Geo-workshop: Địa di sản và các khái niệm liên quan 

Ngày 29/9/2024 vừa qua, nhóm nghiên cứu Địa môi trường cùng các bạn cộng tác viên đã tổ chức thành công buổi workshop mang tên “Geo-workshop: Địa di sản và các khái niệm liên quan” với slogan: Understanding the Earth, Conserving the Life (Tạm dịch: Hiểu biết về Trái Đất, Gìn giữ được sự sống”. Đây là hoạt động nằm trong dự án Phổ biến kiến thức địa di sản cho cộng đồng mà nhóm đang nghiên cứu và thực hiện cũng như chào mừng ngày quốc tế Đa dạng địa học 6 tháng 10 (International Geodiversity Day) sắp tới đây. 

Thông qua các khảo sát và tuyên truyền trước đó, buổi workshop đã diễn ra với sự tham gia của 12 bạn học sinh trung học phổ thông đến từ các trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như: THPT chuyên Lê Hồng Phong, Phổ thông Năng Khiếu, THPT Bùi Thị Xuân, THPT Lương Thế Vinh, THPT Trần Khai Nguyên. Các bạn đã được tham gia trò chơi và được nghe giảng về các khái niệm địa di sản (Geoheritage), đa dạng địa học (Geodiversity), công viên địa chất (Geopark) và địa du lịch (Geotourism). 

Kết quả đạt được thông qua khảo sát cuối giờ cho thấy hầu hết các bạn đều hài lòng khi biết thêm các kiến thức mới, biết được thêm các công viên địa chất toàn cầu tại Việt Nam. Từ đó, các bạn cũng bày tỏ mong muốn giữ gìn và bảo tồn địa di sản nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung. 

Kết thúc buổi workshop, tất cả các bạn học sinh đều rất hào hứng và thích được tham gia thêm nhiều buổi workshop tương tự trong tương lai. Đây chính là nguồn động lực lớn lao cho nhóm nghiên cứu tiếp tục phát triển những ý tưởng mới hơn trong dự án Phổ biến kiến thức địa di sản cho cộng đồng. 

Nhân đây, nhóm nghiên cứu gửi lời cảm ơn đến Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM cùng các bạn cộng tác viên và các bạn học sinh trung học phổ thông đã hỗ trợ và tham gia nhiệt tình trong buổi workshop này. 

Dưới đây là một số hình ảnh của Geo-workshop: 

Trò chơi đầu giờ
Cùng nhau tìm hiểu về địa du lịch
Ban tổ chức chương trình (Nhóm nghiên cứu địa môi trường và các cộng tác viên)
Mừng ngày Quốc tế Đa dạng địa học 06/10/2024

Quế Nam.

Kỷ niệm 20 năm thành lập Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO

Vào năm 2001, một số Công viên địa chất (CVĐC) quốc gia ra đời và bắt đầu hợp tác với UNESCO trong công cuộc bảo tồn các giá trị địa học. Và sau đó, năm 2004, 17 công viên địa chất châu Âu và 8 công viên địa chất Trung Quốc đã cùng nhau đến trụ sở UNESCO ở Paris để thành lập Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu (GGN). Mạng lưới hợp tác toàn cầu giữa các Công viên địa chất trên toàn thế giới ra đời nhằm thúc đẩy ba mục tiêu chính là 1) bảo tồn di sản địa chất và hành tinh Trái đất, 2) giáo dục cộng đồng về Khoa học Trái đất và 3) thúc đẩy sự phát triển bền vững của địa phương. Là thành viên Mạng lưới CVĐC toàn cầu của UNESCO, các CVĐC có thể quảng bá, bảo tồn các di sản quốc gia và hưởng được nhiều lợi ích qua sự trao đổi và hợp tác toàn cầu trong mạng lưới.

Cho đến tháng 04/2024, GGN đã phát triển được 213 Công viên địa chất ở 48 quốc gia. CVĐC toàn cầu UNESCO đã trở thành một công cụ ngày càng quan trọng để UNESCO thu hút các Quốc gia Thành viên và cộng đồng của họ tham gia vào Khoa học Trái đất và bảo tồn địa di sản.

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu ra mắt một logo đặc biệt.

Vào ngày 22/4/2024, Ngày Trái Đất, GGN đã công bố các cuộc thi hướng đến dịp kỷ niệm đặc biệt này, với chủ đề “Công viên địa chất và bạn”, các cuộc thi xoay quanh sự cảm nhận, và tình yêu của bạn dành cho CVĐCTC – dù bạn sống trong CVĐCTC hay không, bạn tìm thấy một sợi dây liên kết nào đó giữa mình với CVĐC, hãy tham gia cùng 20 năm GGN và các CVĐC toàn cầu UNESCO tại Việt Nam.

  1. Hành trình trải nghiệm Trực quan Trái đất (The Earth Visual Odyssey) dành cho tất cả các nhiếp ảnh gia trên toàn thế giới, không phân biệt tuổi tác.
  2. Câu chuyện của đá (The Stone’s Stories) Dành cho tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác.
  3. 5 Giác quan về Công viên Địa chất của bạn (The 5 Senses of Your Geopark) dành cho các bạn trẻ từ 12-18 tuổi

Để biết thêm thông tin các cuộc thi và đăng ký, xin truy cập https://ggn20anniversary.com/vi

Bên cạnh đó, trong khuôn khổ chào mừng 20 năm GGN, Ngày 10-15/9/2024: Hội nghị chuyên đề Mạng lưới Công viên địa chất Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 8 sẽ được tổ chức tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng, Việt Nam  với chủ đề: “Người dân bản địa và dân tộc thiểu số với sự phát triển bền vững trong vùng Công viên địa chất”. Hội nghị bao gồm các phiên họp chuyên đề với các chủ đề đa dạng, từ giá trị di sản địa chất, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể tới các hoạt động của Công viên địa chất toàn cầu gắn với các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc theo chương trình nghị sự 2030, các hoạt động giáo dục về Công viên địa chất, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu…, các hoạt động trưng bày, gian hàng quảng bá Công viên địa chất.

Chủ đề các phiên hội thảo chuyên đề:

  • Tri thức bản địa và sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển CVĐC
  • Giảm nhẹ rủi ro thiên tai, tai biến địa chất và thích ứng với BĐKH
  • Điều tra, đánh giá, bảo tồn và phát huy bền vững giá trị các loại hình di sản
  • CVĐC với các mục tiêu phát triển bền vững
  • Tuyên truyền, quảng bá, giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng ở CVĐC
  • Khó khăn, thách thức ở các khu vực muốn trở thành CVĐC

Thông tin chi tiết tại https://www.apgn2024.vn/vi

#UNESCOGlobalGeoparks, #GlobalGeoparksNetwork, #20thanniversaryggn

Vì sao Đa dạng địa học lại quan trọng?

Vào ngày 06/10/2023, Ngày Quốc tế Đa dạng địa học sẽ được tổ chức lần thứ hai trên thế giới với chủ đề là ” Đa dạng địa học dành cho mọi người”. Chủ đề năm nay phản ánh rằng đa dạng địa học ở xung quanh chúng ta và ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả mọi người dù họ ở đâu trên thế giới. Đây cũng là cơ hội để thúc đẩy sự tham gia rộng rãi hơn vào giáo dục và nghề nghiệp khoa học địa chất. Trong bài viết dưới đây, mời các độc giả cùng Địa môi trường lý giải xem vì sao đa dạng địa học lại quan trọng đối với Trái đất và với chúng ta như vậy. Bài viết được lược dịch từ Website của geodiversity.org.

  1. Điều hòa các quá trình tự nhiên: Đá và các quá trình địa chất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hòa. Ví dụ như, dòng chảy của một con sông được điều hòa bởi mực nước dưới đất, vì thế mùa kiệt sông vẫn có thể chảy. Đá và trầm tích cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạch nước mặt trước khi vào tầng ngậm nước.

2. Hình thành đất và nông nghiệp: Phong hóa đá là quá trình cơ bản hình thành đất, nền tảng của nông nghiệp, ngành nghề cung cấp cho con người nguồn lương thực, thực phẩm. Cụ thể, đối với một số quốc gia đang phát triển ở châu Phi và những lục địa khác, nâng cao chất lượng môi trường đất và nước, giảm thiểu xói mòn đất  là vô cùng quan trọng và cần thiết.

3. Sự sống trên Trái Đất: Đa dạng địa học là nền móng cho đa dạng sinh học.

4. Sự phát triển kinh tế – xã hội: Loài người cũng dựa vào sự đa dạng về tài nguyên địa chất. Họ đã biết sử dụng tài nguyên khoáng sản từ thuở sơ khai, và bây giờ chúng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội hiện đại ngày nay. Nếu sử dụng một cách bền vững, nguồn khoáng sản dồi dào tạo nên sự thịnh vượng, phát đạt, môi trường tự nhiên xã hội đầy sức sống và hòa bình.

