LÁT CẮT MÔI TRƯỜNG SƠ BỘ QUA MỘT VÀI MỎ ĐÁ Ở DĨ AN – BIÊN HÒA (Khảo sát cùng với lớp QLMT_K25)

Dĩ An – Biên Hòa từ lâu đã nổi tiếng với việc khái thác đá làm vật liệu xây dựng. Đá ở khu vực này có chất lượng tốt, lớp phủ thường mỏng, đôi khi lộ ngay trên mặt địa hình; lại nằm rất gần các đô thị lớn (TP. HCM, Biên Hòa, Thủ Dầu Một) và các khu công nghiệp nên lợi ích kinh tế từ việc khai thác đá là rất lớn.

Hoạt động khai thác đá khu vực này đã có từ rất lâu, trước năm 1975 chỉ là những hoạt động khai thác nhỏ, nhưng vài chục năm trở lại đây cả khu vực đã trở thành vùng khai thác lớn. Một bề mặt địa hình trước đây cao 25 – 30 m phân bố ven sông Đồng Nai rất thích hợp cho việc phát triển đô thị nay đã trở nên nham nhở với các hố to, nhỏ đủ mọi hình dạng, nhiều hố sâu tới 80 m. Hiện trạng các moong khai thác khu vực này có thể sơ bộ phân thành ba dạng.

1) Các moong khai thác bỏ hoang, môi trường ô nhiễm, tiềm ẩn rủi ro

2) Các moong khai thác cũ có sự quản lý nhưng chưa được phục hồi, tiềm ẩn rủi ro

3) Moong khai thác được cải tạo thành khu du lịch

Dưới đây là những câu hỏi đặt ra cho các bạn SV lớp QLMT_K 25 sau khi thực hiện tuyến khảo sát hiện trạng các moong khai thác đá Đại học QG. TP.HCM – Châu Thới – Bửu Long.

Các hồ đá trong khuôn viên Đại học Quốc gia TP. HCM

Hiện trạng môi trường tại Hồ Đá lớn (trước nhà khách) và Hồ Quốc Phòng ?

Phác tính khối lượng đá đã lấy đi ở Hồ Đá lớn, hệ số và đặc điểm tầng đất phủ?

Đề xuất cải tạo, sử dụng mặt bằng?

Vách đá ven Hồ Đá lớn
Một vị trí vách đá ven Hồ Đá lớn

Đọc tiếp “LÁT CẮT MÔI TRƯỜNG SƠ BỘ QUA MỘT VÀI MỎ ĐÁ Ở DĨ AN – BIÊN HÒA (Khảo sát cùng với lớp QLMT_K25)”

TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 2: Tác động môi trường và xã hội

2.1 Tác động đến tài nguyên nước

Tác động lớn nhất của một dự án khai thác mỏ là ảnh hưởng của nó đến chất lượng nước và việc sử dụng tài nguyên nước trong khu vực dự án. Câu hỏi cốt lõi ở đây là sự cung cấp nước mặt và nước ngầm liệu có còn đáp ứng cho con người, và chất lượng nước mặt liệu có đủ để hỗ trợ sinh vật sống trên cạn và dưới nước không.

2.1.1 Thoát nước axít và rò rỉ chất ô nhiễm

SỰ HÌNH THÀNH A XIT: thoát nước axit là một mối quan tâm ở nhiều mỏ kim loại, bởi các kim loại như vàng, đồng, bạc và molypden, thường được tìm thấy trong đá chứa khoáng vật sunfua. Khi khai đào sunfua trong đá tiếp xúc với nước và không khí tạo thành axit sunfuric. Nước có tính axit có thể hòa tan các kim loại độc khác từ các đá vây quanh. Nếu không được kiểm soát, nước axit có thể chảy vào suối hoặc sông, hoặc ngấm vào nước ngầm. Nước axit có thể rò rỉ từ bất kỳ bộ phận nào của mỏ, nơi sunfua được tiếp xúc với không khí và nước bao gồm: các đống đá thải, đuôi quặng, moong khai thác, các đường hầm, và các tấm đệm tách lọc quặng.

TÁC HẠI ĐẾN SINH VẬT DƯỚI NƯỚC: Nhiều dòng suối bị ảnh hưởng bởi thoát nước axit từ mỏ có pH bằng 4 hoặc thấp hơn – tương tự như axit trong các cục pin. Thực vật, động vật, và cá không có khả năng tồn tại trong các dòng suối này.

