MŨI ĐÁ DINH CẬU – MỘT GEOSITE HẤP DẪN CỦA ĐẢO PHÚ QUỐC

Hà Quang Hải

I. Giới thiệu

Mũi đá Dinh Cậu phân bố phía nam Cửa Dương Đông, thuộc huyện đảo Phú Quốc. Mũi đá (còn gọi là ghềnh đá) gồm các cột đá rời rạc có hình dáng và kích thước khác nhau xếp thành hàng thẳng xuyên ra biển. Trên cột đá lớn và cao nhất là Dinh Cậu – Điểm đến linh thiêng của đảo Phú Quốc với cảnh biển đẹp, đặc biệt quyến rũ du khách những chiều hoàng hôn.

Mũi đá Dinh Cậu là geosite mũi đá xói mòn trên cát kết duy nhất trên bờ biển Việt Nam. Bài viết này nhằm giới thiệu các giá trị khoa học và giá trị bổ sung nổi bật của geossite Dinh Cậu.

II. Giá trị khoa học địa chất, địa mạo

  1. Các cột đá sót xói mòn do sóng (sea stacks)

Các cột đá sót ở Dinh Cậu là cột đá tự nhiên hình thành do quá trình xâm thực của sóng biển (Hình 1); khi thủy triều cao, các cột đá bị cô lập bởi nước biển và tách biệt với đất liền một khoảng cách; khi thủy triều xuống thấp, có thể thấy các cột đá đứng trên bãi biển.

Hình 1. Các cột đá sót (stacks) do xói mòn tại mũi Dinh Cậu
Hình 1. Các cột đá sót (stacks) do xói mòn tại mũi Dinh Cậu

Các cột đá sót tại Dinh Cậu được cấu tạo bởi các đá cát kết thuộc hệ tầng Phú Quốc, tuổi Creta. Ở phía nam Dinh Cậu, khi thủy triều xuống thấp để lộ ra các lớp cát kết có phương vị hướng dốc 220o, góc dốc 15o (Hình 2). Thế nằm đá cát kết ở đây phản ánh cấu trúc đơn nghiêng (cuesta) của đảo Phú Quốc.

Hình 2. Cát kết có phương vị hướng dốc 220o (mũi tên vàng)
Hình 2. Cát kết có phương vị hướng dốc 220o (mũi tên vàng)

Tiếp tục đọc “MŨI ĐÁ DINH CẬU – MỘT GEOSITE HẤP DẪN CỦA ĐẢO PHÚ QUỐC”

VÀI NÉT VỀ ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG và CẢM NGHĨ SAU KHI BỐC THĂM ĐẤT NỀN DỰ ÁN 245 ĐẠI HỌC QUỐC GIA

  1. Thêm tí hy vọng sau 16 năm

Tuần qua, sau khi bốc thăm đất nền “Dự án 245 Đại học Quốc gia” mọi người có vẻ được chút niềm vui. Thú thật, qua 16 năm đóng tiền mình không còn trông mong gì ở dự án này nữa, coi như đây là đầu tư rủi ro và đã thất bại. Vì vậy mình cũng không có dự định  bốc thăm. Cô Huệ, cô Thảo gửi mail thông báo về lịch bốc thăm đất nền, mình chỉ xem qua, không ý kiến gì. Đến sáng thứ 5, trưởng khoa môi trường (cô Hiền) đi bốc thăm và thúc dục mình cứ đi bốc đi, nếu không thích thì chuyển lại cho cô “sáng nay cả thày Cảnh, cô Thảo đi đấy”.

