SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ

1. Giới thiệu chung

Toàn cầu, tổng mức tiêu thụ năng lượng sơ cấp hàng năm (2005) ước tính là 500.1015 Btu. Riêng nước Mỹ tiêu thụ 105.1015 Btu, tập trung trong các lĩnh vực: Công nghiệp, giao thông, thương mại và dân dụng được minh họa trong Hình 1.1. Khoảng 40% tổng mức năng lượng sơ cấp được sử dụng để sản xuất điện. Gần 70% năng lượng được sử dụng trong nhà và văn phòng dưới dạng điện năng. Nhu cầu điện trên toàn thế giới là 15 nghìn tỷ kWh (2005) và đạt 19 nghìn tỷ kWh trong 2015. Mức gia tăng trung bình hàng năm về nhu cầu điện năng trên toàn thế giới là 2,6%. Tốc độ gia tăng ở các nước đang phát triển được dự đoán khoảng 5%, gần gấp đôi mức tăng trung bình của thế giới. Điện trên thế giới được sản xuất chủ yếu bằng nhiên liệu hóa thạch trong hơn hai thế kỷ, vài nơi nhu cầu điện có thể được đáp ứng bằng các nhà máy điện hạt nhân nhưng chỉ mới hơn 5 thập kỷ qua. Những lo ngại môi trường ngày càng gia tăng trong những năm gần đây liên quan đến sự nóng lên toàn cầu và những tác động tiêu cực của phát thải carbon đã đặt ra một yêu cầu mới về các nguồn năng lượng sạch và bền vững như gió, biển, mặt trời, sinh khối và năng lượng địa nhiệt. Trong số này, năng lượng gió và mặt trời đã phát triển đáng kể trong 10 năm qua. Cả hai đều là nguồn năng lượng dồi dào và không gây ô nhiễm. Ngoài ra, với hai nguồn năng lượng này, điện có thể được sản xuất và cung cấp cho khu vực lân cận, gần các nhà máy sản xuất; do đó, giúp tiết giảm chi phí lắp đặt hệ thống đường dây điện cao thế chạy từ khu vực ngoại thành và nội thành. Việc cho phép tư nhân hoá và khuyến khích lựa chọn của người tiêu dùng đối với các nguồn năng lượng xanh (green power) ở nhiều nước đang giúp mở rộng thị trường cho điện gió (wind power) và quang điện (Photovoltaic Energy) với tốc độ ngày càng tăng.

Hinh 1.1Hình 1.1: Tỉ lệ tiêu thụ năng lượng trong 3 lĩnh vực lớn của Mỹ

Tổng nhu cầu điện ở Mỹ đã đạt gần 4 nghìn tỷ kWh trong năm 2005, với tổng giá trị đạt 300 tỷ đô la. Để đáp ứng nhu cầu này, các cơ sở với công suất hơn 800 GW được lắp đặt tại Hoa Kỳ. Nhu cầu điện trên cả nước đã tăng lên theo tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Với tốc độ đó, Mỹ cần phải bổ sung 200 GW vào 2015.

Trung Quốc hiện là nước tiêu thụ điện lớn thứ hai thế giới sau Mỹ. Nhu cầu điện năng của Trung Quốc tăng 15% trong năm 2003, so với dự báo của các nhà hoạch định kinh tế chỉ 5% . Hiện tại, tổng nhu cầu đã vượt quá 460 GW vào cuối 2005. Ấn Độ là một quốc gia có nhu cầu năng về lượng tăng hơn 10% mỗi năm. Tốc độ gia tăng này, cùng với số dân đông, sẽ làm cho hai quốc gia này phát triển nhanh chóng thị trường cho tất cả các nguồn năng lượng điện, bao gồm cả năng lượng tái tạo.