CÁC KIM LOẠI ĐỘC: Thoát nước axít mỏ cũng hòa tan các kim loại độc hại, chẳng hạn như đồng, nhôm, cadmium, arsen, chì và thủy ngân từ đá xung quanh. Những kim loại, nhất là sắt có thể phủ một lớp lên đáy suối bằng một chất nhờn màu đỏ-cam (hay cụm oxit sắt). Ngay với một lượng rất nhỏ kim loại cũng có thể gây độc cho con người và động vật hoang dã. Khi được nước mang theo, các kim loại có thể gây ô nhiễm suối và nước ngầm cho khoảng cách rất xa khu mỏ.

Ô NHIỄM VĨNH VIỄN: thoát nước axit từ mỏ đặc biệt nguy hiểm vì nó có thể gây thiệt hại vô thời hạn sau khi khai thác mỏ đã kết thúc. Do mức độ nghiêm trọng của các tác động chất lượng nước từ thoát nước axit, nhiều mỏ đòi hỏi phải xử lý nước vĩnh viễn. Ngay cả với công nghệ hiện có, hệ thống thoát nước axit là hầu như không thể dừng lại một khi các phản ứng bắt đầu. Có thể phải mất hàng trăm năm để xử lý.

Acid mine drainage. PHOTO: SOSBlueWaters.org
Acid mine drainage. PHOTO: SOSBlueWaters.org

Đọc tiếp “TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 2: Tác động môi trường và xã hội”

TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 1: Các giai đoạn của dự án khai thác

1.1 Thăm dò

Một dự án khai thác mỏ chỉ có thể bắt đầu khi hiểu biết đầy đủ về qui mô và giá trị của quặng. Thông tin về vị trí, giá trị của quặng được thu thập thông qua khảo sát, nghiên cứu thực địa, khoan kiểm tra và khai đào.

Trước tiên phải loại bỏ thực vật để cho các xe cơ giới có giàn khoan có thể tiến vào. Nhiều nước yêu cầu thành lập một báo cáo ĐTM riêng cho giai đoạn thăm dò. Vì các tác động của giai đoạn này có thể là đáng kể và vì các giai đoạn tiếp theo của khai thác có thể không được thực hiện khi việc thăm dò cho thấy lượng quặng không đáp ứng cho khai thác.

1.2 Giai đoạn phát triển

Nếu giai đoạn thăm dò cho thấy một lượng quặng đủ lớn thì có thể bắt đầu lên kế hoạch cho giai đoạn phát triển khai thác mỏ gồm:

1.2.1 Xây dựng đường vào mỏ

Đường vào mỏ để đưa các thiết bị nặng, vật tư cho khu mỏ hoặc để vận chuyển kim loại và quặng đã được xử lý ra bên ngoài. Việc này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu đường giao thông đi qua khu vực sinh thái nhạy cảm hoặc gần các cộng đồng đã có trước đó. Đánh giá tác động môi trường đường vào mỏ phải thực hiện đầy đủ khi đáng giá tác động dự án khái thác mỏ.

Erosion near a mining road, Pelambres mine, Chile. PHOTO: Rocio Avila Fernandez
Erosion near a mining road, Pelambres mine, Chile. PHOTO: Rocio Avila Fernandez

1.2.2 Chuẩn bị mặt bằng

Dự án phải bắt đầu với việc giải phóng mặt bằng cho diện tích khái thác, tập kết thiết bị, khu hành chính. Hoạt động này có những tác động môi trường đáng kể, đặc biệt nếu dự án ở trong hoặc lân cận với khu vực sinh thái nhạy cảm. ĐTM phải được đánh giá một cách riêng rẽ cho các tác động liên quan đến việc chuẩn bị mặt bằng.

1.1.3 Hoạt động khai thác

Tất cả các loại hoạt động khai thác đều có chung một qui trình: khai thác và làm giàu quặng kim loại. Thông thường, các thân quặng nằm dưới dưới một lớp đất hoặc đá phủ, chúng phải được lấy đi trước khi khai thác.

