Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ

Sự xuất hiện của sóng thần Indonesia cùng với sức mạnh hủy diệt mà nó mang theo hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của những nhà nghiên cứu.

Bản đồ của Cục khảo sát địa chất Mỹ

Các nhà khoa học bày tỏ sự bất ngờ trước độ mạnh của sóng thần tàn phá thành phố Palu, Indonesia, vào cuối tuần trước, theo New York Times. Họ cho rằng trận động đất xuất hiện trước đó khó có thể kéo theo những cơn sóng mang sức mạnh hủy diệt như vậy.

“Chúng tôi dự đoán động đất có thể gây sóng thần, nhưng không lớn tới mức đó”, Jason Patton, nhà địa vật lý làm việc cho công ty tư vấn Temblor kiêm giảng viên ở Đại học Humboldt, California, cho biết. “Khi những sự kiện kiểu này xảy ra, chúng tôi thường khám phá ra nhiều điều chưa từng quan sát được trước đây”.

Trận động đất 7,5 độ xuất hiện vào chiều tối hôm 28/9 gây chấn động dọc theo vùng ven biển đảo Sulawesi, cách Palu khoảng 80 km về phía bắc. Theo một số nhân chứng, trong vòng 30 phút sau, những cơn sóng cao tới 6 mét đập vào bờ, phá hủy nhiều tòa nhà, đập nát xe cộ và giết chết hàng trăm người dân trong thành phố.

Số người chết cao có thể phản ánh hiện trạng thiếu hệ thống phát hiện và cảnh báo sóng thần tân tiến của Indonesia, theo giới chuyên gia. Những cộng đồng dân cư khác trên đảo Sulawesi, bao gồm thành phố Donggala, cũng bị sóng thần tàn phá, nhưng có rất ít thông tin về mức độ thiệt hại hoặc số người chết bên ngoài Palu.

Thảm họa sóng thần thường là kết quả của siêu động đất khi những mảng lớn vỏ Trái Đất biến dạng, dịch chuyển theo chiều dọc dọc theo đứt gãy. Quá trình này chuyển chỗ đột ngột một lượng nước khổng lồ, tạo ra cơn sóng di chuyển ở tốc độ cao dọc bồn trũng đại dương và gây thiệt hại ở cách nơi hình thành động đất hàng nghìn kilomet.

Một cây cầu bị phá hủy do động đất và sóng thần ở Palu, Indonesia. Ảnh: Reuters.

Đọc tiếp “Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ”

HỘI NGHỊ THÔNG TIN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN

Ngày 5-10, Ban Quản lý Công viên địa chất Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Hội nghị thông tin Công viên địa chất Lý Sơn với sự phối hợp của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ TN-MT) và các chuyên gia trong nước cũng như quốc tế có kinh nghiệm về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.

Hội nghị thông tin công viện Địa chất Lý Sơn

Đọc tiếp “HỘI NGHỊ THÔNG TIN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN”

Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia

Indonesia suốt nhiều năm không hoàn thiện được hệ thống cảnh báo sóng thần hiện đại, khiến nhiều người bất ngờ khi thảm họa xảy ra.

Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa lý Indonesia (BMKG) hôm qua thừa nhận việc phải dựa vào dữ liệu không chính xác được thu thập từ cảm biến ở quá xa ngoài khơi đã khiến họ dỡ bỏ cảnh báo sóng thần 34 phút sau khi ban bố, dù bức tường sóng khổng lồ cao tới 6 m ngay sau đó ập vào thành phố Palu trên đảo Sulawesi, cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.200 người.

Giới chuyên gia cho rằng thực tế này phản ánh những hạn chế và cả thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia, quốc gia nằm trên “Vành đai Lửa” của Thái Bình Dương và thường xuyên hứng chịu nguy cơ động đất, sóng thần rất cao, theo AP.

Sau khi thảm họa kép động đất, sóng thần tấn công khu vực vào năm 2004 khiến gần 250.000 người thiệt mạng, cộng đồng quốc tế đã hỗ trợ Indonesia xây dựng một mạng lưới cảm biến công nghệ cao nhằm thay thế cho hệ thống cảnh báo lạc hậu dọc bờ biển nước này, với mục tiêu giảm bớt thương vong khi thảm họa xảy ra.

Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ và Đức khi đó đã giúp Indonesia triển khai mô hình thí điểm cảnh báo trị giá 3 triệu USD, gồm mạng lưới 22 phao nổi kết nối với các cảm biến được đặt dưới đáy biển nhằm kịp thời phát hiện dấu hiệu động đất, sóng thần và đưa ra tín hiệu cảnh báo kịp thời.

Hệ thống này được triển khai ngoài khơi Padang, thành phố nằm ngay cạnh một vết đứt gãy địa chất lớn và rất dễ hứng chịu sóng thần. Các cảm biến áp suất, địa chấn chôn dưới đáy biển có thể phát tín hiệu dưới dạng sóng âm trong lòng biển và chuyển tới các cảm biến khác cách đó 20-30 km rồi tiếp tục truyền vào đất liền.

Mạng lưới này có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sóng thần trong vòng 1-3 phút, thay vì 5-45 phút như phao nổi hay những thông tin rất hạn chế từ thiết bị đo thủy triều. Tuy nhiên, dự án cần được lắp thêm vài km cáp quang để nối cảm biến cuối cùng với một trạm quan trắc trên đất liền, nơi dữ liệu có thể truyền qua vệ tinh tới cơ quan địa chất để phát cảnh báo sóng thần cũng như tới các cơ quan chức năng.

Nhưng từ khi được triển khai thí điểm cho tới tháng 1/2017, dự án vẫn chờ chính phủ Indonesia cấp ngân sách 1 tỷ rupiah (69.000 USD) để lắp đặt đoạn cáp trên và hoàn thiện hệ thống. Sau đó, tình trạng cắt giảm ngân sách khiến dự án liên tục bị đùn đẩy giữa các cơ quan chính phủ và hệ thống vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm.