Gọi điện cho thày Tú, thống nhất sáng mai (ngày bốc thăm cuối cùng) hai anh em cùng đi. Tại điểm bốc thăm, mình được chỉ định làm chứng dấu niêm phong cho thùng thư  lô 300, được bốc đầu tiên và được lô 294 m2, khu 1S, gần cây xanh (CX4) và công viên (CX8), một chị bốc sau mình được lô hai mặt tiền (sướng rên), mọi người chúc mừng hai người. Thày Tú bốc thùng 200, được lô 189 m2, khu 1O gần với khu mình. Thày Tú chụp hình tổng thể khu dự án và cận cảnh lô đất của của hai người. Hai anh em phấn khởi ra mặt, rút điện thoại báo tin cho các bà xã, không quên gọi điện cho cô Thảo (người tích cực cung cấp thông tin về đất và đốc thúc mọi người đi bốc thăm và bốc được lô đất gần 300 m, cười vui vẻ và đã lên  kế hoạch tương lai cho lô đất này).

Chiều thày Tú gửi ảnh khu dự án trên Google Earth kèm theo lời “Kính chúc Thầy Hải, Thầy Cảnh, Cô Hiền, Cô Thảo, Cô Loan, Thầy Tú có miếng đất đẹp, ngủ ngon”.

Nhân đây, mình viết vài nét về địa chất môi trường khu vực dự án.

  1. Địa chất và địa mạo khu vực

Dự án nằm trong vùng Bưng sáu xã (trước đây là vùng nam quận Thủ Đức), nay thuộc quận 9, thành phố HCM. Đây là vùng đồng bằng đầm lầy có độ cao phổ biến là 1 m, bề mặt bằng phẳng, bị ngập khi triều cao, bị chia cắt mạnh bởi mạng kênh rạch chằng chịt với mật độ phân cắt từ  4 đến 8 km/km2 (Hình 1). Các kênh, rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều, dừa nước mọc theo bờ. Trên bề mặt đồng bằng phân bố rải rác vài gò đất cao, đó là các “giồng” cát có phương kéo dài á vĩ tuyến. Các giồng cát cao hơn bề mặt đồng bằng từ 1 đến 2 m. Giồng cát là địa hình thuận lợi để dân cư tập trung, lớn nhất là giồng Ông Tố thuộc xã Bình Trưng (giồng Ông Tố có nghĩa trang Văn Giáp, nơi có mộ AHLS Nguyễn Văn Trỗi).

Hình 1. Ảnh Landsat TM năm 1992. Vùng đất thấp (đầm lầy) có màu đỏ và nâu thẫm

Hình 1. Ảnh Landsat TM năm 1992. Vùng đất thấp (đầm lầy) có màu đỏ và nâu thẫm Tiếp tục đọc “VÀI NÉT VỀ ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG và CẢM NGHĨ SAU KHI BỐC THĂM ĐẤT NỀN DỰ ÁN 245 ĐẠI HỌC QUỐC GIA”

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU

Hà Quang Hải

I. Công viên Địa chất Toàn cầu là gì?

Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO là những khu vực địa lý riêng biệt, thống nhất gồm các điểm địa chất và cảnh quan có ý nghĩa quốc tế, được quản lý bằng một khái niệm tổng thể bao gồm việc bảo vệ, giáo dục và phát triển bền vững. Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO sử dụng di sản địa chất kết hợp với tất cả các khía cạnh khác về di sản thiên nhiên và văn hóa của khu vực nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết các vấn đề chính mà xã hội đang phải đối mặt, chẳng hạn như sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên trái đất, giảm nhẹ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và giảm tác động của thiên tai. Bằng cách nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản địa chất của khu vực, Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO cung cấp cho người dân địa phương niềm tự hào và gắn bó cuộc sống của họ với khu vực. Việc tạo ra các doanh nghiệp địa phương đổi mới, những việc làm mới và các khóa học đào tạo chất lượng cao được kích thích khi các nguồn thu nhập mới được tạo ra thông qua du lịch địa chất, trong khi nguồn tài nguyên địa chất của khu vực được bảo vệ [1].

II. Các tiêu chí để Công viên Địa chất Toàn cầu

Theo UNESCO, các tiêu chí [2] để phát triển CVĐCTC có thể tóm tắt như sau:

  1. Qui mô và khung cảnh

CVĐCTC phải là khu vực có ranh giới rõ ràng và có diện tích đủ lớn để phục vụ phát triển kinh tế và văn hóa địa phương (chủ yếu thông qua du lịch). Mỗi CVĐC phải thể hiện được một loạt điểm địa chất (geosite) có ý nghĩa mang tầm quốc tế, khu vực và/hoặc quốc gia. Các điểm địa chất này có tầm quan trọng từ quan điểm khoa học, sự hiếm có, giáo dục và/hoặc thẩm mỹ.