1.1.3.1 Khai thác mỏ lộ thiên

Là loại hình khai thác dải (strip mining), trong đó quặng phân bố sâu xuống lòng đất, đòi hỏi phải loại bỏ lớp phủ bên trên quặng. Việc sử dụng các máy móc cơ giới nặng, thường là xe ủi đất và xe tải, để đổ đất đá thải. Khai thác lộ thiên thường liên quan đến việc loại bỏ thảm thực vật bản địa, việc này được xem là một trong những hoạt động hủy hoại môi trường lớn nhất của khai thác quặng, đặc biệt là đối với các khu rừng nhiệt đới.

Open-pit mine in Cerro de Pasco, Peru. PHOTO: Centro de Cultura Popular LABOR, Peru
Open-pit mine in Cerro de Pasco, Peru.PHOTO: Centro de Cultura Popular LABOR, Peru

Đọc tiếp “TỔNG QUAN VỀ KHAI THÁC MỎ – Phần 1: Các giai đoạn của dự án khai thác”

XÓI LỞ BỜ TÂY CỬA LỘC AN VÀ CÔNG NGHỆ STABIPLAGE

Hà Quang Hải, Nguyễn Ngọc Tuyến, Lê Thị Thu Hiền, Hoàng Thị Phương Chi

I. Giới thiệu

Trong môn học “Quản lý tổng hợp đới bờ” ngoài phần lý thuyết có phần thực tập Môi trường và Tài nguyên đới bờ theo lộ trình Bà Rịa, Vũng Tàu – Bình Thuận. Cửa Lộc An là một trong những điểm để sinh viên quan sát kè mỏ hàn Stabiplage chống xói lở bờ biển. Đây là công nghệ mềm của Cộng hoà Pháp, lần đầu tiên được tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu áp dụng ở Việt Nam. Qua bốn năm dẫn sinh viên (2012 – 2015), chúng tôi nhận thấy bờ tây cửa Lộc An (nơi đặt các mỏ hàn Stabiplage) biến đổi nhanh với xu thế xói lở gia tăng, các mỏ hàn mất dần tác dụng bảo vệ bờ. Tới tháng 12 năm 2015 nhiều mỏ hàn đã bị phá hủy toàn bộ.

Gần đây trên trang web site của Sở KHCN Bà Rịa – Vũng Tàu có bài “Hiện trạng xói, bồi bờ biển khu vực cửa Lộc An, huyện Đất Đỏ”. Bài báo diễn giải khá chi tiết về tiến trình xói lở và bồi tụ khu vực cửa Lộc An, đặc biệt có sự đánh giá sơ bộ về vai trò của Stabiplage trong việc chống xói lở trong giai đoạn đầu (2005 – 2011). Bài báo có đoạn “bờ phía Nam cửa sông thuộc phần nằm trong đất liền (Tính từ thượng nguồn xuống) đang bị xói lở rất mạnh, còn bờ phía bên trái (Phần nằm ngoài biển) lại đang bị bồi rất mạnh và hiện một doi cát dài hàng nghìn mét đang dần dần tiến xuống phía Nam. Hiện tượng vừa xói lở vừa bồi lấp đang gây mất ổn định cho cả khu vực” [1]. Nhận xét này cũng phù hợp với những quan sát của chúng tôi từ những đợt dẫn sinh viên thực tập tại cửa Lộc An.

Trong bài viết này, chúng tôi trình bày rõ hơn về sự biến đổi nhanh chóng bờ tây cửa Lộc An, hiệu quả mỏ hàn Stabiplage trong việc kiểm soát xói lở, nguyên nhân gây xói lở và đề xuất giải pháp kiểm soát xói lở đoạn bờ này.

II. Quan sát xói lở bờ tây cửa Lộc An tại thực địa

Từ năm 2012 đến năm 2015, chúng tôi có 4 đợt thực tập quan sát xói lở tại cửa Lộc An và vai trò của Stabiplage trong việc bảo vệ bờ biển. Dưới đây là những tài liệu ghi nhận tại thực địa.

1) Ngày 30 tháng 11 năm 2012

Stabiplage (viết tắt là S) đặt dọc theo cửa Lộc An – cửa sông Ray (Hình 1, trái) đã xuống cấp, đây có thể là mỏ hàn “tam giác để bảo vệ đoạn bờ sông – biển” được đặt năm 2011 [1].

S.1 đặt vuông góc với bờ tây (bờ biển phía tây) còn khá nguyên vẹn, nằm trên bãi biển cát (Hình 1, phải). Phía đầu S.1 là vách xói lở cao 1,8 m cắt vào cồn cát làm lộ trơ nhiều gốc cây phi lao.