Việc thiếu ngân sách để bảo trì, bảo dưỡng, cộng thêm tình trạng người dân phá hoại, trộm cắp thiết bị khiến hệ thống này gần như bị vô hiệu hóa. Khi trận động đất lớn xảy ngoài khơi đảo Sumatra năm 2016, toàn bộ các hệ thống phao nổi và cảm biến trị giá hàng trăm nghìn USD mỗi chiếc đều không hoạt động.

Nguyên lý hoạt động của hệ thống cảm biến, phao nổi khi phát hiện sóng thần. Đồ họa: ResearchGate.

Đọc tiếp “Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia”

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8

Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO diễn ra tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Adamello Brenta, tỉnh Trentino, Ý, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 năm 2018.

Hội nghị, với chủ đề chính: “Công viên địa chất và phát triển bền vững

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 9, đã có các cuộc họp của Hội đồng UUG, GGN ExB, và các cuộc họp Mạng lưới Khu vực: EGN AC và CC, APGN AC và CC, LACGN AC và CC.

Lễ khai mạc và các bài giảng quan trọng diễn ra vào ngày 11 tháng 9.

Ngày 11/9, 12 và 14/9 các báo cáo khoa học trình bày đồng thời tại 6 tiểu ban như sau:

  1. CVĐC, du lịch bền vững và phát triển bền vững địa phương (Geoparks, sustainable tourism and sustainable local development)
  2. Bảo tồn, Khoa học và nghiên cứu (Conservation, science and research)
  3. Giáo dục, nhận thức cộng đồng và truyền thông (Education, public awareness and communication)
  4. CVĐC, BĐKH và tai biến địa chất (Geoparks, climate change and geo-hazards)
  5. Hợp tác giữa UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO collaborations)
  6. Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Đọc tiếp “HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8”

Từ Bến Lội đến Ngã ba suối Sơn Thái, chân đèo Khánh Lê

Những năm trước, Bến Lội ở chân đèo Khánh Lê là điểm dừng chân học tập và giải trí của đoàn Thực tập môi trường đại cương, Khoa Môi trường. Tại đây – cảnh quan đẹp và hoang sơ, sinh viên được nghe giảng về tài nguyên nước đầu nguồn sông Cái Nha Trang, được lội nước, chơi trò cân bằng đá và tạo kiểu chụp hình cùng nhau, cùng với thày cô.

Năm nay, có một điểm học tập mới hấp dẫn hơn hẳn Bến Lội, đó là Ngã ba suối Sơn Thái. Ngã ba suối Sơn Thái trong một thung lũng rộng để lộ một cảnh quan y như các mô hình trong sách giáo khoa về địa mạo dòng chảy với sự đa dạng địa hình: bãi bồi lòng sông, các bậc thềm, các vết lộ đá gốc, các vách xói lở, các mặt trượt do xâm thực chân vách…

Ngã ba suối Sơn Thái – một điểm học tập hay, một điểm giải trí lý thú, một cảnh tự nhiên đẹp không thể không dừng lại mỗi khi đi qua.

Từ Bến Lội

Năm 2011, lấy lí do tuyến đường đèo Ngoạn Mục đang sửa chữa nên các bác tài đề nghị đi đèo Khánh Lê xuống Nha Trang. Thực ra các bác tài thích đi tuyến này hơn vì rút ngắn lộ trình tới 90 km.  Vậy là phải bổ sung mấy điểm mới cho tuyến hành trình thực tập, chưa có lộ trình tiền trạm nên phụ trách đoàn vừa đi vừa tìm điểm dừng để sinh viên học tập. Bến Lội là một điểm như vậy.

Xuống chân đèo Bidoup – Khánh Lê thường vào khoảng 11:00; đoàn dừng lại nghỉ ăn trưa, mấy quán lợp tole đơn giản là nơi thày cô và sinh viên lấy cơm hộp ra ăn, gọi nước uống. Cơm, nước xong; đi khảo sát loanh quanh, phát hiện một lòng suối có bãi cuội rộng khoảng 50 m, kéo dài tới 200 m, nước ngập chưa đến đầu gối, chảy nhẹ; thế là cả đoàn xuống vui chơi, giải trí cả một giờ đồng hồ.

Từ những năm sau đó, Bến Lội chính thức được đưa vào chương trình học tập. Bến Lội được xem là điểm chuyển tiếp lộ trình giữa núi – cao nguyên sang đồng bằng ven biển. Tại đây có quán Bến Lội, chủ quán làm bậc thềm xuống bãi nên rất tiện cho việc đi lại.

Bến Lội 27.07.2012
Bến Lội 25.07.2913
Bến Lội 24.07.2015
Bến Lội: 22.07.2016

Thày Tự Thành (trưởng đoàn) có ý định không ăn cơm hộp buổi trưa tại Bến Lội nữa; được thày Cảnh giới thiệu quán Chân Đèo có ông chủ quán luôn vui vẻ và giá cả phục vụ phải chăng. Thế là năm 2016, qua điện thoại đoàn đặt cơm trưa tại quán Chân Đèo. Cơm nóng, đồ ăn ngon, giá tốt, chủ quán nhiệt tình (xem Nhật kí thực tập môi trường 2016). Cơm trưa xong, thày trò hành quân xuống Bến Lội khoảng 1 km.

Năm ngoái cũng vậy, cơm trưa xong, thày trò lại hành quân xuống Bến Lội nhưng chuẩn bị theo bậc thềm xuống bãi thì bị chủ quán làm khó – nguyên nhân có lẽ là đoàn đặt ăn ở quán Chân Đèo. Trưởng đoàn nói gì đó, rồi chủ quán cũng cho qua. (Thực ra thì đoàn đã liên hệ đặt ăn tại quán Bến Lội rồi, nhưng mắc nên  thôi).

