CHUYÊN ĐỀ: ĐẶC ĐIỂM ĐẤT FERALIC THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG

(TS. Nguyễn Trường Ngân, Đại học Bách Khoa TP.HCM)

  1. Quá trình feralic (tích lũy sắt nhôm tương đối)

Feralic là quá trình hình thành đất phổ biến tại các vùng đồi núi của Việt Nam, tạo nên màu đỏ vàng cho đất. Quá trình này trải qua 2 giai đoạn với các điều kiện cần thiết như hình 1.

hinh 1
Hình 1: Tóm tắt quá trình feralic trên đất đồi núi Việt Nam

Các đá mẹ và mẫu chất giàu Fe, Al phổ biến ở Việt Nam là: Đá basalt, đá phiến sét và mẫu chất phù sa cổ.

Trong điều kiện địa hình dốc, SiO2 và các oxit kiềm, kiềm thổ bị thủy phân thành các chất hòa tan và dễ dàng bị rửa trôi do mưa. Các oxit Fe, Al ngậm nước để tạo thành các khoáng không tan như Limonite (Fe2O3.nH2O) hay Gippxite (Al2O3.nH2O) và được giữ lại trong đất, khiến tỷ lệ Fe, Al trong đất giàu lên tương đối.

Một số yếu tố hạn chế quá trình feralic:

– Trường hợp độ cao >1000m, nhiệt độ giảm dần, khí hậu càng lạnh, ẩm độ càng tăng, quá trình feralic yếu dần, quá trình tích lũy mùn tăng lên.

– Địa hình dốc thoải, sự rửa trôi giảm và quá trình feralic giảm.

– Thảm thực vật càng dày thì sự rửa trôi càng giảm và quá trình feralic giảm.

 2. Khái quát về thổ nhưỡng theo tuyến thực tập

Thực tập môi trường đại cương với lộ trình trải dài qua 4 tỉnh: TPHCM, Đồng Nai, Lâm Đồng và Khánh Hòa. Trong đợt thực tập này, sinh viên có cơ hội tiếp cận và nghiên cứu hầu hết các nhóm đất chính của vùng Đông Nam Bộ, Tây nguyên và Duyên hải miền Trung.

Tổng quan các loại đất dọc theo tuyến thực tập thể hiện như hình 2.

hinh 2
Hình 2: Bản đồ thổ nhưỡng dọc tuyến thực tập Môi trường Đại cương

Đọc tiếp “CHUYÊN ĐỀ: ĐẶC ĐIỂM ĐẤT FERALIC THEO TUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐẠI CƯƠNG”

Các dự án đập Mekong ‘có thể phá hủy sinh kế, sinh thái’

PRATCH RUJIVANAROM

Các nhóm môi trường cảnh báo nhiều khu vực có thể bị phá hủy toàn bộ trong vòng 10 năm tới

Người dân tỉnh Stung Treng, Campuchia kiếm sống từ sông Mekong, nơi nhiều đập thủy điện sẽ được xây dựng
Người dân tỉnh Stung Treng, Campuchia kiếm sống từ sông Mekong, nơi nhiều đập thủy điện sẽ được xây dựng

SINH THÁI của sông Mekong có thể bị phá hủy trong vòng 10 năm  tới nếu dự án các đập dọc theo sông được phép tiếp tục, các tổ chức phi chính phủ của Thái Lan và Campuchia đã cảnh báo.

Các tổ chức này cũng cảnh báo rằng sẽ rất khó khăn cho những người yêu cầu bồi thường do các tác động tiêu cực của các dự án đến môi trường và sinh kế của họ vì sẽ rất khó chỉ ra những ảnh hưởng rõ ràng của một con đập cụ thể.

Các tổ chức phi chính phủ (NGO) thúc giục các chính phủ có liên quan hiểu rõ hơn tình cảnh này và quan tâm nhiều hơn về các tác động xuyên biên giới từ các dự án phát triển dọc theo sông Mekong nhằm ngăn chặn những hậu quả bất lợi có thể gây tổn hại đến cuộc sống của hàng triệu người phụ thuộc vào dòng sông. Đọc tiếp “Các dự án đập Mekong ‘có thể phá hủy sinh kế, sinh thái’”

CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TỪ ĐÁ CÂN BẰNG (BALANCING ROCK) – MỘT TRONG NHỮNG GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA ĐA DẠNG ĐỊA HỌC

Đa dạng địa học có nhiều giá trị, trong đó cảm hứng nghệ thuật là một trong những khía cạnh của giá trị thẩm mỹ. Các nghệ sỹ, nhạc sỹ, nhà thơ, nhà văn, nhiếp ảnh gia thường có những tác phẩm lấy cảm hứng từ cảnh quan kì vĩ và sự muôn sắc màu và hình dạng của đá.

Địa môi trường đã giới thiệu sơ bộ về công viên Đá Ba Chồng ở Định Quán, các hình ảnh đá chồng ở Cổ Thạch và núi Le. Đây là những dạng địa hình đá cân bằng (balancing rock) được hình thành do quá trình xâm thực của sông và biển.

Dưới đây là những hình ảnh tuyệt vời của nhiếp ảnh gia Adrian Gray lấy cảm hứng từ đá cân bằng. Các bạn sinh viên khoa Môi trường cũng có thể thực hành nghệ thuật này tại hai điểm trong chương trình thực tập ở ngoài trời: điểm 1) bãi đá cuội thượng nguồn sông Cái (chân đèo Khánh Lê) và 2) bãi đá cuội 7 màu ở Cổ Thạch.

Với hậu cảnh là đảo Man – một vùng đất tự trị nằm trong vùng biển Iceland, nhiếp ảnh gia Adrian Gray đã thực hiện bộ ảnh về những tác phẩm sắp đặt phản trọng lực có một không hai của mình.

Adrian Gray được biết đến như một trong những nghệ sĩ hàng đầu thế giới về nghệ thuật sắp đặt. Mới đây, anh đã “trình làng” bộ ảnh về những hòn đá xếp chồng lên nhau bất chấp trọng lực tại bờ biển đảo Man, Anh Quốc nhằm tôn vinh vẻ đẹp của hòn đảo này. Trong bộ ảnh, những hòn đá trông như đang chồng lơ lửng lên nhau trong không trung. Để thực hiện bộ ảnh này, Adrian đã tiêu tốn hàng giờ đồng hồ dạo quanh khắp đảo để chọn ra những hòn đá, rửa sạch chúng và thực hiện tuyệt tác của mình.

Nghệ thuật của sự cân bằng là đây: những hòn đá được chồng lên nhau trong một hang động khi thủy triều xuống ở thung lũng Maye, thuộc đảo Man.
Nghệ thuật của sự cân bằng là đây: những hòn đá được chồng lên nhau trong một hang động khi thủy triều xuống ở thung lũng Maye, thuộc đảo Man.
Góc chụp thông minh tạo cảm giác như những hòn đá này muốn vượt trội hơn so với ngọn hải đăng ở mũi Ayre.
Góc chụp thông minh tạo cảm giác như những hòn đá này muốn vượt trội hơn so với ngọn hải đăng ở mũi Ayre.
Một sự sáng tạo đầy liều lĩnh của Adrian khoác lên mình vẻ đẹp rực rỡ dưới ráng chiều ở phía nam hòn đảo.
Một sự sáng tạo đầy liều lĩnh của Adrian khoác lên mình vẻ đẹp rực rỡ dưới ráng chiều ở phía nam hòn đảo.

Đọc tiếp “CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TỪ ĐÁ CÂN BẰNG (BALANCING ROCK) – MỘT TRONG NHỮNG GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA ĐA DẠNG ĐỊA HỌC”

CÁ CHẾT HÀNG LOẠT Ở VEN BIỂN BẮC TRUNG BỘ – THÊM MỘT VÍ DỤ CHO MÔN HỌC QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ

Hà Quang Hải

  1. Thảm họa biển Bắc Trung Bộ – thảm họa Vũng Áng

Có thể nói, cá chết hàng loạt ở ven biển Bắc Trung Bộ là thảm họa môi trường do con người gây ra (nhân tai) chưa từng có tại Việt Nam. Hiện tượng cá chết xuất hiện ngày 6 tháng 4, từ Vũng Áng, Hà Tĩnh sau đó lan đến biển Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Lượng cá chết 30 tấn, 40 tấn hay bao nhiêu tấn còn là dấu hỏi. Sự kiện này đã kéo dài 3 tuần; 5 – 6 bộ, ngành cùng với 4 tỉnh trên đã vào cuộc; phó thủ tướng và thủ tướng đã chỉ đạo xác định nguyên nhân và hỗ trợ kịp thời cho người dân nuôi trồng và đánh bắt hải sản bị thiệt hại.

Việc xác định nguyên nhân làm cá chết hàng loạt như trên cần phải có kết quả sớm nhất để có giải pháp ngăn chặn. Những tác động đến môi trường tự nhiên và kinh tế – xã hội của thảm họa này chắc chắn phải được điều tra, đánh giá như: môi trường nước, môi trường đất, hệ sinh thái …, sức khỏe cộng đồng, thiệt hại của các ngành nghề liên quan như du lịch, dịch vụ…

Cá chết hàng loạt với lượng lớn (cả tầng mặt và đáy), trên qui mô rộng (4/6 tỉnh Bắc Trung Bộ), tác động đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ảnh hướng rất lớn đến môi trường tự nhiên và kinh tế-xã hội. Giải quyết thảm họa này chắc chắn phải mất một thời gian dài.

Qua thảm họa cá chết hàng loạt, các cơ quan chức năng chắc chắn phải rà soát lại các báo cáo đánh giá tác động môi trường, hệ thống quan quan trắc, hệ thống giám sát môi trường đối với các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, bởi rõ ràng việc vận hành những hoạt động này như thời gian qua là không hiệu quả. Qua thảm họa này cũng cần phải xem xét cải thiện qui trình phản ứng với thảm họa môi trường của các bộ, ngành, địa phương để tránh tình trạng chậm chạp, chồng chéo và lúng túng như hiện nay.

Môn học Quản lý tổng hợp đới bờ đã có ví dụ về “Thảm họa Minamata”, nay sẽ bổ sung thêm một ví dụ nữa – Thảm họa biển Bắc Trung Bộ” hay “Thảm họa Vũng Áng”. Đọc tiếp “CÁ CHẾT HÀNG LOẠT Ở VEN BIỂN BẮC TRUNG BỘ – THÊM MỘT VÍ DỤ CHO MÔN HỌC QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI BỜ”

VÀI NÉT VỀ ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG và CẢM NGHĨ SAU KHI BỐC THĂM ĐẤT NỀN DỰ ÁN 245 ĐẠI HỌC QUỐC GIA

  1. Thêm tí hy vọng sau 16 năm

Tuần qua, sau khi bốc thăm đất nền “Dự án 245 Đại học Quốc gia” mọi người có vẻ được chút niềm vui. Thú thật, qua 16 năm đóng tiền mình không còn trông mong gì ở dự án này nữa, coi như đây là đầu tư rủi ro và đã thất bại. Vì vậy mình cũng không có dự định  bốc thăm. Cô Huệ, cô Thảo gửi mail thông báo về lịch bốc thăm đất nền, mình chỉ xem qua, không ý kiến gì. Đến sáng thứ 5, trưởng khoa môi trường (cô Hiền) đi bốc thăm và thúc dục mình cứ đi bốc đi, nếu không thích thì chuyển lại cho cô “sáng nay cả thày Cảnh, cô Thảo đi đấy”.

Gọi điện cho thày Tú, thống nhất sáng mai (ngày bốc thăm cuối cùng) hai anh em cùng đi. Tại điểm bốc thăm, mình được chỉ định làm chứng dấu niêm phong cho thùng thư  lô 300, được bốc đầu tiên và được lô 294 m2, khu 1S, gần cây xanh (CX4) và công viên (CX8), một chị bốc sau mình được lô hai mặt tiền (sướng rên), mọi người chúc mừng hai người. Thày Tú bốc thùng 200, được lô 189 m2, khu 1O gần với khu mình. Thày Tú chụp hình tổng thể khu dự án và cận cảnh lô đất của của hai người. Hai anh em phấn khởi ra mặt, rút điện thoại báo tin cho các bà xã, không quên gọi điện cho cô Thảo (người tích cực cung cấp thông tin về đất và đốc thúc mọi người đi bốc thăm và bốc được lô đất gần 300 m, cười vui vẻ và đã lên  kế hoạch tương lai cho lô đất này).

Chiều thày Tú gửi ảnh khu dự án trên Google Earth kèm theo lời “Kính chúc Thầy Hải, Thầy Cảnh, Cô Hiền, Cô Thảo, Cô Loan, Thầy Tú có miếng đất đẹp, ngủ ngon”.

Nhân đây, mình viết vài nét về địa chất môi trường khu vực dự án.

  1. Địa chất và địa mạo khu vực

Dự án nằm trong vùng Bưng sáu xã (trước đây là vùng nam quận Thủ Đức), nay thuộc quận 9, thành phố HCM. Đây là vùng đồng bằng đầm lầy có độ cao phổ biến là 1 m, bề mặt bằng phẳng, bị ngập khi triều cao, bị chia cắt mạnh bởi mạng kênh rạch chằng chịt với mật độ phân cắt từ  4 đến 8 km/km2 (Hình 1). Các kênh, rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều, dừa nước mọc theo bờ. Trên bề mặt đồng bằng phân bố rải rác vài gò đất cao, đó là các “giồng” cát có phương kéo dài á vĩ tuyến. Các giồng cát cao hơn bề mặt đồng bằng từ 1 đến 2 m. Giồng cát là địa hình thuận lợi để dân cư tập trung, lớn nhất là giồng Ông Tố thuộc xã Bình Trưng (giồng Ông Tố có nghĩa trang Văn Giáp, nơi có mộ AHLS Nguyễn Văn Trỗi).

Hình 1. Ảnh Landsat TM năm 1992. Vùng đất thấp (đầm lầy) có màu đỏ và nâu thẫm

Hình 1. Ảnh Landsat TM năm 1992. Vùng đất thấp (đầm lầy) có màu đỏ và nâu thẫm Đọc tiếp “VÀI NÉT VỀ ĐỊA CHẤT MÔI TRƯỜNG và CẢM NGHĨ SAU KHI BỐC THĂM ĐẤT NỀN DỰ ÁN 245 ĐẠI HỌC QUỐC GIA”

BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI LÒNG SÔNG TIỀN VÀ SÔNG HẬU GẦN ĐÂY: TÁC ĐỘNG RÕ RỆT CỦA KHAI THÁC ĐÁY SÔNG VÀ LIÊN CAN ĐẾN SỰ MẤT ỔN ĐỊNH ĐỒNG BẰNG

Guillaume Brunier, EdwardJ.Anthony, Marc Goichot, Mireille Provansal, Philippe Dussouillez

TÓM TẮT

Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng lớn thứ ba trên thế giới với dân cư đông đúc, được bao bọc đáng kể bởi các công trình kỹ thuật và đê bao để bảo vệ người dân và cơ sở hạ tầng trước các trận bão, lũ và các trại nuôi tôm khỏi nước mặn xâm nhập. Áp lực phát triển kinh tế ở Việt Nam và các nước thượng nguồn đã dẫn đến việc xây dựng một số đập thủy điện ở Trung Quốc và khai thác vật liệu đáy sông mạnh mẽ. Những hoạt động phát triển này đã ảnh hưởng đến động lực đồng bằng theo nhiều cách khác nhau.

Trong nghiên cứu này, những biến đổi hình thái lòng sông Tiền và sông Hậu, hai sông chính trong phạm vi đồng bằng kéo dài 250 km từ biên giới Campuchia đến bờ biển được phân tích bằng số liệu đo sâu lòng sông năm 1998 và 2008. Kết quả phân tích cho thấy sự biến đổi đáy sông mạnh mẽ và bất thường trong giai đoạn 10 năm, trong đó đáng kể là sự hạ thấp và mở rộng của nhiều hố sâu.

Độ sâu trung bình cả hai sông tăng hơn 1,3 m. Cả hai sông có sự mất đi vật liệu đáy đáng kể, tương đương nhau: 90 triệu m3 ở sông Tiền và 110 triệu m3 ở sông Hậu trong giai đoạn 10 năm. Những tổn thất rất lớn này chỉ trong thời gian tương đối ngắn và mối tương quan yếu giữa sự khoét sâu đáy sông và các thông số thủy lực cho thấy những biến đổi hình thái rõ rệt này không cân bằng với điều kiện dòng chảy và vận chuyển trầm tích, và do đó không liên quan đến những biến đổi về chế độ thủy văn sông. Chúng tôi cho rằng khai thác vật liệu đang diễn ra trên quy mô rất lớn trong các sông đồng bằng sông Cửu Long và thượng lưu của đồng bằng này là nguyên nhân chính của những thay đổi hình thái gần đây.

Những biến đổi này được coi là đóng góp tích cực vào xói lở tràn lan bờ sông và bờ biển ở đồng bằng sông Cửu Long. Các hoạt động khác làm biến đổi hình thái lòng sông bao gồm các tuyến đê, kè trên đồng bằng. Vai trò của các đập thủy điện hiện có ảnh hưởng đến hình thái đáy sông vẫn chưa rõ do không có dữ liệu đáng tin cậy về tải lượng trầm tích sông Mê Công. Phát triển đập thủy điện qui mô lớn trên dòng chính sông Mê Công sẽ có những tác động tích lũy cùng với khai thác vật liệu làm gia tăng biến đổi hình thái, sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến các vùng đồng bằng, đặc biệt là sự thiếu hụt trầm tích và xói lở bờ biển.

Hình 1: Đồng bằng sông Cửu Long với sông Tiền (Mekong) và sông Hậu (Bassac)
Hình 1: Đồng bằng sông Cửu Long với sông Tiền (Mekong) và sông Hậu (Bassac)

Đọc tiếp “BIẾN ĐỔI HÌNH THÁI LÒNG SÔNG TIỀN VÀ SÔNG HẬU GẦN ĐÂY: TÁC ĐỘNG RÕ RỆT CỦA KHAI THÁC ĐÁY SÔNG VÀ LIÊN CAN ĐẾN SỰ MẤT ỔN ĐỊNH ĐỒNG BẰNG”

LÁT CẮT MÔI TRƯỜNG SƠ BỘ QUA MỘT VÀI MỎ ĐÁ Ở DĨ AN – BIÊN HÒA (Khảo sát cùng với lớp QLMT_K25)

Dĩ An – Biên Hòa từ lâu đã nổi tiếng với việc khái thác đá làm vật liệu xây dựng. Đá ở khu vực này có chất lượng tốt, lớp phủ thường mỏng, đôi khi lộ ngay trên mặt địa hình; lại nằm rất gần các đô thị lớn (TP. HCM, Biên Hòa, Thủ Dầu Một) và các khu công nghiệp nên lợi ích kinh tế từ việc khai thác đá là rất lớn.

Hoạt động khai thác đá khu vực này đã có từ rất lâu, trước năm 1975 chỉ là những hoạt động khai thác nhỏ, nhưng vài chục năm trở lại đây cả khu vực đã trở thành vùng khai thác lớn. Một bề mặt địa hình trước đây cao 25 – 30 m phân bố ven sông Đồng Nai rất thích hợp cho việc phát triển đô thị nay đã trở nên nham nhở với các hố to, nhỏ đủ mọi hình dạng, nhiều hố sâu tới 80 m. Hiện trạng các moong khai thác khu vực này có thể sơ bộ phân thành ba dạng.