  1. Quản lý và tham gia của địa phương

Thành công trong quản lý CVĐCTC chỉ có thể đạt được thông qua sự tham gia sâu sắc của địa phương. Sáng kiến tạo nên CVĐC phải đến từ cộng đồng/chính quyền địa phương với cam kết mạnh mẽ để phát triển và thực thi kế hoạch quản lý đáp ứng các nhu cầu kinh tế cho người dân địa phương, trong khi bảo vệ cảnh quan (địa chất) nơi họ sinh sống. Tiếp tục đọc “GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU”

THAM GIA ĐOÀN KHẢO SÁT CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT BÌNH CHÂU – LÝ SƠN (BINH CHAU – LY SON GEOPARK)

Chuyến khảo sát đảo Lý Sơn (cù lao Ré, cù lao Bờ Bãi) và dải ven biển Bình Châu cùng với các nhà khoa học trong và ngoài nước từ nhiều chuyên ngành khác nhau cho thấy các geosite (di sản địa chất, địa mạo) trong khu vực này có giá trị cao về khoa học Trái đất, đặc biệt về hoạt động núi lửa. Các tác động lâu dài của ngoại sinh, nhất là của biển cả đã tạo nên các geosite (địa mạo) đa dạng như: thềm biển, bãi biển, hang biển, cầu thiên nhiên, vách biển (cổ và trẻ), đê biển cổ, lòng sông cổ…của khu vực. Các geosite này có tiềm năng để phát triển thành Công viên Địa chất toàn cầu.

Ngoài các giá trị về khoa học địa chất, một số geosite còn có các giá trị về văn hóa, lịch sử, tâm linh như các đê cát cổ, thềm biển liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh, cù lao cổ liên quan đến văn hóa Chăm và đặc biệt cù lao Ré, nơi lưu trữ những dấu ấn đậm nét một thời của ông, cha ta gìn giữ biển đảo của tổ quốc.

Là người đã hướng dẫn sinh viên quê ở Lý Sơn thực hiện khóa luận về du lịch địa chất và tham gia đợt khảo sát này, tôi đánh giá cao quyết định của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc xây dựng Công viên Địa chất toàn cầu Bình Châu – Lý Sơn nhằm bảo vệ, bảo tồn các di sản tự nhiên quí giá này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Đoàn Ánh Dương đã tạo cho tôi cơ hội tham gia đợt khảo sát đa ngành này; đặc biệt cảm ơn ông Đoàn Sung (Chủ tịch hội đồng quản trị) người có những ý tưởng hay về bảo tồn các di sản tự nhiên, di sản văn hóa gắn với sự phát triển kinh tế cộng đồng và là người đã tạo mọi điều kiện để đoàn công tác hoàn thành những nội dung của đợt khảo sát.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến TS. Nguyễn Ngọc Thu, đồng nghiệp rất gần gũi với tôi từ phương án đo vẽ Bản đồ địa chất và khoáng sản 1:50.000 thành phố Hồ Chí Minh (1981-1987) và các đề tài về Địa chất môi trường khi cùng công tác tại Liên đoàn Địa chất 6. TS. Nguyễn Ngọc Thu cũng là người giới thiệu tôi với Công ty Đòan Ánh Dương để tham gia đợt khảo sát này.

Dưới đây là một vài đoạn trích từ nhật ký chuyến công tác. Tiếp tục đọc “THAM GIA ĐOÀN KHẢO SÁT CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT BÌNH CHÂU – LÝ SƠN (BINH CHAU – LY SON GEOPARK)”

THỰC ĐỊA BỔ SUNG ĐẢO PHÚ QUỐC

Kém 1 ngày tròn 1 tháng sau bảo vệ hội đồng cấp chuyên môn, theo góp ý của Hồi đồng, NCS. Lê Hoài Nam cùng thày hướng dẫn trở lại Phú Quốc để tiến hành một số lộ trình bổ sung cho đề tài luận án “Nghiên cứu xói lở bờ biển đảo Phú Quốc trong điều kiện mực nước biển dâng”. Trọng tâm lộ trình bổ sung là kiểm tra bậc thềm biển cao 100 m và lập mặt cắt địa mạo cắt ngang đảo Phú Quốc, ngoài ra tiến hành khảo sát lặp lại một số điểm xói lở bờ biển.

14 giờ ngày 24 tháng 3, tới nhà nghỉ An Dương, thị trấn Dương Đông. Triển khai phân tích bản đồ, ảnh viễn thám, lên lộ trình bổ sung cho đợt khảo sát 5 ngày. 15:30 điểm lộ đầu tiên tại yên ngựa giữa dãy Dương Đông và núi Suối Đá quan sát thềm bậc 5, nơi đang được san lấp mặt bằng để xây dựng khách sạn. Đi về phía tây 500 m quan sát bề mặt thềm 100 m có dạng đỉnh bằng khá rõ. Vách mới san ủi cắt dọc sườn đồi thềm.

Thềm biển bậc 6 (cao 100 m) phía đông đỉnh 199 dãy Dương Đông
Thềm biển bậc 6 (cao 100 m) phía đông đỉnh 199 dãy Dương Đông

Ngày 25 tiến hành xác định các bậc thềm theo tuyến mặt cắt phía bắc núi Khu Tượng (253 m). Một hệ thống bậc thềm hiện diện tại đây từ thềm 2 đến thềm 6. Bề mặt thềm 6 phía bắc núi Khu Tượng cao 100 m, khá bằng phẳng, diện tích tới 300 m2.

Thềm biển bậc 6 cao 100 m, phía bắc núi Khu Tượng (253 m)
Bề mặt thềm biển bậc 6 cao 100 m, phía bắc núi Khu Tượng (253 m)

Ngày 26, khảo sát dọc bờ biển Cửa Cạn, Vũng Bàu và phía nam Bãi Dài. Nhìn chung xói lở vẫn đang tiến triển.

Xói lở bờ biển tại Cửa Cạn
Xói lở bờ biển tại Cửa Cạn
Xói lở bờ biển tại Bãi Dài
Xói lở bờ biển tại Bãi Dài

Tiếp tục đọc “THỰC ĐỊA BỔ SUNG ĐẢO PHÚ QUỐC”

BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI LÒNG SÔNG TIỀN VÀ SÔNG HẬU GẦN ĐÂY: TÁC ĐỘNG RÕ RỆT CỦA KHAI THÁC ĐÁY SÔNG VÀ LIÊN CAN ĐẾN SỰ MẤT ỔN ĐỊNH ĐỒNG BẰNG

Guillaume Brunier, EdwardJ.Anthony, Marc Goichot, Mireille Provansal, Philippe Dussouillez

TÓM TẮT

Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới với dân cư đông đúc, được bao bọc đáng kể bởi các công trình kỹ thuật và đê bao để bảo vệ người dân và cơ sở hạ tầng trước các trận bão, lũ và các trại nuôi tôm khỏi nước mặn xâm nhập. Áp lực phát triển kinh tế ở Việt Nam và các nước thượng nguồn đã dẫn đến việc xây dựng một số đập thủy điện ở Trung Quốc và khai thác vật liệu đáy sông mạnh mẽ. Những hoạt động phát triển này đã ảnh hưởng đến động lực đồng bằng theo nhiều cách khác nhau.

Trong nghiên cứu này, những biến đổi hình thái lòng sông Tiền và sông Hậu, hai sông chính trong phạm vi đồng bằng kéo dài 250 km từ biên giới Campuchia đến bờ biển được phân tích bằng số liệu đo sâu lòng sông năm 1998 và 2008. Kết quả phân tích cho thấy sự biến đổi đáy sông mạnh mẽ và bất thường trong giai đoạn 10 năm, trong đó đáng kể là sự hạ thấp và mở rộng của nhiều hố sâu.

Độ sâu trung bình cả hai sông tăng hơn 1,3 m. Cả hai sông có sự mất đi vật liệu đáy đáng kể, tương đương nhau: 90 triệu m3 ở sông Tiền và 110 triệu m3 ở sông Hậu trong giai đoạn 10 năm. Những tổn thất rất lớn này chỉ trong thời gian tương đối ngắn và mối tương quan yếu giữa sự khoét sâu đáy sông và các thông số thủy lực cho thấy những biến đổi hình thái rõ rệt này không cân bằng với điều kiện dòng chảy và vận chuyển trầm tích, và do đó không liên quan đến những biến đổi về chế độ thủy văn sông. Chúng tôi cho rằng khai thác vật liệu đang diễn ra trên quy mô rất lớn trong các sông đồng bằng sông Cửu Long và thượng lưu của đồng bằng này là nguyên nhân chính của những thay đổi hình thái gần đây.

Những biến đổi này được coi là đóng góp tích cực vào xói lở tràn lan bờ sông và bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long. Các hoạt động khác làm biến đổi hình thái lòng sông bao gồm các tuyến đê, kè trên đồng bằng. Vai trò của các đập thủy điện hiện có ảnh hưởng đến hình thái đáy sông vẫn chưa rõ do không có dữ liệu đáng tin cậy về tải lượng trầm tích sông Mê Công. Phát triển đập thủy điện qui mô lớn trên dòng chính sông Mê Công sẽ có những tác động tích lũy cùng với khai thác vật liệu làm gia tăng biến đổi hình thái, sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến các vùng đồng bằng, đặc biệt là sự thiếu hụt trầm tích và xói lở bờ biển.

Hình 1: Đồng bằng sông Cửu Long với sông Tiền (Mekong) và sông Hậu (Bassac)
Hình 1: Đồng bằng sông Cửu Long với sông Tiền (Mekong) và sông Hậu (Bassac)

Tiếp tục đọc “BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI LÒNG SÔNG TIỀN VÀ SÔNG HẬU GẦN ĐÂY: TÁC ĐỘNG RÕ RỆT CỦA KHAI THÁC ĐÁY SÔNG VÀ LIÊN CAN ĐẾN SỰ MẤT ỔN ĐỊNH ĐỒNG BẰNG”

LÁT CẮT MÔI TRƯỜNG SƠ BỘ QUA MỘT VÀI MỎ ĐÁ Ở DĨ AN – BIÊN HÒA (Khảo sát cùng với lớp QLMT_K25)

Dĩ An – Biên Hòa từ lâu đã nổi tiếng với việc khái thác đá làm vật liệu xây dựng. Đá ở khu vực này có chất lượng tốt, lớp phủ thường mỏng, đôi khi lộ ngay trên mặt địa hình; lại nằm rất gần các đô thị lớn (TP. HCM, Biên Hòa, Thủ Dầu Một) và các khu công nghiệp nên lợi ích kinh tế từ việc khai thác đá là rất lớn.

Hoạt động khai thác đá khu vực này đã có từ rất lâu, trước năm 1975 chỉ là những hoạt động khai thác nhỏ, nhưng vài chục năm trở lại đây cả khu vực đã trở thành vùng khai thác lớn. Một bề mặt địa hình trước đây cao 25 – 30 m phân bố ven sông Đồng Nai rất thích hợp cho việc phát triển đô thị nay đã trở nên nham nhở với các hố to, nhỏ đủ mọi hình dạng, nhiều hố sâu tới 80 m. Hiện trạng các moong khai thác khu vực này có thể sơ bộ phân thành ba dạng.

1) Các moong khai thác bỏ hoang, môi trường ô nhiễm, tiềm ẩn rủi ro

2) Các moong khai thác cũ có sự quản lý nhưng chưa được phục hồi, tiềm ẩn rủi ro

3) Moong khai thác được cải tạo thành khu du lịch

Dưới đây là những câu hỏi đặt ra cho các bạn SV lớp QLMT_K 25 sau khi thực hiện tuyến khảo sát hiện trạng các moong khai thác đá Đại học QG. TP.HCM – Châu Thới – Bửu Long.

Các hồ đá trong khuôn viên Đại học Quốc gia TP. HCM

Hiện trạng môi trường tại Hồ Đá lớn (trước nhà khách) và Hồ Quốc Phòng ?

Phác tính khối lượng đá đã lấy đi ở Hồ Đá lớn, hệ số và đặc điểm tầng đất phủ?

Đề xuất cải tạo, sử dụng mặt bằng?

Vách đá ven Hồ Đá lớn
Một vị trí vách đá ven Hồ Đá lớn

Tiếp tục đọc “LÁT CẮT MÔI TRƯỜNG SƠ BỘ QUA MỘT VÀI MỎ ĐÁ Ở DĨ AN – BIÊN HÒA (Khảo sát cùng với lớp QLMT_K25)”

TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 2: Tác động môi trường và xã hội

2.1 Tác động đến tài nguyên nước

Tác động lớn nhất của một dự án khai thác mỏ là ảnh hưởng của nó đến chất lượng nước và việc sử dụng tài nguyên nước trong khu vực dự án. Câu hỏi cốt lõi ở đây là sự cung cấp nước mặt và nước ngầm liệu có còn đáp ứng cho con người, và chất lượng nước mặt liệu có đủ để hỗ trợ sinh vật sống trên cạn và dưới nước không.

2.1.1 Thoát nước axít và rò rỉ chất ô nhiễm

SỰ HÌNH THÀNH A XIT: thoát nước axit là một mối quan tâm ở nhiều mỏ kim loại, bởi các kim loại như vàng, đồng, bạc và molypden, thường được tìm thấy trong đá chứa khoáng vật sunfua. Khi khai đào sunfua trong đá tiếp xúc với nước và không khí tạo thành axit sunfuric. Nước có tính axit có thể hòa tan các kim loại độc khác từ các đá vây quanh. Nếu không được kiểm soát, nước axit có thể chảy vào suối hoặc sông, hoặc ngấm vào nước ngầm. Nước axit có thể rò rỉ từ bất kỳ bộ phận nào của mỏ, nơi sunfua được tiếp xúc với không khí và nước bao gồm: các đống đá thải, đuôi quặng, moong khai thác, các đường hầm, và các tấm đệm tách lọc quặng.

TÁC HẠI ĐẾN SINH VẬT DƯỚI NƯỚC: Nhiều dòng suối bị ảnh hưởng bởi thoát nước axit từ mỏ có pH bằng 4 hoặc thấp hơn – tương tự như axit trong các cục pin. Thực vật, động vật, và cá không có khả năng tồn tại trong các dòng suối này.

CÁC KIM LOẠI ĐỘC: Thoát nước axít mỏ cũng hòa tan các kim loại độc hại, chẳng hạn như đồng, nhôm, cadmium, arsen, chì và thủy ngân từ đá xung quanh. Những kim loại, nhất là sắt có thể phủ một lớp lên đáy suối bằng một chất nhờn màu đỏ-cam (hay cụm oxit sắt). Ngay với một lượng rất nhỏ kim loại cũng có thể gây độc cho con người và động vật hoang dã. Khi được nước mang theo, các kim loại có thể gây ô nhiễm suối và nước ngầm cho khoảng cách rất xa khu mỏ.

Ô NHIỄM VĨNH VIỄN: thoát nước axit từ mỏ đặc biệt nguy hiểm vì nó có thể gây thiệt hại vô thời hạn sau khi khai thác mỏ đã kết thúc. Do mức độ nghiêm trọng của các tác động chất lượng nước từ thoát nước axit, nhiều mỏ đòi hỏi phải xử lý nước vĩnh viễn. Ngay cả với công nghệ hiện có, hệ thống thoát nước axit là hầu như không thể dừng lại một khi các phản ứng bắt đầu. Có thể phải mất hàng trăm năm để xử lý.

Acid mine drainage. PHOTO: SOSBlueWaters.org
Acid mine drainage. PHOTO: SOSBlueWaters.org

Tiếp tục đọc “TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 2: Tác động môi trường và xã hội”

TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 1: Các giai đoạn của dự án khai thác

1.1 Thăm dò

Một dự án khai thác mỏ chỉ có thể bắt đầu khi hiểu biết đầy đủ về qui mô và giá trị của quặng. Thông tin về vị trí, giá trị của quặng được thu thập thông qua khảo sát, nghiên cứu thực địa, khoan kiểm tra và khai đào.

Trước tiên phải loại bỏ thực vật để cho các xe cơ giới có giàn khoan có thể tiến vào. Nhiều nước yêu cầu thành lập một báo cáo ĐTM riêng cho giai đoạn thăm dò. Vì các tác động của giai đoạn này có thể là đáng kể và vì các giai đoạn tiếp theo của khai thác có thể không được thực hiện khi việc thăm dò cho thấy lượng quặng không đáp ứng cho khai thác.

1.2 Giai đoạn phát triển

Nếu giai đoạn thăm dò cho thấy một lượng quặng đủ lớn thì có thể bắt đầu lên kế hoạch cho giai đoạn phát triển khai thác mỏ gồm:

1.2.1 Xây dựng đường vào mỏ

Đường vào mỏ để đưa các thiết bị nặng, vật tư cho khu mỏ hoặc để vận chuyển kim loại và quặng đã được xử lý ra bên ngoài. Việc này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu đường giao thông đi qua khu vực sinh thái nhạy cảm hoặc gần các cộng đồng đã có trước đó. Đánh giá tác động môi trường đường vào mỏ phải thực hiện đầy đủ khi đáng giá tác động dự án khái thác mỏ.

Erosion near a mining road, Pelambres mine, Chile. PHOTO: Rocio Avila Fernandez
Erosion near a mining road, Pelambres mine, Chile. PHOTO: Rocio Avila Fernandez

1.2.2 Chuẩn bị mặt bằng

Dự án phải bắt đầu với việc giải phóng mặt bằng cho diện tích khái thác, tập kết thiết bị, khu hành chính. Hoạt động này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu dự án ở trong hoặc lân cận với khu vực sinh thái nhạy cảm. ĐTM phải được đánh giá một cách riêng rẽ cho các tác động liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng.

1.1.3 Hoạt động khai thác

Tất cả các loại hoạt động khai thác đều có chung một qui trình: khai thác và làm giàu quặng kim loại. Thông thường, các thân quặng nằm dưới dưới một lớp đất hoặc đá phủ, chúng phải được lấy đi trước khi khai thác.

1.1.3.1 Khai thác mỏ lộ thiên

Là loại hình khai thác dải (strip mining), trong đó quặng phân bố sâu xuống lòng đất, đòi hỏi phải loại bỏ lớp phủ bên trên quặng. Việc sử dụng các máy móc cơ giới nặng, thường là xe ủi đất và xe tải, để đổ đất đá thải. Khai thác lộ thiên thường liên quan đến việc loại bỏ thảm thực vật bản địa, việc này được xem là một trong những hoạt động hủy hoại môi trường lớn nhất của khai thác quặng, đặc biệt là đối với các khu rừng nhiệt đới.

Open-pit mine in Cerro de Pasco, Peru. PHOTO: Centro de Cultura Popular LABOR, Peru
Open-pit mine in Cerro de Pasco, Peru.PHOTO: Centro de Cultura Popular LABOR, Peru

Tiếp tục đọc “TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 1: Các giai đoạn của dự án khai thác”

XÓI LỞ BỜ TÂY CỬA LỘC AN VÀ CÔNG NGHỆ STABIPLAGE

Hà Quang Hải, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Thị Thu Hiền, Hoàng Thị Phương Chi

I. Giới thiệu

Trong môn học “Quản lý tổng hợp đới bờ” ngoài phần lý thuyết có phần thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ theo lộ trình Bà Rịa, Vũng Tàu – Bình Thuận. Cửa Lộc An là một trong những điểm để sinh viên quan sát kè mỏ hàn Stabiplage chống xói lở bờ biển. Đây là công nghệ mềm của Cộng hoà Pháp, lần đầu tiên được tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu áp dụng ở Việt Nam. Qua bốn năm dẫn sinh viên (2012 – 2015), chúng tôi nhận thấy bờ tây cửa Lộc An (nơi đặt các mỏ hàn Stabiplage) biến đổi nhanh với xu thế xói lở gia tăng, các mỏ hàn mất dần tác dụng bảo vệ bờ. Tới tháng 12 năm 2015 nhiều mỏ hàn đã bị phá hủy toàn bộ.

Gần đây trên trang web site của Sở KHCN Bà Rịa – Vũng Tàu có bài “Hiện trạng xói, bồi bờ biển khu vực cửa Lộc An, huyện Đất Đỏ”. Bài báo diễn giải khá chi tiết về tiến trình xói lở và bồi tụ khu vực cửa Lộc An, đặc biệt có sự đánh giá sơ bộ về vai trò của Stabiplage trong việc chống xói lở trong giai đoạn đầu (2005 – 2011). Bài báo có đoạn “bờ phía Nam cửa sông thuộc phần nằm trong đất liền (Tính từ thượng nguồn xuống) đang bị xói lở rất mạnh, còn bờ phía bên trái (Phần nằm ngoài biển) lại đang bị bồi rất mạnh và hiện một doi cát dài hàng nghìn mét đang dần dần tiến xuống phía Nam. Hiện tượng vừa xói lở vừa bồi lấp đang gây mất ổn định cho cả khu vực” [1]. Nhận xét này cũng phù hợp với những quan sát của chúng tôi từ những đợt dẫn sinh viên thực tập tại cửa Lộc An.

Trong bài viết này, chúng tôi trình bày rõ hơn về sự biến đổi nhanh chóng bờ tây cửa Lộc An, hiệu quả mỏ hàn Stabiplage trong việc kiểm soát xói lở, nguyên nhân gây xói lở và đề xuất giải pháp kiểm soát xói lở đoạn bờ này.

II. Quan sát xói lở bờ tây cửa Lộc An tại thực địa

Từ năm 2012 đến năm 2015, chúng tôi có 4 đợt thực tập quan sát xói lở tại cửa Lộc An và vai trò của Stabiplage trong việc bảo vệ bờ biển. Dưới đây là những tài liệu ghi nhận tại thực địa.

1) Ngày 30 tháng 11 năm 2012

Stabiplage (viết tắt là S) đặt dọc theo cửa Lộc An – cửa sông Ray (Hình 1, trái) đã xuống cấp, đây có thể là mỏ hàn “tam giác để bảo vệ đoạn bờ sông – biển” được đặt năm 2011 [1].

S.1 đặt vuông góc với bờ tây (bờ biển phía tây) còn khá nguyên vẹn, nằm trên bãi biển cát (Hình 1, phải). Phía đầu S.1 là vách xói lở cao 1,8 m cắt vào cồn cát làm lộ trơ nhiều gốc cây phi lao.

Hình 1. S cửa Lộc An (trái) và S.1 (phải)
Hình 1. S cửa Lộc An (trái) và S.1 (phải)

Lúc này đã có sự xâm thực vào tầng bột, sét màu xám đen chứa nhiều thực vật phân hủy (nguồn gốc đầm lầy) ở khoảng giữa S.1 và S cửa sông (Hình 2, trái). S. 2 phần lớn nằm chìm dưới cát (Hình 2, phải).

Hình 2. Xâm thực vào tầng bột, sét (trái) và S.2 (phải)
Hình 2. Xâm thực vào tầng bột, sét (trái) và S.2 (phải)

Tiếp tục đọc “XÓI LỞ BỜ TÂY CỬA LỘC AN VÀ CÔNG NGHỆ STABIPLAGE”