Đến Ngã ba suối Sơn Thái

Năm nay chủ quán Chân Đèo (ông Nguyễn Luật) liên hệ với địa phương (lãnh đạo xã Sơn Thái) và trực tiếp dẫn đoàn đến bãi Ngã ba suối (tạm gọi Ngã ba suối Sơn Thái). Ngã ba suối đẹp đến không ngờ cả về cảnh quan địa mạo và những vết lộ địa chất, địa chất môi trường.

Ngã ba suối Sơn Thái cách Bến Lội hơn 1 km về phía thượng nguồn. Có thể sơ bộ về địa tầng, địa mạo và các vấn đề môi trường tại đây như sau:

Về địa chất: Ven suối lộ đá phiến màu đen thuộc hệ tầng La Ngà, phía trên là vỏ phong hóa có màu nâu đỏ dày tới 10 m. Giữa lòng suối, rải rác nhô lên các khối đá granit thuộc phức hệ Đèo Cả. Bãi đá cuội, tảng mài tròn kích thước từ vài cm đến 30 – 50 cm, một số tảng tới 1,0 m chủ yếu có màu xám sáng với ba loại đá cơ bản gồm ryolit, ryodacit; granit và đá phiến. Nhìn chung kích thước cuội tảng lớn hơn bãi đá Bến Lội.

Về địa mạo: các tích tụ lòng suối và bãi bồi cuội tảng, cát phân bố bên bờ lồi khúc uốn;  vách xói lở, vách trượt đất phân bố nơi lạch sâu áp sát bờ. Một hệ thống bậc thềm quan sát khá rõ: Thềm 1 nguồn gốc tích tụ, cao 3,0 – 4,0 m gồm các lớp sạn, sỏi xen các lớp cuội. Thềm 2 nguồn gốc xâm thực, cao 7,0 -8,0 m. Thềm 3 cũng là thềm xâm thực, cao 10 – 12 m. Thềm 2 và thềm 3 đều lộ vỏ phong hóa từ trầm tích La Ngà.

Về môi trường: các vách xâm thực và mặt trượt mới xảy ra lộ rất rõ, việc canh tác (chặt bỏ lớp phủ thực vật) gây xói mòn đồi thềm cao dẫn đến tích tụ trên mặt thềm thấp.

Chủ quán Chân Đèo vừa đọc thơ, vừa mời rượu các thày, cô trong bữa cơm trưa
Trước khi dẫn đoàn xuống suối, chủ quán dừng lại đọc thơ
Chân vách trượt lộ đá phiến sét màu xám đen (đá gốc) phân lớp mỏng cắm dốc 70o về lòng suối
Xâm thực để lộ các khối đá granit giữa lòng suối
Trong một khung hình có nhiều dạng địa hình: thềm 1, thềm 2, thềm 3; trầm tích cuội lòng suối, xâm thực lộ đá granit, đá phiến sét và vết trượt thềm 2 và 3
Thềm 1 xâm thực mạnh vào kỳ mưa lũ
Vách xâm thực để lộ cấu tạo thềm bậc 1
Đá phiến sét phân lớp mỏng, mặt lớp láng bóng trở thành mặt trượt. Quá trình xâm thực chân vách dẫn đến hình thành khối trượt kiểu tịnh tiến
Cuội, sỏi lòng sông là nguồn vật liệu xây dựng của người dân
Ngã ba suối là nơi “bẫy” nhưng khối gỗ lớn mà ai đó đã (khai thác) trên vùng núi cao

H & H

Vài nét về địa mạo bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa, Ninh Thuận

Hà Quang Hải

Bờ biển từ mũi Cá Tiên đến cửa Đầm Nại dài khoảng 50 km, là đường biên phía đông của Vườn quốc gia Núi Chúa. Dọc theo bờ biển này, nguồn tài nguyên biển có sự đa dạng và phong phú, đặc biệt là san hô. Dọc theo bờ biển này có những điểm du lịch đẹp như Bãi biển Bình Tiên, Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, Công viên Đá, Hòn Đỏ…được nhiều du khách biết đến.

Có thể nói, nguồn tài nguyên biển phong phú, cảnh quan biển đẹp của dải bờ này được hình thành và phát triển trền nền tảng yếu tố địa chất, địa mạo với sự tương tác lâu dài của quá trình nội sinh và ngoại sinh: nội sinh với sự bóc lộ thể batholith Núi Chúa cùng với những hệ thống khe nứt dầy đặc; ngoại sinh là quá trình phong hóa và phá hủy của sóng biển vào bờ đá, vào các hệ thống khe nứt để hình thành các vách biển dốc đứng, các vịnh biển, các bậc thềm biển, hang đá, cột đá và các khối đá chồng…

Dưới đây trình bày vài nét về địa mạo bờ biển thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa ghi nhận được trong quá trình hướng dẫn sinh viên Khoa Môi trường thực tập thực tế. Hy vọng những nghiên cứu chi tiết sẽ được tỉnh Ninh Thuận, Vườn quốc gia Núi Chúa cũng như các nhà khoa học Trái đất thực hiện trong tương lai.

Các hệ thống khe nứt kiểm soát phương và hình thái địa hình bờ biển

Các đá magma xâm nhập cấu tạo Núi Chúa được các tác giả thuộc công trình lập bản đồ địa chất 1:200.000 xếp vào phức hệ Đèo cả tuổi Kreta [1]. Dọc bờ biển từ mũi Cá Tiên đến mũi Thị phần lớn lộ đá thuộc phức hệ này. Theo tầu du lịch từ cửa Vĩnh Hy về phía nam qua mũi Thủ có thể quan sát các vách đá dốc đứng cao tới 30 m để lộ những hệ khe nứt đứng dầy đặc (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống khe nứt lộ trên vách biển tại mũi Thủ

Tại mũi đá phía nam Bãi Cóc, hai hệ thống khe nứt dốc đứng rõ nét có phương 195o (á kinh tuyến) và 150o (tây bắc-đông nam). Các khe nứt dày, cách nhau từ vài cm đến 20 cm (Hình 2). Kém rõ hơn là hệ khe nứt phương đông bắc và á vĩ tuyến. Tại đây cũng quan sát một hệ khe nứt dạng lớp (Sheet fracture) cắt ngang hệ khe nứt đứng (Hình 3). Hệ khe nứt dạng lớp là cơ sở tạo nên dạng địa hình phân bậc tại các mũi đá (Hình 4) và rải rác chân các vách đá dọc bờ biển. Dọc theo vách biển quan sát khá rõ hệ thống khe nứt này (hình 5).

Hình 2. Các hệ thống khe nứt tại mũi đá Nam Bãi Cóc
Hình 3. Hệ khe nứt dạng lớp cắt ngang hệ khe nứt đứng
Hình 4. Hệ thống khe nứt dạng lớp tạo địa hình phân bậc tại các mũi đá
Hình 5. Hệ thống khe nứt dạng lớp cắt ngang các hệ thống khe nứt đứng là cơ sở hình thành các bậc địa hình chân vách biển

Dễ dàng nhận thấy các hệ thống khe nứt có vai trò kiểm soát phương và hình thái đường bờ biển đá granit. Các đoạn bờ có vách dốc đứng phương á kinh tuyến chiếm ưu thế, điển hình là mũi Đá Vách (dài 2,5 km), Bãi Chuối (dài 845 m) và bờ biển cửa rạch Thái An đến mũi Thị (dài 6,3 km). Bờ biển phương tây bắc – đông nam rõ nhất bao gồm các đoạn bờ khu vực Bãi Rạng (dài 2,8 km); hướng kéo dài vịnh Vĩnh Hy, suối Sâu,  rạch Thái An cũng theo phương hệ khe nứt này. Đoạn bờ từ cửa rạch Vĩnh Hy đến cửa rạch Thái An là sự xen kẽ cả bốn hệ thống khe nứt, trong đó chiếm ưu thế là phương á kinh tuyến và tây bắc – đông nam.

Hệ thống khe nứt dạng lớp là cơ sở hình thành địa hình dạng bậc trên các sườn núi, vách biển và mũi nhô. Hệ thống khe nứt này cũng là cơ sở cho sự hình thành dạng địa hình đá chồng quan sát được nhiều vị trí dọc bờ biển.

Địa hình đá rơi, đá đổ chân vách biển

Hang Rái được hình thành do các khối đá rơi từ vách biển dốc. Vách dốc này bị chia cắt bởi các hệ thống khe nứt đứng và dạng lớp; quá trình phong hóa phát triển theo các hệ khe nứt dần làm các khối đá rơi xếp chồng chất lên nhau tại chân vách (Hình 6), tác động lâu dài của sóng biển làm các khối đá được mài trơn. Những khoảng trống giữa các khối đá được gọi là “hang”, trường hợp Hang Rái được hình thành theo hình thức này (Hình 7).

Hình 6. Các hệ khe nứt đứng và ngang chia vách đá thành các khối tảng đủ loại kích thước và hình dạng. Quá trình phong hóa theo hệ thống khe nứt dần làm các khối đá rơi xuống chân vách. Hình ảnh này cũng cho gợi ý về sự hình thành các khối đá, cột đá chồng
Hình 7. Hang Rái là các khoảng trống được hình thành từ các khối đá rơi từ vách đá

Công viên Đá Láng Chổi

Công viên Đá phân bố khu vực núi Láng Chổi thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Từ đèo Dinh Bà đi theo đường mòn qua khu rừng khô hạn về phía nam khoảng 1 km sẽ đến Công viên Đá. Chúng tôi đề nghị đặt tên Công viên Đá này là Công viên Đá Láng Chổi.

Công viên Đá Láng Chổi là bề mặt thềm biển cao 70 – 80 m hơi nghiêng thoải từ tây sang đông (về phía biển). Các diện tích bằng phẳng có lớp cỏ mỏng và những loài cây phát triển trong điều kiện khô hạn (thấp, lá nhỏ, nhiều gai). Nhô trên mặt bằng là các dải đá, các gò đá, cột đá cao từ 1,0 – 2,0 m đến 5,0 – 7,0 m (Hình 8). Các khối đá đổ trên mặt bằng nằm chen với thực vật, vách thềm xuống mặt biển rất dốc, lộ toàn đá khối (Hình 9).

Trên mặt một số khối đá quan sát được hiện tượng phong hóa bóc vỏ (Hình 10) và các dạng địa hình tafoni (Hình 11).

Hình 8. Các dải đá, cột đá, đá chồng nhô trên mặt bằng (bãi biển cổ). Ảnh: Nguyễn Trường Ngân
Hình 9. Vách thềm biển dốc lộ toàn các khối tảng đá granit
Hình 10. Phong hóa bóc vỏ (bóc vỏ củ hành) trên đá granit
Hình 11. Tafoni do phong hóa muối trên đá granit tại Công viên đá Láng Chổi

Các khối đá chồng phân bố rải rác trong Công viên Đá và trên bề mặt thềm biển cao 80 m, điển hình là khối đá dạng cầu, đường kính khoảng 5 m (Hình 12).

Các hệ thống khe nứt và quá trình phong hóa bóc mòn là yếu tố chính trong việc hình thành khối đá chồng. Hệ khe nứt trực giao cắt nền đá granit thành các khối tảng to nhỏ, quá trình phong hóa và vận động nâng từ từ của mặt đất đã phá hủy các khối đá, mang đi các vật chất vụn bở, chỉ còn các khối lõi đá ở trạng thái cân bằng nhất tồn tại. Hình 13 là phác thảo của Geikie về các giai đoạn hình thành khối đá chồng.

Hình 12. Khối đá chồng dạng cầu có đường kính khoảng 5,0 m trên đường vào Công viên Đá. Có thể thấy các mặt khe nứt trực giao vẫn còn khá rõ trên khối đá này. Ảnh: Nguyễn Hoài Phương Duy.

Hình 13. Phác thảo thể hiện các giai đoạn hình thành đá chồng của Geikie; hình (a): (i) đá granit gốc, (ii) lõi đá trong vụn sét phong hóa, (iii) thổ nhưỡng; hình b: (i) nước thấm xuống theo hệ khe nứt, (ii) đá granit phong hóa với các lõi đá còn lại, (iii) xói mòn mang đi các vụn, sét, để lại các lõi đá. Nguồn [25]
Các mảnh thềm đá vôi san hô ven bờ biển

Từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, các mảnh thềm cấu tạo bởi cát kết vôi san hô và rạn san hô (gọi chung là đá vôi san hô) phân bố rải rác nhô trên mặt biển khi thủy triều xuống thấp. Tại một số nơi, người dân đã khai thác đá vôi san hô làm vật liệu xây dựng.

Tại Hang Rái, mảnh thềm đá vôi san hô phân bố ven theo bờ đá granite phương đông bắc –tây nam khoảng 100 m, nơi rộng nhất khoảng 40 m (Hình 14). Bề mặt thềm cao khoảng 5,0 m so với mặt biển (triều xuống thấp). Mặt thềm khá bằng phẳng, quá trình xâm thực rửa trôi đã hình thành bề mặt đá tai mèo lởm chởm, trên mặt thềm còn có những hố tròn (hố nồi), hố hình trái tim gây sự tò mò và là những câu hỏi đối với du khách (Hình 15). Chân vách thềm có hõm gặm mòn dạng hàm ếch. Hõm gặm mòn làm cho mặt thềm yếu dần và dẫn đến sự sập đổ.

Hình 14: Mảnh thềm đá rạn san hô tại Hang Rái là một trong những điểm thăm quan, thưởng ngoạn của du khách
Hình 15. Đá tai mèo và các hố nồi (vi địa hình) trên mặt thềm san hô. Các dạng vi địa hình này đang bị các bàn chân của du khách hủy hoại

Dọc bờ biển Mỹ Hòa – Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô dài tới 10 km từ  mũi Thị đến hòn Chồng. Thềm bị sóng phá hủy mạnh tạo thành bãi ngầm (chỉ lộ ra khi thủy triều xuống thấp) (Hình 16).

Hình 16. Bãi san hô ngầm tại Mỹ Hòa

Tại Mỹ Tân, thềm đá vôi san hô khá giống ở Hang Rái. Các mảnh thềm sót có diện tích nhỏ, cao hơn mặt biển khoảng 4,0 m (Hình 17); phía trong bờ bề mặt bị phủ bởi lớp cát màu xám vàng. Chân khối có hõm gặm mòn và mặt thềm cũng đang bị sóng phá hủy.

Hình 17. Mảnh thềm đá vôi san hô tại Mỹ Tân

Hòn Đỏ là một mũi nhỏ nhô ra biển, được cấu tạo bởi cát kết vôi, cao khoảng 3-4 m. Chân khối cũng có hàm ếch gặm mòn sâu 1,0 m. Phủ trên cát kết vôi là cát màu đỏ nhạt (Hình 18), đó cũng là lí do mà địa danh này mang tên hòn Đỏ. Khu vực hòn Đỏ hiện là nơi bảo tồn rạn san hô của tỉnh Ninh Thuận.

Hình 18. Cát đỏ nhạt phủ trên cát kết vôi bị đang bị sóng phá hủy

Tại Khánh Nhơn, các khối đá vôi san hô lộ thành những diện tích nhỏ nhô cao trên mặt nước biển khoảng 1,5 – 2,0.

Hình 19. Mảnh thềm cát kết san hô tại Khánh Nhơn

Cho đến nay, chỉ thấy thông báo của Henri Fon Taine về thể địa chất này [2]. Theo thông báo này, đây là đá cát kết vôi (chứa vụn san hô, sò ốc, foraminifera) phân bố rải rác từ Tuy Phong đến Phan Rang tạo thành thềm cao 15 – 19 m. Dựa vào quan hệ địa chất, ông xếp đá cát kết vôi hình thành trong giai đoạn gian băng Mindel –Riss (Cách ngày nay 430.000 – 240.000 năm); cát đỏ trẻ hơn, hình thành trong giai đoạn gian băng Riss – Wurn (Cách ngày nay 180.000 – 120.000 năm).

Dựa vào không gian phân bố, độ cao các mảnh thềm đá vôi san hô từ Hang Rái đến Khánh Nhơn, chúng tôi giả thiết rằng đã từng tồn tại rạn san hô riềm (fringing reef) bám theo bờ đá granit ? trong giai đoạn biển tiến Flandrian?.

Thay lời kết

Hầu hết các điểm đến của du khách dọc ven bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa đều gắn với các thuật từ của khoa học địa mạo về các dạng địa hình như Vịnh Vĩnh Hy, Hang Rái, thềm san hô hay một quá trình địa chất như phong hóa bóc vỏ hành, đá tai mèo, tổ ong…Diễn giải sự hình thành các dạng địa hình sẽ hấp dẫn du khách hơn nữa (như giải thích sự hình thành các khối đá chồng chẳng hạn) khi họ đến thăm quan các điểm đến này.

Khi hiểu rõ đặc điểm của từng dạng địa hình, việc khai thác các giá trị (khoa học, sinh thái, thẩm mỹ, lịch sử/văn hóa…) cũng như bảo tồn chúng sẽ thực sự hiệu quả. Có thể lấy ví dụ cho trường hợp Hang Rái:

– Đó là sự hình thành vách biển, mô hình đá chồng, đá rơi chân vách (tạo Hang Rái); hay thềm đá vôi san hô có bề mặt hình thành dạng địa hình tai mèo (thường xuất hiện trên đá vôi), các hố hình tròn hoặc trái tim xen giữa tai mèo, hay hõm gặm mòn chân vách thềm do hoạt động của sinh vật và sóng biển.

– Hiểu được quá trình hình thành vách biển sẽ bố trí những tuyến thăm quan, những điểm nhìn an toàn cho du khách (tránh được những rủi ro vì đá có thể rơi bất cứ lúc nào), nghiêm cấm du khách leo trèo trên các khối đá, vách đá chênh vênh.

– Hiểu được giá trị các dạng địa hình sẽ giúp việc bảo tồn tốt hơn như: trên mặt thềm san hô cần tạo một lối đi cho du khách để duy trì lâu dài dạng vi địa hình đá tai mèo, hố nồi, hố trái tim…

Một dải bờ biển có sự đa dạng các yếu tố địa chất địa mạo, rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế, phổ biến khoa học gắn liền với công tác bảo tồn. Vì vậy, những nghiên cứu sâu, chi tiết nên được triển khai.

Lời cảm ơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Vườn Quốc Gia Núi Chúa đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyến thực tập của sinh viên ngành Khoa học môi trường vừa qua; cảm ơn anh Hoàng Công Thành, anh Cao Thành Ngon, chị Nguyễn Thị Nhụ (công tác tại TT. Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường, Vườn Quốc gia Núi Chúa) đã giúp đoàn thực tập về kế hoạch học tập, nơi ăn ở và trực tiếp giảng bài cho sinh viên tại thực địa.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Xuân Bao và nnk. Bản đồ địa chất khoáng sản tờ tỷ lệ 1:200000 tờ Đà Lạt-Cam Ranh (C-49-I & C-49-II) do Cục Địa Chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản năm 1999.

[2]. Henri Fon Taine. Nhận xét về các thành tạo duyên hải Đệ tứ ở Nam Trung Bộ. Arch Geol Vietnam. No 15, 1972 (bản dịch của Nguyễn Anh Tuấn).

[3]. C.R. Twidale and J. R. Vidal-Romani. Landforms and Geology of Grani te T errains. DOI: 10.13140/RG.2.1.1595.6722.

 

 

 

 

 

← Quay lại

Cảm ơn vì phản hồi của bạn. ✨

Một số hình ảnh đợt thực tập Môi trường Đại cương năm 2018

Năm nay ngành Khoa học môi trường khóa 16 (KMT_16) có 109 sinh viên nên việc học tập, đi lại và ăn ở tại các cơ sở lưu trú khá thuận lợi. Công việc tập huấn trước khi đi thực địa ngoài chuyên môn, tập trung nhiều về nội qui, trang bị cá nhân và thái độ học tập…Việc nhắc nhở và kiểm tra tài liệu, nhật ký sinh viên của các thày cô phụ trách nhóm thường xuyên nên hy vọng kết quả học tập năm nay sẽ tốt hơn vài năm trước.

Lộ trình và điểm học tập năm nay có vài thay đổi so với trước đây, xuống chân đèo Khánh Lê học tập và giải trí tại điểm Ngã ba suối Sơn Thái thay cho điểm Bến Lội, học tập và thăm quan tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa Ninh Thuận thay cho Khu bảo tồn Hòn Mun (trước đây) và Đầm Môn (năm ngoái).

Điểm Ngã ba suối Sơn Thái và các điểm thuộc Vườn Quốc Gia Núi Chúa như Vịnh Vĩnh Hy, Trung tâm Giáo dục MT, Hang Rái – Thềm san hô cổ, Công viên Đá thật bổ ích, lý thú và ấn tượng.

Dưới đây là hình ảnh học tập tại một số điểm khảo sát trong đợt thực tập từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 7 năm 2018.

Nghe giảng Môi trường và Tài nguyên nước tại Chân đồi tượng đài Bắc cầu La Ngà
Khảo sát phẫu diện đất và mặt cắt vỏ phong hóa trên đá bazan cổ tại mỏ bauxite Bảo Lộc
Tìm hiểu cảnh quan thung lũng sông Đa Nhim và tác động môi trường của đập thủy điện Đại Ninh
Bắt đầu leo núi Langbiang (đỉnh Rada)
Nghe giảng trên đỉnh Rada
Chuẩn bị quan trắc nước Hồ Xuân Hương bằng bộ TEST KIT
Nghe giảng tại Công ty Cổ phần Cấp nước Sài Gòn Dankia
Nghe giảng về điệu kiện môi trường và kỹ thuật nuôi cá tầm, cá hồi tại TTNC cá nước lạnh Tây Nguyên
Tại bãi bồi Ngã ba suối Sơn Thái (chân đèo Khánh Lê)
Nghe giảng đặc điểm địa chất, địa mạo môi trường tại Ngã ba suối Sơn Thái
Trên tàu đáy kinh đi ngắm san hô tại vịnh Vĩnh Hy
Nghe giảng về đa dạng sinh học tại TT Giáo dục MT, Vườn QG Núi Chúa
Tìm hiểu công tác bảo tồn rùa tại khu vực Hang Rái, vườn QG Núi Chúa
Trên thềm san hô cổ khu vực Hang Rái, Vườn QG Núi Chúa
Thăm quan và thưởng thức tại vườn nho Ngọc Nga, Thái An.
Qua hệ sinh thái rừng khô hạn Vườn QG Núi Chúa ra Công viên Đá
Tại Công viên đá Vườn QG Núi Chúa

H & H

 

 

← Quay lại

Cảm ơn vì phản hồi của bạn. ✨

Nửa ngày khảo sát xói lở bờ biển Dương Tơ đảo Phú Quốc

Ngày 10 tháng 6, Lê Hoài Nam rủ đi xem xét hiện tượng xói lở bờ biển đảo Phú Quốc theo lời mời của Sở TN và MT tỉnh Kiên Giang. 7: 30 ngày 12, hai thày trò rời sân bay Tân Sơn Nhất trên chuyến bay VN1823; khoảng 8: 30 đã có mặt tại thị trấn Dương Đông. Ngồi quán cà phê 63 Trần Hưng Đạo để Nam liên hệ công việc với cán bộ Sở TN và MT. Chờ đến 10:30, sốt ruột quá, thuê xe đi khảo sát một đoạn bờ biển Dương Tơ, phía tây sân bay Phú Quốc.

Sóng biển xâm thực tạo vách tại điểm PQ_98. Hàng dừa cao mới trồng cùng với vài cây dương cách đường mép nước khoảng 20 m
Cây dương đơn độc lộ rễ cho biết bờ biển bị xói lở

Cơm trưa xong, 14:00 xe của Công ty Cổ phần 99 Núi chở đến bờ biển Dự án Sunset Sanato để khảo sát hiện tượng xói lở bờ biển mà công ty đã báo cho Sở Tài Nguyên và Môi Trường. Ông Đoàn Thành Luân trưởng dự án cho biết bờ biển đang bị xói. Xói lở được phát hiện sau khi công ty làm cầu tạm và nhận thấy sóng biển đã „ngoạn” đi một đoạn bờ biển rộng gần 4,0 m trong khoảng 2 tháng.

Một đoạn bờ biển dài tại Dự Án Sunset Sanato (PQ_99) đang bị sóng biển „tấn công”
Trong hai tháng, bờ bị xói gần 4,0 m (tính từ điểm người đứng mặc áo xanh). Cầu tạm chính là „mốc quan trắc” báo cho Công ty 99 biết bờ biển đang bị xói
Sóng mạnh được cảnh báo du khách không được tắm biển

Xe Công ty 99 đưa nhóm khảo sát thêm một điểm nữa tại bờ biển Dự Án Bim (PQ_100). Bãi biển ở đây đang được cải tạo, những cây dừa cao mới trồng cách đường mép nước khoảng 20 m. Cát mịn trắng từ giồng cát cổ được lấy đổ ra bãi biển để trang trí. Một „cầu tầu” dài khoảng 100 m vuông góc với bờ biển giống như mỏ hàn đã xuất hiện.

Tại (PQ_100), dừa cũng được trồng không xa đường mép nước, cây dương lẻ loi với phần gốc đã được “kè tạm” bởi các khối đá cát kết
Đã xuất hiện một „cầu tàu” giống như một mỏ hàn tại PQ_100. Tại đây cát trắng mịn (khai thác từ giồng cát cổ) được trải trên bãi biển cát nâu vàng

Bãi biển Dương Tơ, thuộc tế bào bờ biển Dương Tơ, là tế bào có tốc độ xói lở lớn nhất bờ Tây đảo Phú Quốc. Xói lở xảy ra mạnh vào mùa gió tây nam (từ tháng 5 đến tháng 10). Việc Công ty 99 Núi nhận ra hiện tượng xói lở bờ biển sau khi làm cầu tạm như là một lời nhắc nhở về một tai biến địa chất đang diễn ra.

Bãi biển Dương Tơ hoang sơ với con đường đất đỏ mộng mơ ngày nào chạy giữa biển xanh và giồng cát trắng nay không còn nữa; thay vào đó là những công trình bê tông lớn nhỏ, cao thấp đang dần lấp kín. Nhưng hãy lưu ý rằng, những con sóng biển đang ngày đêm cặm cụi cào đi từng hạt cát. Để các công trình này tồn tại lâu dài, những giải pháp chống xói lở cần sớm được thực hiện.

H & H

Báo cáo của Mỹ về dự án đập Sambor ở Campuchia bị giấu nhẹm?

TTO – Đánh giá tác động môi trường của dự án thủy điện Sambor do Trung Quốc chống lưng tại Campuchia cho thấy con đập lớn nhất nước này sẽ giết chết sông Mekong theo đúng nghĩa đen.

Đập Hạ Sesan 2 ở Campuchia khi còn trong quá trình xây dựng. Đập này hiện đã vận hành – Ảnh: GUARDIAN

Theo báo Guardian của Anh, tác động khủng khiếp trên được cảnh báo trong một báo cáo mật do Chính phủ Campuchia thuê tư vấn thực hiện.

Phnom Penh đã được bàn giao toàn bộ tài liệu nghiên cứu 3 năm từ Viện Di sản quốc gia – một tổ chức nghiên cứu và tư vấn của Mỹ hồi năm ngoái, nhưng vì lý do nào đó đến nay chưa công bố dù nhiều tổ chức dân sự đã lên tiếng kêu gọi.

Theo những tài liệu tờ báo Anh tiếp cận được, các chuyên gia Mỹ nhận định dự án Sambor ở tỉnh Kratie thuộc Campuchia là một vị trí “tồi tệ nhất để xây thủy điện” vì tác động của nó đối với môi trường hoang dã quá lớn.

Đập Sambor sẽ chặn luồng cá từ hồ Tonle Sap (Biển Hồ), một chi lưu quan trọng của sông Mekong, trong khi dòng sông này đảm bảo an ninh lương thực cho khoảng 60 triệu người Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam.

Việc Phnom Penh “ém” báo cáo làm dấy lên lo ngại Campuchia vẫn sẽ tiến hành xây đập Sambor mặc cho dự báo ảm đạm đối với số phận loài cá heo nước ngọt sông Mekong và một trong những luồng di cư cá nước ngọt lớn nhất thế giới.

Để hoàn thành dự án thủy điện này, người Trung Quốc đề xuất xây một con đập bê tông rộng đến 18km, cao 33m chắn ngang sông Mekong đoạn chảy qua tỉnh Kratie để tạo thành một hồ chứa nước khổng lồ dài 82km.

“Bên cạnh mối đe dọa đối với cá heo Irrawaddy và nghề cá, sinh kế và dinh dưỡng của các cộng đồng nông thôn sẽ bị ảnh hưởng, đẩy nhanh hơn tình trạng sụt lún tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt nam” – ông Marc Goichot, chuyên gia về nguồn nước của tổ chức WWF, nhận định về đập Sambor.

An ninh lương thực của 60 triệu người sống dọc sông Mekong bị đập Sambor đe dọa – Ảnh: GUARDIAN

Trong phần kết luận, báo cáo của Mỹ viết: “Một con đập tại vị trí này có thể giết chết dòng sông, trừ khi được định vị lại, thiết kế và vận hành một cách bền vững. Sambor là vị trí tồi tệ nhất để xây một đập nước lớn”.

Tờ Guardian dẫn lời Thứ trưởng Bộ Năng lượng Campuchia Ith Praing: “Đây là một vấn đề nhạy cảm và còn quá sớm để công bố thông tin về dự án Sambor”.

Ông Praing cho biết sẽ không có quyết định nào được đưa ra trước cuộc bầu cử tháng 7 tới. Nếu dự được thông qua, nhà thầu Trung Quốc Hydrolancang International Energy Company có khả năng được chọn thực hiện dự án Sambor.

Hãy cùng nhau đoàn kết, hợp tác, hành động để sông Mekong mãi là dòng chảy của hòa bình, là kết nối sinh tồn bền vững, thịnh vượng đến muôn đời của các quốc gia, người dân trong khu vực”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3

Tại Hội nghị cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) lần thứ 3 tổ chức tại Campuchia với chủ đề “Một Mekong, một tinh thần chung” vào đầu tháng 4 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng hiện nay, lưu vực sông Mekong phải đối mặt với những thách thức lớn với hậu quả là nguồn tài nguyên nước Mekong đang bị suy kiệt cả về số lượng và chất lượng, lượng phù sa và chất dinh dưỡng bị suy giảm, hệ sinh thái và môi trường bị suy thoái nghiêm trọng.

Các dấu hiệu tiêu cực đó thể hiện rõ rệt và trầm trọng hơn ở các quốc gia hạ lưu Mekong, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đang thường xuyên phải đối mặt với các đợt hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông bờ biển và sụt lún đất… đe dọa sinh kế của hơn 20 triệu người dân.

“Cần phải có những hành động thiết thực, kịp thời để Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa, vựa cá của cả khu vực trong hàng trăm năm qua tiếp tục phát triển và là nguồn cung gạo lớn cho bảo đảm an ninh lương thực khu vực”, Thủ tướng nhấn mạnh và đề nghị Ủy hội MRC tập trung cho sử dụng công bằng, hợp lý và bền vững tài nguyên nước Mekong và các tài nguyên liên quan.

PHÚC LONG

Nguồn: https://tuoitre.vn/bao-cao-cua-my-ve-du-an-dap-sambor-o-campuchia-bi-giau-nhem-20180517142846061.htm

Cái chết của biển Aral

Biển Aral, nằm giữa Kazakhstan và Uzbekistan, trước đây là một phần của Liên bang nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết, là một điểm du lịch thịnh vượng trong năm 1960. Việc làm trệch dòng sông để lấy nước phục vụ nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển Aral chỉ trong 30 năm. Giờ đây, biển đã chết với sự bao quanh bởi hàng ngàn km2 muối, và sự biến đổi này đã phá hủy vĩnh viễn nền tảng kinh tế của khu vực.

Năm 1960, diện tích biển Aral vào khoảng 67.000 km2. Sự chuyển hướng chảy hai sông chính dẫn vào biển đã làm giảm độ cao bề mặt hơn 20 m và mất khoảng 28.000 km2 diện tích bề mặt (hình 1.B). Các thị trấn đã từng là những trung tâm hải sản nay đã lùi sâu vào nội địa khoảng 30 km. Mất đi tác động điều tiết của biển đối với thời tiết đang làm biến đổi khí hậu khu vực; ngày nay mùa đông lạnh hơn và mùa hè ấm hơn. Gió bão mang theo bụi, cát mặn và lan tỏa trên diện rộng, làm hư hại đất và ô nhiễm không khí.

Bài học học được từ biển Aral là sự hủy hoại môi trường có thể dẫn đến sự biến đổi khu vực nhanh chóng. Các nhà môi trường, bao gồm các nhà địa chất học, lo lắng rằng những gì mà con người đã làm cho vùng Aral là triệu chứng của những gì mà chúng ta đang thực hiện trên nhiều khía cạch có quy mô toàn cầu.

Hiện nay một dự án khôi phục đầy tham vọng đang được tiến hành để cứu phần phía bắc, phần hồ nhỏ hơn. Một con đập thấp dài 13 km dài đã được xây dựng ngang hồ ngay phía nam nơi sông Syr Darya chảy vào hồ (xem hình 1.B). Với việc bảo tồn nước của dòng sông, lượng nước nhiều hơn đang chảy vào hồ và đập giữ nước ở phía bắc của lòng hồ. Mực nước đang gia tăng, và một số hoạt động đánh bắt cá đã trở lại. Đây là một dấu hiệu đầy hứa hẹn, nhưng cần phải làm nhiều hơn nữa.

Hình 1. Biển chết (a) Biển Aral là biển chết, được bao quanh bởi diện tích hàng ngàn km vuông muối. (b) Sự làm chệch dòng chảy lấy nước cho nông nghiệp gần như đã loại bỏ biển này. Hai con tàu trong ảnh bị mắc cạn trên bãi biển rộng lớn đầy muối do sự bốc hơi của nước biển Aral.

H & H

Nguồn: Edward A. Keller. Introduction to Environmental Geology. University of California, Santa Barbara. Fifth Edition.