1) Các moong khai thác bỏ hoang, môi trường ô nhiễm, tiềm ẩn rủi ro

2) Các moong khai thác cũ có sự quản lý nhưng chưa được phục hồi, tiềm ẩn rủi ro

3) Moong khai thác được cải tạo thành khu du lịch

Dưới đây là những câu hỏi đặt ra cho các bạn SV lớp QLMT_K 25 sau khi thực hiện tuyến khảo sát hiện trạng các moong khai thác đá Đại học QG. TP.HCM – Châu Thới – Bửu Long.

Các hồ đá trong khuôn viên Đại học Quốc gia TP. HCM

Hiện trạng môi trường tại Hồ Đá lớn (trước nhà khách) và Hồ Quốc Phòng ?

Phác tính khối lượng đá đã lấy đi ở Hồ Đá lớn, hệ số và đặc điểm tầng đất phủ?

Đề xuất cải tạo, sử dụng mặt bằng?

Vách đá ven Hồ Đá lớn
Một vị trí vách đá ven Hồ Đá lớn

Đọc tiếp “LÁT CẮT MÔI TRƯỜNG SƠ BỘ QUA MỘT VÀI MỎ ĐÁ Ở DĨ AN – BIÊN HÒA (Khảo sát cùng với lớp QLMT_K25)”

TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 2: Tác động môi trường và xã hội

2.1 Tác động đến tài nguyên nước

Tác động lớn nhất của một dự án khai thác mỏ là ảnh hưởng của nó đến chất lượng nước và việc sử dụng tài nguyên nước trong khu vực dự án. Câu hỏi cốt lõi ở đây là sự cung cấp nước mặt và nước ngầm liệu có còn đáp ứng cho con người, và chất lượng nước mặt liệu có đủ để hỗ trợ sinh vật sống trên cạn và dưới nước không.

2.1.1 Thoát nước axít và rò rỉ chất ô nhiễm

SỰ HÌNH THÀNH A XIT: thoát nước axit là một mối quan tâm ở nhiều mỏ kim loại, bởi các kim loại như vàng, đồng, bạc và molypden, thường được tìm thấy trong đá chứa khoáng vật sunfua. Khi khai đào sunfua trong đá tiếp xúc với nước và không khí tạo thành axit sunfuric. Nước có tính axit có thể hòa tan các kim loại độc khác từ các đá vây quanh. Nếu không được kiểm soát, nước axit có thể chảy vào suối hoặc sông, hoặc ngấm vào nước ngầm. Nước axit có thể rò rỉ từ bất kỳ bộ phận nào của mỏ, nơi sunfua được tiếp xúc với không khí và nước bao gồm: các đống đá thải, đuôi quặng, moong khai thác, các đường hầm, và các tấm đệm tách lọc quặng.

TÁC HẠI ĐẾN SINH VẬT DƯỚI NƯỚC: Nhiều dòng suối bị ảnh hưởng bởi thoát nước axit từ mỏ có pH bằng 4 hoặc thấp hơn – tương tự như axit trong các cục pin. Thực vật, động vật, và cá không có khả năng tồn tại trong các dòng suối này.

CÁC KIM LOẠI ĐỘC: Thoát nước axít mỏ cũng hòa tan các kim loại độc hại, chẳng hạn như đồng, nhôm, cadmium, arsen, chì và thủy ngân từ đá xung quanh. Những kim loại, nhất là sắt có thể phủ một lớp lên đáy suối bằng một chất nhờn màu đỏ-cam (hay cụm oxit sắt). Ngay với một lượng rất nhỏ kim loại cũng có thể gây độc cho con người và động vật hoang dã. Khi được nước mang theo, các kim loại có thể gây ô nhiễm suối và nước ngầm cho khoảng cách rất xa khu mỏ.

Ô NHIỄM VĨNH VIỄN: thoát nước axit từ mỏ đặc biệt nguy hiểm vì nó có thể gây thiệt hại vô thời hạn sau khi khai thác mỏ đã kết thúc. Do mức độ nghiêm trọng của các tác động chất lượng nước từ thoát nước axit, nhiều mỏ đòi hỏi phải xử lý nước vĩnh viễn. Ngay cả với công nghệ hiện có, hệ thống thoát nước axit là hầu như không thể dừng lại một khi các phản ứng bắt đầu. Có thể phải mất hàng trăm năm để xử lý.

Acid mine drainage. PHOTO: SOSBlueWaters.org
Acid mine drainage. PHOTO: SOSBlueWaters.org

Đọc tiếp “TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 2: Tác động môi trường và xã hội”

TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 1: Các giai đoạn của dự án khai thác

1.1 Thăm dò

Một dự án khai thác mỏ chỉ có thể bắt đầu khi hiểu biết đầy đủ về qui mô và giá trị của quặng. Thông tin về vị trí, giá trị của quặng được thu thập thông qua khảo sát, nghiên cứu thực địa, khoan kiểm tra và khai đào.

Trước tiên phải loại bỏ thực vật để cho các xe cơ giới có giàn khoan có thể tiến vào. Nhiều nước yêu cầu thành lập một báo cáo ĐTM riêng cho giai đoạn thăm dò. Vì các tác động của giai đoạn này có thể là đáng kể và vì các giai đoạn tiếp theo của khai thác có thể không được thực hiện khi việc thăm dò cho thấy lượng quặng không đáp ứng cho khai thác.

1.2 Giai đoạn phát triển

Nếu giai đoạn thăm dò cho thấy một lượng quặng đủ lớn thì có thể bắt đầu lên kế hoạch cho giai đoạn phát triển khai thác mỏ gồm:

1.2.1 Xây dựng đường vào mỏ

Đường vào mỏ để đưa các thiết bị nặng, vật tư cho khu mỏ hoặc để vận chuyển kim loại và quặng đã được xử lý ra bên ngoài. Việc này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu đường giao thông đi qua khu vực sinh thái nhạy cảm hoặc gần các cộng đồng đã có trước đó. Đánh giá tác động môi trường đường vào mỏ phải thực hiện đầy đủ khi đáng giá tác động dự án khái thác mỏ.

Erosion near a mining road, Pelambres mine, Chile. PHOTO: Rocio Avila Fernandez
Erosion near a mining road, Pelambres mine, Chile. PHOTO: Rocio Avila Fernandez

1.2.2 Chuẩn bị mặt bằng

Dự án phải bắt đầu với việc giải phóng mặt bằng cho diện tích khái thác, tập kết thiết bị, khu hành chính. Hoạt động này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu dự án ở trong hoặc lân cận với khu vực sinh thái nhạy cảm. ĐTM phải được đánh giá một cách riêng rẽ cho các tác động liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng.

1.1.3 Hoạt động khai thác

Tất cả các loại hoạt động khai thác đều có chung một qui trình: khai thác và làm giàu quặng kim loại. Thông thường, các thân quặng nằm dưới dưới một lớp đất hoặc đá phủ, chúng phải được lấy đi trước khi khai thác.

1.1.3.1 Khai thác mỏ lộ thiên

Là loại hình khai thác dải (strip mining), trong đó quặng phân bố sâu xuống lòng đất, đòi hỏi phải loại bỏ lớp phủ bên trên quặng. Việc sử dụng các máy móc cơ giới nặng, thường là xe ủi đất và xe tải, để đổ đất đá thải. Khai thác lộ thiên thường liên quan đến việc loại bỏ thảm thực vật bản địa, việc này được xem là một trong những hoạt động hủy hoại môi trường lớn nhất của khai thác quặng, đặc biệt là đối với các khu rừng nhiệt đới.

Open-pit mine in Cerro de Pasco, Peru. PHOTO: Centro de Cultura Popular LABOR, Peru
Open-pit mine in Cerro de Pasco, Peru.PHOTO: Centro de Cultura Popular LABOR, Peru

Đọc tiếp “TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 1: Các giai đoạn của dự án khai thác”

XÓI LỞ BỜ TÂY CỬA LỘC AN VÀ CÔNG NGHỆ STABIPLAGE

Hà Quang Hải, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Thị Thu Hiền, Hoàng Thị Phương Chi