Hình 1. S cửa Lộc An (trái) và S.1 (phải)
Hình 1. S cửa Lộc An (trái) và S.1 (phải)

Lúc này đã có sự xâm thực vào tầng bột, sét màu xám đen chứa nhiều thực vật phân hủy (nguồn gốc đầm lầy) ở khoảng giữa S.1 và S cửa sông (Hình 2, trái). S. 2 phần lớn nằm chìm dưới cát (Hình 2, phải).

Hình 2. Xâm thực vào tầng bột, sét (trái) và S.2 (phải)
Hình 2. Xâm thực vào tầng bột, sét (trái) và S.2 (phải)

Đọc tiếp “XÓI LỞ BỜ TÂY CỬA LỘC AN VÀ CÔNG NGHỆ STABIPLAGE”

MỘT SỐ ẢNH SAU CHUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG CỦA LỚP 13 KMT

Trong số những ảnh dự thi cho chuyến đi thực tập môi trường đồng bằng Sông Cửu Long của các bạn lớp 13 KMT (do thày Tú cung cấp), Địa Môi Trường chọn một số ảnh liên quan đến chủ đề như: địa hình, đất, đá, nước, cảnh quan để mọi người cùng xem và bình luận.

Chỉ có một vị trí “Notch” mà Địa Môi Trường yêu cầu các bạn tìm hiểu trước chuyến đi, hai vị trí khác không biết các bạn có tìm được không ? hoặc tìm được mà không chọn để thi?

Trong 10 ảnh này tôi thích một ảnh vì ý nghĩa lịch sử liên quan đến môn học (mà các bạn đã học). Vậy các bạn thử đoán xem ảnh nào vậy ?.

H. 3_2
H. 3_2
H. 6_1
H. 6_1
H. 6_2
H. 6_2
H. 7_4
H. 7_4
H. 8_3
H. 8_3

Đọc tiếp “MỘT SỐ ẢNH SAU CHUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG CỦA LỚP 13 KMT”

GỬI LỚp 13 KMT TRƯỚC CHUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Các bạn sinh viên Lớp 13 KMT thân mến

Ngày mốt các bạn có chuyến thực tập Môi trường vùng Đồng bằng Sông Cửu Long – môn học do Bộ môn Quản lý môi trường phụ trách, không có điều kiện đi cùng các bạn chuyến này, tôi có mấy lời trao đổi vối các bạn:

Các bạn đều biết, Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa nổi tiếng thế giới, nơi đây có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú (cảnh quan, đất, nước, rừng, thủy sản…). Tuy vậy, Đồng bằng Sông Cửu Long cũng đang đối mặt với nhiều thách thức cả trong ngắn hạn và dài hạn.

Đối với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, trong thời gian qua, Địa môi trường đã cung cấp một số bài về tài nguyên thiên nhiên như Đa dạng địa học Hà Tiên Kiên Lương, Cảnh quan Đồng Tháp Mười, Karst và hang động, Địa di sản Thạch Động và các vấn đề môi trường bức xúc như Khai thác nước ngầm gây sụt lún mặt đất, khai thác cát sỏi, xói lở bờ biển do mực nước biển dâng, ô nhiễm As nguồn nước ngầm…Các bạn có thể tham khảo thông tin trong Địa môi trường.

Chuyến thực tập lần này của các bạn sẽ diễn ra trên 3 đơn vị cảnh quan: 1) Cảnh quan vùng trũng Đồng tháp Mười, 2) Cảnh quan đê thiên nhiên ven sông Tiền, sông Hậu và 3) Cảnh quan Đồng bằng ven biển có đồi, núi sót Hà Tiên – Kiên Lương. Các bạn cố gắng ghi nhận (quan sát, mô tả, chụp hình) sự khác nhau về tài nguyên thiên nhiên giữa ba đơn vị cảnh quan này nhé (địa hình, đất, nước, sinh vật…).

Trong chuyến đi này các bạn sẽ gặp một dạng địa hình độc đáo và lý thú, đó là “Notches”, tạm dịch là các hõm gặm mòn trên đá vôi. Ở Kiên Lương rất phổ biến dạng địa hình này, ở Hà Tiên ít hơn.

Vậy các bạn hãy tìm hiểu xem dạng địa hình này hình thành như thế nào? Độ cao phân bố ? Hình thái các Notch? và ý nghĩa khoa học của  chúng ?

