan sát từ những đỉnh cao.
– Các trầm tích Đệ tứ có tuổi Holocen muộn tạo nên bề mặt đồng bằng thấp chiếm diện tích rộng, là những cánh đồng lúa có sắc màu thay đổi theo mùa vụ (màu xanh của mạ và màu vàng của lúa chín). Ở điều kiện tự nhiên, phần lớn diện tích đồng bằng bị ngập. Các cánh đồng lúa quanh vùng núi, đồi An Giang cũng là những cảnh quan đẹp, có nét đặc trưng.
– Núi, đồi An Giang là cơ sở của hệ thống chùa chiền, miếu mạo, trong đó có điểm đã trở thành Trung tâm du lịch tâm linh nổi tiếng như Miếu Bà Chúa Xứ với lễ hội Vía bà Chúa Xứ (lễ hội cấp quốc gia) hay di tích lịch sử đồi Tức Dụp với các khối đá granit nhiều hình thù, kích cỡ kê xếp lên nhau tạo nên hệ thống hang động, ngõ ngách đã trở thành căn cứ cách mạng trong kháng chiến.
Những vấn đề cần được xem xét
– Các giá trị địa chất, địa mạo chưa được xem là những di sản tự nhiên quan trọng trong phát triển du lịch. Các quan hệ địa tầng có ý nghĩa khoa học đã được nghiên cứu như vết lộ đá xâm nhập phức hệ Định Quán (γδJ3-K1đq) xuyên cắt đá hệ tầng Tà Pạ (T3-J1tp); hay cuội kết cơ sở hệ tầng Xa Lon (J3xl) phủ trên hệ tầng Tà Pạ (T3-J1tp)… chưa được khai thác phục vụ du lịch, nghiên cứu và học tập.
– Nghiên cứu cổ địa mạo chưa được thực hiện, ví dụ: các mặt cắt thềm biển liên quan đến biển tiến Holocen phân bố ở Tri Tôn, Tịnh Biên hay các lòng sông cổ, kênh rạch cổ, bờ biển cổ liên quan đến Văn hóa Óc Eo chưa được làm sáng tỏ; vì vậy những sản phẩm khoa học còn nghèo nàn, chưa có sức thu hút du khách.
– Những moong khai thác, những vách khai thác đã ngưng hoạt động chưa được phục hồi hoặc qui hoạch thành các điểm du lịch, hoặc đánh giá các giá trị khoa học (xếp hạng geosite) để có kế hoạch bảo tồn; việc bỏ hoang các vị trí này sẽ gây rủi ro đối với con người và vật nuôi.
– Các sản phẩm, hàng hóa gắn với địa danh bao gồm các biểu tượng, đặc sản, ẩm thực, văn hóa bản sắc dân tộc…chưa được phát huy, vì vậy chưa quảng bá được những đặc thù địa lý nhân văn.
Tóm lại, tài nguyên địa chất, địa mạo (Núi, đồi, đồng bằng, sông, rạch…) đã được sử dụng hiệu quả trong phát triển kinh tế địa phương. Tuy vậy, những giá trị khoa học, giá trị bổ sung (sinh thái, thẩm mỹ, văn hóa, kinh tế) của nguồn tài nguyên này chưa được khai thác. Một chương trình nghiên cứu địa du lịch vùng đồi núi An Giang được thực hiện sẽ góp phần bảo tồn các di sản tự nhiên, nâng cao chất lượng các điểm du lịch.
Một số hình ảnh theo lộ trình:
Núi Ba Thê (thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) nhìn từ khu di tích Gò Cây ThịBàn chân Tiên in trên đá granit trong khuôn viên Sơn Tiên Tự tại đỉnh cao nhất núi Ba Thê (221 m)Thạch Đại Đao (trên đỉnh thấp hơn đỉnh có Sơn Tiên Tự), một điểm thăm quan lý thú tại khu vực Ba Thê, Óc EoĐá chồng núi Ba Thê (gần đỉnh Thạch Đại Đao)Di tích Gò Cây Thi A (một trong những di chỉ thuộc nền văn hóa Óc Eo) được Louis Malleret khai quật năm 1944Tháp đá Tà Pạ (huyện Tri Tôn) tại moong khai thác đã ngưng hoạt động. Các nhà địa chất thiết lập hệ tầng Tà Pạ (T3-J1tp) gồm bột kết, phiến sét, cát sạn kết màu tím gụ, vàng, xám đenHồ Thủy Liêm (hồ nhân tạo) khu vực đỉnh núi Cấm, ven hồ có chùa Vạn Linh và tượng phật Di LặcĐến núi Cấm du khách sẽ được thưởng thức món Bánh xèo với rau rừng. Rau rừng xanh tươi chính là thứ tạo nên sức hấp dẫn của món Bánh xèo núi Cấm. Quán Bánh xéo Út Anh ngay chân dốc ga đến Cáp Treo, vợ chồng chủ quán luôn niềm nở, sẵng lòng chỉ dẫn từng loại rau cho du kháchQuán Bánh xèo Út Anh có tới 20 loại rau rừng. Ông chủ quán đang chỉ dẫn cho Hạnh và Tiên từng loại rau tại quánNúi két còn gọi là núi Ông Két là một trong những điểm du lịch tâm linh của huyện Tịnh BiênCánh đồng lúa Tha La, huyện Tịnh BiênLăng Thoại Ngọc Hầu và Châu Thị Tế tại chân Núi SamMiếu Bà Chúa Xứ tại chân núi Sam, thành phố Châu Đốc – một điểm du lịch tâm linh nổi tiếngCảnh quan đồng bằng tây chùa Hang, nơi có kênh Vĩnh Tế chạy quaHàng thổ cẩm của phụ nữ Chăm tại Cồn Tiên, Châu Đốc
Manon Besset, Edward J. Anthony, Guillaume Brunier et Philippe Dussouillez
Giới thiệu
Đồng bằng sông Cửu Long (hình 1) được coi là đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới với diện tích gần 100.000 km² (Coleman và Huh, 2004). Với 18 triệu dân, ĐBSCL thâm canh nông nghiệp gồm ruộng lúa, cây ăn quả cũng như nuôi tôm và cá, từng loại chiếm 60%, 70% và 60% tổng sản lượng của Việt Nam (Uỷ ban sông Mekong, 2010 ). ĐBSCL được mô tả như vựa lúa của Đông Nam Á, được nối với một con sông với chiều dài 4.750 km và lưu vực thoát nước khoảng 832.000 km² (Milliman và Ren, 1995). Lưu lượng nước trung bình ước tính của sông Mekong khoảng 14.500 m³/s (Uỷ ban Sông Mekong, 2010). Chế độ thuỷ văn hàng năm theo mùa với một mùa lũ (tháng 5 đến tháng 10), trong đó trầm tích của sông được đưa đến đồng bằng và bờ biển. Ước tính tải lượng trầm tích hàng năm của sông Mekong tại Kratie, Campuchia, chỉ ở thượng nguồn đồng bằng (hình 1), dao động từ 50 đến 160 Mt. Gió mùa Ấn Độ cũng tương ứng với sóng năng lượng thấp từ phía tây nam gây suy yếu dòng dọc bờ về phía Đông Bắc. Trong mùa này, lượng bùn cao từ sông Mekong chủ yếu lắng đọng trong khu vực gần bờ biển của các cửa sông phân lưu (Wolanski et al, 1998;.. Unverricht et al, 2013), khác với với mùa khô, lượng bùn mang tới do sóng mạnh bởi gió Đông Bắc Thái Bình Dương (hình 1). Trầm tích vận chuyển dọc theo phía tây nam từ cửa sông bởi những đợt gió tín phong, sức gió và thủy triều. Dải triều giảm từ khoảng 3m vào mùa xuân dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa xuống dưới 1m ở Vịnh Thái Lan, cũng như vùng biển được che chắn từ các sóng theo mùa Thái Bình Dương có năng lượng cao hơn.
Vùng ĐBSCL phát triển nhanh để hình thành đường bờ dài 700 km ở Biển Đông từ 5,3 đến 3,5 ngàn năm với tốc độ bồi tụ lên đến 16 m/năm (Tạ et al., 2002). Khi tiếp xúc với sóng biển ngày càng tăng, tỷ lệ này giảm xuống dưới 10 m/năm ở cửa sông. Tuy vậy, tỷ lệ này vẫn ở mức cao lên đến 26 m/năm trong khu vực Cà Mau ở phía tây nam (Ta và cộng sự, 2002). Sự chênh lệch về tỷ lệ này là do hình thái lệch của đồng bằng về phía tây nam (hình 1). Sự khác biệt này cũng phản ánh sự biến đồi kích thước hạt, từ cát ưu thế ở cửa sông, nơi bị chi phối bởi các giồng cát (Tamura et al., 2012), đến bùn ưu thế khu vực phía tây trong quá khứ là rừng ngập mặn.
Hình 1: Khu vực nghiên cứu. A: Lưu vực sông Mekong và phần nội địa với sáu lưu vực sông. B: Vùng ĐBSCL Việt Nam. Đồng bằng và một phần mạng lưới kênh rạch và đê. C: Sóng Biển Đông. (Dữ liệu Wavewatch III từ Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia (NCEP)
Vùng ĐBSCL ngày càng bị tác động tiêu cực bởi các hoạt động nhân sinh (Syvitski, 2008; Evans, 2012; Anthony, 2013), đặc biệt là xây đập ở thượng nguồn sông, khai thác vật liệu đáy sông, khai thác nước. Tác động chính trị và sinh thái tiềm ẩn của các đập thủy điện ở ĐBSCL là đối tượng của nhiều nghiên cứu khác nhau (Grumbine và Xu, 2012, Yong và Grundy-Warr, 2012, Ziv và cộng sự, 2012). Loisel et al. (2014) cho rằng sự suy giảm trầm tích lơ lửng hàng năm ở đồng bằng khoảng 5%/năm từ năm 2003-2012 rất có thể liên quan đến việc các đập ngăn trầm tích. Loisel et al. (2014) cho thấy việc giảm nồng độ trầm tích lơ lửng 5% hàng năm tại các cửa sông Mekong không phải do sự thay đổi các điều kiện sóng và lưu lượng dòng chảy, cả hai đều tương đối ổn định trong giai đoạn 1997-2012.
Khai thác cát, sỏi đáy sông được thực hiện trên quy mô rộng trong thập kỷ qua do áp lực phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở Campuchia và Việt Nam (Bravard và cộng sự, 2013). Brunier et al. (2014) ghi nhận sự thâm hụt lũy tích ròng 200,106 m3 đối với hai phụ lưu đồng bằng từ việc so sánh 10 năm về sự thay đổi thể tích đáy. Độ cao mực nước đồng bằng cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc khai thác nước gây ra sụt lún nhanh. Các hoạt động lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản phát triển rộng rãi gây thiệt hại cho thảm thực vật, bao gồm rừng tràm và rừng ngập mặn, hai loài chính là Rhizophora apiculata và Avicennia Alba (Phan và Hoàng, 1993).
Phương pháp
Để theo dõi những biến động bờ biển và cửa sông Mekong, các ảnh vệ tinh Landsat năm 1973 và 2014 từ Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ được sử dụng. Độ phân giải là 60m đối với ảnh L1-5 MSS (1973) và 30m đối với ảnh L8 OLI-TIRS (2014). Các ảnh được chọn có tỉ lệ mây thấp và mức triều cao nhất có thể. Các ảnh được hiệu chỉnh từ kết quả của USGS tham chiếu trong Hệ thống đo đạc toàn cầu WGS 1984, Universal Transitor Mercator (UTM zone 48N). Việc tái điều chỉnh hình ảnh được thực hiện bằng cách sử dụng các hình ảnh SPOT5 năm 2003 và năm 2011 (độ phân giải 2,5 m) để thiết lập cơ sở địa lý. Bờ biển được số hóa cho mỗi hình ảnh cũng như tham khảo các giới hạn ngoài của thảm thực vật.
Kết quả
Bờ biển có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ biến đổi diện tích (hình 2). Đới bờ bị xói lở 4,40 km²/năm trong giai đoạn 1973-2014, thậm chí nhiều hơn trong khoảng từ năm 2003 đến năm 2011 với mức xói lở 6,98 km²/năm. Diện tích bồi tụ hàng năm cho giai đoạn nghiên cứu tổng thể là 3,75 km²/năm. Trong giai đoạn từ 2003 đến 2011, mức bồi tụ chỉ đạt 0,37 km²/năm. Tốc độ thay đổi diện tích trong giai đoạn 1973-2014 và 2003-2011 tương ứng là -0,65 km²/năm và -6,61 km²/năm. Đánh giá cho thấy sự mất cân bằng rõ rệt trong giai đoạn 2003-2011 giữa bồi tụ và xói lở.
Hình 2: Các đồ thị tỷ lệ thay đổi bờ biển (km²/yr) từ năm 1973 – 2014 (nghiên cứu này) và từ năm 2003 – 2011 (Anthony và cộng sự., 2013) phân tích từ các ảnh vệ tinh Landsat và SPOT 5
Gần 70% diện tích bờ biển bị xói lở trong khoảng thời gian từ năm 1973 đến năm 2014, sự sụt giảm này ảnh hưởng đáng kể đến tỉnh Cà Mau (Hình 3). Tốc độ xói lở vượt quá 20 m/năm ở nhiều nơi, nhiều nhất là hơn 50 m/năm. Tổng mức xói lở đã gây mất đất đồng bằng đáng kể dọc bờ biển này (hình 3-4).
Hình 3: Biến động bờ biển ĐBSCL. A: Đồ thị biến động diện tích bờ biển (km²/yr) từ năm 1973 – 2014 được phân tích từ ảnh vệ tinh Landsat. B: Đồ thị biến động diện tích bờ biển (m/yr) từ năm 1973 – 2014 được phân tích từ ảnh vệ tinh Landsat. C: Đồ thị biến động diện tích bờ biển (km²/năm) từ năm 2003 – 2011 được phân tích từ ảnh vệ tinh SPOT 5 (Anthony et al., 2015). D: Bản đồ biến động bờ biển từ năm 1973 – 2014 được phân tích từ ảnh vệ tinh LandsatHình 4: Ảnh (2012) cho thấy xói lở bờ biển điển hình ở phía tây nam, sóng biển xói vào bãi bùn
Mất đất đáng kể dọc theo bờ biển bùn cùng với những thay đổi trong việc sử dụng đất. Điều này bắt đầu từ việc rừng ngập mặn giảm mạnh trong Chiến tranh Việt Nam từ những năm 1960 đến đầu những năm 1970, tiếp theo là khai thác gỗ quá mức vào những năm 1980 và 1990 để cung cấp gỗ cho ngành xây dựng và sản xuất than củi và sau đó là việc lập các trang trại nuôi tôm vào những năm 2000 (Phan và Hoàng, 1993, Christensen và cộng sự, 2008). Hình 5 và 6 trình bày các ví dụ về thay đổi sử dụng đất và mất thảm thực vật từ năm 2003 đến năm 2011, chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển dọc theo khu vực bờ biển đang bị xói mòn ở tỉnh Bạc Liêu. Trên diện tích 1.700 ha, 60 ha thảm thực vật đã bị mất trong giai đoạn 2003-2011. Rừng ngập mặn đã được thay thế bởi nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm (Hình 8).
Hình. 5: Biến động diện tích thảm thực vật từ năm 2003 đến năm 2011. A. Ảnh vệ tinh SPOT 5 năm 2003 tại vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu. B. Ảnh vệ tinh SPOT 5 năm 2011 trong cùng khu vực. C. Một ví dụ thể hiện phân tích so sánh biến động thực vật ở ven biển tỉnh Bạc Liêu. Những thay đổi này liên quan đến mất rừng ngập mặn ven biển từ năm 2003 đến năm 2011 từ hai ảnh vệ tinh SPOT 5 có độ phân giải cao.Hình. 6: Ảnh (năm 2012) cho thấy khu rừng ngập mặn còn sót lại và sự xói mòn liên tục dọc theo bờ biển
Thảo luận
Biến động dài hạn (41 năm) bằng cách so sánh ảnh Landsat cho thấy sự xói lở ở phần lớn phía nam bờ biển khu vực nghiên cứu so với sự ổn định tương đối của ở bờ biển dọc Vịnh Thái Lan và phía bắc của bờ biển Nam Trung Quốc (Anthony và cộng sự, 2013, Besset, 2015). ĐBSCL đã bị con người làm biến đổi mạnh mẽ kể từ đầu thế kỷ 18 (Thanh, 2014), nhưng rõ rệt nhất trong thập kỷ qua liên quan đến việc xây dựng đập nước, khai thác quá mức.
Sự xói mòn lâu dài có thể là do nguồn cấp trầm tích giảm liên quan đến sự cô lập đáng kể của trầm tích sông trên vùng đồng bằng ngập nước đang sụt lún khi con người chiếm cứ và khai thác tăng lên trong những thập kỷ qua. Mô hình hóa trầm tích cho thấy phần xói mòn này của vùng đồng bằng hiện nay nhận được ít hơn 2% nguồn bùn nội địa được tích lũy trong vùng cửa sông (Xue et al., 2012). Việc giảm nguồn cấp trầm tích này dẫn đến sự xói mòn bờ biển bùn do năng lượng sóng ít bị tiêu giảm. Phan và cộng sự (2015) gần đây đã cho thấy tầm quan trọng của tiêu hao năng lượng sóng do bùn dọc theo bờ biển ĐBSCL. Khi quá trình xói mòn tiến triển và bùn bị phân tán, các vách bờ biển dốc hơn có vai trò ít tiêu hao năng lượng sóng hơn.
Ngoài khả năng bẫy bùn trong những con đập làm suy giảm nguồn cấp trầm tích hạt mịn về phía biển, không còn nghi ngờ gì nữa có mối liên kết khác giữa xói mòn và sự gia tăng tác động của con người. Mật độ dân số cao và các hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản quy mô lớn đã dẫn đến sự phát triển kỹ thuật và cơ sở hạ tầng rộng khắp vùng đồng bằng (Manh et al., 2014, 2015). Sự sụt lún gia tăng có thể dẫn đến bẫy trầm tích tràn bờ tăng lên, trong khi những thay đổi do con người gây ra về hình thái và quĩ trầm tích có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp trầm tích cho bờ biển đồng bằng. Manh và cộng sự (2014) đã ước tính rằng trầm tích lưu giữ ở ĐBSCL dao động từ 1% vào năm lũ thấp đến 6% vào năm lũ cao so với tổng lượng trầm tích ở Kratie. Điều này tương ứng với tỷ lệ bồi tụ đồng bằng ngập lụt trung bình năm là 0,3-1,8 mm. Các tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ sụt lún hiện tại 2-3 cm do Erban và cộng sự xác định (2014).
Sự xói mòn nghiêm trọng dọc theo khu vực cực nam của đồng bằng có thể là do sự định hướng đường bờ biển đối với sóng gió mùa Thái Bình Dương. Do sự giảm mức dâng cao thủy triều, dải triều thấp hơn dọc theo bờ biển này cũng gia tăng sự tái hoạt động của sóng. Do đó, xói mòn cũng phải cao hơn so với phần phía đông bắc của bờ biển gần vùng cửa sông nơi mà trầm tích được phân phân phối về hướng tây nam. Ngoài các yếu tố này, những biến đổi dọc bờ (hình 3) có thể phản ánh sự khác biệt do sự hiện diện hoặc không có rừng ngập mặn và xây dựng đê biển, cả hai đều phản ánh gián tiếp về áp lực dân số dọc theo bờ biển (hình 7) và tương ứng với những chuyển đổi nhân sinh vùng vùng ven bờ. Đê biển đã được xây dựng rộng rãi dọc theo phần lớn bờ biển để chống ngập và bảo vệ các trang trại nuôi tôm. Điều này đã dẫn đến việc “thu hẹp rừng ngập mặn” và làm giảm khả năng tiêu hao năng lượng sóng của rừng ngập mặn (Phan et al., 2015). Các khía cạnh của việc xây dựng đê để chống xói mòn bờ biển đã được Schmitt và Albers (2014) lưu ý rằng việc xây dựng đê sau dải rừng ngập mặn hẹp ven biển có thể làm trầm trọng thêm sự xói mòn bờ biển. Tuy nhiên, đê thường đạt hiệu quả trong việc giảm tốc độ xói mòn (Schmitt và Albers, 2014). Điều thú vị là các đê thường không có trong khu vực bị xói mòn nghiêm trọng nhất của tỉnh Cà Mau (Hình 3). Đây cũng là tỉnh có ít dân cư nhất trong số ba tỉnh (Hình 7).
Hình 7: Thống kê dân số ba tỉnh dọc theo bờ đồng bằng sông Cửu LongHình 8: Ảnh (năm 2012) cho thấy các trang trại nuôi tôm bên trái ngăn với rừng ngập mặn bên phải bởi đê đất
Kết luận
Dải bờ biển phía tây nam ĐBSCL phần lớn đang bị xói lở, sự suy thoái ảnh hưởng tới hơn 70% bờ biển bùn dài 160 km. Xu hướng này chiếm ưu thế ít nhất trong bốn mươi năm qua bằng việc phân tích ảnh vệ tinh.
Chúng tôi cho rằng sự suy giảm nguồn cấp trầm tích sông dẫn đến xói lở bờ biển có nguyên nhân chính là các hoạt động nhân sinh, các yếu tố bao gồm các kiểu tích lũy và tái phân bố bùn trên một vùng đồng bằng rộng đang sụt lún và sự loại bỏ rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản có thể làm trầm trọng thêm quá trình này. Rất nhiều đập được lên kế hoạch cho tương lai trong lưu vực hạ lưu sông Mekong sẽ làm gia tăng sự mất ổn định của đồng bằng hiện tại. Tính dễ tổn thương cao do sự sụt lún đồng bằng, nguồn cung cấp trầm tích cần thiết để cân bằng quá trình này sẽ càng làm cạn kiệt trầm tích sông, do đó xói mòn sẽ có thể trầm trọng hơn.
Thanh Hằng lược dịch từ bài: Shoreline change of the Mekong River delta along the southern part of the South China Sea coast using satellite image analysis (1973-2014).
Các phương pháp nghiên cứu xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc được áp dụng bao gồm: 1) xử lý tư liệu ảnh Landsat (1973-2013), 2) giải đoán ảnh Google (2005-2015), 3) khảo sát thực địa (2012-2016) và 4) phân tích DSA (hỗ trợ tính toán thống kê các thông số biến đổi đường bờ theo chuỗi thời gian tại các mặt cắt vuông góc với đường bờ biển).
I.Đặc điểm xói lở – bồi tụ theo phân bố địa lý đường bờ
I.1 Bờ Tây – xói lở ưu thế
Hầu hết bờ biển thuộc các tế bào bờ Tây đều bị xói lở, trong đó tế bào Dương Tơ (TB_T6) có mức xói lở lớn nhất. Bờ biển tế bào Dương tơ phân bố từ Mũi Ngàn Sao đến mũi Đất Đỏ (H.1), dài 16,6 km, gồm 2 kiểu bờ: KB_1 và KB_3.
– Kiểu bờ KB_1: thuộc bờ mài mòn (mũi nhô đá gốc), dài 2,2 km, phân bố hạn chế tại các mũi nhô nhỏ như mũi Ngàn Sao và mũi Đất Đỏ.
– Kiểu bờ KB_3: dài 14,4 km, bờ biển cát bị xói lở tạo vách cao 0,5-1,0 m cắt vào thềm biển bậc 1 cấu tạo bởi cát xám trắng, mịn. Bờ biển Dương Tơ có tốc độ xói lở mạnh. Tại điểm mặt cắt TM42, xói lở trong 10 năm có tốc độ trung bình 1,0 m/năm), xói lở đã làm các tượng đá khu du lịch Ngàn Sao nằm tách xa bờ biển (H.2). Tại điểm mặt cắt TM56, xói lở tạo nên các vách xâm thực cao 0,3-1,0 m (H.3).
H.1: Tế bào bờ biển Dương Tơ (TB_T6)H.2: Tượng đá tách khỏi bờ biển tại TM42 H.3: Các vách xâm thực tại TM56
Nhận xét:
– Thuộc bờ Tây, các tế bào có kiểu bờ KB_3 càng dài thì xói lở càng mạnh (TB_T6 xói lở với tốc độ 1,6 m/năm, TB_T2 là 1,4 m/năm, TB_T5 là 1,2 m/năm và TB_T3 là 1,1 m/năm) hay nói cách khác các tế bào có khoảng cách giữa các mũi nhô càng ngắn thì xói lở càng yếu (TB_T1 và TB_T7).
– Bồi tụ chỉ xuất hiện hạn chế ở cửa sông Cửa Cạn và Dương Đông thuộc tế bào TB_T4 và TB_T5, nơi có vật liệu được cung cấp từ các lưu vực có diện tích rộng, chiều dài dòng chảy lớn.
Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ Tây được trình bày trên H.4 và Bảng 1.
H. 4: Xói lở, bồi tụ bờ biển các tế bào bờ TâyBảng 1. Tốc độ xói lở-bồi tụ bờ biển trung bình các tế bào bờ Tây
I. 2Bờ Đông – bồi tụ ưu thế
Hầu hết bờ biển thuộc các tế bào bờ Đông bồi tụ, lớn nhất là bờ biển tế bào Hàm Ninh (TB_Đ3). Bờ biển tế bào Hàm Ninh phân bố từ mũi Gành Giao đến mũi Đền Phách (H.5), dài 16,5 km, gồm 2 kiểu bờ là KB_1 và KB_4.
– Kiểu bờ KB_1: dài 6,0 km, xói mòn yếu đến rất yếu tại các mũi đá gốc nhô ra biển.
– Kiểu bờ KB_4: dài 10,5 km, bờ biển bồi tụ mạnh tạo nên các bãi bồi rộng (H.6), có nơi lấn mạnh ra biển như mũi Dương (H.7).
Trên ảnh viễn thám thấy rất rõ các dải cát ngầm gần như song song với đường bờ biển, kéo dài và mở rộng từ mũi Đá Bạc đến mũi Dương (H.8). Sự phân bố các dải bồi tụ này cho thấy tác động của sóng hướng Đông chiếm ưu thế, nguồn cấp trầm tích chủ yếu từ rạch Hàm Ninh và rạch Cá.
H. 8: Bồi tụ tại tế bào Hàm Ninh (TD_ Đ3)
Nhận xét:
– Ngoại trừ các mũi nhô đá gốc thuộc kiểu bờ KB_1 (xói mòn yếu), kiểu bờ KB_5 và KB_4 (bồi tụ) có mối liên quan rõ rệt với diện tích lưu vực. Ba tế bào phía Bắc (TB_Đ1, TB_Đ2) có tốc độ bồi tụ trung bình đến mạnh, trong đó lớn nhất là tế bào Hàm Ninh (> 1,0 m/năm), nơi có diện tích lưu vực lớn hơn.
– Các tế bào phía Nam (TB_Đ4, TB_Đ5, TB_Đ6) có tốc độ bồi tụ yếu hơn do nguồn cung cấp vật liệu hạn chế, lưu vực nhỏ, độ dốc thấp.
Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ Đông được trình bày trong H.9 và Bảng 2.
H.9: Xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ ĐôngBảng 2. Xói lở-bồi tụ bờ biển trung bình các tế bào bờ Đông
I.3 Bờ Bắc – xói lở và bồi tụ yếu
Bờ biển Bắc có tốc độ xói mòn rất yếu tại các bờ đá gốc (KB_1) và bồi tụ yếu (< 0,5 m/năm) tại cửa rạch Vẹm và rạch Tràm (kiểu bờ KB_5). H.10 biểu diễn xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Bắc.
H.10: Xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Bắc
I.4 Bờ Nam – ổn định
Bờ biển thuộc tế bào TB_N1 có mức xói lở và bồi tụ yếu, nhiều đoạn bờ ổn định do được bảo vệ bởi các bờ kè bê tông. H.10 biểu diễn xói lở – bồi tụ bờ biển các tế bào bờ Nam.
H.11: Xói lở – bồi tụ bờ biển tế bào bờ Nam
II. Nhận xét chung
Bờ biển đảo Phú Quốc dài 153,3 km, trong 40 năm qua (1973-2013), xói lở ưu thế với tổng chiều dài là 100,8 km chiếm 65,8 %.
– Bờ Tây dài 54,0 km, xói lở 52,3 km (97 %), trong đó xói lở kiểu KB_3 là 27,8 km (51,5 %)
– Bờ Đông dài 66,9 km, bồi tụ 40,1 km (60 %), xói lở yếu tại các mũi nhô.
– Bờ Bắc có tốc độ xói mòn yếu tại các bờ đá gốc và bội tụ hạn chế tại các cửa sông nhỏ.
– Bờ Nam khá ổn định do được bảo vệ bởi các công trình bờ biển.
Tổng hợp kết quả nghiên cứu xói lở, bồi tụ bờ biển đảo PQ được trình bày trên H. 12, H. 13 và Bảng 3.
H. 12: Xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú QuốcBảng 3 Tổng hợp xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú QuốcH.13: Xói lở – bồi tụ bờ biển đảo Phú Quốc
Các chuyên gia kêu gọi tăng cường phối hợp quản lý nguồn nước giữa các nước khu vực sông Mê Kông và áp dụng khoa học kỹ thuật để tiết kiệm nước trong nông nghiệp.
Ngày 16.3, Đại học Cần Thơ và Học viện Hoàng gia Campuchia phối hợp tổ chức hội thảo với chủ đề “Cứu lấy nguồn nước sông Mê Kông cho nông dân”. Sự kiện này diễn ra tại Phnom Penh (Campuchia) trong bối cảnh các chuyên gia đang lo ngại về những thay đổi thất thường của nguồn nước ở thượng nguồn ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp và nguồn lợi thủy sản trong khu vực.
Theo các nhà khoa học, nguồn nước sông Mê Kông những năm qua đã thay đổi rất thất thường do sự ảnh hưởng kết hợp của nhiều yếu tố như các đập thủy điện, nạo vét sông và chuyển dòng ở thượng nguồn cũng như ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Các tác nhân này đã ngăn cản sự di cư sinh sản của các loài thủy sản cũng như xáo trộn chu kỳ lũ, khiến vùng hạ lưu thiếu nước trầm trọng hơn, nhất là vào mùa khô.
Nguồn nước – nguồn sống
Theo báo cáo “Nguồn nước và việc sử dụng nước tại Campuchia”, hệ thống sông Mê Kông là nguồn nước chủ yếu trong nông nghiệp và cung cấp nguồn lợi thủy sản. Hệ thống sông Mê Kông tại Campuchia có 486 km dòng chính, 110 km phụ lưu là sông Tonle Sap và hồ Tonle Sap với sức chứa khoảng 72 km3 nước.
Ông Nophea Sasaki, cố vấn Học viện Hoàng gia Campuchia và là đồng tác giả của báo cáo, nhận định nguồn nước có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển của Campuchia. Ước tính khoảng 80% dân số Campuchia là nông dân và họ sống nhờ vào nguồn nước dùng trong ăn uống, sinh hoạt cũng như nông nghiệp. Nông nghiệp đóng góp 27,5% GDP của Campuchia, tương đương 14 tỉ USD. “Khi mùa mưa kết thúc thì tình trạng thiếu nước trở nên nghiêm trọng tại nhiều nơi, đặc biệt là giữa mùa khô”, ông Nophea nói.
Theo GS-TS Lê Quang Trí tại Đại học Cần Thơ, nguồn nước sông Mê Kông cung cấp cho khoảng 18,6 triệu người ở ĐBSCL, nơi cung cấp hơn 50% nguồn lương thực cho cả nước, 65% sản lượng cá và 70% trái cây trong nước và xuất khẩu. “Người dân thường sinh sống tập trung dọc bờ sông, nhưng sự phát triển kinh tế xã hội của ĐBSCL đang bị kìm hãm bởi nguồn nước.
Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng kết hợp với các vấn đề nguồn nước xuyên quốc gia như các đập thủy điện, phát triển công nghiệp, phá rừng và chuyển dòng nước đã ảnh hưởng đến đất và sản xuất nông nghiệp, làm giảm sản lượng, đe dọa an ninh lương thực và tăng nghèo, bên cạnh các yếu tố suy thoái môi trường và tài nguyên thiên nhiên”, ông nói.
Theo Học viện Hoàng gia Campuchia, dòng chảy sông Mê Kông đã thay đổi rõ ràng vào thời điểm trước và sau khi đập Mạn Loan của Trung Quốc đưa vào hoạt động. “Việc sụt giảm mực nước và dòng chảy vào mùa mưa ở Campuchia có thể giảm khu vực ngập nước và lưu lượng phù sa cũng như tăng xâm nhập mặn ở ĐBSCL”, theo báo cáo của học viện tại hội thảo. Theo đó, tác động của dòng chảy phụ thuộc vào các yếu tố biến đổi khí hậu và vận hành thủy điện. Đập thủy điện có thể khiến đỉnh lũ thấp hơn và thời gian lũ cũng đến chậm và ngắn hơn.
Giải pháp bền vững
Trước những nguy cơ đe dọa nông nghiệp khu vực sông Mê Kông, các nhà khoa học đã đề nghị nhiều biện pháp nhằm giúp người nông dân giảm nhẹ thiệt hại và phát triển nông nghiệp bền vững. Đồng thời, các nước trong khu vực cần nhận thức rõ nguy cơ để cùng nhau giải quyết những thách thức.
Giáo sư Kazuyuki Inubishi tại Đại học Chiba (Nhật), người từng nghiên cứu rất nhiều về nông nghiệp ở Việt Nam và khu vực, đã đề xuất tăng cường áp dụng hình thức canh tác lúa “vụ khô, vụ ướt” nhằm giảm nhu cầu nước tưới tiêu. “Phương pháp này giảm lượng nước tưới tiêu hằng năm, đồng thời giảm lượng khí nhà kính khoảng 23 – 43%. Điều thú vị là nó cũng giúp tăng năng suất hằng năm và giảm quá trình sản sinh các khí độc, tăng cường ô xy cho đất”, ông nói.
PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu tại Đại học Cần Thơ, đề nghị giảm diện tích trồng lúa vào mùa khô, trồng các giống lúa chịu hạn và chuyển sang trồng những loại hoa màu cần ít nước ở vùng đất cao. Trả lời câu hỏi liệu có thể cứu lấy nguồn nước cho nông dân hay không, ông Tuấn cho rằng cần phải có “ngoại giao nước”, nghĩa là cần phối hợp chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới. “Cần có sự hợp tác của các nước khu vực sông Mê Kông nhằm đạt được lợi ích từ việc xây dựng chiến lược phối hợp và các khung pháp lý nhằm tiến tới quản lý nguồn nước xuyên biên giới tốt hơn”, ông Tuấn nói.
Theo chuyên gia Nguyễn Minh Quang tại Đại học Cần Thơ, nhiều nông dân đã tích trữ nước, xây bồn chứa nước mưa, khoan giếng, xây đập ngăn mặn… sau khi chịu thiệt hại từ mùa khô năm ngoái. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp giảm nhẹ tạm thời. “Việc tiếp tục tác động ngoại giao phản đối đập thủy điện trên sông Mê Kông cần tiến hành cùng với phát triển nông nghiệp bền vững, hiện đại hóa nông nghiệp và học hỏi các mô hình ngay từ người dân địa phương”, ông nói.
Trả lời phỏng vấn riêng với Thanh Niên, TS Manoch Kongchum thuộc Trung tâm nông nghiệp tại Đại học bang Louisiana (Mỹ), cho rằng hiện trạng nguồn nước khu vực Mê Kông mang tính quốc tế, nếu các quốc gia ở thượng nguồn không xét đến các nước hạ nguồn thì sẽ gây ra rất nhiều tác động. “Ở Việt Nam, nông dân sẽ rất thiếu nước ngọt cho nông nghiệp khi họ cần, nhưng khi họ không cần nước thì lại gặp phải vấn đề xả nước từ thượng nguồn. Việt Nam cũng cần rất nhiều nước để đẩy lùi xâm nhập mặn nhưng khi cần thì lại không có. Các con đập chỉ lợi ích trong việc sản xuất điện chứ không hề có ích trong việc điều phối nước”, TS Manoch nói.
Cũng theo ông Manoch, rất nhiều người sống nhờ dòng sông Mê Kông và nếu không có chính sách liên quan đến dòng chảy, nước sẽ bị ngăn từ trên thượng nguồn thì không chỉ nông nghiệp bị “giết chết” mà cả nguồn thủy sản cũng bị thiệt hại. “Cũng cần áp dụng các kỹ thuật tiết kiệm nước. Chẳng hạn vào mùa hè, sông Mê Kông không có nhiều nước, chúng ta có thể trữ nước vào mùa mưa. Tại các vùng trồng lúa, nên hy sinh những khu đất hoặc đồng ruộng để làm nhiều hồ trữ nước cho mùa khô, bởi một khi các đập xây dựng xong thì Việt Nam sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn”, ông Manoch khuyến cáo.
Còn tại Campuchia, TS Nophea Sasaki cho rằng người dân đều biết rõ về tác hại của đập thủy điện đối với các loài thủy sản, vốn là nguồn thực phẩm quan trọng tại đây. “Việc phát triển thủy điện cần phải được tư vấn rõ ràng để giảm thiểu tác hại và phát huy tối đa hiệu quả”, ông Nophea chia sẻ với Thanh Niên.
Công ty Đoàn Ánh Dương tổ chức đoàn khảo sát ngắn ngày (từ 10 đến 13) nhằm tìm hiểu lịch sử vùng đất Hà Tiên, đặc biệt những di tích khảo cổ liên quan đến dòng họ Mạc đứng đầu là Tổng trấn Mạc Cửu – người có công mở mang bờ cõi đất Việt.
Tham gia đoàn khảo sát gồm các chuyên gia trong lĩnh vực khảo cổ, lịch sử – văn hóa, địa chất, địa mạo. Ông Đoàn Sung (giám đốc công ty Đoàn Ánh Dương) làm trưởng đoàn.
Ngày 11, tháng 3, qua giới thiệu và kết nối của anh Nam (cán bộ bảo tàng Kiên Giang), đoàn đến thăm bác Trương Minh Đạt – Nhà nghiên cứu Hà Tiên. Hiện sức khỏe bác Đạt không được tốt, tuy vậy qua người nhà, bác đồng ý tiếp chúng tôi.
Trong khi chờ bác tiếp chuyện, một chồng sách – công trình nghiên cứu Hà Tiên mới xuất bản “Họ Mạc với Hà Tiên” được xếp trên bàn. Mọi người rất vui vẻ chào bác khi bác đang lần từng bước xuống cầu thang (có thêm sự trợ giúp của người nhà). Đoàn trưởng hỏi thăm sức khỏe và giới thiệu từng người trong đoàn và mong muốn được hỏi bác về Thương cảng thời Mạc Cửu và Thành cổ Hà Tiên.
Bác Đạt lần lượt tặng sách cho từng người. Bác viết chậm, nét chữ rung rung vì cây bút không chịu theo hướng điều khiển của người viết. Rất khó khăn, nhưng bác ghi đầy đủ tên, học hàm, học vị, chức danh, ngày tháng và ký tên, đóng mộc cho từng quyển sách.
Với giọng nói nhỏ nhẹ, rõ ràng bác nói việc nghiên cứu khảo cổ Hà Tiên có ba điểm cần lưu ý đó là: Phế tích thời Mạc Cửu, Thành cổ Hà Tiên và Đồn cổ Minh Mạng.
Bác Đạt cho biết “Mạc Thiên Tích mở thương cảng trù phú. Trước đây Đông Hồ khá sâu, tàu ghe đậu dọc cảng khẩu, hàng hóa từ các nước đến trao đổi. Gạo là sản phẩm của Hà Tiên, ngoài ra là cau khô, cá khô và đồ gốm…”.
Năm 1999 khi đào móng làm nhà, bác Đạt đã thu thập một số đồ gốm thời Mạc Cửu?.
Có nhiều điều muốn hỏi bác, nhưng đã hơn hai giờ tiếp chuyện, sợ bác mệt nên chúng tôi xin phép dừng câu chuyện, hẹn thăm và hỏi bác vào dịp khác. Đoàn trưởng Sung tặng quà (đặc sản tỏi Lý Sơn) cảm ơn bác và xin chụp ảnh lưu niệm cùng bác.
Đã ngoài 80 tuổi, lại bị bệnh nhưng bác Trương Minh Đạt vẫn nhớ từng sự kiện, từng năm xảy ra sự kiện. Bác nói rất vui và hạnh phúc khi đoàn đến thăm và trao đổi về Hà Tiên. Và chúng tôi, từng người trong đoàn cảm thấy thật may mắn, thật hạnh phúc khi được bác tiếp chuyện.
Xin được trích dẫn lại một số đoạn trong Nghiên cứu Hà Tiên thay cho lời kết. Đây cũng chính là tình cảm và sự trân trọng của người viết bài này gửi đến bác Trương Minh Đạt – nhà Hà Tiên Học.
Trong lời tựa của công trình Nghiên cứu Hà Tiên, tác giả viết “Chính tình yêu quê hương nhỏ bé đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu và viết về mảnh đất Hà Tiên”.
Cố Trần Bạch Đằng, Nguyên phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh viết:
“Hà Tiên là vùng đất khá đặc thù của Nam Bộ, Việt Nam. Nếu nói rằng đáng có một “Hà Tiên Học” thì nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt có thể xếp vào đội ngũ đi đầu”
Cố nữ sĩ Mộng Tuyết (Tạp chí khám phá -3/2005) viết:
“Nếu muốn hiểu cặn kẽ về lịch sử vùng đất Hà Tiên và dòng họ Mạc, về đó phải tìm ngay Trương Minh Đạt. Quý lắm! Anh ấy xứng danh là “nhà Hà Tiên Học”.
Nhà bác Đạt tại số 3, Tham Tướng Sanh, thị xã Hà TiênBác Đạt giới thiệu công trình mới xuất bản_Họ Mạc với Hà TiênBác Đạt tặng sách cho từng người trong đoànBác Đạt viết tặng sáchNhận sách tặng từ bác ĐạtĐồ gốm (thời Mạc Cửu ?) do bác Đạt thu thập khi làm móng nhàBác Đạt cùng với bác gái chụp ảnh kỉ niệm với đoàn
Đọc loạt bài điều tra xuyên quốc gia “Đường đi của cát Việt ra nước ngoài” trên báo tuổi trẻ mấy số gần đây, thật sự không thể tưởng tượng nổi về hoạt động khai thác và nạo vét cát biển đang diễn ra tại một số nơi.
Cát biển là vật liệu phản ánh sự cân bằng động lực biển. Bờ biển bị xói lở về cơ bản là do sự thiếu hụt nguồn cấp trầm tích, nhất là trong điều kiện mực nước biển dâng. Việc khai thác cát sẽ gia tăng sự thiếu hụt trầm tích dẫn đến xói lở bờ biển sẽ trầm trọng hơn.
Trong khi bờ biển, bờ đảo của chúng ta ở nhiều nơi đang bị thu hẹp dần do sự xâm lấn của biển; nhiều tỉ đồng phải đầu tư để xây dựng các công trình chống xói lở, vậy tại sao lại có hoạt động mang cát biển của Việt Nam đi bán?
Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc cho thấy xói lở bờ biển đã gia tăng từ nhiều năm qua, nhất là bờ tây đảo.
I.Tế bào bờ biển
1. Khái niệm
Tế bào bờ biển (TBBB) là một đơn vị tương đối khép kín nơi mà trầm tích lan truyền trong đó. Mỗi TBBB chứa một chu kỳ trầm tích đầy đủ bao gồm các nguồn, đường vận chuyển và bồn chứa. Bờ biển có thể được phân chia thành một số TBBB với ranh giới là các mũi đá nhô tự nhiên (hoặc các mỏ hàn dài – mũi nhô nhân tạo). Mỗi TBBB có một quá trình vật lý độc lập [1].
Áp dụng qui luật của TBBB là rất cần thiết cho việc thiết lập một quỹ trầm tích (Sediment Budget), tức là một sự cân bằng khối lượng đầu vào và đầu ra của trầm tích cho TBBB. Các nguồn trầm tích đầu vào có thể là sông, vận chuyển về phía bờ từ trầm tích biển ngoài khơi và từ các tế bào lân cận thông qua dòng dọc bờ (H. 1) hoặc sự can thiệp của con người (thông qua hoạt động nuôi bãi). Các TBBB cũng bị mất vật liệu theo những cách khác nhau, bao gồm bị bẫy trong các hẻm sâu ngoài khơi, được vận chuyển đến các cửa sông, đầm phá và biển nội địa hoặc do khai thác của con người. Các dòng dọc bờ cũng có thể vận chuyển trầm tích đến các tế bào lân cận.
Hôm chủ nhật (19/02/2017), bác Thu alo, alo… rủ đi chùa Phước Hậu thăm quan Vườn kinh đá, đồng thời góp ý cho ý tưởng của thày Thích Phước Cẩn về việc đưa một số loại đá đặc trưng lịch sử phát triển địa chất khu vực về khuôn viên chùa phục vụ thăm quan, tìm hiểu về địa chất của người dân và du khách.
Đi thăm chùa đầu năm cùng với ý tưởng thật đáng trân trọng của thày Thích Phước Cẩn thực sự làm cho mình phấn khích. Chuẩn bị đồ nghề vừa xong, xe bác Thu đến, lên đường ngay (9:30). Trên đường đi, thày Cẩn cho biết thày Lê Quang Sáng (Đại học Cần Thơ) đã tới chùa.
Vị trí chùa Phước Hậu
13:00 tới chùa Phước Hậu thuộc xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Mọi người gặp gỡ, hỏi thăm sức khỏe và giới thiệu về nhau trong một không gian tĩnh mịch bao quanh bởi đá và cây bên dòng sông Trà Ôn êm mát.
Nhà chùa xắp cơm trên bàn đá, bác Thu và mình dùng bữa trưa muộn. Các món chay thật ngon: khổ qua nhồi thịt, bắp non xào cà rốt, thịt nấu đậu; đặc biệt có món tương hạt.
Các món chay được đặt trên bàn đá
Cơm, nước xong xuôi, thày Phước Cẩn giới thiệu Vườn kinh đá trong khuôn viên chùa Phước Hậu. Vườn kinh đá có diện tích 10.000m2 thực ra gồm 3 vườn kinh: Vườn kinh Pháp cú, Vườn kinh A Di Đà, và Vườn kinh Bắc truyền trích diễm. Trong đó Vườn kinh Pháp cú được xây dựng quy mô nhất với diện tích khoảng 4.000m2.
Vườn kinh pháp cú mô phỏng 8 lá bồ đề xòe ra theo tám hướng, tượng trưng Bát chánh đạo của Phật giáo với trung tâm vườn là ngọn núi có bốn tượng Phật Thích Ca Mâu Ni.
“Cuống và lá bồ đề” theo các hướng được xắp xếp bằng 216 phiến đá granit màu xám cao 120 cm, rộng 90 cm, dày 8-9 cm. Hai mặt phiến đá trơn, nhẫn được khắc 432 bài kinh – mỗi bài là những lời răn dạy của Phật gồm những câu ngắn gọn, đơn giản nhưng đầy ý nghĩa.
Vườn kinh Pháp cú dưới chân những cây sao cao vútNhững bài kinh ngắn gọn, đơn giản nhưng đầy ý nghĩa.
Vườn kinh A Di Đà có 31 phiến đá được xếp theo hình thể nước Việt Nam, tạo thành một hồ nhỏ trồng sen. Mỗi miền Bắc, Trung, Nam có một phiến đá trong lòng hồ ghi ngôi chùa biểu trưng. Các bài kinh ở vườn được dịch theo thể thơ lục bát.
Vườn kinh A Di ĐàVườn kinh A Di Đà – phần miền NamVườn kinh A Di Đà – phần miền Trung và Bắc
Vườn kinh Bắc truyền trích diễm gồm với 15 phiến đá, các bài kinh được dịch theo thể văn xuôi; các khối đá, cột đá lớn khắc chữ to với những câu triết lý Phật giáo.
Vườn kinh Bắc truyền trích diễmVườn kinh Bắc truyền trích diễm được bố trí dọc sông Trà Ôn
Ý tưởng xây dựng vườn kinh đá của thày thầy Thích Phước Cẩn – trụ trì chùa Phước Hậu từ lần sang Myanmar du lịch, thăm quan và thấy kinh pháp cú được khắc trên đá bằng tiếng Pali. Tháng 3-2014 công trình được khởi công và hoàn thành vào tháng 3-2016.
Kết thúc thăm quan Vườn kinh đá, thày Phước Cẩn trao đổi với mọi người ý tưởng đưa các đá đặc trưng cho lịch sử phát triển địa chất (trước mắt vùng đồng bằng Sông Cửu Long) về Vườn kinh đá để mọi người (nhất là người dân địa phương) có điểm thăm quan, học tập, tìm hiểu khái quát về địa chất khu vực.
Trên cơ sở danh sách đề xuất lấy mẫu mà thày Lê Quang Sáng phác thảo; Hải và Thu góp thêm ý kiển để triển khai công việc. Một bản đồ các loại đá, vị trí lấy mẫu sẽ được Hải thực hiện sớm để thày Cẩn có cơ sở triển khai công việc.
Trao đổi thông tin để triển khai công việc tiếp theo
16:00 kết thúc phần trao đổi, trước khi chia tay thày Phước Cẩn tặng quà cho thày Sáng, Thu và Hải – những quả bưởi “lộc chùa” đầu năm thật sự ngọt ngào.
Vườn kinh đá – một công trình văn hóa gắn kết Tâm linh – Khoa học – Du lịch sẽ là điểm đến đầy lý thú của du khách trong và ngoài nước.