Ngoài ra, vấn đề phát triển các siêu đô thị về số lượng và quy mô tạo ra thách thức khổng lồ. Sự ứng dụng kiến thức địa học để xây dựng, hỗ trợ công trình kiến trúc cho cơ sở hạ tầng ở mọi kích cỡ: đập, đường xá, đường hầm, tòa nhà, đường băng, bến cảng, đường ống dẫn dầu.

5. Quản lý và ngăn chặn thiên tai: Kiến thức khoa học về các quá trình địa chất địa mạo xảy ra trong tự nhiên vô cùng quan trọng trong việc ngăn chặn thiên tai với con người (động đất, sống thần, núi lửa, lũ lụt, trượt đất) và để hỗ trợ đưa ra các quyết định thông minh về quy hoạch đất đai và quản lý không gian.

6. Dự báo và thích nghi: Khoa học dựa vào đa dạng địa học góp phần hiểu biết về biến đổi khí hậu trong quá khứ. Kiến thức này có thể ứng dụng để hiểu hơn cách khí hậu có thể biến đổi trong tương lai, cho phép con người thích nghi hiệu quả hơn.

7. Lợi ích kinh tế: Đa dạng địa học đặc trưng bởi những cảnh quan tuyệt đẹp như núi, hang động, bờ biển, … phục vụ cho địa du lịch. Điều này tạo ra tiềm năng lợi ích kinh tế và dân địa phương.

8. Giáo dục và thách thức tương lai: Đa dạng địa học hiện diện đầy đủ như một phòng thí nghiệm ngoài trời, cũng là nơi minh họa cho sách giáo khoa, truyền đạt cho các thế hệ sau về lịch sử Trái Đất, làm thế nào để sử dụng bền vững nguồn tài nguyên Trái Đất và cách thức  khoa học cần phải làm để vượt qua những thách thức trong tương lai.

Như vậy, có thể kết luận rằng, đa dạng địa học là nền tảng của cộng đồng, là phần nội tại trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên.

Hãy cùng Địa Môi trường lan tỏa khái niệm này đến mọi người xung quanh bạn nhé.

Let’s Celebrate International Geodiversity Day!

Quế Nam – Phương Chi

Hội thảo khoa học Địa chất Đệ tứ Việt Nam Kết quả nghiên cứu cơ bản và định hướng ứng dụng

Ngày 14/07/2023, Hội thảo khoa học Địa chất Đệ tứ Việt Nam, Kết quả nghiên cứu cơ bản và định hướng ứng dụng đã được tổ chức tại Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam dưới sự phối hợp tổ chức của ba đơn vị và Hội Đệ Tứ – Địa mạo Việt Nam, Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam và Phân viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản phía Nam.

Phần 1- Phát biểu khai mạc, chào mừng Hội thảo. Giới thiệu chương trình, mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu Đệ tứ trong giai đoạn mới ở đồng bằng Nam Bộ

Phần 2- Các báo cáo Khoa học tại hội thảo. Tại hội thảo 6 bài báo cáo tham luận của các nhà Khoa học đã được trình bày.

  1. Một số ứng dụng từ cuốn sách “ Địa chất Đệ tứ Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Tâm, 2022 – Trình bày: KS. Nguyễn Đức Tâm
    • Địa chất Đệ tứ Việt Nam là 01 cuốn sách lớn, hệ thống hoá kết quả nghiên cứu hơn nửa thế kỷ về địa chất Đệ tứ ở Việt nam và của chính tác giả . Nội dung vừa có tính khái quát, vừa có những điểm nhấn, cụ thể, chi tiết hoá; có phần ứng dụng và định hướng ứng dụng, đề xuất nghiên cứu tiếp. Khái quát thể hiện ở bản đồ Địa chất Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000, thang địa tầng và các mặt cắt trầm tích Đệ tứ và các mô tả với rất nhiều ảnh chụp minh hoạ kèm theo ở các đồng bằng và dải đồng bằng lớn. Chi tiết và đặc biệt chi tiết khi xác định, liên hệ các tầng trầm tích, các bậc thềm biển, các di chỉ khảo cổ học với nhau và với các đợt biển tiến Yên Mô tuổi Pleistocen giữa; biển tiến Cát Lâm, Bỉm Sơn, Vĩnh Phúc tuổi Pleistocen muộn; biển tiến Đống Đa, biển lấn Quảng Xương, biển tiến hiện đại tuổi Holocen. Nhiểu vấn đề ứng dụng liên quan với kết quả nghiên cứu tài nguyên, môi trường, văn hoá – lịch sử cũng có trong cuốn sách.
    • Nội dung cuốn sách rất phong phú nhưng trong khuôn khổ Hội thảo, Tác giả tập trung giới thiệu 05 ứng dụng liên quan với cuốn sách của mình: 1)- Tài liệu trầm tích Đệ tứ Việt nam và ứng dụng cho Địa chất thuỷ văn, địa chất công trình, tìm kiếm khoáng sản, nghiên cứu cải tạo thổ nhưỡng; 2)-Tài liệu khảo cổ học và ứng dụng cho nghiên cứu lịch sử hình thành loài người ở Việt Nam và Đông Nam Á; 3)- Tài liệu về biến đổi khí hậu hiện đại vả ưng dụng cho qui hoạch lại sản xuất – dân cư và bảo vệ môi trường vùng miền ven biển; 4)- Về đảo cực từ trường quả đất và ứng dụng để tìm hiểu ảnh hưởng đến môi trường; 5)- Những việc cần làm.
  2. Đặc điểm các trầm tích Holocen ở đồng bằng Thừa Thiên Huế, tai biến địa chất và di sản địa chất liên quan – Trình bày: TS. Vũ Quang Lân
    • TS. Vũ Quang Lân, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Bắc, chủ biên, tác giả của nhiều đề án đo vẽ bản đồ địa chất, tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1/50.000; trong đó có các đề án ở đồng án ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng đồng bằng Thừa Thiên – Huế.
    • Báo cáo tập trung trình bày 03 vấn đề: 1)- Đặc điềm các trầm tích Holocen; 2)-Tai biến địa chất liên quan với các trầm tích Holocen; 3)- Tiềm năng di sản địa chất; du lịch địa chất; đáp ứng lịch văn hoá liên quan với các trầm tích Holocen.
  3. Giới thiệu về Geosite và Geodiversity – Trình bày: PGS.TS Hà Quang Hải
    • PGS.TS. Hà Quang Hải, nguyên là Chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp Hồ Chí Minh; cùng với KS. Ma Công Cọ đồng chủ nhiệm đề án đo vẽ địa chất, tìm kiếm khoáng Tp Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000, năm 1988; chuyên gia địa mạo – địa chất, môi trường, địa chất môi trường. PGS.TS. Hà Quang Hải là một trong số ít người đã sớm tiếp cận khái niệm Geosite và Geodiversty, đưa chúng vào nghiên cứu, phổ biến, giảng dạy ở Việt Nam, đã hướng dẫn 01 NCS bảo vệ thành công luận án TS về Geosite và Geodiversty.
    • Báo cáo khẳng định Geosite (di sản địa chất) là 01 phần của địa quyển có ý nghĩa quan trọng đặc biệt để nhận thưc về lịch sử trái đất; là 01 dạng tài nguyên địa chất có giá trị, rất có giá trị; cần quan tâm, nghiên cứu, quy hoạch, quảng bá, bảo vệ và bảo tồn, khai thác để phát triển du lịch, kinh tế – xã hội. Các khái niệm Geosite và Geodiversity (đa dạng địa học); các tiêu chí xác định chính, các giá trị bổ sung và mối quan hệ của chúng đối với nhau được trình bày rõ ràng trong báo cáo.
  4. Lựa chọn phương pháp mới trong Lập bản đồ địa chất khoáng sản tỉ lệ 1:50.000 vùng đồng bằng châu thổ Việt Nam – Trình bày: ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy
    • ThS. Nguyễn Thị Thu Thuỷ, phó phòng Kỹ thuật Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam, rất tâm huyết với việc xây dựng cơ sở dữ liệu, xử lý, chia sẻ, khai thác dữ liệu theo công nghệ tin học 4.0 và các phương pháp nghiên cứu hiện đại.
    • Báo cáo trình bày tại Hội thảo của ThS. Nguyễn Thị Thu Thuỷ, một mặt, nêu những hạn chế của các phương pháp nghiên cứu truyền thống, hạn chế của việc áp dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực địa chất hiện nay; mặt khác, nêu lên sự cần thiết, khả năng và hiệu quả, lợi ích to lớn của việc áp dụng triệt để công nghệ tin học và các phương pháp nghiên cứu hiện đại phục vụ cho việc nghiên cứu địa chất địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường đa mục tiêu.
  5. Giới thiệu giải pháp sáng chế “ Đập mở để ngăn thủy triều và giữ nước sông” – Trình bày: TS Hoàng Ngọc Kỷ
    • TS. Hoàng Ngọc Kỷ sinh năm 1936, nhà địa chất lão thành; từng là chủ biên 4 phương án đo vẽ bản đo vẽ địa chất – khoáng sản tỷ lệ 1/200.000 cụm tờ Hà Nội, Hải Phòng – Nam Định, Thanh Hoá –Vinh và Đồng bằng Nam Bộ; là một trong các tác giả của Bản đồ địa chất và Khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 – công trình được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2005. Ông đã có 03 công trình được in ấn, xuất bản: chủ biên chuyên khảo “Loess nguồn gốc gió ở Việt Nam và Đông Nam Á”; tác giả cuốn sách “Địa chất và môi trường Đệ Tứ Việt Nam; tác giả cuốn sách “An ninh Môi trường – Hiểm họa và phương pháp phòng chống”.
    • Báo cáo Giới thiệu giải pháp sáng chế “Đập mở để ngăn thuỷ triều và giữ nước sông” là 01 ý tưởng khoa học liên quan với nền móng công trình; trầm tích và quá trình địa chất, địa mạo, thuỷ văn, thuỷ triều hiện đại. Mục tiêu của giải pháp là chủ động trữ nước ngọt, hạn chế ảnh hưởng của thuỷ triều, xâm nhập mặn; phục vụ sản xuất và dân sinh trên các đồng bằng và đô thi ven biển; bảo đảm giao thông thuỷ; giảm chi phí xây dựng, vận hành, bảo trì đập. Giải pháp đã được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ KH&CN cấp bằng sáng chế độc quyền số 1901 ngày 25/4/2019; ngày 5/4/2023 đã được UBND Tp Hồ Chí Minh cho phép tổ chức nghiên cứu thử nghiệm.
    • Tác giả dự kiến chọn 01 trong 2 cửa kênh: Tham Lương hoặc Gò Công để tổ chức nghiên cứu thử nghiệm, kêu gọi các nhà khoa học chia sẻ, cùng hợp tác lập dự án và nghiên cứu.
  6. Một vài vấn đề từ các kết quả nghiên cứu trượt lở đất, đứt gãy, địa mạo thủy văn – Trình bày: TS. Vũ Văn Vĩnh.
    • TS. Vũ Văn Vĩnh, Phó chủ tịch Hội Đệ tứ – Địa mạo Việt Nam, tác giả thành phần của hơn 15 đề án điều tra nghiên cứu địa chất – khoáng sản, lập bản đồ địa mạo tỷ lệ 1/200.000, 1/50.000; địa chất đô thị tỷ lệ 1/25.000. Là chủ biên hoặc tác giả chính của nhiều đề tài nghiên cứu về môi trường địa chất, tai biến địa chất, địa mạo thuỷ văn; phân tích địa mạo phát hiện, xác định các đứt gãy, miệng núi lửa phục vụ việc tìm kiếm nước dưới đất; xác định và dự báo trượt lở đất, lún sụt đất, biến dạng nền đất.
    • Nứt trượt lở đất ở Đak Nông do 2 nguyên nhân: 1)- Nguyên nhân sâu xa là điều kiện cần cho trượt lở đất – Xung yếu về địa chất và bất ổn về địa mạo. 2)- Nguyên nhân trực tiếp là điều kiện đủ – Tác động bất thường, kích thích như do mưa lớn tập trung dài ngày; do tác động nhân sinh,…Nơi xung yếu về địa chất là nơi có các miệng nón núi lửa, có các đứt gãy, đặc biệt rõ và mạnh mẽ ở nơi chúng tập trung, nơi giao nhau của chúng. Nơi bất ổn về địa mạo là nơi xâm thực sâu hoặc xâm thực ngang cắt vào chúng, cắt chân khối trượt. Các miệng nón núi lửa được nhận dạng dựa trên thuyết hiện tại luận, bắt đầu từ các miệng nón núi lửa tuổi Holocen, Pleistocen muộn. Các đứt gãy được phát hiện, xác định bằng phân tích địa mạo đều có cơ sở địa chất, tài liệu địa chất, địa vật lý kiểm chứng.
    • Dựa theo nguyên nhân đã được xác định năm 2005 phân tích địa mạo đã phát hiện thêm nhiểu cung trượt mới và cũ; đã dự đoán nguy cơ nứt trượt lở đất cho các địa chỉ khu, tuyến, điểm cụ thể. Kết qủa dự báo năm 2005 còn được kiểm chứng là tin cậy khi nứt trượt lở đất xảy ra ở Đak Nông vào tháng 6/2006, tháng 9/2007.
    • Có thể xem nguyên nhân nứt trượt lở đất ở Đak Nông là công thức chung cho việc xác định nguyên nhân, dự báo nứt trượt lở đất ở những vùng phát triển các đá không phải là bazan, dự báo sạt lở bờ sông.
Chụp hình lưu niệm tại Hội thảo
Đến với Hội thảo, thay mặt tập thể tác giả, PGS. TS Tạ Hòa Phương (Chủ biên) và PGS.TS Đặng Văn Bào đã gửi tặng các đơn vị ấn phẩm “ Kỳ quan hang động Quảng Bình Việt Nam”.

Hội thảo sẽ là một bước quan trọng trong việc thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ kiến thức và có thể sẽ tạo ra cơ hội để các nhà khoa học lão thành, đã có tuổi và các thế hệ trẻ thuộc nhiều hướng chuyên sâu khác nhau có thể hợp tác với nhau trong giải quyết các nhiệm vụ quan trọng trong điều tra cơ bản về địa chất nói chung, địa chất Đệ tứ – địa mạo, hướng tới sử dụng bền vững các dạng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai.

Hội thảo kết thúc với một số kết luận về những gợi mở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về địa chất Đệ tứ. Trong bối cảnh hội nhập, các kỹ thuật mới không ngừng phát triển sẽ là cơ hội và cũng là thách thức cho ngành Địa chất. Một tín hiệu vui là các vấn đề liên quan đến “địa di sản” đã được trình bày và thảo luận qua hầu hết các chủ đề báo cáo và hứa hẹn sẽ là một định hướng nghiên cứu được các nhà địa chất quan tâm trong thời gian tới đây.

Phương Chi ghi từ Các kết quả của Hội thảo.

NHẬT KÝ THỰC ĐỊA KHÁM PHÁ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU ĐẮK NÔNG 

Quế Nam

Phần 2: Khám phá hang động núi lửa và cánh đồng dung nham Nâm B’lang 

Khác với những hang động Karst kỳ vĩ ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam hình thành từ hoạt động ngoại sinh, hệ thống hang động của CVĐC toàn cầu Đắk Nông được hình thành từ hoạt động nội sinh của Trái Đất – phun trào núi lửa. Hiện nay, các nhà khoa học đã phát hiện ra ít nhất 50 hang động núi lửa (lava tube), liên quan chặt chẽ đến hoạt động của núi lửa Nâm B’lang ở xã Buôn Chóah, huyện Krông Nô. Nổi bật nhất là hang C7 dài 1.217m (vừa mới được phát hiện thêm 150m) dài nhất khu vực Đông Nam Á. 

  • ĐN04, 05 – Hệ thống hang động núi lửa C3-C4, C6.1 

Trong chuyến thực địa này, các nhóm khám phá sẽ được chia nhỏ ra để lần lượt vào các hang khác nhau, tùy vào khả năng tiếp cận của hang (có hang cửa vào là hố sụt nên cần phải có thang dây leo vào) và kinh nghiệm của du khách (thể lực và biết sử dụng thiết bị SRT). Nhóm chúng tôi được xếp vào các nhóm hang dễ tiếp cận đó là: C3-C4 và C6.1 vào ngày 25 tháng 11, và C8, C9 vào ngày 26 tháng 11. 

9g sáng, chúng tôi xuống xe và  đi bộ vào rừng khoảng 3km để đến được cửa hang C3-C4. Đoàn chúng tôi được anh Tuấn từ Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản dẫn đường đến các cửa hang. 

Hang C3-C4 thông nhau và có 2 cửa riêng biệt. Hang cao 20m và rộng khoảng 15m, tổng chiều dài 903,7m. Các cửa hang hình thành do trần của ống dung nham sập xuống để lại những khối đá khổng lồ nên dễ dàng cho chúng tôi leo vào. 

Mỗi thành viên trong đoàn được trang bị 1 nón bảo hiểm và 1 đèn pin để quan sát và di chuyển trong hang. Mỗi một chi tiết bên trong hang động, trên tường hang hoặc trên trần hang đều thể hiện các dấu vết của dòng dung nham đã từng chảy qua và từ đó các nhà khoa học biết được đặc tính của dung nham. 

Hình 1. Cửa hang C3 
Hình 2. Các chuyên gia trong hang động khám phá trong hang C3

Hang C6.1: Sau bữa ăn trưa ở trại láng, chúng tôi tiếp tục khám phá hang 6.1, nơi có dấu vết của người tiền sử. 

Hang 6.1 được tìm ra vào năm 2015. Cửa hang hình thành do sập trần nhà có chiều rộng 20m và nằm ở độ sâu 7m, ngăn lối đi ở phía nam. Hang khá ngắn, trần hang có nhiều nơi yếu và hiện đang được bảo vệ nghiêm ngặt. Các ngấn dung nham dễ dàng tìm thấy ở cửa hang. Hệ sinh thái tại cửa hang rất phong phú và ấn tượng với cây môn khổng lồ. Trong hang có rất nhiều dơi nên người dân cũng từng đến đây khai thác phân dơi. Vô tình, họ tìm thấy nhiều đồ tạo tác khảo cổ như: rìu bầu dụng, mảnh gỗ và đồ gốm. Năm 2018, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đã tiến hành khai quật và phát hiện di cốt người tiền sử đầu tiên ở Tây Nguyên. 

Hình 3. Phương Khanh tại cửa hang C6.1 có ngấn dung nham 
Hình 4. Di tích khai quật mộ của người tiền sử ở hang C6.1, trần hang yếu 
  • ĐN06 – Thác Gia Long 

Thác Gia Long trước kia có tên là Dray Sap Thượng. Trong một lần dạo thăm, vua Bảo Đại đã đặt tên là thác Gia Long. Cũng như Dray Sap, thác Gia Long được hình thành từ dòng chảy basalt của núi lửa Nâm B’lang. Đứng từ trên, chúng tôi dễ dàng quan sát các dạng basalt cột tách rời bao quanh bởi dòng nước màu ngọc bích đặc trưng. 

Hình 6. Thác Gia Long

Ngày 26 tháng 11: Tham quan núi lửa Nam B’lang và hang C8, C9

  • ĐN07 – Núi lửa Nâm Blang và cánh đồng núi lửa. 

Buổi sáng thức dậy, sau khi check out phòng, xe đưa chúng tôi đến địa điểm tập kết tại khách sạn Quốc Huấn. Tại đây, chúng tôi được nhập đoàn mới và trekking băng qua cánh đồng núi lửa Nâm B’lang để đi đến hang C8 và C9 tại xã Buôn Choah, huyện Krông Nô . 

Con đường băng qua cánh đồng vô cùng nên thơ. Xa xa là những luống ngô đã thu hoạch xong, điểm xuyến cùng đồng hoa xuyến chi reo mình trong gió. Trên đường đi, chúng tôi cũng được ngắm núi lửa mẹ Nâm B’lang có tuổi Pleisstocen giữa (trẻ nhất là 199 nghìn năm và cổ nhất là 689 nghìn năm). 

Hình 7. Núi lửa Nâm B’lang nhìn từ xa
  • ĐN 08,09 – Hang động núi lửa C8, C9

Hang C8 và C9 được đánh giá là khá đẹp và dễ dàng đi vào. Chúng tôi mất khoảng hơn 45 phút mới tiếp cận được miệng hang. Hang C8 có cơ chế hình thành vô cùng phức tạp nhưng cũng rất thú vị. Nơi đây như một bảo tàng sống động về nội thất bên trong hang núi lửa như: thạch nhũ nguyên sinh, thạch nhũ thứ sinh, pahoehoe, gò than đá (dấu tích của cây cối đã bị đốt), giếng trời “skylight”, vòm hang, … 

Hang C9 ngắn hơn (dài 131,7 m). Điểm đặc biệt của hang là có 1 hố sụt rất lớn và hệ sinh thái khổng lồ tại cửa hang động. 

Lời kết  

Nhóm đã có một hành trình tuyệt vời cùng những trải nghiệm khó quên trong cuộc đời. Các di sản địa chất – địa mạo cũng như văn hóa lịch sử là kho báu vô cùng đáng giá của CVĐCTC Đắk Nông. Chuyến đi này là tài nguyên rất hữu ích cho những bài giảng trong giáo dục địa môi trường về sau. 

Trong lần băng rừng đến hang C3, tôi đã có dịp trò chuyện cùng một chuyên gia người Anh vô cùng thân thiện. Bác kể rất nhiều về vấn đề phát triển bền vững, làm thế nào để có tiếng nói chung về lợi ích kinh tế và môi trường. “It’s about for the long-term”- “Nó dành cho một quá trình dài lâu”. Điều quan trọng là sự lựa chọn cho sự tồn tại lâu dài của những tài nguyên mà bạn đang sử dụng để phục vụ cho mình. Phát triển địa du lịch chính là sự lựa chọn cho tính bền vững này. 

Lời cảm ơn 

Qua đây, nhóm địa môi trường xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Quản lý CVĐCTC Đắk Nông, chị Tôn Thị Ngọc Hanh, cũng như các anh chị trong ban tổ chức, điều hành tour, cộng tác viên: anh Ngọc Bảo, chị Thu Nguyên, anh Hưng, anh Nhật Linh, chị Hoàng Anh, chị Bạch Vân, chị Hằng, chị Diệu,..  cùng tất cả các anh chị khác đã hỗ trợ vô cùng nhiệt tình. 

Nhóm cũng xin cảm ơn đến các anh chị đã đồng hành cùng 2 cô trò trong chuyến thực địa 3 ngày 2 đêm khám phá CVĐCTC Đắk Nông: chị Hạnh, anh Tuấn, anh Hưng, chị Inna, chị Alice, bà Julia cùng tất cả các chuyên gia địa chất, núi lửa học, khảo cổ học,…Tất cả là sự động viên tinh thần to lớn dành cho cô trò qua hành trình chinh phục các hang động tuyệt vời này. 

NHẬT KÝ THỰC ĐỊA KHÁM PHÁ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU ĐẮK NÔNG 

Quế Nam

Phần 1:  Chuyến đi Gia Nghĩa – Krông Nô

Mở đầu

Trong khuôn khổ của Hội nghị Quốc tế về Hang động núi lửa lần thứ 20, nhóm địa môi trường chúng tôi (cô Quế Nam và bạn Phương Khanh – học viên cao học đang làm đề tài về địa du lịch) đã có cơ hội được tham quan một số điểm đến trong Công viên địa chất toàn cầu Đắk Nông (CVĐCTC Đắk Nông) và nhất là được trải nghiệm một sản phẩm địa du lịch vô cùng thú vị đó là: khám phá hang động núi lửa. Chuyến thực địa kéo dài 3 ngày 2 đêm  từ ngày 24 – 26/11. 

Sau đây là một số ghi chép và hình ảnh mà chúng tôi đã ghi nhận trong hành trình vừa rồi. 

Ngày 24 tháng  11: Xuất phát từ thành phố Gia Nghĩa đi huyện Krông Nô  

  • ĐN01 – Bảo tàng âm thanh 

Từ Trung tâm hội nghị tỉnh ở thành phố Gia Nghĩa, trưa ngày 24 tháng 11, chúng tôi được đưa với địa điểm đầu tiên đó là Trung tâm văn hóa Đắk Nông. Ngoài trời lúc này mưa nhẹ và nhiệt độ khá mát mẻ khoảng 23oC. 

Tại đây, chúng tôi được tham quan Bảo tàng âm thanh – Explora of the Sounds. Đó là 7 căn phòng đại diện cho 7 âm thanh khác nhau được phát ra từ đá, nước, lửa, gỗ, không khí, ánh sáng và con người. Nơi đây sử dụng công nghệ hiện đại cùng với các loại nhạc cụ của dân tộc thiểu số: đàn đá, cồng chiêng,… để tạo ra những trải nghiệm cho du khách.  Với chủ đề chính “Xứ sở của những âm điệu”, bảo tàng là ca khúc chủ đề mở màng cho hàng hoạt những âm thanh sống động sau này mà chúng tôi được trải nghiệm. 

Được lắng nghe những câu chuyện mà các chị thuyết minh giải thích, được tận mắt cảm nhận nguồn năng lượng của chính mình qua đá và hiểu câu chuyện về sự tâm huyết của Ban Quản lý CVĐCTC Đắk Nông, chúng tôi thật sự được thuyết phục bởi sự chỉnh chu và đầu tư nghiêm túc cho nơi này.

  • ĐN 02 – Núi lửa Băng Mo

Đi dọc theo quốc lộ 14 từ Gia Nghĩa lên huyện Krông Nô, xe chúng tôi ghé thăm trang trại trồng cao su – ca cao, cũng như đi ngang chiêm ngưỡng vẻ đẹp từ xa của 1 trong 5 nón núi lửa thuộc CVĐCTC Đắk Nông, núi lửa Nâm Glê (núi lửa Thuận An) thuộc xã Thuận An huyện Đắk Mil. 4 nón núi lửa còn lại đó là núi lửa Nâm Blang (Chư R’luh) và cụm núi lửa Nam Kar thuộc huyện Krông Nô, núi lửa Băng Mo (Ea Tlinh) và núi lửa âm Nam Dơng thuộc huyện Cư Jút.  

Buổi chiều hôm ấy, dừng lại geosite đầu tiên, núi lửa Băng Mo tại thị trấn Ea T’ling của huyện Cư Jút lúc 4g00, chúng tôi nhận được sự tiếp đón nồng hậu từ phía Ban lãnh đạo huyện và các bạn Đoàn thanh niên. 

Núi lửa Băng Mo là nón núi lửa có hình dạng cân đối nhất trong 5 nón núi lửa ở đây. Con đường bộ đi vào chân núi tương đối bằng phẳng và chỉ mất khoảng 20 phút từ chân để leo đến đỉnh. Núi lửa Băng Mo gồm ít nhất 2 miệng ứng với ít nhất 2 đợt phun trào: Một miệng có niên đại lớn hơn với đường kính khoảng 673m với chiều cao 82m, độ cao 420m so với mực nước biển; miệng còn lại trẻ hơn có đường kính 242m, chiều cao 40m với hình dáng miệng còn tương đối rõ nét. 

Nhà vọng cảnh của núi lửa Băng Mo từ trên xuống có thể bao quát được cánh đồng ngô, cà phê được trồng trên nền lớp phủ basalt đã phong hóa. Tuy nhiên do quá nhiều cây cối rậm rạp nên chúng tôi vẫn chưa có góc nhìn để quan sát rõ ràng hình dạng miệng núi lửa. 

Sau một chuyến đi dài khoảng 80km, điểm đến cuối ngày của chúng tôi là khu du lịch Đray Sap. Tiếng cồng chiêng, các nhạc cụ dân tộc khác hòa cùng tiếng ca vang vọng núi rừng của những dân tộc anh em như Thái, Mạ, M’Nông, Ê-đê,… đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong lòng mỗi người.

Hình 8. Bữa tiệc tại KDL Đray Sap, huyện Krông Nô cùng phần trình diễn của các dân tộc bản địa. 

Ngày 25 tháng  11: Khám phá hang động núi lửa C3-C4, C6.1, thác Dray Sap và thác Gia Long

  • ĐN 03 – Thác Dray Sap 

Buổi sáng thức dậy, chúng tôi gặp thêm các thành viên mới đến trong đoàn. Tranh thủ thời gian sau khi ăn sáng, mọi người rủ nhau tham quan thác Đray Sap ngay trong khuôn viên của khu du lịch. Từ cổng chào theo cầu thang xuống, men theo bờ suối, sau 10 phút đi bộ trong khu rừng, dòng thác Đray Sap hùng vĩ hiện ra trước mặt chúng tôi. 

Thác Đray Sap là một trong hệ thống 3 thác nước trên dòng Sêrêpốk (thác Đrây Sap, thác Đray Nur và thác Gia Long). Theo tiếng Ê-đê, tên Đray Sap có nghĩa là khói. Nơi đây từ lâu là địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng Tây Nguyên. Thác Đray Sap có nước chảy quanh năm nhưng hạn chế về mùa khô do đập thủy điện Buôn Cốp. 

Theo cẩm nang địa chất của CVĐCTC Đắk Nông, thác Đray Sap được hình thành cách đây 300,000 năm (?) qua 2 pha phun trào basalt. Pha đầu, dòng dung nham phủ chờm lên các thành tạo trầm tích lục nguyên cùng với việc địa hình không bằng phẳng nên dòng basalt đã lấp đầy các vùng trũng, nguội lạnh và tạo nên basalts dạng cột. Ta có thể quan sát rất rõ vách của thác lộ dạng cột với nhiều hình thái khác nhau. Pha sau, dòng dung nham xuất hiện tro, xỉ và các tảng có hình thái khác nhau phản ánh nên chuyển động của các dòng dung nham.  

Hình 9. Thác Đray Sap

Mời các bạn cùng đón xem phần 2 – Khám phá các hang động núi lửa và cánh đồng dung nham Nâm B’lang. 

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ HANG ĐỘNG NÚI LỬA LẦN THỨ 20 VÀ HỘI THẢO KHOA HỌC  “15 NĂM PHÁT TRIỂN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT Ở VIỆT NAM”

Quế Nam

Sáng ngày 22 tháng 11, lễ Khai mạc Hội nghị Quốc tế về Hang động núi lửa lần thứ 20 và Hội thảo Khoa học “15 năm phát triển Công viên địa chất ở Việt Nam” đã diễn tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Đắk Nông, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. 

Buổi lễ được tổ chức với sự có mặt của Đại diện Văn phòng tổ chức UNESCO tại Việt Nam – Ông Christian Manhart, Chủ tịch hiệp hội Hang động Núi lửa Quốc tế  – Ông John Brush, Chủ tịch Hội đồng  Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu – Ông Guy Martini. Cùng với đó là là đại diện ban lãnh đạo tỉnh, ban quản lý CVĐCTC Đắk Nông, các chuyên gia và nhà khoa học hàng đầu về địa chất, núi lửa và hang động núi lửa, sinh học, khảo cổ học, đại diện các CVĐCTC trong nước và trên thế giới.

Phát biểu khai mạc trực tuyến, bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường – Phạm Hồng Hà nhấn mạnh sự ủng hộ từ phía Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển các công viên địa chất. Thông qua các di sản địa học, đặc biệt là hang động núi lửa, như những trang nhật ký của lịch sử Trái Đất, giúp con người hiểu rõ hơn quá trình vận động và phát triển của Trái Đất, từ đó có những biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. 

Đây là cơ hội lớn của  Đắk Nông nói riêng và phía tỉnh nhà nói chung trong việc quảng bá và giới thiệu hình ảnh công viên địa chất cùng những di sản địa học, khảo cổ học, văn hóa, các sản phẩm địa du lịch cho bạn bè quốc tế.  

Sau đây là một số hình ảnh của Lễ khai mạc Hội nghị quốc tế về hang động núi lửa lần thứ 20 (20th-ISV) và Hội thảo “15 năm phát triển công viên địa chất ở Việt Nam”. 

Các báo cáo Keynote tại phiên toàn thể: 

Keynote 1: Sustainable use of volcanic caves – an impossible dream? (Sử dụng bền vững hang động núi lửa – một điều không thể?)  –  John Brush  

Mỗi hang động có những đặc điểm cấu tạo khác nhau, vô cùng nhạy cảm và dễ dàng bị tác động bởi yếu tố tự nhiên (thời tiết, rễ cây, sinh vật, …). Khi con người vào tham quan các hang động cũng đã tác động đến bề mặt, kết cấu và sinh vật trong hang. Tại Australia,  các hang được phân làm 5 cấp độ nhạy cảm từ đó quyết định giới hạn lượng khách vào tham quan hang. 

Keynote 2: Pyroducts (lava tubes) their genesis and importance (Ống dung nham- nguồn gốc và tầm quan trọng) – Stephan Kampe 

Ống lava (lave tubes – Pyroducts) vô cùng quan trọng trong việc đánh giá quá trình vận chuyển lava sau khi phun trào. Nguồn gốc của chúng được xét thông qua 2 mặt: thạch học và cấu trúc. Các dữ liệu về cấu trúc mái hang cũng cho biết về cách hình thành hang, từ đó quyết định các sản phẩm bên trong, nhiệt độ, hơi nước, thành phần kim loại,… 

Keynote 3: A personal account of Global Geopark development in last 15 years in the Asia Pacific region (Báo cáo cá nhân cho sự phát triển Công viên địa chất toàn cầu khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong 15 năm) – Xiaochi JIN, Coordinator of Asia Pacific Geoparks Network

Từ năm 2007, mạng lưới Công viên địa chất khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã được thành lập, viết tắt là APGN. Hội nghị chuyên đề lần đầu tiên của APGN được tổ chức tại công viên địa chất Langkawi, Malaysia. Kể từ đó, phân bố các công viên địa chất toàn cầu trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương phân bố nhiều hơn, với sự đa dạng về địa học, sinh học, văn hóa,… Đến năm 2021, đã có 66 công viên địa chất toàn cầu ở 8 quốc gia.  

Một số vấn thách thức mà các CVĐCTC trong mạng lưới AGPN đang đối mặt

  1. Thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương trong việc đưa ra các quyết định và quản lý 
  2. Thiếu động lực mạnh mẽ để đưa ra kế hoạch chiến lược dài hạn và phương thức cho phát triển bền vững 
  3. Thiếu đội ngũ chuyên gia cho phát triển bền vững mặc dù CVĐC có một đội ngũ nhân viên đông  
  4. Vài CVĐC thường chú trọng vào khu vực mà khách tham quan phải trả phí và không quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững ở đó. 

Các phiên Hội nghị quốc tế về hang động núi lửa lần thứ 20 (20th-ISV) và Hội thảo “15 năm phát triển công viên địa chất ở Việt Nam” được diễn ra song song từ ngày 22/11 đến 24/11. Tiếp sau đó là chuyến thực địa tham quan các miệng núi lửa tại Công viên địa chất toàn cầu Đắk Nông thuộc huyện Krông Nô từ ngày 25/11 đến 26/11. 

Công viên địa chất toàn cầu Đắk Nông – đánh thức vùng di sản nam Tây Nguyên

Mỹ An

Tháng 7.2020, tổ chức UNESCO đã thông qua quyết định công nhận Công viên địa chất Đắk Nông (Đắk Nông) là Công viên địa chất toàn cầu. Đây là cơ hội để Đắk Nông có thêm điều kiện tốt nhất để bảo tồn các di sản văn hóa, kết hợp phát triển kinh tế bền vững…

Thác Liêng Nung. Ảnh: Hà Thế Bảo

Công viên địa chất toàn cầu là danh hiệu dành cho một khu vực tự nhiên có ranh giới địa lý – hành chính rõ ràng, chứa đựng một tập hợp các di sản địa chất tầm cỡ quốc tế có giá trị khoa học, giáo dục và thẩm mỹ, cùng các giá trị khác về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa, xã hội… Tất cả cùng được bảo tồn và phát huy giá trị một cách tổng thể.

Đây là Công viên địa chất toàn cầu thứ ba ở Việt Nam, sau Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) và Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng (Cao Bằng).

 

Hồ Tà Đùng. Ảnh: DaknongGeopark

Công viên địa chất là mô hình kết nối và tìm hiểu về sự hình thành của trái đất, thông qua hình thức du lịch địa chất. Là nơi du khách có cơ hội được tìm hiểu về nguồn gốc và đặc điểm cấu tạo của các dạng địa hình. Mô hình này đề cao công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân và du khách để sống chan hòa với thiên nhiên, biết trân trọng những giá trị và tài nguyên của tạo hóa. 

Công viên địa chất Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn với ranh giới trải dài trên 5 huyện và 1 thị xã gồm huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk G’Long và thị xã Gia Nghĩa.

Là một phần của cao nguyên M’Nông nên thơ, hùng vĩ, Công viên địa chất Đắk Nông là nơi hội tụ các giá trị tiêu biểu về địa chất địa mạo, khảo cổ, văn hóa và đa dạng sinh học đặc trưng của khu vực.

Thác nước D’ray Sáp. DaknongGeopark

Được hình thành từ triệu triệu năm trước do quá trình vận động của vỏ trái đất, song hệ thống hang động trong đá bazan khu vực Đray Sáp-Chư R’Luh chỉ mới được phát hiện từ năm 2007.

Hệ thống hang động núi lửa này đã được Hiệp Hội Hang động Núi lửa Nhật Bản xác lập kỷ lục Đông Nam Á về cả quy mô, độ dài và tính độc đáo. Trong các hang động còn ẩn chứa nhiều điều bí mật về cơ chế thành tạo, các tổ hợp khoáng vật, đa dạng sinh học và di chỉ khảo cổ…

Vũ điệu cồng chiêng. Ảnh: Daknonggeopark

Trong khu vực Công viên địa chất còn có các di sản địa kiểu cổ sinh như các hóa thạch Cúc đá, các khuôn cây trong đá bazan; có các dãy núi cao phân bậc địa hình, các hồ nước tự nhiên đầy thơ mộng như hồ Ea Snô, hồ Trúc, hồ Tây… các miệng núi lửa độc đáo và đặc trưng như Chư R’luh, Nâm Kar, Băng Mo…. và hệ thống các thác nước đẹp, hùng vĩ như thác Gia Long, thác Băng Rúp, Dray Sáp…

Công viên địa chất Đắk Nông còn là khu vực có bề dày văn hóa, lịch sử, với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể như: Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; di tích cấp quốc gia đặc biệt Đường mòn Hồ Chí Minh và 5 di tích cấp quốc gia khác như: Ngục Đắk Mil, Căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV, Di tích lịch sử lưu niệm N’Trang Gưh, Địa điểm Chiến thắng Đồi 722 – Đắk Sắk, Địa điểm bắt liên lạc khai thông đường Hồ Chí Minh đoạn Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ.

Thác Liêng Nung. Ảnh: Hà Thế Bảo

Với nhiều trầm tích văn hóa, sự hoang sơ độc đáo của Công viên địa chất toàn cầu chắc chắn sẽ hấp dẫn du khách, là cơ hội để phát triển kinh tế – du lịch. Tuy nhiên cũng đặt ra cho địa phương này trách nhiệm nặng nề trong quá trình bảo tồn và khai thác để đảm bảo không tác động tiêu cực vào thiên nhiên, nhưng đồng thời tạo được sức hút lớn để phát triển kinh tế.

https://dulich.laodong.vn/diem-den/cong-vien-dia-chat-toan-cau-dak-nong-danh-thuc-vung-di-san-nam-tay-nguyen-831347.html

Khảo sát Tứ Bình sau giãn cách xã hội

Đã bao giờ bạn nghe đến “Tứ Bình” – được ví như tiểu Maldives ở Việt Nam? Đó là bốn địa danh bao gồm: Bình Hưng, Bình Ba và Bình Lập (thuộc xã Cam Bình và Cam Lập, Cam Ranh, Khánh Hòa) cùng với Bình Tiên (xã Công Hải, Huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận).

Mất thời gian dài do giãn cách xã hội vì dịch COVID, mãi đến cuối tháng 6, chúng tôi – 4 cô trò (Phương Chi, Ngọc Nhi, Mai Quỳnh, Hà Giang) mới thực hiện được chuyến thực địa khảo sát đã có kế hoạch từ trước Tết. Chuyến đi thật thú vị, được chiêm ngưỡng cảnh quan biển đẹp, hoang sơ với sự giúp đỡ của người dân biển trong suốt hành trình.

Sau khi phân tích tài liệu và các bản đồ ở nhà, chúng tôi dự kiến chọn lựa các geosite tiềm năng cho dải ven biển Tứ Bình. Nhiệm vụ của chuyến thực địa này được cô trò vạch ra là đến các điểm để mô tả, đo, vẽ, chụp ảnh và lấy mẫu đá, cuội.

Ngày 1, Bình Tiên – Bình Hưng, chuyến phượt bằng xe bán tải vi diệu

7 giờ sáng, chú Bình – dù không phải dân địa phương nhưng làm việc ở Cam Ranh và đã có biết bao kinh nghiệm “phượt“ các bãi biển đến đón chúng tôi ở nhà Mai Quỳnh.

Chưa đầy 45 phút di chuyển, chúng tôi đã có mặt ở Bãi Bà Bóng. Các bãi biển thuộc Bình Tiên nhỏ hẹp rải rác ven theo Núi Chúa hùng vĩ. Bình Tiên có 3 bãi biển chính là Bãi biển Bà Bóng, giáp Mũi Cà Tiên; Bãi biển Bình Tiên – dải cát trắng mịn, cong mềm mại hơn 2.2km và Bãi biển Chà Là.

103686223_290337065435606_6319397969774660337_n
Hình 1. Khu vực biển Bà Bóng nhận dòng chảy từ đất liền ra. Ảnh: Đ.D.T.Bình

104334434_2657368941148423_5058316029365034893_n
Hình 2. Bãi Bình Tiên trải dài hơn 2,2km, rộng hơn 30m, cát trắng, mịn. Ảnh: Đ.D.T.Bình

Theo Tỉnh lộ 702 về phía nam, chúng tôi tiếp tục khảo sát dải ven biển từ bắc Ninh Hải, Ninh Thuận đến đường ra đảo Bình Hưng. Biển Ninh Hải cũng có những bãi nổi tiếng là hoang sơ, đẹp.

9609d88a8bb876e62fa9
Hình 3. Điểm nhìn bải biển Bình Tiên trên tỉnh lộ 702

105484667_288169755921478_6432195291029341077_n
Hình 4. Ngọc Nhi bên chiếc xe bán tải có thể đi khắp các địa hình

9g15 chúng tôi đến con đường mòn đi vào hai bãi biển ít dấu chân du khách, đó là Bãi Chà Là và Bãi Nước Ngọt. Điểm đặc biệt của Bãi Nước Ngọt đó là có sự hiện diện dòng suối quanh năm bắt nguồn từ Núi Chúa. Chính vì thế nên trầm tích bãi biển tại đây ngoài dải cát mịn còn có trầm tích cuội, đá thô.

102261433_2630362447219953_214629097853157376_n
Hình 5. Bãi Nước Ngọt. Ảnh: Đ.D.T.Bình

133b912cc21e3f40660f
Hình 6. Mai Quỳnh tại Bãi nước Ngọt.

Tiếp tục đi theo tỉnh lộ 702 về hướng Tây Nam, chúng tôi khảo sát Bãi Kinh – một bãi biển dài hơn 200m, nơi rộng nhất chừng 25m, cát trắng, mịn, mặt biển phẳng lặng.

59ee77109423697d3032
Hình 7. Toàn cảnh Bãi Kinh. Ảnh: Đ.D.T.Bình

b92a889bdaa927f77eb8
Hình 8. Bãi Kinh rất thích hợp cho gia đình nghỉ dưỡng, tắm biển, vui chơi dưới nước.

Đúng 12 giờ trưa, khi nắng lên đỉnh đầu, chúng tôi dùng cơm trưa tại khu du lịch Bãi Kinh và chờ tàu sang Bình Hưng.

Bình Hưng

Nắng Cam Ranh thật khủng khiếp, gần 14g nhưng mặt cô, trò vẫn nóng rát khi rời bãi Kinh đi Bình Hưng. Chỉ mất khoảng 10 phút, chúng tôi đã tới Bình Hưng – một thôn thuộc xã đảo Cam Bình rộng gần 2 km2. Bình Hưng còn có tên là Hòn Chút, hay Hòn Tý. Bình Hưng là núi đá xâm nhập có đỉnh cao khoảng 100m. Tại Bình Hưng, mấy cô trò khảo sát các điểm Hải Đăng Hòn Chút,  Bãi Cây Me, Bãi Đá Trứng.

(Trước khi cập bến tàu Bình Hưng, chú Chín Lên – lái tàu ở đảo chở chúng tôi sang Bãi tắm Cây Me. Đây là Bãi tắm chỉ có thể đến bằng đường biển, nước trong vắt, cát mịn, sau lưng là vách núi với hệ thống khe nứt chia cắt dầy đặc).

20200618_135612
Hình 9. Bãi Cây Me – Bình Hưng. Bãi biển này chỉ có thể đến bằng đường biển.

20200618_135834
Hình 10. 5 màu nước biển Cây Me trước mặt Hà Giang.

Trên đảo, phương tiện di chuyển phổ biến là xe điện chạy xăng bởi địa hình khá dốc, lái xe nói “động cơ điện không thể nào chở khách được ở đây”. Khu vực Hải đăng Hòn Chút không cho du khách tiếp cận vì lý do quân sự, nhưng nhờ giấy giới thiệu của trường, chúng tôi được lên quan sát toàn cảnh từ điểm nhìn khá thú vị này.

20200618_144917
Hình 11. Từ Hải đăng Hòn Chút nhìn về phía tây của đảo.

at_nhung-an-tuong-chi-khi-toi-hai-dang-hon-chut-moi-co-duoc_0c084da2ce66d8bc5c39622b4d9b5a66
Hình 12. Hải Đăng Hòn Chút. Ảnh: Wikimapia

15 giờ, cái nóng khô của miền Trung đã làm con đường từ Hải Đăng đến Bãi Đá Trứng dường như dài và khó hơn. Đến 15g15, trước mặt chúng tôi là một bãi đá cuội – bãi đá trứng khổng lồ.

103735257_308078823689546_5779451421014140705_n
Hình 13. Bãi Đá Trứng – Bình Hưng. Ảnh: Đ.D.T. Bình

01b9eca31790eaceb381
Hình 14. Du khách có lẽ cũng đến đây và thử sức với xếp đá cân bằng.

Sau khi đo đạc kích thước ‘đá Trứng’ xong, chúng tôi về bến tàu để trở lại Bãi Kinh lúc 16g30.

Kết thúc ngày đầu tiên, chúng tôi được ba mẹ Mai Quỳnh mời ăn tối ở Đồng Cừu – Suối Tiên, thuộc Công Hải, Thuận Bắc Ninh Thuận.

Đồng cừu là cánh đồng cỏ và ruộng lúa, phía sau là núi Bà trùng điệp. Tại đây, ngoài  chơi với cừu, du khách có thể thăm Suối Tiên, nhà gỗ, vườn hoa.

DSCF0269
Hình 15. Sinh viên vui chơi với cừu.

dacef1b2ad8050de0991
Hình 16. Buổi tối ở Đồng cừu – Suối Tiên

Ngày 2, Bình Lập – Bình Ba, cảm giác vượt trùng khơi cùng tàu cá và thuyền thúng

Ngày thứ hai của hành trình khởi đầu thật sự háo hức bởi chúng tôi được đi bằng tàu cá của Chú Sanh – dượng của Mai Quỳnh. Lộ trình được dự định vòng quanh bán đảo Bình Lập (thuộc xã Cam Lập) và một số điểm tại Bình Ba, Cam Bình (Cam Ranh, Khánh Hòa).

Xuất phát từ cảng cá Ba Ngòi lúc 7g30, nghe chú Sanh và anh Bi nói “mình sẽ đi thuyền thúng ra tàu, rồi khi đến các bãi biển, sẽ neo tàu ở xa”. Khi đẩy thuyền thúng xuống các bãi, chúng tôi có cảm giác sợ, nhưng thú vị với trải nghiệm mới mẻ này.

129ff3ac1e69e337ba78
Hình 17. Khởi hành từ cảng Ba Ngòi

5194bcb65173ac2df562
Hình 18. Từ tàu xuống thúng, rồi từ thúng lên tàu. Qua mấy bận là mấy cô trò có thể di chuyển nhịp nhàng ^^

Bình Lập có hai khu nghỉ dưỡng là Ngọc Sương và Sao Biển luôn hấp dẫn du khách. Cạnh đó có Bãi Nhỏ (Robinson), và Bãi Cồn – một dải cát trắng trải dài lộ các khối đá chồng, đá phong hóa có hình dạng ngộ nghĩnh. Khí hậu và môi trường nơi đây cực kỳ khắc nghiệt, theo thời gian, các khối đá granite rắn chắc cũng bị nắng, gió, sóng biển phá hủy, bào mòn.

z1964887505062_f54e5f410bcc6e665ef18250acf9de36
Hình 19. Muôn hình thù địa hình phong hóa trên đá xâm nhập phức hệ Cà Ná.

Chúng tôi dừng và khảo sát tại các Bãi Lao Lớn, Bãi Lao, quan sát các mũi đá và các bãi từ xa như Mũi Hời (Mũi Sộp), Bãi Mã, Bãi Bình Châu, Bãi Tàu Bể, Bãi Hõm.

Tại Bãi Nhỏ – Bãi Robinson. Chúng tôi được chú Sanh đãi một bữa thịnh soạn với tôm, cá tươi rói; vừa ăn vừa nghe chú kể những câu chuyện đi biển.

20200619_111929
Hình 20. Bữa ăn ngon ngoài sức tưởng tượng của mấy cô trò.

26f991c86d0d9053c91c
Hình 21. Cùng nhau ngồi dưới mấy cây dứa biển, nghe tiếng sóng vỗ hòa với tiếng rì rào của lá, thấy như mình được tiếp thêm nguồn năng lượng từ thiên nhiên. @Bãi nhỏ – Robinson

Chúng tôi rời Bãi nhỏ lúc 13g, vòng sang Mũi Cà Tiên (ranh giới của Ninh Thuận và Khánh Hòa) rồi tới Bình Ba.

Bình Ba (xã đảo Cam Bình) như một chú bướm khổng lồ đậu trên tấm gương xanh vừa chắn bão cho Vịnh Cam Ranh (Bình Ba có nghĩa là bức bình phong che chắn phong ba bão táp), vừa chấn giữ một vùng biển quan trọng của đất nước, vì vậy từ xa xưa, Bình Ba đã là một khu vực quân sự cực kỳ quan trọng. Làng đảo Bình Ba nằm yên ả ở phía Nam, được che chắn bởi 4 ngọn núi theo hướng đông là Núi Bãi Vò (cao hơn 100m), Hòn Cò (cao hơn 120m), và phía tây – tây nam là Mao Giư (hay Mao Du) (cao 106m) và Ba Dũ (cao 206m).

Bình Ba có khá nhiều Bãi biển ấn tượng như Bãi Nồm, Bãi Chướng, Bãi Nhà Cũ, Bãi Hòn Rùa (Bãi Cây Me), Bãi Hòn Cò, Bãi Yến…. từ tháng 3 đến tháng 9, nước biển buổi sáng trong đến mức có thể thấy tận đáy. Ven đảo Bình Ba có nhiều san hô và dễ dàng ngắm nhìn khi triều xuống.

Đến Bình Ba vào khoảng 14g, chú Sanh đưa chúng tôi vào Bãi Cây Me hay còn gọi là Bãi Hòn Rùa bởi từ trên cao nhìn xuống, mũi đá nhô ra biển giống như chú rùa. Bãi biển phần lớn là cát thô hình thành từ vụn san hô, thạch anh, cuội và đá tảng. Điểm nổi bật của Bãi chính là dải san hô sát bờ dần lộ ra khi triều xuống.

4e35fa0604c3f99da0d2 (1)
Hình 22. Bãi Hòn Rùa (Bãi Cây Me) với dải san hô ven bờ

06449a9a6f5f9201cb4e
Hình 23. Hòn Rùa nhìn từ điểm nhìn trên đảo Bình Ba.

Mùa này chú Sanh bảo không cập tàu phía đông nam đảo được do gió mạnh nên tàu chúng tôi cập Bãi Nhà Cũ lúc 15g. Bãi Nhà Cũ cũng là một bãi biển đẹo, nước trong vắt, san hô dầy đặc. Khu vực bãi Nhà Cũ là khu quân sự quản lý nên việc di chuyển, tham quan của du khách bị hạn chế.

20200619_143534
Hình 24. Tháp quân sự tại cửa ngõ vào Bãi Nhà Cũ.

20200619_150011
Hình 25. Di chuyển bằng thúng cập bến bãi Nhà Cũ, Bình Ba.

17:00, chúng tôi nhận phòng tại một nhà nghỉ ở khu Bãi Nồm. Chiều tối mấy cô trò  khảo sát quanh Bãi Nồm, ngắm một thế giới san hô lung linh, huyền ảo.

Ngày 3, khám phá Bình Ba, trở về đất liền

Ngày thứ ba của chúng tôi bắt đầu thật sớm (từ 5g15) ở bãi Chướng, phía đông của đảo để đón bình minh. Đây là một bãi biển dạng túi chắn bởi 2 mũi đá xâm nhập nhưng là vị trí hứng gió “độc” nên ít người tới tắm. Ngắm bình minh ở một nơi xa, giữa không gian trời – biển bao la, khi những tia sáng đầu tiên ló lên, chúng tôi cảm nhận được hết cái tuyệt diệu của sự khởi đầu.

Dùng bữa sáng xong, chúng tôi tiến hành khảo sát Lô Cốt cũ, điểm ngắm Bãi Hòn Rùa. Bãi đá Lô Cốt là một thềm biển cao khoảng 50-60m, trên bề mặt có các khối đá lớn nhỏ đủ mọi kích thước. Đây cũng là một vị trí thích hợp để quan sát Cửa Bé, Vịnh Cam Ranh.

d201ed921c57e109b846
Hình 26. Bình minh trên Bãi Chướng – nơi đón bình minh sớm nhất Bình Ba.

81ba8b0d79c88496ddd9
Hình 27. Đường đèo lên Lô Cốt Cũ.

025c651f96da6b8432cb
Hình 28. Bãi đá Lô Cốt cũ.

nồm
Hình 29. Bãi Nồm buổi sáng – Bãi tắm chính của Bình Ba.

Cô, trò quyết định tắm để một lần in dấu tại Bãi Nồm nước xanh biếc. Bình Ba không chỉ có Bãi Nồm, còn nhiều điểm ấn tượng chưa khám phá được, thất tiếc nuối.

Buổi chiều tiến hành thăm quan Chùa Ốc – chùa Từ Vân, ngang qua Đầm Thủy Triều, thăm đài tưởng niệm Gạc Ma, Bãi Dài, và điểm cuối là nhà Ngọc Nhi ở tít tận chân núi Hàm Rồng, thuộc xã Cam Phước Tây, huyện Cam Lâm.

20200620_154415
Hình 30. Chùa Ốc – ngôi chùa được trang trí tinh xảo từ vỏ ốc.

20200620_162858
Hình 31. Trên đầm Thủy triều.

20200620_163801
Hình 32. Đài tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma.

20200620_171150
Hình 33. Bãi Dài – Cam Ranh. Một bãi biển đang được khai thác phát triển hàng loạt dự án khu nghỉ dưỡng, resort cao cấp của Cam Ranh.

Chuyến đi khảo sát của bốn cô trò kết thúc an toàn. Tài liệu chuyến đi sẽ là những tư liệu quý cho các bài báo cáo cũng như nghiên cứu của mình, ngoài ra chúng tôi còn có những kỉ niệm thật vui và ý nghĩa nữa. Càng đi chúng tôi càng được rèn luyện nhiều điều và nhất là cảm thấy thêm yêu đất nước mình.

Xin chân thành cảm ơn gia đình Mai Quỳnh, gia đình Ngọc Nhi, gia đình chú Sanh, và chú Bình đã giúp đỡ cho hành trình của mấy cô trò an toàn và thuận lợi./.

Phương Chi

 

 

Thế giới trong mắt nhiếp ảnh gia biết bay

Nhìn thế giới từ trên cao, George Steinmetz từ một nhiếp ảnh gia, vô tình trở thành nhà hoạt động vì môi trường.

Năm 1997, George Steinmetz, nhiếp ảnh gia đến từ New Jersey, quyết định học bay khi đảm nhận một dự án chụp ảnh tại vùng trung tâm Sahara và phi công riêng của ông đã xin rút. Nhưng thứ George chọn không phải là máy bay, mà là một chiếc dù lượn gắn động cơ.

“Ban đầu tôi tìm hiểu về dù lượn vì muốn bay ở Sahara, và đó là nơi gần như tôi có thể cất cánh hay hạ cánh ở bất kỳ đâu, vì nó là một địa hình khá an toàn để dùng một phương tiện gắn mô-tơ không đáng tin cậy”, George nói.

George Steinmetz bay dù lượn tại Giza, Ai Cập. Ảnh: Gaetan Hutter.

Ông ví dù lượn như “chiếc ghế vải bay”, để ông có thể bay thấp và chậm trên mặt đất mà không làm phiền người khác hay động vật bên dưới. Nó có thể được tháo dỡ dễ dàng và chia thành ba kiện, mỗi cái nặng chưa đến 20 kg. Do đó, George có thể mang theo “phi cơ của riêng mình” trên bất kỳ chuyến bay thương mại nào.

Từ đó, George, còn có biệt danh là “nhiếp ảnh gia bay”, ghi lại những khung cảnh đẹp nhất vòng quanh thế giới và tập hợp lại trong cuốn sách The Human Planet: Earth at the Dawn of the Anthropocene (tạm dịch là Hành tinh của con người: Trái Đất vào buổi bình minh của kỷ Nhân Sinh).

Với dù lượn, trực thăng và những chiếc drone chuyên nghiệp, George không chỉ hé lộ những kỳ quan thiên nhiên độc đáo, mà còn ghi lại dấu vết khổng lồ của cuộc sống thường ngày. Nhiếp ảnh gia bay chụp ảnh từ những bể muối sặc sỡ tại Teguidda-n-Tessoumt, Nigeria, cho đến cảnh người nông dân trồng lại cây cọ ở Sapi, Malaysia; hay buổi chôn cất hàng loạt nạn nhân của đại dịch Covid-19 trên đảo Hart, New York, Mỹ – độc giả sẽ không thể thấy những hình ảnh này vì cảnh sát đã tịch thu drone của ông.

Từ dù lượn của mình, George chụp được một bức tranh màu sắc tạo nên từ những hố cạn do người dân tự đào để lấy chất khoáng rắn cho gia súc. Màu sắc của từng hố phụ thuộc vào hỗn hợp bùn, tảo và muối ở Teguidda-n-Tessoumt, Nigeria. Ảnh: George Steinmetz.

Dù drone hỗ trợ ông quay chụp phần lớn thời gian do tính năng vượt trội và đảm bảo an toàn, George thực sự quý trọng những tấm ảnh tự mình thực hiện khi bay dù lượn. “Bạn có thể mang theo camera lên cao, song thật khác biệt khi dùng drone. Nhưng drone như một chiếc kính tiềm vọng bay trên trời, và bạn chỉ có thể nhìn thấy những thứ hiển thị trên màn hình chứ không bao quát mọi thứ bên ngoài”, nhiếp ảnh gia Mỹ nhận định.

Ông cũng cho rằng: “Dù lượn thực sự tuyệt vời vì tầm nhìn của bạn không bị giới hạn dù theo bề ngang hay phương thẳng đứng. Như một chiếc môtô bay vậy, mọi thứ ở xung quanh, và bạn cũng có mặt giữa không gian đó”.

Nông dân trồng cây sử dụng giếng tưới nhân tạo ngoài rìa sa mạc Rub’ al Khali, Saudi Arabia. Ảnh: George Steinmetz.

Đồng bằng nơi sông Colorado đổ ra vịnh California, đây là khu vực từng có hệ sinh thái phong phú. Tuy nhiên khi các con đập, dự án thuỷ lợi được xây dựng để đưa nước về các thành phố vào thế kỷ 20, lưu vực sông đã thay đổi. Ảnh: George Steinmetz.

Đồn điền cọ tại Sapi, Sabah, Malaysia. Việc phá rừng mưa để trồng đồn điền cọ lấy dầu đã tàn phá hệ sinh thái tự nhiên. Ảnh: George Steinmetz.

Những nhà kính lợp mái nhựa ở miền nam Tây Ban Nha. Nơi này chủ yếu trồng cà chua, ớt ngọt, dưa chuột, cà tím… canh tác tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, mô hình nông nghiệp này bị chỉ trích vì khai thác cạn kiệt nước ngầm, gây ô nhiễm nitrat và bóc lột lao động nhập cư. Ảnh: George Steinmetz.

Trang trại bò sữa ở Wisconsin, Mỹ với hơn 3.300 chuồng nuôi nhốt. Ảnh: George Steinmetz.

George đánh giá cao những trải nghiệm trực tiếp giúp mở mang tầm mắt. Ông viết trong cuốn sách của mình: “Tôi cho rằng sự thật là điều tối quan trọng, và tôi cần tự mình trải nghiệm nhiều thứ”. Và những điều đã trải qua tạo ra một thay đổi, để ông vô tình trở thành một nhà bảo vệ môi trường.

“Tôi nhận ra dân số toàn cầu đang gia tăng, và nơi ở của động vật hoang dã dần biến mất, và con người đang tiêu tốn tài nguyên của trái đất ở tốc độ chóng mặt… Nó dần trở nên rõ ràng rằng con người đang bước vào một thời kỳ của những giới hạn – bởi chúng ta không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên ở tốc độ như hiện nay nếu có mong muốn thế hệ sau còn một hành tinh để sống”, ông nhìn nhận.

Bảo Ngọc (Theo Alas Obscura)

https://vnexpress.net/the-gioi-trong-mat-nhiep-anh-gia-biet-bay-4119885.html