Ngày nay, việc xây dựng các nhà máy sản xuất điện năng đang trở nên phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới vì khó khăn trong việc tìm vị trí cho lắp đặt các cơ sở sản xuất và truyền tải điện dưới bất kỳ hình thức nào. Tại Mỹ, không có nhà máy điện hạt nhân nào được yêu cầu hoặc thiết lập từ năm 1978. Với mức chi phí cao, những đổi mới về thiết kế liên quan đến an toàn trong quá trình xây dựng và sự phản đối của cộng đồng địa phương đối với các nhà máy này, các nhà máy điện hạt nhân không phải là lựa chọn hàng đầu trong ba thập kỷ qua. Nếu không có nhà máy điện hạt nhân mới được xây dựng và các nhà máy hiện tại không được cấp phép lại khi hết thời hạn 40 năm, sản lượng điện hạt nhân dự kiến sẽ giảm mạnh sau năm 2010. Sự suy giảm này phải được thay thế bằng các nguồn năng lượng khác. Với giá khí đốt tăng dài hạn, các cơ sở sản xuất có khả năng sẽ dùng than để sản xuất điện. Mỹ có trữ lượng than khổng lồ, tương đương với hơn 250 năm sử dụng ở mức hiện tại. Tuy nhiên, điều này sẽ yêu cầu các công nghệ đốt than sạch (clean coal-burning technologies) để có được sự chấp thuận hoàn toàn từ cộng đồng.

Các giải pháp thay thế cho điện hạt nhân và nhiên liệu hóa thạch là các công nghệ năng lượng tái tạo như: thủy điện, ngoài các công nghệ đã đề cập bên trên. Các dự án thủy điện quy mô lớn ngày càng trở nên khó triển khai hơn trong những năm gần đây do cạnh tranh trong việc sử dụng đất và tài nguyên nước. Các yêu cầu tái cấp phép của các nhà máy thủy điện hiện tại thậm chí có thể dẫn đến việc yêu cầu loại bỏ một số đập nhằm bảo vệ hoặc phục hồi môi trường sống của động vật hoang dã. Ngược lại, trong số các nguồn năng lượng tái tạo khác, gió và mặt trời gần đây đã cho thấy sự tăng trưởng nhanh chóng trên toàn thế giới.

Hiện trạng và lợi ích của các nguồn năng lượng tái tạo được so sánh với các nguồn thông thường trong Bảng 1.1 và Bảng 1.2.

bang 1.1
Bảng 1.1: So sánh các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng truyền thống
bang 1.2
Bảng 1.2: Lợi ích của việc sử dụng điện tái tạo

Các nhà khoa học và nhà kinh tế về năng lượng tin rằng nguồn năng lượng tái tạo sẽ nhận được nhiều khuyến khích của quốc gia hơn nếu lợi ích xã hội của chúng được công nhận đầy đủ. Ví dụ, giá trị của việc không tạo ra 1 tấn CO2, SO2 và NOx, và giá trị của việc không xây dựng đường dây điện cao thế dài chạy qua khu vực nông thôn và thành thị không được phản ánh đầy đủ cho giá của năng lượng tái tạo hiện tại. Nếu năng lượng tái tạo có được chứng nhận về việc giảm ô nhiễm của phát thải 600 tấn CO2 trên mỗi một triệu kWh điện tiêu thụ, chúng sẽ có được sự thúc đẩy lớn hơn nữa cùng với những ưu đãi nhiều hơn so với hiện tại của chính phủ Mỹ. Continue reading “SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG NĂNG LƯỢNG GIÓ”

Advertisements

Dịch vụ Hệ Sinh Thái trong Quản Lý Tổng Hợp Đới Bờ

TS. Nguyễn Trường Ngân

Bia 1

hinh 2hinh 3

hinh 4 Continue reading “Dịch vụ Hệ Sinh Thái trong Quản Lý Tổng Hợp Đới Bờ”

Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi

TTO – “Tịnh Biên – An Giang vào mùa nước nổi đẹp như tranh vẽ với hàng cây thốt nốt huyền thoại” – nhiếp ảnh gia Minh Trung (TP. HCM) nhận xét

Mùa nước nổi Tịnh Biên yên bình, đẹp như tranh vẽ – Ảnh: MINH TRUNG

Cây thốt nốt gắn liền với vùng Thất Sơn (hay còn gọi là vùng Bảy Núi) thuộc địa phận huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên của tỉnh An Giang. Vì thế, nơi đây được xem là “xứ sở của thốt nốt”.

Mùa nước nổi Tịnh Biên từ tháng 9 tới 11 hàng năm là thời điểm các nhiếp ảnh gia về đây để sáng tác ảnh.

Du khách đến Tịnh Biên có thể dễ dàng bắt gặp những cây thốt nốt vươn thẳng lên cao 30m, có cây lại uốn cong thân và khi chúng soi bóng mặt hồ tạo nên cấu trúc đối xứng tuyệt đẹp.

Du khách có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh cây thốt nốt khi đến Tịnh Biên, An Giang – Ảnh: MINH TRUNG

Continue reading “Đến ‘xứ sở cây thốt nốt’ Tịnh Biên mùa nước nổi”

Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?

Đồ nhựa (plastic) không chỉ trông giống thức ăn, nó phát ra mùi và âm thanh hệt như thức ăn. Rác thải nhựa của con người có đủ loại hình dạng, kích cỡ và màu sắc khác nhau, được đổ thẳng trực tiếp ra biển. Lượng rác này tích tụ ngày càng nhiều, xâm lấn môi trường sống của các sinh vật biển, trở thành nguồn “thực phẩm” chính cho chúng.

(ảnh: Troy Mayne/Greenpeace)

Trong chương trình Blue Planet II gần đây, David Attenborough – phát thanh viên, nhà tự nhiên học người Anh – kể về 1 con hải âu đi kiếm thức ăn cho con non. “Nó ngậm đầy trong miệng… không phải cá, cũng không phải mực, mà là nhựa.”

Attenborough mô tả, đây là 1 điều kỳ lạ và rất đáng thương. Loài hải âu Albatrosses có thể bay hàng ngàn cây số để tìm kiếm con mồi và có thể bắt cá một cách dễ dàng. Vậy vì sao chúng lại có thể bị lừa, trở về từ chuyến đi gian nan của mình, không có gì ngoài những miếng nhựa? Thật ra, hải âu không phải là trường hợp duy nhất. Theo ghi nhận gần đây, đã có ít nhất 180 loài động vật biển thường xuyên tiêu thụ nhựa, từ các sinh vật phù du (zooplankton) đến cá voi khổng lồ.

Đồ nhựa đã được tìm thấy trong ruột của 1/3 lượng cá đánh bắt được ở Anh, gồm nhiều loài cá mà chúng ta tiêu thụ hằng ngày. Ngoài ra, chúng cũng được phát hiện trong ruột con trai và tôm hùm. Tóm lại, vô số các loài động vật biển đang ăn rác thải nhựa, bởi con người vẫn không ngừng đổ 12,7 triệu tấn phế thải vào đại dương mỗi năm.

Vì số lượng này ngày càng tăng qua từng năm, đến một lúc các loài sinh vật biển không còn gì để tiêu thụ ngoài nhựa. Trong đó, các loài sinh vật phù du cũng không ngoại lệ. Moira Galbraith, nhà sinh thái học tại Viện Khoa học Đại dương, Canada cho biết: “Nếu hạt nhựa rơi vào 1 phạm vi kích thước nhất định thì [đối với các loài sinh vật biển] nó được xác nhận là thức ăn.”

Đến nay, nhiều người thắc mắc rằng rác thải từ nhựa thật sự đã trôi xa đến đâu. Một nghiên cứu đã cho thấy chúng đã trầm xuống tận đáy biển. Qua 12 địa điểm thử nước biển tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương từ năm 2001 đến 2012, người ta thấy hàm lượng các vi hạt nhựa (microplastics) tăng đột biến. Kích thước của chúng chỉ dài 1mm và được tìm thấy từ độ sâu 300 mét dưới Địa Trung Hải đến trên 3.000 mét dưới đáy biển, với mật độ cao gấp 1.000 lần so với lượng rác thải nhựa tìm thấy trên bề mặt.

Nhựa đã trôi dạt tới Nam Cực (ảnh: Hội khảo sát Nam Cực của Anh Quốc)

Continue reading “Vì sao các loài động vật biển không thể ngừng ăn rác thải nhựa?”

Nhận dạng lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long

Hà Quang Hải, Trần Ngọc Lê Duy

I. Giới thiệu

Cho đến nay, những nghiên cứu về lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long rất ít. Xác định những lòng sông cổ thời kỳ Neogen – Pleistocene thực sự khó khăn. Việc này chỉ có thể thực hiện được qua tài liệu các lỗ khoan đủ dày với các kết quả phân tích tin cậy, nhất là tuổi các phân vị địa tầng.

Xác định sông cổ (các dòng đã ngừng hoạt động) trong Holocen thường dễ dàng hơn do những dấu vết còn để lại trên bề mặt đồng bằng qua tư liệu viễn thám và có thể kiểm tra bằng công trình khoan, đào bề mặt. Tư liệu viễn thám rất hữu ích trong việc nhận dạng lòng sông cổ qua đặc trưng tôn ảnh và hình thái dạng địa hình. Tuy vậy, việc nhận dạng lòng sông cổ một số khu vực gặp khó khăn khi bề mặt đồng bằng bị biến đổi nhiều bởi các hoạt động nhân sinh.