Dưới đây là một số hình ảnh về Notch, các bạn tìm xem chúng phân bố ở đâu và chụp hình nhé.

Vị trí, độ cao, hình thái?
Vị trí, độ cao, hình thái?
Vị trí, độ cao, hình thái?
Vị trí, độ cao, hình thái?

Đọc tiếp “GỬI LỚp 13 KMT TRƯỚC CHUYẾN THỰC TẬP MÔI TRƯỜNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

KHẢO SÁT CÔNG VIÊN ĐÁ BA CHỒNG ĐỊNH QUÁN, ĐỒNG NAI

Năm nào cũng dẫn sinh viên đi thực tập Môi trường đại cương ngang qua khu vực Đá Ba Chồng nhưng chưa lần nào dừng lại điểm lộ đá ấn tượng này. Năm nay hướng dẫn bạn Thu chuyên ngành TNTN & MT thực hiện đề tài khóa luận “Tiềm năng Địa du lịch khu vực Định Quán”. Tranh thủ những ngày rảnh rỗi sau tết Bính thân đi hướng dẫn sinh viên Thu khảo sát tại một số vị trí, trọng tâm là khu vực Đá Ba Chồng – Danh thắng cấp quốc gia của tỉnh Đồng Nai.

Đá Ba Chồng
Đá Ba Chồng

Đọc tiếp “KHẢO SÁT CÔNG VIÊN ĐÁ BA CHỒNG ĐỊNH QUÁN, ĐỒNG NAI”

KHOÁNG VẬT OPAL

Hôm nay trên vietnamnet.vn có bài “Báu vật đá quí 14 tấn của đại gia Quảng Nam”. Bài báo giới thiệu khối đá Ô ban (nên viết là opal) của ông Trương Quốc Sỹ mua từ người dân khai thác tại huyện Đắc Min, tỉnh Đắc Nông vào năm 2009 với giá 2,5 tỷ đồng. Khối đá này đã được “Bộ VH-TT &DL cấp bằng công nhận Đá cảnh quí hiếm của Việt Nam, sau khi ông đưa khối đá ra triển lãm tại Hà Nội nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long”. Khối đá này đã được nhiều người trả giá 7,5 tỷ đồng nhưng ông Sỹ từ chối.

Vậy chúng ta nên tìm hiểu sơ bộ về khoáng vật opal và giá trị của nó.

Khoáng vật Opal: là khoáng vật thủy ngưng giao điển hình [1].

Thành phần hóa học: giống thạch anh nhưng chứa một lượng nước (SiO2.nH2O) và là chất vô định hình. Lượng nước không cố định, từ 1 đến 34%.

Hình dạng tinh thể: thường thành khối đặc xít giống thủy tinh, bề ngoài giống thạch nhũ. Đọc tiếp “KHOÁNG VẬT OPAL”

CÁC GEOSITE VEN BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN

Hà Quang Hải, Nguyễn Ngọc Tuyến, Hoàng Thị Phương Chi, Lê Thị Thu Hiền

I. Giới thiệu

Năm 1996, Hội Địa chất Quốc tế (IUGS) bắt đầu triển khai chương trình GEOSITES. Chương trình này nhằm thu hút sự quan tâm của cộng đồng địa chất bảo tồn đa dạng địa học: mục tiêu chính là cung cấp một cơ sở dữ liệu cấp vùng hay cấp quốc gia nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên địa chất, một dạng tài nguyên quan trọng phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục.

Dải ven biển tỉnh Bình Thuận kéo dài khoảng 150 km có nhiều geosite có giá trị khoa học, giá trị thẩm mỹ, trong đó một số đã trở thành những điểm du lịch, thu hút một lượng du khách trong và ngoài nước đáng kể như Suối Tiên, Bàu Trắng, bãi đá bảy màu Cổ Thạch …Tuy vậy, việc bảo vệ và bảo tồn các geosite chưa được thực hiện, một số geosite đang bị suy thoái do tác động của tự nhiên và con người.

Bài viết này trình bày phân loại sơ bộ geosite, các nghiên cứu chi tiết hơn cần được thực hiện làm cơ sở cho việc bảo tồn nguồn tài nguyên phi sinh quí giá này. Đọc tiếp “CÁC GEOSITE VEN BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN”