QUAN TRẮC XÓI MÒN ĐẤT TRỒNG CÂY CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI BẰNG CẦU XÓI MÒN

Vũ Thị Thu Hòa

I. Giới thiệu cầu xói mòn

Năm 1978, Gerald E. Ranger và Franklin F. Frank thuộc Bộ Lâm nghiệp California đã phát triển công cụ cầu xói mòn thông qua chương trình “Range Improvement Studies” [3]. Cầu xói mòn có tên là “ The 3 – F Erosion Bidge” lần đầu tiên được sử dụng tại Oregon để xác định xói mòn kiểu bóc trôi bề mặt (sheet erosion). Quan trắc lượng đất mất bằng cầu xói mòn đã được Hà Quang Hải áp dụng cho khu vực Đồng Xoài, Bù Đăng tỉnh Bình Phước [1].

1) Cấu trúc cầu xói mòn

Trong nghiên cứu này, cầu xói mòn là thanh nhôm dài 1.2m gồm 37 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 6mm, khoảng cách giữa các lỗ là 2.5 cm. Để thuận tiện cho việc đo đạc và tránh nhầm lẫn khi đo, các lỗ được ghi số thứ tự từ 1 đến 37. Khi đo, cầu sẽ được đặt trên 2 đinh thép cố định trên mặt đất.

2) Các phụ kiện cần thiết kèm theo cầu xói mòn

– Các đinh thép đỡ cầu có đường kính 1.5cm, dài 30 cm, một đầu có gắn thanh ngang để giữ thăng bằng cho cầu.

– Thước bọt nước và dây dọi

– Búa đóng

– Đũa inox dài 30 cm, có đường kính 4mm vừa lọt lỗ khoan trên cầu xói mòn

– Bìa kẹp hồ sơ và bảng dữ liệu có định dạng phù hợp để ghi chép

– Thước đo chia milimet

Hình 1. Cầu xói mòn
Hình 1. Cầu xói mòn

Đọc tiếp “QUAN TRẮC XÓI MÒN ĐẤT TRỒNG CÂY CÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI BẰNG CẦU XÓI MÒN”

CẦU THIÊN NHIÊN LÝ SƠN (CỔNG TÒ VÒ LÝ SƠN)

Hà Quang Hải, Phan Hùng Việt

1.Giới thiệu

Các cây Cầu thiên nhiên (Natural bridges) còn được gọi là các vòm đá (Stone arches) là dạng địa hình khác thường hình thành do quá trình xói mòn của sông, biển vào các đá trầm tích phân lớp nằm ngang như cát kết, đá vôi, chúng không hình thành trên các đá biến chất và núi lửa [3].

Trên lãnh thổ Việt Nam, cho đến nay, dạng địa hình này mới được phát hiện một điểm duy nhất tại đảo núi lửa Lý Sơn (cù lao Ré) thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Người dân Lý Sơn gọi cây cầu này là cổng Tò Vò, chúng tôi gọi là Cầu Thiên nhiên Lý Sơn (Ly Son Natural Bridge), có nguồn gốc núi lửa thuộc dạng địa hình hiếm có trên thế giới (Hình 1).

Hình 1. Cổng Tò Vò Lý Sơn
Hình 1. Cổng Tò Vò Lý Sơn

2.Vị trí

Cầu thiên nhiên Lý Sơn nằm trên bãi biển phía bắc, thuộc thôn Tây 1, xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; có tọa độ địa lý:

Kinh độ Đông:            09o05’59.92”               Vĩ độ Bắc:15o23’19.69”
UTM:  zone 49            X=   295971                    Y= 1702320

3.Đặc điểm địa mạo

Cầu Thiên nhiên Lý Sơn là dải đá bazan sót nhô trên bãi biển, chiều dài khoảng 20 m, điểm giữa cầu (trung tâm vòm) cao hơn bề mặt mài mòn biển 4,0 m, điểm hẹp nhất của cầu rộng khoảng 2,0 .

Các dạng địa hình (Hình 2)  tại khu vực này gồm:

Tovo_16_09_2009_N
Hình 2. Các bề mặt địa hình khu vực Cầu Thiên nhiên Lý Sơn (Cổng Tò Vò)

– Bãi biển mài mòn – tích tụ hiện đại: Ở phần thấp, sóng biển phá phần lớn các lớp đá bazan dòng chảy tới các lớp cát kết san hô. Ở phần cao, tích tụ phân bố sát chân bậc thềm 1, thành phần chủ yếu là cát, vụn san hô, mảnh khối bazan và cát kết tuf.

– Thềm bậc 1 tích tụ – mài mòn, cao khoảng 2,5 m (so với mực biển trung bình) phân bố thành dải rộng theo chân vách đổ lở phía bắc Giếng Tiền. Vật liệu tích tụ thềm 1 bao gồm hai lớp: trên là cát san hô dày 0,5 m; dưới là cuội sỏi, mảnh vụn san hô, mảnh, khối đá bazan, vụn cát kết tuf dày 1,0-1,5 m phủ trên cát kết san hô (gọi là đá kết) và đá bazan dòng chảy cấu tạo cổng Tò Vò là bề mặt mài mòn có độ cao tương đương thềm 1 (Hình 3).

– Vách biển (cliff) cao 20 – 40 m cắt vào sườn và một phần miệng núi lửa Giếng Tiền để lộ các lớp vật liệu phun nổ gồm cát kết tuf, bột kết tuf chứa các mảnh vụn đá bazan góc cạnh. Các mảnh vụn, khối đá rơi từ vách biển là vật liệu cấu thành thềm bậc 1, nhiều khối đá có kích thước lớn nhô trên mặt thềm tạo nên các tháp đá.

– Miệng núi lửa Giếng Tiền dạng lòng chảo. Gờ phía bắc miệng núi lửa đã bị sập đổ. Các khe nứt xuất hiện trên vách núi là dấu hiệu “nguy cơ” đổ lở của các khối đá trong tương lai.

h_3_na
Hình 3. Thềm 1 mài mòn (cầu Thiên nhiên Lý Sơn)
  1. Đặc điểm địa chất

Mặt cắt địa chất tại khu vực cổng Tò Vò và núi lửa Giếng Tiền từ dưới lên như sau:

  • Cát kết san hô, khung xương san hô gắn kết phân lớp 10 – 20 cm tạo bề mặt mài mòn lộ dọc bãi biển. Các lớp cắm về phía bắc có góc dốc 10 – 15 độ. Bề dày lộ khoảng 1,0 m.
  • Đá bazan mầu đen, ít lỗ rỗng, phân lớp, lộ rải rác thành các khối nhỏ trên bãi biển mài mòn. Quá trình phá hủy của sóng để lộ đá bazan phủ trên các lớp cát kết san hô (Hình 3, 5).
  • Các lớp cát kết tuf, bột kết tuf chứa mảnh đá, khối đá bazan cắm dốc từ miệng núi lửa về xung quanh, càng lên cao các lớp có góc dốc càng lớn (Hình 4).
  • Cát san hô, cuội sỏi, mảnh vụn san hô, mảnh và khối đá bazan, cát kết tuf dày 2,0 m (vật liệu cấu tạo thềm 1).

Hình 4.
Hình 4. Các lớp cát kết, bột kết tuf cắm dốc. Bazan dòng chảy nằm ngang phủ trên cát kết san hô
  1. Sự hình thành Cầu Thiên nhiên Lý Sơn

Cát kết san hô có tuổi tuyệt đối 1.900 ± 86 năm (trung bình 4 mẫu C14)[4]. Bazan dòng chảy từ miệng núi lửa Giếng Tiền chảy xuống địa hình thấp ven biển phía bắc phủ lên cát kết san hô chắc chắn có tuổi trẻ hơn.

Đá bazan gồm hệ thống khe nứt phát triển theo mặt lớp và theo phương thẳng đứng (cắt ngang lớp). Các khe nứt là vị trí xung yếu để sóng phá hủy, tách dần từng khối để hình thành cầu thiên nhiên (Hình 5). Hiện tại, cây cầu này vẫn đang bị phá hủy, nhất là vào thời kỳ giông bão, sóng cao và mạnh.

Tovo_P5
Hình 5. Hệ khe nứt phát triển theo mặt lớp và hệ khe nứt thẳng đứng

Trên bản đồ Địa du lịch cù lao Ré, Cầu Thiên nhiên Lý Sơn (Cổng Tò Vò) có số hiệu 9. Đây là điểm đầu tiên trong chuỗi các điểm thăm quan, tìm hiểu các điểm lý thú về địa chất và địa mạo núi lửa khu vực Giếng Tiền [1].

Đến Lý Sơn, không thể bỏ qua Cầu Thiên nhiên Lý Sơn – Cổng Tò Vò Lý Sơn. Ngoài việc thăm quan, tìm hiểu đặc điểm địa mạo, địa chất núi lửa, và cơ chế hình thành Cầu Thiên nhiên còn có cơ hội ghi lại những hình ảnh với cảnh quan thật ấn tượng của địa điểm này, đặc biệt vào lúc bình minh  và hoàng hôn.

Binh Minh_Ly Son

Hình 6. Bình minh.  Ảnh: Phuong D. Vo [2]

Hoan hon_Ly Son

Hình 7. Hoàng hôn. Ảnh: Yang Maverick [2]

Tài liệu tham khảo

[1]. Hà Quang Hải và nnk. Du lịch đảo núi lửa Lý Sơn (Cù lao Ré – cù lao Bờ Bãi). www.diamoitruong.com

[2]. Đảo Lý Sơn. http://dulichdaolyson.info/nhung-cung-bac-cam-xuc-khi-du-lich-dao-ly-son-2648.html

[3]. A.S. Goudie. 2004, Encyclopedia of Geomorphology. Routledge Ltd.

[4].M.  Korotky et al. 1995. Late  Pleistocene-Holocene  coastal  development  of  islands  off Vietnam. Journal Of  Southeast  Asian Earth Sciences, Vol. 11,  No. 4,  pp.  301-308.

 

 

 

 

ĐỊA LÝ KHAI THÁC CÁT VÀ SỎI Ở HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG – Khảo sát và đánh giá tác động đầu tiên

Jean-Paul Bravard, Marc Goichot et Stéphane Gaillot

Giới thiệu

Các dòng sông cung cấp cát và sỏi để xây dựng cơ sở hạ tầng, các tòa nhà, nâng cao nền đất tại các khu vực ngập lụt, tạo các con đê ngăn lũ…Nguồn tài nguyên giá rẻ này có nhiều công dụng và nhu cầu sử dụng đang gia tăng nhanh chóng. Khai thác cát, sỏi lòng sông đã phát triển vào cuối những năm 1800 ở các nước công nghiệp để xây dựng đường và làm bê tông. Cát, sỏi có giá trị đặc biệt ở những nơi mặt bằng xây dựng thấp, cấu tạo bởi bùn và sét như trường hợp ở hạ lưu sông Mê Công.

Khai thác cát sỏi lòng sông có tác động đặc biệt mạnh đến động lực học và hệ sinh thái sông. Các nước châu Âu đã trải qua những tác động bất lợi từ việc khai thác cát và sỏi vào đầu những năm 1950, đặc biệt là ở miền bắc Italia, nơi khai thác quy mô lớn để mở rộng mạng lưới đường cao tốc. Tại Pháp, các tác động do khai thác cát và sỏi được xem là bất lợi vào cuối những năm 1970, không bền vững vào những năm 1980 và cuối cùng khai thác cát lòng sông đã bị cấm vào đầu những năm 1990.

Hiện tượng phổ biến liên quan đến khai thác cát và sỏi là sự khoét sâu lòng sông. Các giải pháp cho hiện tượng này đã được nghiên cứu rộng rãi dựa trên sự phục hồi cân bằng trầm tích. Các quy định khai thác cát và sỏi lòng sông đã được soạn thảo và thực thi ở các nước công nghiệp phát triển, nhưng chưa được thực hiện trong các nền kinh tế phát triển nhanh ở khu vực Đông Nam Á.

Khai thác cát và sỏi quy mô lớn bắt đầu trong những năm 1990 dọc theo hạ lưu Mê Công để cải tạo các vùng đất ngập nước và gia cố bờ sông, đặc biệt khu vực xung quanh Phnom Penh. Xói mòn đã trở nên nghiêm trọng ở châu thổ Mê Công. Xói mòn quy mô lớn này có thể do các yếu tố khác nhau bao gồm các tác động của chuỗi đập Lan Thương và các đập trên các phụ lưu, sự kiểm soát xói mòn đất nông nghiệp tốt hơn và trồng rừng được cải thiện, biến đổi khí hậu và tất nhiên là hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông.

Đánh giá này nhằm cung cấp định lượng ban đầu về khối lượng cát và sỏi khai thác từ ​​sông Mê Công, xác định các vị trí và xu thế khai thác. Kết quả cho thấy việc khai thác cát đóng một vai trò quan trọng trong quĩ trầm tích sông Mê Công và hoạt động này có thể là một trong những nguyên nhân gây xói lở bờ biển châu thổ.

Đọc tiếp “ĐỊA LÝ KHAI THÁC CÁT VÀ SỎI Ở HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG – Khảo sát và đánh giá tác động đầu tiên”

ĐỊA DI SẢN THẠCH ĐỘNG

Hà Quang Hải, Trần Tuấn Tú, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Thị Phương Thảo
1. Giới thiệu
Thạch Động thuộc xã Mỹ Đức, Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là khối núi đá vôi hình tháp cao 91 m so với mực nước biển, đường kính chân núi theo phương 40o là 41 m, chiếm diện tích gần 1.000 m2. Thạch Động nằm ven quốc lộ 80, cách cầu Tô Châu 4 km về phía bắc, cách cửa khẩu Xà Xía 3 km về phía đông nam (Hình 1). Thạch Động có tọa độ như sau:
Địa lý:  Kinh độ Đông:   104o28’24”                 Vĩ độ Bắc:   10o24’48”
UTM:  Zone:   48;    X=   442365;                        Y= 1151158

Hình 1. Vị trí Địa di sản Thạch Động
Hình 1. Vị trí Địa di sản Thạch Động

Thạch Động, nơi có di tích đứt gẫy chờm nghịch đã được mô tả trong các công trình lập bản đồ địa chất [1, 2]. Năm 2009, Nguyễn Đình Hòe coi Thạch Động là “một Thể Địa di sản (Geomark) nổi tiếng mà du khách không thể bỏ qua” [4]. Bài này trình bày những giá trị khoa học và các giá trị bổ sung của Địa di sản Thạch Động. Đọc tiếp “ĐỊA DI SẢN THẠCH ĐỘNG”

CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN RÙA XANH TẠI HÒN BẢY CẠNH – VQG CÔN ĐẢO

Nguyễn Ngọc Linh

Giải nhì SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EUREKA lần XVII năm 2015, lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường

Linh Ngoc

Tóm tắt:

Rùa Xanh, tên thường gọi là Vích (Chelonia mydas), là một trong 7 loài rùa biển, hiện còn xuất hiện và sinh sản tại Côn Đảo. Qua nghiên cứu, tác giả ghi nhận số lượng Vích mẹ về đẻ trứng tăng ổn định theo thời gian (>300 cá thể/mỗi năm), cũng như tỉ lệ trứng nở thành công (80 %), và số cá thể Vích con được thả về tự nhiên tăng lên đáng kể trong thời gian 10 năm (1994 -2014), từ 6442 cá thể lên đến 118423 cá thể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt hạn chế trong công tác bảo tồn, đó là: 1) Chưa tìm được mối liên hệ giữa yếu tố môi trường trong trạm ấp so với bãi tự nhiên (thời gian ấp trứng, vận tốc bò trên bãi cát, vận tốc bơi của rùa con và so sánh các thông số trên giữa các rùa con nở từ trạm ấp và từ tổ tự nhiên trên bãi cát), 2) Các nội quy về du lịch còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, những tác động từ thiên nhiên và ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động của con người cũng chi phối đến sự tồn tại của quần thể loài Rùa biển này. Do vậy, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn và các hành động ưu tiên trong việc bảo vệ sinh vật biển quý hiếm này trong tương lai.

Từ khóa: Vích, bảo tồn Vích, Côn Đảo, Du lịch sinh thái. Đọc tiếp “CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN RÙA XANH TẠI HÒN BẢY CẠNH – VQG CÔN ĐẢO”

TRIỂN LÃM “CON NGƯỜI – MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ” NĂM 2016

Sau một kỳ học lý thuyết và chuẩn bị tài liệu cho môn Quản lý tổng hợp đới bờ và môn Tài nguyên Khoáng sản, đặc biệt chuyến thực địa kéo dài 4 ngày (26/12/2015 đến 29/12/2015), sinh viên lớp 12KMT thuộc 4 chuyên ngành (KHMT, TNTT&MT, MT&TNB và GIS) đã được đặt chân trên các điểm học tập ven biển rất ấn tượng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Thuận. Ngày 06/01/2016, buổi báo cáo kết quả học tập dưới hình thức triển lãm kết hợp với kiểm tra kiến thức đã được tổ chức tại phòng F200, trường Đại học KHTN.

Cũng như những năm trước, các tác phẩm dự thi đã được sinh viên các lớp chuyên ngành chuẩn bị công phu, khá phong phú về thể loại như: video clip, ảnh nghệ thuật, poster, tranh cát và các mô hình bằng vật liệu từ ngoài trời (cát trắng, cát đỏ, cát xám, cuội, sỏi, đá…). Tất cả tác phẩm dự thi đều gắn với các nội dung của môn học.

Hinh 1

Sinh viên chuẩn bị trước cuộc thi

Đọc tiếp “TRIỂN LÃM “CON NGƯỜI – MÔI TRƯỜNG – TÀI NGUYÊN ĐỚI BỜ” NĂM 2016”

NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỊA MẠO ĐƯỢC THẤY TRƯỚC TỪ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐẬP TRÊN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG

Zan K. Rubin, George Mathias Kondolf & Paul A. Carling

Mê Công là con sông lớn thứ ba Châu Á và thứ 11 trên thế giới. Phần thượng lưu thuộc lãnh thổ Trung Quốc còn có tên gọi là sông Lan Thương (Lancang river). Hạ lưu sông Mê Công gồm Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Với tiềm năng thuỷ điện to lớn, các hoạt động xây dựng đập trên lưu vực sông Mê Công đang được xúc tiến và mở rộng nhanh chóng. Chỉ tính riêng trên sông Lan Thương thuộc Trung Quốc, đã có đến 7 con đập đã hoặc đang được xây dựng trên dòng chính. Phần hạ lưu, 38 đập phụ lưu chắc chắn được xây dựng, cộng thêm 95 đập khác đang lên kế hoạch xây dựng trên cả phụ lưu và dòng chính (hình 1).

Tải lượng trầm tích lơ lửng trung bình của toàn sông Mê Công ước tính là 160 triệu tấn/năm, một nửa trong số này được tạo ra từ 20% thượng lưu thuộc sông Lan Thương, Trung Quốc. Khi 7 đập trên dòng Lan Thương hoàn tất, khoảng 83% lượng trầm tích của thượng lưu vực trên sẽ bị giữ lại. Gần một nửa tải lượng trầm tích tự nhiên của Mê Công sẽ bị bẫy lại tại các hồ chứa trên dòng Lan Thương. Do đó, khả năng các con đập sẽ làm thay đổi tải lượng trầm tích sông Mê Công và thay đổi đặc điểm hình thái dòng chảy và đồng bằng hạ lưu là một vấn đề rất cấp bách. Hiện có khoảng 20 triệu người sinh sống trên đồng bằng cùng với hoạt động kinh tế của họ sẽ gặp rủi ro do sụt lún, lũ lụt gia tăng và những biến động khác trên đồng bằng.

 Hinh 1_Mekong dams

Hình 1: Vị trí các đập trên lưu vực sông Mê Công (Zan Rubin và ctv, 2014)

Các nhà khoa học gồm: Zan Rubin, George Mathias Kondolf, Paul Carling thuộc Đại Học California, Berkeley, Mỹ và Đại học Road, Southampton, Anh đã tiến hành đánh giá địa mạo dòng chảy Mê Công dựa trên các mô hình bẫy trầm tích (models of sediment trapping) trong các hồ chứa nhằm dự báo các biến động địa mạo trên lưu vực. Kết quả nghiên cứu được đăng tại “International Journal of River Basin Management” ngày 11/12/2014.

Đọc tiếp “NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỊA MẠO ĐƯỢC THẤY TRƯỚC TỪ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐẬP TRÊN LƯU VỰC SÔNG MÊ CÔNG”

CẢNH QUAN ĐỒNG THÁP MƯỜI

Hà Quang Hải, Lê Thị Bạch Linh, Dương Thị Bích Huệ

1. Giới thiệu

Đồng Tháp Mười là vùng địa hình trũng lầy của đồng bằng sông Cửu Long, trải dài trên ba tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang và Long An theo hướng tây – đông. Phía bắc giáp với Cambodia, phía nam giới hạn bởi dải đất cao ven sông Tiền nối với giồng cát Cai Lậy (Tiền Giang), phía đông giáp với sông Vàm Cỏ Đông. Diện tích Đồng Tháp Mười có sự khác biệt giữa các tài liệu đã công bố: 8000 km2 [7], 950.000 hecta, 700.000 hecta hoặc 544.000 hecta [3], 13000 km2 [9], tài liệu “Viet Nam – Netherlands Cooperation” thể hiện Đồng Tháp Mười hầu hết diện tích bắc sông Tiền, sông Mỹ Tho đến ranh giới với Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh [11].

Tên gọi Đồng Tháp Mười có những tư liệu và giả thiết khác nhau: 1) ngôi tháp của ông vua thứ mười, 2) ngôi tháp thứ mười tính từ Lục Chân Lạp xuống, 3) tháp 10 tầng của Chân Lạp, 4) tháp canh thứ 10 (tính từ Ba Sao vào Gò Tháp), hoặc 10 tầng (còn gọi là thang trong) của nghĩa quân Thiên Hộ Dương để canh chừng giặc Pháp [3]. Khai quật khảo cổ học mới đây cho rằng Đồng Tháp Mười có thể có 10 tháp như truyền thuyết [5].

Trong cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, Đồng Tháp Mười là một trong những chiến khu quan trọng của quân giải phóng. Sau năm 1975, Đồng Tháp Mười đã được cải tạo thành vùng trồng lúa. Hiện nay, Đồng Tháp Mười có Vườn Quốc gia Tràm Chim và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, nơi hệ sinh thái đất ngập nước được bảo tồn.

Đồng Tháp Mười cũng như các cảnh quan khác của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long có lịch sử phát sinh và phát triển trong Đại Kainozoi, trong đó giai đoạn Holocen có vai trò quyết định diện mạo cảnh quan hiện nay. Đọc tiếp “CẢNH QUAN ĐỒNG THÁP MƯỜI”

KARST VÀ HANG ĐỘNG

Hà Quang Hải

Sắp tới, lớp Khoa học Môi trường 13KMT có đợt thực tập Môi Trường Vùng – Đồng bằng sông Cửu Long. Các bạn sẽ được thăm quan và tìm hiểu đặc điểm môi trường các cảnh quan nổi tiếng như Đồng Tháp Mười, Đê thiên nhiên ven sông Tiền – sông Hậu, Đồng bằng ven biển với các đồi, núi sót Hà Tiên – Kiên Lương. Các bạn hãy quan sát, mô tả cẩn thận giá trị của các dạng địa hình karst cũng như những tác động nhân sinh đối với karst ở Hà Tiên – Kiên Lương nhé. Bài này giúp các bạn tiếp cận một trong những nội dung thực tập dễ hơn. Hình số 7 của Goldscheider (ở cuối bài) rất hay, các bạn xem và vận dụng vào thực tế nhé.

1. Karst là gì?

Karst là một cảnh quan riêng biệt bao hàm tổng thể các dạng địa hình, các yếu tố thủy văn độc đáo và các quá trình tạo ra chúng, chủ yếu là sự hòa tan của nước trên mặt và nước ngầm đối với các loại đá có nhiều khe nứt, lỗ hổng, có thể hòa tan được như đá vôi, dolomit, cẩm thạch. Đọc tiếp “KARST VÀ HANG ĐỘNG”