I. Giới thiệu

Trong môn học “Quản lý tổng hợp đới bờ” ngoài phần lý thuyết có phần thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ theo lộ trình Bà Rịa, Vũng Tàu – Bình Thuận. Cửa Lộc An là một trong những điểm để sinh viên quan sát kè mỏ hàn Stabiplage chống xói lở bờ biển. Đây là công nghệ mềm của Cộng hoà Pháp, lần đầu tiên được tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu áp dụng ở Việt Nam. Qua bốn năm dẫn sinh viên (2012 – 2015), chúng tôi nhận thấy bờ tây cửa Lộc An (nơi đặt các mỏ hàn Stabiplage) biến đổi nhanh với xu thế xói lở gia tăng, các mỏ hàn mất dần tác dụng bảo vệ bờ. Tới tháng 12 năm 2015 nhiều mỏ hàn đã bị phá hủy toàn bộ.

Gần đây trên trang web site của Sở KHCN Bà Rịa – Vũng Tàu có bài “Hiện trạng xói, bồi bờ biển khu vực cửa Lộc An, huyện Đất Đỏ”. Bài báo diễn giải khá chi tiết về tiến trình xói lở và bồi tụ khu vực cửa Lộc An, đặc biệt có sự đánh giá sơ bộ về vai trò của Stabiplage trong việc chống xói lở trong giai đoạn đầu (2005 – 2011). Bài báo có đoạn “bờ phía Nam cửa sông thuộc phần nằm trong đất liền (Tính từ thượng nguồn xuống) đang bị xói lở rất mạnh, còn bờ phía bên trái (Phần nằm ngoài biển) lại đang bị bồi rất mạnh và hiện một doi cát dài hàng nghìn mét đang dần dần tiến xuống phía Nam. Hiện tượng vừa xói lở vừa bồi lấp đang gây mất ổn định cho cả khu vực” [1]. Nhận xét này cũng phù hợp với những quan sát của chúng tôi từ những đợt dẫn sinh viên thực tập tại cửa Lộc An.

Trong bài viết này, chúng tôi trình bày rõ hơn về sự biến đổi nhanh chóng bờ tây cửa Lộc An, hiệu quả mỏ hàn Stabiplage trong việc kiểm soát xói lở, nguyên nhân gây xói lở và đề xuất giải pháp kiểm soát xói lở đoạn bờ này.

II. Quan sát xói lở bờ tây cửa Lộc An tại thực địa

Từ năm 2012 đến năm 2015, chúng tôi có 4 đợt thực tập quan sát xói lở tại cửa Lộc An và vai trò của Stabiplage trong việc bảo vệ bờ biển. Dưới đây là những tài liệu ghi nhận tại thực địa.

1) Ngày 30 tháng 11 năm 2012

Stabiplage (viết tắt là S) đặt dọc theo cửa Lộc An – cửa sông Ray (Hình 1, trái) đã xuống cấp, đây có thể là mỏ hàn “tam giác để bảo vệ đoạn bờ sông – biển” được đặt năm 2011 [1].

S.1 đặt vuông góc với bờ tây (bờ biển phía tây) còn khá nguyên vẹn, nằm trên bãi biển cát (Hình 1, phải). Phía đầu S.1 là vách xói lở cao 1,8 m cắt vào cồn cát làm lộ trơ nhiều gốc cây phi lao.

Hình 1. S cửa Lộc An (trái) và S.1 (phải)
Hình 1. S cửa Lộc An (trái) và S.1 (phải)

Lúc này đã có sự xâm thực vào tầng bột, sét màu xám đen chứa nhiều thực vật phân hủy (nguồn gốc đầm lầy) ở khoảng giữa S.1 và S cửa sông (Hình 2, trái). S. 2 phần lớn nằm chìm dưới cát (Hình 2, phải).

Hình 2. Xâm thực vào tầng bột, sét (trái) và S.2 (phải)
Hình 2. Xâm thực vào tầng bột, sét (trái) và S.2 (phải)

Đọc tiếp “XÓI LỞ BỜ TÂY CỬA LỘC AN VÀ CÔNG NGHỆ STABIPLAGE”