Nghiên cứu lòng sông cổ sẽ giúp hiểu biết môi trường cổ địa lý, đồng thời nhìn nhận khách quan hơn những hiện tượng xói lở hay bồi tụ xảy ra dọc theo các sông, rạch hiện nay cũng như trong tương lai. Hơn nữa, kết quả nghiên cứu có thể góp phần hiểu biết thêm các nền văn hóa cổ gắn với sông nước như Văn hóa Óc Eo chẳng hạn.

Bài viết này giới thiệu dấu vết lòng sông cổ trên bề mặt đồng bằng sông Cửu Long, khu vực tây Sông Hậu từ Ankor Borei đến Rạch Giá được nhận dạng từ tư liệu viễn thám.

II. Sơ lược lịch sử nghiên cứu

Năm 1930, lần đầu tiên Pierre Paris – nhiếp ảnh gia/nhà khảo cổ học người Pháp đã chụp ảnh hàng không khu vực tây sông Hậu (Bassac River) từ Ankor Borei (Campuchia) đến Rạch Giá (Việt Nam). Paris, đã ghi nhận những kênh cổ trên đồng bằng và đường viền hình chữ nhật lớn, sau này được công nhận là tàn tích của đô thị Óc Eo [4].

Vào những năm 1940, Louis Malleret – nhà khảo cổ học người Pháp đã khai quật tại Eo Eo, xác định hệ thống kiểm soát nước rộng lớn, kiến ​​trúc đồ sộ và nhiều loại hàng hóa thương mại quốc tế [4].

Trong thập niên 1970, sau một thời gian gián đoạn kéo dài bởi Thế chiến II và Chiến tranh Việt Nam, các nhà khảo cổ Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều nghiên cứu mới ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Cuộc điều tra các kênh rạch tại Eo Eo gần đây gợi ý rằng chúng đã từng kết nối thành phố với thủ đô Angkor Borei, và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho mạng lưới thương mại đáng chú ý của vương quốc Phù Nam [4].

Sơ đồ hệ thống kênh cổ [2] của Paris cho thấy, các kênh đào thường thẳng và ngắn; dài nhất là kênh 4, kéo thành một đường khá thẳng từ Ankor Borei đến Óc Eo (khoảng 85) km. Các kênh tỏa ra từ hai trung tâm: 1) tại Ankor Borei, các kênh tỏa về phía nam; tại Óc Eo các kênh tỏa ra nhiều hướng (Hình 1).

Hình 1. Hệ thống kênh đào do Pierre Paris thành lập dựa vào quan sát hàng không. Nguồn: hình 1a [2]; hình 1 b [Ban quản lí di tích Óc Eo]
Continue reading “Nhận dạng lòng sông cổ vùng đồng bằng sông Cửu Long”

Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ

Sự xuất hiện của sóng thần Indonesia cùng với sức mạnh hủy diệt mà nó mang theo hoàn toàn nằm ngoài dự đoán của những nhà nghiên cứu.

Bản đồ của Cục khảo sát địa chất Mỹ

Các nhà khoa học bày tỏ sự bất ngờ trước độ mạnh của sóng thần tàn phá thành phố Palu, Indonesia, vào cuối tuần trước, theo New York Times. Họ cho rằng trận động đất xuất hiện trước đó khó có thể kéo theo những cơn sóng mang sức mạnh hủy diệt như vậy.

“Chúng tôi dự đoán động đất có thể gây sóng thần, nhưng không lớn tới mức đó”, Jason Patton, nhà địa vật lý làm việc cho công ty tư vấn Temblor kiêm giảng viên ở Đại học Humboldt, California, cho biết. “Khi những sự kiện kiểu này xảy ra, chúng tôi thường khám phá ra nhiều điều chưa từng quan sát được trước đây”.

Trận động đất 7,5 độ xuất hiện vào chiều tối hôm 28/9 gây chấn động dọc theo vùng ven biển đảo Sulawesi, cách Palu khoảng 80 km về phía bắc. Theo một số nhân chứng, trong vòng 30 phút sau, những cơn sóng cao tới 6 mét đập vào bờ, phá hủy nhiều tòa nhà, đập nát xe cộ và giết chết hàng trăm người dân trong thành phố.

Số người chết cao có thể phản ánh hiện trạng thiếu hệ thống phát hiện và cảnh báo sóng thần tân tiến của Indonesia, theo giới chuyên gia. Những cộng đồng dân cư khác trên đảo Sulawesi, bao gồm thành phố Donggala, cũng bị sóng thần tàn phá, nhưng có rất ít thông tin về mức độ thiệt hại hoặc số người chết bên ngoài Palu.

Thảm họa sóng thần thường là kết quả của siêu động đất khi những mảng lớn vỏ Trái Đất biến dạng, dịch chuyển theo chiều dọc dọc theo đứt gãy. Quá trình này chuyển chỗ đột ngột một lượng nước khổng lồ, tạo ra cơn sóng di chuyển ở tốc độ cao dọc bồn trũng đại dương và gây thiệt hại ở cách nơi hình thành động đất hàng nghìn kilomet.

Một cây cầu bị phá hủy do động đất và sóng thần ở Palu, Indonesia. Ảnh: Reuters.

Continue reading “Sức mạnh của sóng thần Indonesia khiến giới nghiên cứu bất ngờ”

HỘI NGHỊ THÔNG TIN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN

Ngày 5-10, Ban Quản lý Công viên địa chất Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Hội nghị thông tin Công viên địa chất Lý Sơn với sự phối hợp của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ TN-MT) và các chuyên gia trong nước cũng như quốc tế có kinh nghiệm về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.

Hội nghị thông tin công viện Địa chất Lý Sơn

Continue reading “HỘI NGHỊ THÔNG TIN CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT LÝ SƠN”

Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia

Indonesia suốt nhiều năm không hoàn thiện được hệ thống cảnh báo sóng thần hiện đại, khiến nhiều người bất ngờ khi thảm họa xảy ra.

Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa lý Indonesia (BMKG) hôm qua thừa nhận việc phải dựa vào dữ liệu không chính xác được thu thập từ cảm biến ở quá xa ngoài khơi đã khiến họ dỡ bỏ cảnh báo sóng thần 34 phút sau khi ban bố, dù bức tường sóng khổng lồ cao tới 6 m ngay sau đó ập vào thành phố Palu trên đảo Sulawesi, cướp đi sinh mạng của ít nhất 1.200 người.

Giới chuyên gia cho rằng thực tế này phản ánh những hạn chế và cả thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia, quốc gia nằm trên “Vành đai Lửa” của Thái Bình Dương và thường xuyên hứng chịu nguy cơ động đất, sóng thần rất cao, theo AP.

Sau khi thảm họa kép động đất, sóng thần tấn công khu vực vào năm 2004 khiến gần 250.000 người thiệt mạng, cộng đồng quốc tế đã hỗ trợ Indonesia xây dựng một mạng lưới cảm biến công nghệ cao nhằm thay thế cho hệ thống cảnh báo lạc hậu dọc bờ biển nước này, với mục tiêu giảm bớt thương vong khi thảm họa xảy ra.

Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ và Đức khi đó đã giúp Indonesia triển khai mô hình thí điểm cảnh báo trị giá 3 triệu USD, gồm mạng lưới 22 phao nổi kết nối với các cảm biến được đặt dưới đáy biển nhằm kịp thời phát hiện dấu hiệu động đất, sóng thần và đưa ra tín hiệu cảnh báo kịp thời.

Hệ thống này được triển khai ngoài khơi Padang, thành phố nằm ngay cạnh một vết đứt gãy địa chất lớn và rất dễ hứng chịu sóng thần. Các cảm biến áp suất, địa chấn chôn dưới đáy biển có thể phát tín hiệu dưới dạng sóng âm trong lòng biển và chuyển tới các cảm biến khác cách đó 20-30 km rồi tiếp tục truyền vào đất liền.

Mạng lưới này có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sóng thần trong vòng 1-3 phút, thay vì 5-45 phút như phao nổi hay những thông tin rất hạn chế từ thiết bị đo thủy triều. Tuy nhiên, dự án cần được lắp thêm vài km cáp quang để nối cảm biến cuối cùng với một trạm quan trắc trên đất liền, nơi dữ liệu có thể truyền qua vệ tinh tới cơ quan địa chất để phát cảnh báo sóng thần cũng như tới các cơ quan chức năng.

Nhưng từ khi được triển khai thí điểm cho tới tháng 1/2017, dự án vẫn chờ chính phủ Indonesia cấp ngân sách 1 tỷ rupiah (69.000 USD) để lắp đặt đoạn cáp trên và hoàn thiện hệ thống. Sau đó, tình trạng cắt giảm ngân sách khiến dự án liên tục bị đùn đẩy giữa các cơ quan chính phủ và hệ thống vẫn chỉ dừng lại ở mức độ thí điểm.

Việc thiếu ngân sách để bảo trì, bảo dưỡng, cộng thêm tình trạng người dân phá hoại, trộm cắp thiết bị khiến hệ thống này gần như bị vô hiệu hóa. Khi trận động đất lớn xảy ngoài khơi đảo Sumatra năm 2016, toàn bộ các hệ thống phao nổi và cảm biến trị giá hàng trăm nghìn USD mỗi chiếc đều không hoạt động.

Nguyên lý hoạt động của hệ thống cảm biến, phao nổi khi phát hiện sóng thần. Đồ họa: ResearchGate.

Continue reading “Thất bại trong hệ thống cảnh báo sóng thần của Indonesia”

Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học

Đa dạng địa học (Geodiversity)

Vị trí của đa dạng địa học trong đa dạng thiên nhiên là gì?

Đa dạng địa học (ĐDĐH) là sự đa dạng của các yếu tố tự nhiên, như các khoáng vật, các loại đá, hóa thạch, dạng địa hình và cảnh quan của chúng, các kiểu đất, và các quá trình địa chất/địa mạo hoạt động.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Cùng với đa dạng sinh học, ĐDĐH tạo nên sự đa dạng tự nhiên của Trái Đất. ĐDĐH làm nền móng cho đa dạng sinh học và cung cấp cho xã hội những lợi ích bao gồm các dịch vụ điều tiết, hỗ trợ, cung cấp và văn hóa.

Di sản địa học (Geoheritage)

Di sản địa học là gì ?

Di sản địa học là một phần di sản tự nhiên của một diện tích (hoặc một điểm) nào đó được cấu thành bởi các yếu tố ĐDĐH với giá trị địa chất đặc biệt và do đó xứng đáng được bảo vệ vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai. Di sản địa học có thể bao gồm cả các yếu tố tại chỗ (geosites) hoặc các yếu tố đã di chuyển (các tập hợp các mẫu vật địa chất) có sự quan trọng về  cổ sinh, địa mạo, khoáng vật, thạch học và địa tầng…

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Bảo tồn địa học (Geoconservation)

Bảo tồn địa học là gì ?

Tập hợp các hành động hướng đến thông tin quản lý các điểm địa chất bao gồm kiểm kê và đánh giá, bảo tồn, bảo vệ theo luật định, diễn giải và giám sát các điểm địa di sản.

Việc quản lý các địa di sản di chuyển (ex situ) cũng là một hoạt động bảo tồn địa học. Bảo tồn địa học được coi là một ngành mới nổi trong khoa học địa chất.

Geodiversity, Geoheritage & Geoconservation; ProGEO

Vì sao địa di sản dễ bị rủi ro? Continue reading “Đa dạng địa học, Di sản địa học & Bảo tồn địa học”

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8

Hội nghị quốc tế lần thứ 8 về Công viên địa chất toàn cầu UNESCO diễn ra tại Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Adamello Brenta, tỉnh Trentino, Ý, từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 9 năm 2018.

Hội nghị, với chủ đề chính: “Công viên địa chất và phát triển bền vững

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 9, đã có các cuộc họp của Hội đồng UUG, GGN ExB, và các cuộc họp Mạng lưới Khu vực: EGN AC và CC, APGN AC và CC, LACGN AC và CC.

Lễ khai mạc và các bài giảng quan trọng diễn ra vào ngày 11 tháng 9.

Ngày 11/9, 12 và 14/9 các báo cáo khoa học trình bày đồng thời tại 6 tiểu ban như sau:

  1. CVĐC, du lịch bền vững và phát triển bền vững địa phương (Geoparks, sustainable tourism and sustainable local development)
  2. Bảo tồn, Khoa học và nghiên cứu (Conservation, science and research)
  3. Giáo dục, nhận thức cộng đồng và truyền thông (Education, public awareness and communication)
  4. CVĐC, BĐKH và tai biến địa chất (Geoparks, climate change and geo-hazards)
  5. Hợp tác giữa UNESCO khu vực và toàn cầu (Regional and International UNESCO collaborations)
  6. Các CVĐC tương lai (Aspiring Geoparks)

Continue reading “HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CỦA UNESCO LẦN THỨ 8”